LOGO VNBET
PHẨM THỨ HAI MƯƠI HAI

QUANG MINH BIẾN CHIẾU
CAO QUÝ ĐỨC VƯƠNG BỒ TÁT (C)

 
Cao Quý Đức Vương Bồ tát thưa: Thế tôn ! Giờ đây con mới hiểu ra rằng: Tất cả pháp đều không có tánh cố định. Cho nên tội tứ trọng, ngũ nghịch, nhất xiển đề cũng không có tánh cố định. Do nghĩa đó mà Như Lai nhập Niết bàn cũng chẳng rốt ráo vĩnh diệt !
Bạch Thế tôn ! Tu học kinh Đại Niết bàn, nghe được những điều chưa nghe. Xin Thế tôn thương xót dạy cho chúng Bồ tát hiểu rõ THẾ NÀO LÀ NIẾT BÀN ? THẾ NÀO LÀ ĐẠI NIẾT BÀN ?
Đức Phật khen: Lành thay ! Lành thay ! Này Thiện nam tử ! Qua lời thưa hỏi của ông, nói lên rằng

* Trang 290 *
device

ông có tư duy, thường ở trong định tuệ mới có thể nêu câu hỏi như vậy.
Này Thiện nam tử ! Như người đời thường nói: Có biển, có biển lớn. Có núi, có núi lớn. Có thành, có thành lớn. Có nước, có nước lớn. Có đạo, có đạo lớn. Niết bàn cũng vậy. Có Niết bàn, có Đại Niết bàn.
Niết bàn là thế nào ?
_ Ví như người đời được chén cơm ăn, gọi là được an vui. Người bệnh được lành, gọi là an vui. Người sợ hãi có chỗ nương tựa, gọi là được an vui. Người nghèo cùng được nhiều của báu là được an vui. Người tu quán bạch cốt vi trần chẳng sanh lòng dục gọi là được an vui…Tất cả sự an vui ấy cũng gọi là Niết bàn, nhưng không được gọi Đại Niết bàn, vì là cái vui đối đãi.
Người phàm phu hoặc hàng Nhị thừa nhơn tu tập mà dứt được kiết sử cõi dục thì được gọi là an vui. Rồi có thể dứt hết kiết sử cõi sắc, cõi vô sắc, thì được gọi là an vui. Những sự an vui ấy cũng được gọi là Niết bàn, nhưng chẳng được gọi là Đại Niết bàn, vì còn Tập khí phiền não.
Tập khí phiền não là thế nào ?
Tập khí của Thanh văn, Duyên giác là những quan niệm chấp sai lầm chơn lý: Còn thấy tướng Ngã

* Trang 291 *
device

tướng Pháp như: Tôi, của tôi, tôi đi, tôi nói, tôi nghe…Chư Phật vĩnh diệt nhập Niết bàn. Niết bàn của Phật không ngã, không lạc mà chỉ có thường và tịnh. Niết bàn của Thanh văn, Duyên giác cùng Niết bàn của Như Lai chẳng có sai khác….Tập khí phiền não của
Thanh văn, Duyên giác tự che chướng chánh trí, cho nên Niết bàn của họ chứng đắc không gọi là Đại Niết bàn. Hàng Thanh văn, Duyên giác cho đến thập trụ Đại Bồ tát có được Niết bàn, nhưng không gọi là Đại Niết bàn. Ví như thương trường người có cửa hàng, tài sản vốn liếng bực vừa là thương gia; cửa hàng, tài sản, kho đụng nhiều, gọi là đại gia.
Này Cao Quý Đức Vương ! Chữ đại có nghĩa là mầu nhiệm sâu xa khó nghĩ bàn đối với người có trí bậc hạ và bậc trung. Chỉ có Phật và Đại  Bồ tát mới thấy biết hết mà thôi, vì lẽ đó cho nên gọi là Đại. Lại nữa, đại còn có nghĩa: đại tự tại, đại ngã nữa. Đại tự tại thì sở nguyện như ý. Đại ngã thì bất biến, hằng hữu.
Đại Niết bàn có tám điều tự tại mà Niết bàn của nhơn thiên, Thanh văn, Duyên giác không có:
Một, Như Lai có thể thị hiện một thân làm nhiều thân. Số thân lớn nhỏ nhiều như vi trần đầy khắp mười phương vô lượng thế giới. Thực ra thân Như Lai chẳng phải vi trần. Nói như vậy nhằm để nói lên ý nghĩa đại tự tại đấy thôi. Đại tự tại cũng gọi là Đại ngã vậy.

