LOGO VNBET
KINH A-DI-ĐÀ

(Phần dịch nghĩa)
 
TÁN HƯƠNG
Lư hương vừa đốt,
Pháp giới nức xông,
Chư Phật hội lớn thảy đều nghe,
Tùy chỗ kết mây lành,
Lòng thành mới thấu,
Chư Phật hiện toàn thân.
 
Nam-mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma-ha-tát! 
                                                       (Ba lần)
Nam-mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát! 
                                                  (Ba lần)
 
BÀI KỆ KHAI KINH
 
Pháp mầu cao thượng chẳng chi hơn,
Trăm ngàn muôn kiếp thật khó gặp.
Nay con nghe thấy, được thọ trì,
Nguyện hiểu nghĩa Như Lai chân thật.

* Trang 24 *
device

PHẬT THUYẾT KINH A-DI-ĐÀ 
 
Tôi nghe như thế này.(1)Có một lúc, Phật ở nơi vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc,(2)gần thành Xá-vệ, (3) với các vị đại  tỳ-kheo tăng,(4)tất cả là một ngàn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc đại A-la-hán(5)mà ai ai cũng
________________________
(1)Như thị ngã văn: Tôi nghe như thế này. Đây là lời ngài A-nan thuật lại khi kết tập kinh điển, để minh chứng rằng kinh này là do Phật thuyết ra, chính tai ngài nghe thấy. Tất cả kinh điển do Phật thuyết đều có câu này ở đầu kinh. 
(2) Vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc: Đây là một tinh xá có vườn cây bao quanh, tọa lạc tại thành Xá-vệ (Sravasti). Vườn cây này của ông thái tử Kỳ Đà (Jeta), con vua Ba-Tư-Nặc (Prasenajit) hiến cúng, còn ông Trưởng giả Tu-đạt (Sudatta), hiệu là Cấp Cô Độc (Anathapindika) bỏ vàng ra mua đất để cúng cho Giáo hội, nên gọi chung là vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc.
(3)Thành Xá-vệ (Xá-vệ quốc): Tuy Hán văn dùng chữ “quốc”  nhưng ở đây có nghĩa là thành. Thành Xá vệ (Sravasti) là kinh đô của nước Câu-tát-la (Kocala), do vua Ba-tư-nặc (Prasenajit) trị vì .
(4)Đại tỳ-kheo tăng: Những vị tỳ-kheo (Bhiksu) tuổi cao đức trọng được tôn xưng là đại tỳ-kheo. Tỳ-kheo là người thuộc nam giới xuất gia theo Phật, thọ cụ túc giới, chỉ đi khất thực, sống bằng sự cúng dường của bá tánh. Tỳ-kheo, tiếng Phạn là  Bhiksu, bao hàm bốn nghĩa: 1. Giữ hạnh khất thực thanh tịnh. 2. Phá trừ phiền não. 3. Trì giới thanh tịnh. 4. Có thể làm chúng ma khiếp sợ. Tăng, hay Tăng-già, tiếng Phạn là Sangha, Hán dịch là Hòa hiệp chúng, nghĩa là nhiều người cùng sống chung hòa hợp để tu hành. Từ ba vị tỳ-kheo trở lên, cùng sống ở một nơi mà tu hành gọi là Tăng chúng.
(5) Đại A-la-hán: Vì 1.250 người đệ tử của Phật đều là đại tỳ-kheo, nên các vị ấy đã chứng quả A-la-hán. Đại A-la-hán là tiếng tôn xưng vị A-la-hán có công đức lớn ở trong Tăng chúng. A-la-hán (Arhat) có ba nghĩa:
1. Sát tặc: giết giặc, tức là diệt trừ phiền não.
2. Ứng cúng: Xứng đáng thọ hưởng sự cúng dường của chư thiên và con
người, vì có đủ đức độ.