 

* Trang 292 *
device

Hai, Như Lai thị hiện thân nhiều như vi trần đầy khắp cõi đại thiên vì thân Như Lai là vô biên thân mà nói như vậy. Thực ra thân Như Lai chẳng đầy khắp cõi đại thiên. Tự tại như vậy gọi đó là đại ngã.
Ba, Như Lai có thể đem thân khắp đại thiên này bay lên hư không nhẹ nhàng đến nơi hai mươi hằng hà sa cõi nước mà không chướng ngại bởi sự nhẹ nặng gần xa. Thực ra Như Lai không bay và cũng chẳng có nhẹ nặng. Đó là nhằm nói lên sự tự tại của Như Lai. Tự tại đó cũng là sự biểu hiện của đại ngã vậy.
Bốn, Tâm Như Lai là bất động tự tại. Do vô lượng thân hóa hiện mà có vô lượng tâm. Do vậy, Như Lai làm một việc thiện, tất cả chúng sanh được lợi ích; Như Lai ở một chỗ mà tất cả chúng sanh cõi nước khác đều thấy. Sự tự tại đó cũng là đại ngã.
Năm, Căn tự tại. Ở một căn, Như Lai có thể sử dụng thay cho cả sáu căn. Sáu căn của Như Lai thực ra chẳng có thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết. Nói sự tự tại của sáu căn nhằm nói lên cái đại ngã của Đại Niết bàn.
Sáu, Pháp tự tại. Như Lai dù có chứng đắc, thấy biết rõ thực tướng của các pháp, nhưng Như Lai không có quan niệm chứng đắc. Do vì không có quan niệm

* Trang 293 *
device

chứng đắc nên Như Lai mới được Đại Niết bàn. Pháp tự tại của Như Lai cũng tức là đại ngã.
Bảy, Diễn thuyết tự tại. Như Lai diễn thuyết chừng một bài kệ, trải vô lượng kiếp mà nghĩa lý vẫn phong phú sâu sắc nhiệm mầu. Nghĩa lý dù sâu sắc nhiệm mầu, nhưng Như Lai chẳng quan niệm rằng: Ta nói, người nghe và bài kệ để cho ta nói. Chỉ vì thuận theo thế tục, mượn ngôn thuyết mà nói vậy thôi. Sự thực tất cả pháp xa lìa văn tự ngôn thuyết. Vì tự tại như vậy cho nên gọi là đại ngã.
Tám, Như Lai biến nhất thiết xứ, nhưng phi nhất thiết pháp, ví như tánh hư không. Vì đại tự tại cho nên chúng sanh có thể thấy được. Tự tại như vậy gọi là đại ngã.
Do đại tự tại như vậy nên gọi là đại ngã. Đại ngã và đại tự tại đủ hai yếu tố đó là có Đại Niết bàn.
Này Cao Quý Đức Vương ! Ví như kho tàng chứa nhiều thứ châu báu kỳ lạ nên gọi là đại tàng. Tạng pháp sâu xa mầu nhiệm của Như Lai chứa đầy những pháp kỳ lạ chẳng thể nghĩ bàn cho nên gọi là Đại Niết bàn ! Lại nữa, Niết bàn đại lạc, vui của Niết bàn vượt ngoài đối đãi khổ vui, vui Niết bàn là thật vui. Vui mà không có ý tưởng được vui, vì Niết bàn viễn ly các

* Trang 294 *
device

khổ, vì nghĩa đó cho nên Niết bàn gọi là Đại lạc, vì đại lạc cho nên gọi Đại Niết bàn.
Này Cao Quý Đức Vương ! Danh tự của thế gian đặt tên có hai trường hợp: Một, do nhơn duyên dựa trên sự kiện nào đó mà đặt tên. Hai, do ý thức tự phát mà đặt ra tên.
Do nhơn duyên đặt tên: Xá Lợi Tử (Phất), vì bà mẹ tên Xá Lợi, nhơn tên mẹ mà đặt tên con là Xá Lợi Tử. Như Mục Kiều Liên vốn là họ, nhơn họ mà đặt tên là Mục Kiền Liên. Như ta sanh trong dòng Cù Đàm, nhơn dòng họ đặt tên gọi ta là Cù Đàm. Như nhà bác học Tỳ Xá Khư. Tỳ Xá Khư là tên một ngôi sao, nhơn ngôi sao này mà đặt tên ông. Như có sáu ngón tay, nhơn đó gọi là ông sáu ngón…những danh tự như vậy là có nhơn duyên dựa trên sự kiện mà đặt tên.
Không nhơn duyên mà cũng đặt được tên: như bông sen, cái đầm, đất, nước, trời, mây, cây thông, con suối, ngôi nhà, đèn điện…Tất cả những danh tự ấy không có nhơn duyên mà cũng được danh tự.
Đại Niết bàn đây không có nhơn duyên mà lập danh tự. Như hư không, không nhơn sự trống rỗng nhỏ mà gọi là đại không. Niết bàn cũng chẳng nhơn nơi tướng nhỏ mà gọi Đại Niết bàn. Ví như có một vật chẳng thể cân lường, chẳng thể nghĩ bàn thì gọi là đại.

* Trang 295 *
device

Niết bàn cũng chẳng thể cân lường, chẳng thể nghĩ bàn nên gọi Đại Niết bàn.
Này Thiện nam tử ! Do vì thuần thanh tịnh nên gọi Đại Niết bàn. Thuần tịnh có bốn thứ:
Một, Thuần thanh tịnh. Do lột sạch hết nhơn và quả, bất tịnh trong hai mươi lăm cõi, còn lại cái thể sáng trong thuần tịnh, gọi đó là Niết bàn. Vì vậy, Niết bàn cũng được gọi là có, nhưng thực ra Niết bàn chẳng phải là có. Như Lai thuận theo thế tục mà nói Niết bàn có. Ví như người đời chẳng phải chồng mà gọi là chồng; chẳng phải vợ mà gọi là vợ; chẳng phải chồng vợ mà gọi là chồng vợ…Cũng vậy, tùy thuận thế tục đế mà nói Như Lai có Đại Niết bàn.
Hai, Nghiệp thanh tịnh. Phàm phu vì nghiệp không thanh tịnh nên không có Niết bàn. Như Lai nghiệp thanh tịnh nên có Niết bàn. Như Lai nghiệp thanh tịnh gọi là đại tịnh. Đại tịnh nên gọi Đại Niết bàn.
Ba, Thân thanh tịnh. Thân vô thường gọi là bất tịnh. Thân Như Lai thường trụ nên gọi là đại tịnh. Đại tịnh tức là Đại Niết bàn.
Bốn, Tâm thanh tịnh. Tâm có ác lậu gọi là bất tịnh. Tâm Phật vô lậu gọi là đại tịnh. Đại tịnh là tên gọi khác của Đại Niết bàn.

 

* Trang 296 *
device

Bồ tát tu hành kinh Đại Niết bàn như vậy gọi là Bồ tát thành tựu phần công đức thứ nhất.
Này Cao Quý Đức Vương ! Đại Bồ tát tu hành kinh Đại Niết bàn được điều xưa không được mà nay được. Thấy điều xưa chẳng thấy mà nay thấy. Nghe điều xưa chẳng nghe mà nay được nghe. Đến chỗ xưa chẳng đến mà nay được đến.
Thế nào là xưa chẳng được mà nay được ?
Nay Như Lai sẽ nói về thần thông cho đại chúng tu học. Thần thông có hai thứ: Một, ngoài. Hai, trong.
Thần thông ngoài, thì cùng với ngoại đạo giống nhau.
Thần thông trong lại có hai thứ: Một, của Nhị thừa. Hai, của Bồ tát. Thần thông của Bồ tát, hàng Thanh văn, Bích Chi Phật không có được. Hàng Nhị thừa một tâm biến hóa tự tại với một thân, không biến hóa tự tại được nhiều. Bồ tát một tâm có thể biến hóa hiện đủ thân hình trong lục đạo mà vẫn tự tại. Thần thông tự tại lớn của Bồ tát là do thế lực của kinh Đại Niết bàn. Đó là điều mà kinh gọi là: “Xưa chẳng được mà nay được”.
Phàm phu thân cũng như tâm đều không thể tự tại, hoặc thân theo tâm, hoặc tâm theo thân. Ví như

* Trang 297 *
device

người say rượu, thân động tâm cũng động theo, như trẻ nhỏ thân nhỏ, tâm cũng nhỏ theo.
Bồ tát thân cùng tâm đều tự tại. Bồ tát hiện thân tướng như vi trần, khắp đến vô lượng vô biên hằng sa thế giới không bị chướng ngại mà tâm Bồ tát thường định, không động. Đây gọi là “tâm chẳng theo thân” và đây cũng gọi là chỗ: “Xưa chẳng đến mà nay được đến”.
Hàng Thanh văn, Bích Chi Phật dầu có thể sử dụng thần thông nhưng không thể biến thân nhỏ như vi trần khắp đầy vô lượng hằng hà sa thế giới. Thanh văn, Bích Chi Phật lúc thân động tâm cũng động theo. Bồ tát không như vậy. Tâm dầu chẳng động mà thân đến khắp tất cả chỗ. Đấy gọi là: “Tâm chẳng theo thân”. Bồ tát lại còn hóa thân to lớn bằng thế giới đại thiên rồi đem thân to lớn này chui vào thân nhỏ như vi trần mà tâm của Bồ tát cũng chẳng nhỏ theo. Thanh văn, Bích Chi Phật có thể hóa thân to lớn như thế giới đại thiên, nhưng chẳng thể đem thân này chui vào thân nhỏ như vi trần. Việc này hàng Nhị thừa còn chẳng làm được. Thế nên, hàng Nhị thừa thân động thì tâm động theo; còn hàng Đại Bồ tát thì chẳng theo thân. Thân tâm tự tại.


 

* Trang 298 *
device

Đại Bồ tát tu hành theo kinh Đại Niết bàn được nghe những điều từ xưa tới nay chưa được nghe là thế nào ?
Đại Bồ tát dựa vào tất cả các thứ tiếng và tổng hợp tất cả âm thanh làm đối tượng để tư duy quán chiếu…:sơ ư văn trung, nhập lưu vong sở. Sơ nhập ký tịch, động tĩnh nhị tướng, liễu nhiên bất sanh, như thị tiệm tăng, văn sở vận tận, tận văn bất trụ, giác sở giác không, không giác tịch viện, không sở không diệt. Sanh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền.
Do sức định tĩnh, quán chiếu tư duy như vậy, Bồ tát nghe tất cả tiếng trong vô lượng vô biên hằng hà sa thế giới mà không trở ngại. Bởi vì Bồ tát dù nghe mà không có tướng năng văn sở văn, cho nên tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ mạng giả; không có tướng nhơn quyết định, tướng quả quyết định, nhẫn đến không có tướng thường, lạc, ngã, tịnh; tướng Niết bàn và Đại Niết bàn. Do nghĩa đó, gọi là Bồ tát được nghe những điều từ xưa chưa được nghe.
Cao Quý Đức Vương Bồ tát thưa: Trước kia Như Lai nói: Nếu có người nghe một câu kinh Đại Niết bàn quyết định thành Vô thượng Bồ đề. Giờ đây Như Lai nói không có nhơn quyết định, không có quả quyết định; lời này của Như Lai có nghĩa thế nào ?