* Trang 25 *
device

biết, như: Trưởng lão  Xá-lỵ-phất, Ma-ha Mục-kiền-liên,  Ma-ha  Ca-diếp,  Ma-ha  Ca-chiên-diên,  Ma-ha Câu-hy-la, Ly-bà-đa, Châu-lỵ-bàn-đà-già, Nan-đà, A-nan-đà,  La-hầu-la,  Kiều-phạm-ba-đề,  Tân-đầu-lô-phả-la-đọa,  Ca-lưu-đà-di,  Ma-ha  Kiếp-tân-na,  Bạc-câu-la, A-nậu-lâu-đà... các vị đệ tử lớn như thế.
Lại có các vị đại Bồ Tát(1) như: Pháp Vương Tử(2)Văn-thù-sư-lỵ,  Bồ Tát A-dật-đa, Bồ Tát Càn-đà-ha-đề, Bồ Tát Thường Tinh Tấn... các vị đại Bồ Tát như thế, cùng với vua cõi trời là Đế-thích (3) và vô số chư thiên, đại chúng cùng quy tụ.
________________________                                                                 
3. Bất sanh: Chẳng phải tái sanh trong sáu nẻo luân hồi, sẽ nhập Niết-bàn ngay trong kiếp này.
Quả A-la-hán tức là quả thứ tư, cao hơn hết trong bốn quả: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. A-la-hán cũng viết tắt là La-hán. 
(1)Bồ Tát Ma-ha-tát: Tiếng Phạn là Bodhisattva-Māhasattva, viết đủ là Bồ-đề-tát-đỏa Ma-ha-tát-đỏa. Bồ-đề: Hán dịch là Đạo, Giác, nghĩa là tánh sáng suốt của Phật. Tát-đỏa: Hán dịch là Chúng sanh, Hữu tình. Bồ Tát hay Bồ-đề-tát-đỏa là chúng sanh đã được giác ngộ. Ma-ha: Hán dịch là Đại, nghĩa là lớn. Ma-ha-tát là tiếng dùng thêm để tôn xưng, nên Bồ Tát Ma-ha-tát nghĩa là Đại Bồ Tát, là bậc có đại nguyện đem lòng từ mà giúp cho chúng sanh được an vui, đem lòng bi mà cứu vớt cho chúng sanh khỏi sự khổ não. 
(2)Pháp Vương Tử: Người con của đấng Pháp Vương. Phật được tôn xưng là Pháp Vương (Vua của các Pháp), nên các vị Đại Bồ Tát cũng được tôn xưng là Pháp Vương Tử.
(3)Đế-thích: tức là Thích-đề-hoàn-nhân, viết đủ là Thích-ca Đề-hoàn Nhân-đà-la ((Śākya Déva Indra). Thích-ca: Hán dịch là Năng nhân, nghĩa là có lòng nhân từ. Đề-hoàn: Hán dịch là Thiên, nghĩa là các vị sống trên cõi trời, chư thiên. Nhân-đà-la: Hán dịch là Chúa, Chủ, nghĩa là bậc đứng đầu. Trọn tên này, Hán dịch là Năng Thiên Chủ, nghĩa là vị vua cõi trời có lòng nhân từ.

* Trang 26 *
device

Lúc ấy, Phật bảo Trưởng lão  Xá-lỵ-phất(1)rằng: “Về phương Tây, cách đây mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc.(2) Ở cõi ấy có đức Phật hiệu A-di-đà(3) hiện nay đang thuyết pháp.
“Xá-lỵ-phất! Tại sao cõi ấy gọi là Cực Lạc? Nơi ấy chúng sanh không có những sự khổ não, chỉ hưởng các điều vui sướng, nên gọi là Cực Lạc.
“Lại nữa, Xá-lỵ-phất! Nơi cõi Cực Lạc, đền đài có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới bao phủ và bảy hàng cây, thảy đều có bốn món báu(4) vây bọc chung quanh. Cho nên cõi ấy gọi là Cực Lạc.
_____________________
(1)Trưởng lão Xá-lỵ-phất: Trưởng lão, tiếng Phạn là Sthavira, là tiếng tôn xưng vị tỳ-kheo có đức độ, xuất gia tu học đã nhiều năm. Xá-lỵ-phất, tiếng Phạn là Śāriputra, Hán dịch là Thu tử. Xá-lỵ, tiếng Phạn là Śāri, loài chim thu, là tên bà mẹ, vì bà có cặp mắt như mắt chim thu. Phất, hay Phất-đát-ra, tiếng Phạn là Putra, Hán dịch là Tử, nghĩa là người con trai. Vì thế có kinh cũng gọi ngài là Xá-lỵ tử. Xá-lỵ-phất được Phật khen là vị đệ tử
có trí huệ bậc nhất trong các đệ tử của Phật.
(2)Cực Lạc: tiếng Phạn là Sukhāvatī, Hán dịch là Cực lạc, nghĩa là rất vui sướng. Ở nước ấy, người ta sống vô cùng vui sướng, yên ổn, không có sự khổ não. Cực Lạc là một cõi Tịnh độ, cho nên ở đó, người ta hưởng toàn là sự trong sạch, sung sướng. Còn cõi Ta-bà của chúng ta là một cõi Uế độ, cho nên phải chịu nhiều sự dơ nhớp, khổ não.
(3)A-di-đà: Tiếng Phạn là Amitābha, Hán dịch là Vô lượng thọ, nghĩa là sống lâu vô số kiếp. Khi đức Phật Thích Ca giáng sanh, xuất gia, thành đạo và thuyết pháp giáo hóa chúng sanh ở cõi Ta-bà thì đức Phật A-di-đà thuyết pháp độ sanh tại cõi Cực Lạc. Sau khi đức Phật Thích-ca nhập Niết-bàn, cho đến hiện nay và vô số kiếp về sau, đức Phật A-di-đà vẫn còn thuyết pháp tại cõi Cực Lạc và tiếp dẫn những chúng sanh niệm Phật về cõi ấy, vì đời sống của ngài dài vô số kiếp. 
(4)Tứ bảo: Bốn món báu, là vàng, bạc, lưu ly, pha lê.

* Trang 27 *
device

“Lại nữa, Xá-lỵ-phất! Nơi cõi Cực Lạc có ao xây bằng bảy món báu,(1) trong chứa nước có tám công đức.(2)Đáy ao toàn cát bằng vàng, bốn phía có những bậc thang xây bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp lại. Bên trên có những lầu, gác cũng dùng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não trang hoàng. Trong ao có hoa sen lớn như bánh xe. Hoa xanh tỏa ánh sáng xanh, hoa vàng tỏa ánh sáng vàng, hoa đỏ tỏa ánh sáng đỏ, hoa trắng tỏa ánh sáng trắng.(3)
“Xá-lỵ-phất! Nơi cõi Cực Lạc có đầy đủ công đức trang nghiêm như thế. 
“Lại nữa,  Xá-lỵ-phất! Cõi Phật ấy thường trỗi nhạc trời. Mặt đất toàn bằng vàng ròng. Ngày đêm sáu thời(4) trên trời mưa xuống hoa mạn-đà-la.(1)Chúng
______________________
(1)Thất bảo: Bảy món báu, là vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.
(2)Bát công đức thủy: Nước có tám công đức. Theo bản dịch của ngài Huyền trang, tám công đức ấy là: 
1. Trừng tịnh: lắng gạn trong sạch
2. Thanh lãnh: trong trẻo mát lạnh
3. Cam mỹ: mùi vị ngon ngọt ngon
4. Khinh nhuyễn: nhẹ nhàng mềm mại
5. Nhuận trạch: thấm nhuần tươi mát
6. An hòa: yên ổn hòa nhã
7. Trừ được đói khát và vô số khổ não
8. Trưởng dưỡng thân tứ đại, tăng trưởng các thiện căn 
(3)Bốn thứ hoa sen ấy là: hoa ưu-bát la màu xanh, hoa câu-vật-đầu màu vàng, hoa ba-đầu-ma màu đỏ, hoa phân-đà-lỵ màu trắng.
(4)Ngày đêm sáu thời: Ngày phân làm ba thời, đêm phân làm ba thời. Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thọ lượng chép rằng: Tâm Vương Bồ Tát nói: “Một kiếp ở cõi Ta-bà này bằng một ngày một đêm ở cõi Cực Lạc của Phật A-di-đà.”