* Trang 299 *
device

Nghe lời lành được quả giải thoát, nghe lời ác đọa tam đồ là chơn lý đương nhiên. Cớ sao ở kinh này Như Lai dạy không có nhơn quả quyết định ?
Phật khen: Lời hỏi rất hay, nhưng đúng chân lý thì không phải vậy. Vì có nhơn duyên Như Lai nói có quyết định nhơn, quyết định quả. Vì có nhơn duyên, Như Lai nói không nhơn quyết định, không quả quyết định.
Niết bàn của chư Phật: Thường, lạc, ngã, tịnh là quả quyết định. Nhất xiển đề tạo tội tứ trọng, ngũ nghịch, phỉ báng đại thừa là hạng người rời bỏ bổn tâm, sống kiếp tam đồ là quả quyết định. Nói rằng: “Nghe lời lành có Niết bàn, nghe lời ác rơi vào tam đồ. Lời này không đúng. Tùy cách nghe mà nhơn quả quyết định có hay quyết định không. Nghe một câu kinh, tỏ ngộ thật tướng vô tướng của các pháp thì quả Vô thượng Bồ đề là quyết định có. Nghe lời ác mà tâm không khởi niệm ác, thân không làm điều ác thì quả tam đồ quyết định không.
Do nghĩa đó tu học kinh Đại Niết bàn nghe được những điều xưa chẳng được nghe.
Đại Bồ tát tu học kinh Đại Niết bàn, thấy những điều xưa chưa thấy như thế nào ?

 

* Trang 300 *
device

Bồ tát tiếp nhận tất cả ánh sáng vốn có của vũ trụ thiên nhiên làm đối tượng sở quán. Do sức tu tập tư duy, quán chiếu hoán chuyển những năng lượng thiên nhiên ấy thành tánh thấy của nhãn căn. Do vậy nhãn căn của Bồ tát không những thấy từ sơ thiền, nhị thiền…như Thanh văn, Duyên Giác, Bồ tát còn thấy chất phi tướng của các tướng, thấy rõ tánh nhơn duyên sanh của vạn pháp, thấy rõ thế giới trong mười phương của chư Phật. Đối với chúng sanh, Bồ tát thấy và biết có căn lành hay không có căn lành; biết chủng tánh Đại thừa, Tiểu thừa hay ngoại đạo, phàm phu. Thấy toàn thân chúng sanh là một tổ hợp ba mươi sáu vật bất tịnh hình thành. Đó là kết quả Bồ tát tu học kinh Đại Niết bàn: “Những điều xưa chẳng thấy mà nay được thấy”.
Còn nữa ! Cao Quý Đức Vương ! Bồ tát tu học kinh Đại Niết bàn biết tâm và tâm sở bất thiện của chúng sanh là nguyên nhân của phiền não khổ lụy, nhưng Bồ tát không có tưởng tâm và tâm sở, cũng không có tưởng chúng sanh, mà Bồ tát luôn luôn tư duy quán chiếu: “Tất cả sự vật thường an trú trong đệ nhất nghĩa không. Do tu tập “không quán”, Bồ tát biết không có tướng ngã và ngã sở. Biết tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, vì có Phật tánh nên hàng nhất xiển đề dầu đã rời bỏ bổn tâm mà vẫn còn có cơ hội được

* Trang 301 *
device

được quả Vô thượng Bồ đề. Những điều như vậy, hàng Thanh văn, Duyên giác không thể biết.
Bồ tát tu học kinh Đại thừa Đại Niết bàn khi được “tha tâm trí” rồi, những hiểu biết của Bồ tát , hàng Thanh văn, Duyên giác không thể biết. Bồ tát biết những nhơn duyên hạnh nghiệp của chúng sanh, của tự thân về dòng họ, giai cấp cuộc sống…trong quá khứ nhiều đời kiếp…cho đến hiện tại.
Bồ tát dù biết suốt thân nhân quyến thuộc trong quá khứ mà không có tướng thân nhân. Bồ tát biết tất cả tâm chúng sanh trong lục đạo mà không có tướng biết. Bồ tát vận lòng từ vô duyên đối với chúng sanh mà thường an trú trong “đệ nhất nghĩa không”. Cho nên không thấy có từ tâm do ta thi thố. Những thấy biết như thế, hàng Thanh văn, Duyên giác không thể biết. Đó là sự thành tựu công đức của Bồ tát tu học kinh Đại thừa Đại Niết bàn.
Bồ tát tu học kinh Đại thừa Đại Niết bàn sẽ được Kim cang tam muội. An trú trong chánh định ấy, Bồ tát đập vỡ, quét sạch tất cả pháp, thấy tất cả pháp đều là tướng vô thường, vô ngã duyên sanh huyễn hóa. Thực chất của các pháp hữu vi là không có gì, đó chỉ là hiện tượng ảo vọng dối gạt phàm phu, người trí không ham thấy, vì không đáng thấy.