* Trang 28 *
device

sanh cõi ấy vào sáng sớm thường trải áo hứng lấy hoa quý, mang đi cúng dường mười vạn đức Phật ở các phương khác. Đến giờ ăn trong ngày(2)liền trở về dùng cơm rồi đi kinh hành.(3)
 “Xá-lỵ-phất! Nơi cõi Cực Lạc có đầy đủ những công đức trang nghiêm như thế.
“Lại nữa, Xá-lỵ-phất! Cõi ấy thường có nhiều loài chim xinh đẹp đủ các màu sắc, như bạch hạc, khổng tước, anh võ,  xá-lỵ,  ca-lăng-tần-già, cọng mạng...(4)
 _____________________
(1)Hoa mạn-đà-la: Tiếng Phạn là  Mandāravas,, Hán dịch là Bạch đoàn hoa hay Thích ý hoa, là loài hoa màu trắng, mùi rất thơm. Nhìn thấy hoặc ngửi được mùi thơm của hoa đều thích ý.
(2)Giờ ăn: Thực thời hay Pháp thực thời là giờ ngọ, lúc giữa trưa. Tỳ-kheo chỉ ăn vào giờ ngọ, khi mặt trời xế bóng thì chẳng ăn. 
(3)Đi kinh hành: Phật chế phép kinh hành, chư tỳ-kheo sau khi dùng cơm thì đi chậm rãi quanh chùa tháp hoặc trong chánh điện. Trong khi đi ấy thường nhiếp tâm cho an định. Thích thị yếu lãm chép rằng: Kinh hành có năm sự lợi ích:
1. Vận động cơ thể cho khang kiện
2. Luyện tập cho có sức mạnh
3. Trừ được nhiều chứng bệnh
4. Giúp thêm sự tiêu hóa
5. Làm cho ý chí thêm kiên cố 
(4)Bạch hạc: Chim hạc trắng, loài chim lông trắng, mỏ dài, chân cao, bay xa, kêu tiếng lớn và thanh.
Khổng tước: chim công, loài chim giống như chim trĩ, lông đuôi dài, con trống rất đẹp, xòe cánh ra như cái quạt, màu sắc rực rỡ.
Anh võ: chim két, loài chim lông cánh xanh, mỏ ngắn, có thể tập nói được tiếng người.
Xá-lỵ: chim thu, chim oanh, loài chim có đôi mắt rất trong, hót nghe tiếng thanh dịu.
Ca-lăng-tần-già: Tiếng Phạn là Kalavińka. Ca-lăng: tốt, đẹp. Tần-già:
tiếng, âm thanh. Loài chim tiếng tốt, trong trẻo. Hán dịch là Mỹ âm điểu, Diệu thanh điểu. Cư trú ở Tuyết sơn, miền Bắc Ấn độ. Cọng mạng điểu: Tiếng Phạn là Jivajiva (Kỳ-bà), dịch âm là Bà-bà-kỳ-bà, cũng dịch là Mạng mạng, hay Sanh sanh. Loài chim một thân có hai đầu.

* Trang 29 *
device

Ngày đêm sáu thời, những loài chim ấy hòa tiếng kêu thanh nhã. Tiếng chim ấy lại thuyết giảng về Năm căn,(1) Năm lực,(2) Bảy phần  Bồ-đề,(3)tám phần Thánh đạo.(4) Chúng sanh ở cõi ấy nghe rồi đều nhớ nghĩ đến Phật, Pháp, Tăng. (1)
_____________________
(1) Năm căn: Năm điều được xem là cội rễ, giúp cho các pháp lành nảy sanh. Đó là: 
1. Tín căn: lòng tin nơi Tam bảo, vào giáo lý Tứ diệu đế.
2. Tinh tấn căn: lòng tinh tấn, dõng mãnh tu hành thiện pháp.
3. Niệm căn: lòng nhớ tưởng Tam bảo, Phật, Pháp, Tăng.
4. Định căn: thiền định, lòng không tán loạn.
5. Huệ căn: sáng suốt, biết rõ sự lý, thông hiểu kinh nghĩa.
(2)Năm lực: Nhờ có Năm căn mà sanh ra Năm lực:
1. Tín lực: sức mạnh của lòng tin. 
2. Tinh tấn lực: sức mạnh của sự tinh tấn. 
3. Niệm lực: sức mạnh của sự tưởng niệm, nhớ nghĩ. 
4. Định lực: sức mạnh của sự an định. 
5. Huệ lực: sức mạnh của trí huệ. 
(3)Bảy phần Bồ-đề: Tiếng Phạn là Saptabodhyaṅga, Hán dịch là Thất giác phần hay Thất giác chi. Bảy phần hợp lại thành quả Bồ-đề, thành đức giác ngộ: 
1. Trạch pháp giác chi, tiếng Phạn là: Dharmapravicaya, sự phân biệt pháp tốt hoặc pháp xấu do trí phán xét của mình. 
2. Tinh tấn giác chi, tiếng Phạn là Vīrya: Đem lòng dõng mãnh mà từ bỏ điều ác, làm điều lành. 
3. Hỷ giác chi, tiếng Phạn là Priti, lòng được vui vẻ. 
4. Khinh an giác chi, tiếng Phạn là Praśabdhi, lòng nhẹ nhàng yên tĩnh, không có sự nặng nhọc bứt rứt. 
5. Niệm giác chi, Tiếng Phạn là Smṛti, lòng tưởng nhớ Chánh Pháp, Tam bảo. 
6. Định giác chi, tiếng Phạn là Samādhi, tâm trí an định, không tán loạn. 
7. Xả giác chi, Phạn: Upekṣā, cũng gọi là Hộ giác chi: Buông bỏ những vướng mắc, dứt bỏ sự lầm lạc.
(4)Bát thánh đạo phần: Tám con đường mà người ta phải noi theo để đến các quả thánh. Cũng gọi là Bát chánh đạo, tám con đường chân chánh, tức là Đạo đế trong Tứ diệu đế. Đó là:
1. Chánh kiến, tiếng Phạn là Sammā-diṭṭhi, chỗ thấy chân chánh, như thấy vạn vật là chẳng thật, vô ngã, thấy luân hồi là khổ não.