 

* Trang 302 *
device

Bồ tát an trú trong Kim cang tam muội, không thấy có tướng chúng sanh, cho nên Bồ tát dù tu Bố thí ba la mật nhẫn đến Bát nhã Ba la mật mà không thấy bố thí cho đến không có thành tựu Bát nhã ba la mật. Nếu thấy có tướng chúng sanh thì Bồ tát đã không viên mãn cứu cánh Đàn ba la mật…nhẫn đến Bát nhã ba la mật.
Này Cao Quý Đức Vương ! Kim cang tam muội là vua của các tam muội. Nó là vua của các vua, là thép cứng hơn các thép cứng, nó là đá quý trên các đá quý. Bồ tát an trú Kim cang tam muội nhìn thấy tất cả pháp không chướng ngại như xem một trái nho để trong lòng bàn tay, như ngồi ngã tư đường thấy rõ mọi người đi đứng qua lại, như lên núi cao trông thấy cảnh vật dưới đồng bằng; Bồ tát tu Kim cang tam muội có thể đập vỡ tan tất cả vật sắc, nhưng không có quan niệm tiêu vong, như đại địa dung chứa giữ gìn muôn vật, nhưng trọn chẳng có quan niệm ta đã chở đựng hết thảy mọi vật…
Này Thiện nam tử ! Bồ tát thường quán niệm tư duy, có bốn pháp gần gũi với Đại Niết bàn: Một, thân cận bạn lành. Hai, chuyên tâm nghe chánh pháp. Ba, nhiếp niệm tư duy. Bốn, ứng dụng tu hành đúng pháp. Và, Bồ tát nhận định rõ ràng rằng: Siêng năng, cần khổ chịu đựng tất cả khổ hạnh trên đời để mong đổi

* Trang 303 *
device

lấy Niết bàn là điều không thể có. Ví như người bệnh gặp thầy giỏi, trị đúng bệnh, thuốc tốt, uống đúng liều lượng chắc chắn bệnh lành. Nhịn đói chịu khát, ăn đắng, uống cay theo thói quen lạc hậu, mê tín dị đoan, tế thần cúng quỷ, khấn lạy cầu xin, rốt cuộc không đem lại kết quả gì, bệnh nhân này chỉ có chết, vì lối trị bệnh sai lầm, ngược chân lý trái nhân quả.
Này Thiện nam tử ! Gần thiện tri thức mỗi ngày tăng trưởng sự thanh thoát an vui, như người được sinh hoạt ở vào nửa tháng có trăng. Mồng một rồi mồng hai, mồng ba…mỗi ngày thêm lên thì trăng càng tỏ rạng…cho đến ngày viên mãn: trăng rằm. Người gần gũi thiện tri thức lần lần xa lìa pháp ác, thêm lớn pháp lành cũng như vậy.
Gần gũi thiện tri thức sẽ có điều kiện tham vấn học hỏi nghĩa lý sâu mầu của mười hai bộ kinh. Người nghe thông hiểu nghĩa lý mười hai bộ kinh gọi là người thính pháp; nghe hiểu nhận thức rõ kinh Đại thừa gọi là người chơn thật thính pháp. Người chơn thật thính pháp là người nghe hiểu kinh Đại Niết bàn rằng: “Tất cả mọi người đều có Phật tánh”. Rằng: “Như Lai chẳng nhập Niết bàn theo quan niệm vĩnh diệt”. Nghe pháp như vậy gọi là người chuyên tâm thính pháp.
Bồ tát chuyên tu thính pháp rồi, cần nhiếp niệm tư duy ba món tam muội: KHÔNG, VÔ TƯỚNG, VÔ

* Trang 304 *
device

NGUYỆN. Bồ tát thấy rõ rằng hai mươi lăm cõi không có thật, thể của nó là KHÔNG. Mười tướng: sắc, thanh, hương, vị, xúc; sanh, trụ, dị, diệt, nam, nữ…chỉ là tướng giả hợp, giả ly cho nên tướng đối tượng mà chúng sanh nhận biết, thực thể của nó là , nó chỉ là vật trống rỗng chẳng có gì. Vì nhận biết rõ tánh KHÔNG, VÔ TƯỚNG của hiện tượng vạn pháp, Bồ tát không một niệm mong cầu. Bồ tát biết rằng không có gì để cầu. Tu tập ba môn tam muội như vậy gọi là Bồ tát nhiếp niệm tư duy.
Này Thiện nam tử ! Là Bồ tát thường ở trong tam muội nhiếp niệm tư duy rồi còn phải tu hành đúng pháp. Bồ tát tu tập bố thí ba la mật, trì giới ba la mật nhẫn đến bát nhã ba la mật một cách viên mãn rõ ràng, còn phải tư duy tánh hư huyễn của ấm, nhập, xứ, giới, biết rõ tánh chơn thật của Niết bàn. Phật là thường, lạc, ngã, tịnh. Người hiểu sâu, hiểu kỹ kinh Đại Niết bàn thì cũng hiểu rõ rằng chư Phật chẳng nhập Niết bàn theo nghĩa vĩnh diệt như quan niệm phàm phu.
Này Thiện nam tử ! Phật, Bồ tát là chơn thiện tri thức đối với chúng sanh vì khéo dùng ba pháp điều ngự cho những chúng sanh chưa được điều ngự: Một, lời nói dịu hòa. Hai, lời nói quở trách. Ba, lời nói vừa dịu hòa vừa quở trách đúng việc đúng thời. Ví như