* Trang 30 *
device

“Xá-lỵ-phất! Ông chớ tưởng rằng những loài chim ấy là do tội báo sanh ra. Vì sao vậy? Cõi Phật ấy không có ba đường ác.(2)
“Xá-lỵ-phất! Cõi Phật ấy, đến tên gọi ba đường ác còn không có, huống chi là có thật? Các loài chim ấy đều là do Phật A-di-đà vì muốn cho tiếng thuyết
______________________
2. Chánh tư duy, tiếng Phạn là Sammā-saṅkappa, suy xét, chiêm nghiệm những lẽ chánh. 
3. Chánh ngữ, tiếng Phạn là Sammā-vācā, lời nói chân chánh, chẳng nói điều phi lý.
4. Chánh nghiệp, tiếng Phạn là  Sammā-kammanta, việc làm chân chánh, không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm.
5. Chánh mạng, tiếng Phạn là  Sammā-ājīva, cuộc sống chân chánh, trong sạch.
6. Chánh tinh tấn, tiếng Phạn là  Sammā-vāyāma, dõng mãnh xa lánh phiền não, dõng mãnh tu thiện.
7. Chánh niệm, tiếng Phạn là Sammā-sati, lòng niệm tưởng chân chánh, nhớ nghĩ những chỗ chánh đáng. 
8. Chánh định, tiếng Phạn là Sammā-samādhi: tâm trí vào thiền định, dứt khỏi những uế trược của thế gian. 
(1) Phật, tiếng Phạn là Buddha, viết đủ là Phật-đà, Hán dịch là Giác giả, nghĩa là người giác ngộ hoàn toàn. Phật có đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp trang nghiêm nơi thân thể. Sau khi Phật vào Niết bàn, người ta theo đó mà chế ra những tượng cốt bằng chất kim, bằng cây hoặc vẽ hình trên giấy, trên vải để thờ phụng, nhớ tưởng đến Phật.
Pháp, tiếng Phạn là  Dharma, nên cũng đọc theo âm là Đạt-ma, là những giáo lý do Phật truyền dạy cho chúng sanh. Sau khi Phật nhập diệt, người ta gom góp mà chép thành ba tạng Kinh, Luật và Luận để truyền lại.
Tăng, tiếng Phạn là  Sangha, viết đủ là Tăng-già, Hán dịch là Hòa hiệp chúng, gồm nhiều người tu học cùng nhau. Sau khi Phật nhập diệt, Tăng-già là những người thay Phật mà tiếp tục truyền dạy giáo pháp cho chúng sanh.
(2) Ba đường ác: Chúng sanh trong ba cõi thế giới tùy nghiệp lành hoặc dữ của mình, sanh vào trong sáu đường: Ba đường lành, Ba đường ác. Ba đường lành là: cõi trời, cõi người, cõi a-tu-la. Ba đường ác là: địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.

* Trang 31 *
device

pháp được truyền ra khắp nơi nên mới biến hóa tạo thành. 
“Xá-lỵ-phất! Nơi cõi Phật ấy, gió nhẹ lay động những hàng cây báu và lưới báu, vang lên tiếng êm dịu vô cùng, như trăm ngàn tiếng nhạc cùng hòa nhau trỗi lên. Nghe được tiếng ấy, tự nhiên sanh lòng tưởng niệm đến Phật, Pháp, Tăng.
“Xá-lỵ-phất! Nơi cõi Cực Lạc có đầy đủ công đức trang nghiêm như thế.
“Này  Xá-lỵ-phất! Ý ông nghĩ sao? Tại sao đức Phật ấy lấy hiệu là A-di-đà?
“Xá-lỵ-phất! Hào quang của đức Phật ấy chiếu sáng vô cùng, soi khắp các cõi nước mười phương, không hề ngăn ngại. Vì thế nên lấy hiệu là A-di-đà.(1)
  “Lại nữa, Xá-lỵ-phất! Đời sống của đức Phật và nhân dân cõi ấy kéo dài vô số a-tăng-kỳ kiếp,(1) nên gọi là A-di-đà.
_____________________
(1)Phật A-di-đà còn có những danh hiệu khác:
Vô Lượng Quang Phật: Vì hào quang của ngài là vô lượng, sáng suốt vô lượng, rộng lớn vô lượng.
Vô Biên Quang Phật: Vì hào quang của ngài là không cùng tận, không có bờ bến, chiếu khắp cả các thế giới mười phương.
Vô Ngại Quang Phật: Vì hào quang của ngài chiếu khắp nơi mà không bị ngăn ngại, soi cả những nơi bị che lấp, những cảnh hắc ám. Những chúng sanh nào gặp được hào quang của đức Phật A-di-đà, thì ba món độc tham, sân, si liền bị tiêu diệt, thân thể được nhu nhuyễn, tâm ý được hoan lạc, sanh nảy lòng lành. Những chúng sanh trong ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, gặp được hào quang của ngài tức thì hết khổ não, khi mạng chung được thoát khỏi ba đường ác.

* Trang 32 *
device

“Xá-lỵ-phất! Đức A-di-đà thành Phật đến nay đã được mười kiếp.
“Lại nữa, Xá-lỵ-phất! Đức Phật ấy có vô số các vị đệ tử Thanh văn,(2) thảy đều là bậc A-la-hán,  không thể tính đếm mà biết được số lượng. Các vị Bồ Tát cũng nhiều như vậy.
“Xá-lỵ-phất! Cõi nước Phật ấy có đầy đủ những công đức trang nghiêm như thế.
“Lại nữa, Xá-lỵ-phất! Chúng sanh được sanh về cõi Cực Lạc đều là những bậc không còn thối chuyển,(3)trong đó có nhiều vị chỉ còn một lần sanh nữa là sẽ thành Phật.(4) Số ấy rất nhiều, không thể lấy sự tính đếm mà biết được, chỉ có thể gọi chung là vô số.
___________________
(1)Vô số a-tăng-kỳ kiếp: Cách nói tượng trưng có nghĩa là một quãng thời gian kéo dài không thể đo lường, tính đếm. 
Kiếp: nói đủ là Kiếp-ba (Kalpa), chia ra làm ba loại: tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp. Một tiểu kiếp có một ngàn sáu trăm tám mươi vạn năm. Một trung kiếp có ba vạn ba ngàn sáu trăm vạn năm. Một đại kiếp có mười ba vạn bốn ngàn bốn trăm vạn năm. 
(2)Thanh văn, tiếng Phạn là śrāvaka, hàng đệ tử Phật theo giáo pháp Thanh văn thừa, (śrāvakayāna), tu tập Tứ diệu đế, chứng đắc các thánh quả từ Tu-đà-hoàn cho đến A-la-hán. 
(3)Bậc không còn thối chuyển, tiếng Phạn là Avaivartika (A-bệ-bạt-trí), tức là bậc Bồ Tát không còn thối chuyển trên đường tu học.
(4) Chỉ còn một lần sanh nữa là sẽ thành Phật: Gọi là Bồ Tát nhất sanh bổ xứ, tức là những vị Bồ Tát đã tròn quả nguyện, chỉ còn một lần thọ sanh nữa là thành Phật.