* Trang 305 *
device

lương y thông thạo chín cách trị bệnh, giỏi về chẩn đoán lâm sàng. Phù trầm trì sát, bắt mạch đúng; hàn nhiệt hư thật, định bệnh không sai, lập phương cắt thuốc bệnh nhân uống thuốc được lành, vì vậy được gọi là lương y. Cũng vậy, Phật, Bồ tát biết chúng sanh có ba bệnh nặng: Tham dục, sân nhuế và ngu si. Người nhiều tham dục dạy quán tướng “bạch cốt vi trần”. Người nhiều sân nhuế dạy quán niệm từ bi. Người nhiều ngu si dạy quán nhơn duyên giả hợp. Chúng sanh tu tập đều được an lành. Do vậy, Phật, Bồ tát gọi là thiện tri thức của chúng sanh, như lương y hễ thấy người bệnh thì lo chữa trị không tìm biết giòng họ, giai cấp, sang hèn nghèo giàu, do vậy được người xưng tặng là đại lương y. Chư Phật, Bồ tát cũng vậy, thấy chúng sanh có bệnh phiền não liền sanh lòng từ mẫn thuyết pháp tế độ,
không tìm hiểu chủng tộc, giai cấp giàu nghèo quý tiện. Chúng sanh nghe pháp, phiền não liền tiêu trừ. Do vậy, chư Phật, Bồ tát gọi là thiện tri thức. Do gần gũi thiện tri thức nên gần gũi Đại Niết bàn. Chúng sanh do gần gũi thiện tri thức mà được nghe pháp, do nghe pháp mà được tín căn, do tín căn mà thực hành: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Rồi từ đó mà được quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm…nhẫn đến quả Bồ đề Vô thượng. Nên biết, có được pháp lành đều do thế lực của sự nghe pháp ! Ví như voi say hung dữ có người điều

* Trang 306 *
device

phục, dùng móc sắt móc rách da đầu, voi say liền điều thuận. Tất cả chúng sanh do tham thân si thường khởi tâm gây tạo tội ác, Bồ tát vì họ thuyết pháp làm cho họ chừa bỏ tội ác, do vậy, họ gần gũi Đại Niết bàn. Vì thế, Như Lai ở trong các kinh bảo hàng đệ tử phải nhiếp tâm nghe học, lãnh thọ mười hai bộ kinh, thực hành “bảy giác chi”, “tám thánh đạo”, lìa bỏ “ngũ cái”, ngăn dứt “thập sử, thập triền”. Làm được như vậy thì gần gũi Đại Niết bàn thậm chí có cơ hội sống trong Đại Niết bàn đều do công đức thính pháp.
Trưởng giả Tu Đa Đa (được người đời tôn vinh Cấp Cô Độc trưởng giả) trước kia mang bệnh nặng, ông rất lo rầu sợ sệt, được nghe Xá Lợi Phất dùng “pháp thập dụ” thuyết minh, sau khi nghe, ông liền hết sợ sệt được chứng quả Tu đà hoàn. Đó cũng là do thính pháp mà gần gũi Đại Niết bàn, vì được mở thông pháp nhãn.
Trong đời có ba hạng người phước báo khác nhau mà thọ dụng hạnh phúc an lạc khác nhau: Người mù không có mắt thì hoàn toàn chẳng thấy được gì. Người có một mắt nhìn cảnh vật chỉ thấy từng phần hẹp hòi phiến diện, chỉ có người hai mắt sáng mới nhìn trọn vẹn vạn tượng sum la trước mắt. Chúng sanh cũng vậy, không nghe pháp, không biết chơn lý là mù mịt tối tăm. Có nghe pháp mà tâm không an định, không

* Trang 307 *
device

quán niệm tư duy, thì nhận thức chân lý lờ mờ không đem lại sự an vui thỏa thích. Chỉ có người thính pháp, tư duy ứng dụng trong cuộc sống thì thật sự gần gũi Đại Niết bàn và có thể sống với những giờ phút, những tháng ngày Niết bàn…trên cõi đời “huyễn sanh huyễn diệt”. Thế lực của sự thính pháp có hiệu quả rõ ràng, người có trí sẽ tự chứng biết.
Này Thiện nam tử ! Ngày trước lúc ta ở thành Câu Thi Na, Xá Lợi Phất đang bị bệnh khổ. Ta sai A Nan đến thuyết pháp cho Xá Lợi Phật nghe. Sau đó, Xá Lợi Phất bảo bốn người đệ tử khiêng giường bệnh đến chỗ Phật để nghe thuyết pháp. Do phước lộc nghe thuyết pháp mà Xá Lợi Phất tâm thân an ổn nhẹ nhàng rồi hết bệnh. Đó là do nghe chánh pháp mà được gần Đại Niết bàn.
Tất cả chúng sanh nhơn tư duy mà được giải thoát. Bởi vì chúng sanh thường bị ngũ dục buộc ràng, không có trí tuệ nên không thấy Đại Niết bàn. Chúng sanh bị “thường”, “lạc”, “ngã”, “tịnh” làm điên đảo. Nhờ tư duy mà thấy được “vô thường”, “vô lạc”, “vô ngã”, “vô tịnh”. Do sự nhận thấy đúng lẽ thật mà được giải thoát, gần với Đại Niết bàn.
Hữu tình chúng sanh có bốn tướng: sanh, lão, bệnh, tử.