* Trang 33 *
device

“Xá-lỵ-phất! Chúng sanh nghe biết rồi, nên phát nguyện sanh về cõi ấy.(1)Tại sao vậy? Để được chung sống với các bậc hiền thiện cao thượng.
“Xá-lỵ-phất! Người có ít nhân duyên phước đức căn lành không thể sanh về cõi ấy.(2)
“Xá-lỵ-phất! Như những kẻ nam, người nữ có lòng lành, nghe giảng nói về Phật  A-di-đà, bèn chuyên tâm niệm danh hiệu ngài, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, tâm không tán loạn. (3)Người ấy khi lâm chung liền có đức Phật A-di-đà cùng với các vị thánh chúng hiện ra trước mắt. Khi mạng chung tâm không điên đảo, liền được sanh về cõi Cực Lạc của đức Phật A-di-đà.
__________________
(1) Phát nguyện sanh về cõi ấy: Người đọc kinh điển nói về cõi Cực Lạc của đức Phật A-di-đà mà muốn được vãng sanh về đó, trước hết phải phát nguyện. Sau khi phát nguyện, thì hết lòng nhớ tưởng đến đức Phật A-di-đà, nhớ tưởng đến thế giới Cực Lạc. Nhờ có chí nguyện vững bền, nên nhất định sẽ được vãng sanh về đó.
(2) Về thiện căn, Thập trụ Ty-bà-sa luận có nói ba thiện căn: chẳng tham, chẳng sân, chẳng si. Tất cả thiện pháp đều do đó mà nảy sanh.
Về phước đức, Quán Vô Lượng Thọ Kinh có dạy: Muốn sanh về cõi ấy, nên tu ba phước.
Phước thứ nhất là: Hiếu thảo với cha mẹ, hầu hạ bậc sư trưởng, vì lòng từ mà chẳng giết hại, tu mười nghiệp lành.
Phước thứ hai là: Thọ trì tam quy, giữ trọn các giới, chẳng phạm oai nghi.
Phước thứ ba là: Phát tâm Bồ-đề, tin sâu lẽ nhân quả, đọc tụng kinh Đại thừa, khuyến tấn những người tu hành.
(3)Tâm không tán loạn (Nhất tâm bất loạn) là ý chỉ cốt yếu của toàn quyển Kinh  A-di-đà nầy. Chẳng những trong khi ngồi, mà khi đi, khi đứng, khi nằm, lúc nào hành giả cũng giữ nơi lòng một câu Nam-mô A-di-đà Phật, lòng tưởng nhớ đến Phật ấy, không để một tư tưởng nào khác xen vào, đó là tâm không tán loạn.

* Trang 34 *
device

“Xá-lỵ-phất! Ta thấy sự ích lợi đó, nên mới giảng nói như vậy. Nếu có chúng sanh nào được nghe, nên phát nguyện sanh về cõi ấy.
“Xá-lỵ-phất! Cũng như nay ta xưng tán lợi ích công đức không thể nghĩ bàn của Phật A-di-đà.
“Phương Đông lại có chư Phật như: Phật A-súc-bệ, Phật  Tu-di Tướng, Phật Đại  Tu-di, Phật Tu-di Quang, Phật Diệu Âm..., vô số chư Phật như vậy, mỗi vị đều từ nơi cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi dài rộng(1) bao trùm cả ba ngàn đại thiên thế giới, nói ra lời chân thật này: Hết thảy chúng sanh nên tin vào lời xưng tán công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh mà tất cả chư Phật đều hộ niệm.
“Xá-lỵ-phất! Thế giới phương Nam có chư Phật như: Phật Nhật Nguyệt Đăng, Phật Danh Văn Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tu-di Đăng, Phật Vô Lượng Tinh Tấn..., vô số chư Phật như vậy, mỗi vị đều từ nơi cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi dài rộng bao trùm cả ba ngàn đại thiên thế giới, nói ra lời chân thật này: Hết thảy chúng sanh nên tin vào lời xưng tán công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh mà tất cả chư Phật đều hộ niệm. 
“Xá-lỵ-phất! Thế giới phương Tây có chư Phật như: Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Tướng,
________________
(1)Tướng lưỡi dài rộng: Đức Phật trải qua vô số kiếp không nói lời luống dối, sai sự thật, nên được quả báo có tướng lưỡi dài rộng hơn tất cả chúng sanh. Khi chư Phật hiện tướng lưỡi dài rộng là muốn xác nhận lời nói chân thật không hề luống dối.