 

* Trang 308 *
device

Vô tình chúng sanh có bốn tướng: sanh, trụ, dị, diệt.
Pháp giới chúng sanh có bốn tướng: thành, trụ, hoại, không.
Do bốn tướng vô thường bại hoại ấy khiến cho phàm phu và hàng sơ quả Tu đà hoàn bị nhiều khổ não ưu sầu. Nếu khéo nhiếp niệm tư duy dù gặp phải bốn tướng tác động hoành hành cũng khỏi bị khổ não…Đấy là do tư duy mà được gần Đại Niết bàn.
Này Thiện nam tử ! Tất cả pháp lành đều do tư duy mà được. Giả sử có người dù trải qua vô lượng vô số kiếp chuyên tâm thính pháp mà không tư duy thì không có lý do, không có cơ hội thành tựu quả Vô thượng Bồ đề. Vì đã bỏ mất chánh nhơn trí tuệ, cho nên tư duy là điều kiện, là chánh nhơn để gần Đại Niết bàn.
Này Thiện nam tử ! Trên đường tu hành Bồ tát phải tu đúng chánh pháp. Phải biết dứt bỏ pháp ác, phải thực hiện các pháp thiện, phải thấy biết rõ các pháp trống rỗng không có tự tánh. Vì không có tự tánh, vì trống rỗng cho nên các pháp vô ngã, vô thường, vô lạc, vô tịnh. Do thấy biết rõ ràng chân lý cho nên Bồ tát thà bỏ thân mạng chớ không lay chuyển tín tâm đối với Tam Bảo.

 

* Trang 309 *
device

Tu lại có hai thứ: chơn chánh và không chơn chánh. Biết rõ Niết bàn, Phật tánh, Như Lai pháp thân, thật tướng vô tướng của vạn pháp là tu chơn chánh. Không rõ biết những điều cốt lõi ấy của nền giáo lý phương quảng Đại thừa ấy là tu không chơn chánh.
Thế nào gọi là biết tướng Niết bàn ?
Biết rằng Niết bàn có các đức: thường, lạc, ngã, tịnh, thanh lương, giải thoát…hiểu như thế gọi là hiểu biết tướng Niết bàn. Biết rằng sanh nhơn và tác nhơn không làm ra cảnh giới Niết bàn được.
Phàm phu chúng sanh chưa viễn ly thế tục đế, tu tập dứt trừ phiền não cũng có Niết bàn, nhưng không gọi là chơn thật, vì có lúc hiển lúc ẩn không thường xuyên liên tục.
Hàng Thanh văn, Duyên giác dứt hết hoặc kiến tư được gọi là giải thoát, có được Niết bàn, nhưng Niết bàn này chưa được gọi là chơn, thường, vì đời vị lai hàng Thanh văn, Duyên giác còn sẽ được Vô thượng Bồ đề. Thế cho nên Bồ tát biết Niết bàn như vậy chưa được gọi là Bồ tát biết Phật tánh, Pháp tánh, Tăng tánh, Như lai tánh, Thực tướng tánh và Không tánh.

 

* Trang 310 *
device

Bồ tát tu học kinh Đại Niết bàn, biết rõ hết tướng sai khác của Niết bàn, của Phật tánh…của Thực tướng cho đến tánh Không.
Này Thiện nam tử ! Bồ tát tu học kinh Đại Niết bàn chẳng thấy có “hư không”. Bồ tát sử dụng tuệ nhãn mới thấy được “tánh không” của chơn đế. Tánh hư không dẹp bỏ hết vật có, là tánh “không” của thế tục đế. Tánh “không” ấy do làm ra, nó tạm có, tạm không, vô thường. Đã là vô thường thì đích thị “sanh diệt pháp”. “Không” thông qua tuệ nhãn của Bồ tát là “không bất dị sắc”. “Sắc bất dị không”… Đó là cái thấy của Bồ tát thấy “tánh không” qua chơn đế.
Này Thiện nam tử ! Niết bàn không có chỗ trụ. Do chư Phật dứt sạch phiền não gọi là Niết bàn. Niết bàn là thường, lạc, ngã, tịnh, nhưng lạc của Niết bàn không phải cái lạc của “thọ lạc”. Lạc của Niết bàn là lạc tịch diệt nhiệm mầu, lạc vượt ngoài đối đãi. Chư Phật có hai thứ lạc: Một, tịch diệt lạc, lạc vắng lặng thanh tịnh không khởi niệm lự. Hai, giác tri lạc, lạc trong lúc chánh niệm, chánh tư duy.
Lại nữa, Thiện nam tử ! Người dứt phiền não là có được Niết bàn, nhưng không gọi là Đại Niết bàn. Vì hạng người này dù được Niết bàn, nhưng chưa thấy Phật tánh. Niết bàn này chỉ có lạc và tịnh, không có ngãthường. Người dứt sạch phiền não vừa thấy rõ