* Trang 35 *
device

Phật Vô Lượng Tràng, Phật Đại Quang, Phật Đại Minh, Phật Bảo Tướng, Phật Tịnh Quang..., vô số chư Phật như vậy, mỗi vị đều từ nơi cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi dài rộng bao trùm cả ba ngàn đại thiên thế giới, nói ra lời chân thật này: Hết thảy chúng sanh nên tin vào lời xưng tán công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh mà tất cả chư Phật đều hộ niệm. 
“Xá-lỵ-phất! Thế giới phương Bắc có chư Phật như: Phật Diệm Kiên, Phật Tối Thắng Âm, Phật Nan Trở, Phật Nhật Sanh, Phật Võng Minh..., vô số chư Phật như vậy, mỗi vị đều từ nơi cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi dài rộng bao trùm cả ba ngàn đại thiên thế giới, nói ra lời chân thật này: Hết thảy chúng sanh nên tin vào lời xưng tán công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh mà tất cả chư Phật đều hộ niệm.
“Xá-lỵ-phất! Thế giới phương dưới có chư Phật như: Phật Sư Tử, Phật Danh Văn, Phật Danh Quang, Phật Đạt-ma, Phật Pháp Tràng, Phật Trì Pháp..., vô số chư Phật như vậy, mỗi vị đều từ nơi cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi dài rộng bao trùm cả ba ngàn đại thiên thế giới, nói ra lời chân thật này: Hết thảy chúng sanh nên tin vào lời xưng tán công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh mà tất cả chư Phật đều hộ niệm.
“Xá-lỵ-phất! Thế giới phương trên có chư Phật như: Phật Phạm Âm, Phật Tú Vương, Phật Hương

* Trang 36 *
device

Thượng, Phật Hương Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Phật  Ta-la Thọ Vương, Phật Bảo Hoa Đức, Phật Kiến Nhất Thiết Nghĩa, Phật Như Tu-di Sơn..., vô số chư Phật như vậy, mỗi vị đều từ nơi cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi dài rộng bao trùm cả ba ngàn đại thiên thế giới, nói ra lời chân thật này: Hết thảy chúng sanh nên tin vào lời xưng tán công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh mà tất cả chư Phật đều hộ niệm.
“Xá-lỵ-phất! Ý ông nghĩ sao? Vì sao kinh này gọi là: Tất cả chư Phật đều hộ niệm?
“Xá-lỵ-phất! Nếu những kẻ nam, người nữ có lòng lành, nghe được kinh này mà thọ trì, cũng như nghe danh hiệu chư Phật, thì những kẻ nam, người nữ có lòng lành ấy liền được tất cả chư Phật hộ niệm, thảy đều được địa vị không còn thối chuyển đối với quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
“Xá-lỵ-phất! Vì vậy mọi người nên tin theo lời ta và chư Phật đã nói.
“Xá-lỵ-phất! Như có người nào trước đã phát nguyện, nay mới phát nguyện, hoặc sau này sẽ phát nguyện sanh về cõi Phật A-di-đà, thì những người ấy đều được địa vị không còn thối chuyển đối với quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những người ấy hoặc đã được sanh, hoặc nay vừa sanh, hoặc sau này sẽ sanh về cõi ấy.

* Trang 37 *
device

“Xá-lỵ-phất! Vậy nên những kẻ nam, người nữ có lòng lành, nếu có đức tin, nên phát nguyện sanh về cõi ấy.
“Xá-lỵ-phất! Như nay ta xưng tán công đức không thể nghĩ bàn của chư Phật. Tất cả chư Phật cũng đều xưng tán công đức không thể nghĩ bàn của ta, nói ra lời này: Phật Thích-ca Mâu-ni làm được việc rất khó khăn ít có. Từ trong cõi Ta-bà là cõi ác có năm thứ uế trược như: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược, mà thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì chúng sanh mà thuyết dạy pháp môn khó tin nhận nhất trong thế gian này.
“Xá-lỵ-phất! Nên biết rằng, ta ở trong cõi đời ác lụy có năm thứ uế trược, làm nên việc khó khăn, đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì tất cả thế gian thuyết dạy pháp môn khó tin nhận này, thật là một điều rất khó lắm thay!”
Phật thuyết kinh này xong,  Xá-lỵ-phất với chư tỳ-kheo, hết thảy thế gian, trời, người, a-tu-la... nghe Phật thuyết dạy đều vui mừng tin nhận, lễ bái lui về. 
PHẬT THUYẾT KINH A-DI-ĐÀ

* Trang 38 *
device

 
Chư Kinh Tập Yếu