* Trang 311 *
device

Phật tánh, đây được gọi Đại Niết bàn. Đại Niết bàn đầy đủ bốn đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.
Này Thiện nam tử ! Chữ NIẾT có nghĩa là không. Chữ BÀN có rất nhiều nghĩa:
Niết là không, bàn là dệt: Không dệt thêm dài đường sanh tử là Niết bàn.
Niết là không, bàn là vô minh che chướng: Không vô minh che chướng là Niết bàn.
Niết là không, bàn là đi, đến: Không đi, không đến gọi là Niết bàn.
Niết là không, bàn là thay đổi: Không thay đổi là Niết bàn.
Niết là không, bàn là mới, cũ: Không mới, cũ là Niết bàn.
Niết là không, bàn là chướng ngại: Không chướng ngại là Niết bàn.
Niết là không, bàn là danh tướng: Không danh, không tướng là Niết bàn.
Niết là không, bàn là tạo tác: Không tạo tác là Niết bàn.
Niết là không, bàn là lục dục, thất tình: Không lục dục, thất tình là Niết bàn.

 

* Trang 312 *
device

Này Cao Quý Đức Vương ! Người đang diệt phiền não chưa gọi là Niết bàn. Chẳng sanh phiền não là người có được Niết bàn. Chư Phật Như Lai đối với tất cả pháp không bị chướng ngại cho nên gọi là Phật, là Như Lai. Thân, tâm, trí tuệ của Như Lai đầy khắp vô lượng vô biên vô số cõi nước không bị chướng ngại, ví như hư không. Như Lai thường trụ không biến diệt đổi thay, vì vậy Như Lai là thật tướng.
Do những nghĩa như vậy mà biết Như Lai không vĩnh diệt nhập Niết bàn, Như Lai thường trú Đại Niết bàn.

 

* Trang 313 *
device

TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG

* Người đệ tử Phật khi nhận thức chân lý đúng, bấy giờ biết rõ rằng: Các pháp không tự tánh cho nên không có tánh cố định. Tội lỗi không tự tánh kể cả tứ trọng ngũ nghịch. Nhất xiển đề cũng không tự tánh. Từ những nghĩa như vậy, suy biết Như Lai nhập Niết bàn cũng không tự tánh vĩnh diệt.
* NIẾT BÀN là gì ? Chữ NIẾT có nghĩa là KHÔNG. Chữ BÀN vô số nghĩa. Tất cả những gì hữu lậu, vô minh đen tối, phiền não khổ đau, bất bình, bất mãn, trói buộc thân tâm đều nhiếp thuộc vào nghĩa chữ BÀN. Ví dụ: NIẾT là không, BÀN là tham dục, sân nhuế, ngu si. KHÔNG tham dục, sân nhuế, ngu si là NIẾT BÀN.
* Niết bàn và Đại Niết bàn khác ở điểm nào ? Thực ra Niết bàn không phải “cảnh giới” nào hay là “cái gì” cao xa hay hùng vĩ ở đâu đâu như quan niệm của những người giàu tưởng tượng, tưởng tượng sai lầm. Cứ theo định nghĩa của chữ Niết bàn thì Niết bàn ở khắp thế gian, hiện hữu tận cùng vũ trụ. Tất cả mọi người, ai cũng có thể kiến tạo cho mình một cảnh Niết bàn cho nên Niết bàn chỉ có một thứ y nhau. Không có thứ Niết bàn dành để ưu đãi cho bất cứ hạng người nào. Do nghĩa đó mà có Niết bàn và Đại Niết bàn.

 

* Trang 314 *
device

Phàm phu cũng có Niết bàn. Thanh văn, Duyên giác, những người này đều có được Niết bàn nhưng không gọi là ĐẠI, vì Niết bàn của những bậc này chưa cứu cánh viên mãn, vì chất lượng an vui của Niết bàn này có hơn kém khác nhau, tệ hại hơn nữa, lúc có, lúc không, khi sanh, khi diệt như Niết bàn của phàm phu chẳng hạn. Niết bàn Phật mới gọi là Đại. Niết bàn Phật là tự tánh thanh tịnh bản nhiên, hiện hữu, tồn tại vô thỉ vô chung, là Niết bàn vô thượng, gọi là ĐẠI NIẾT BÀN. Niết bàn Phật có những đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, Đại Ngã, Đại Tự Tại, cho nên gọi là ĐẠI. Niết bàn của phàm phu, Thanh văn, Duyên giác và thập trụ Bồ tát không được những đức tánh ấy cho nên không được gọi là Đại Niết Bàn.
Núi có núi nhỏ, núi lớn, sông có sông nhỏ, sông lớn…Niết bàn cũng có nhiều bậc như vậy.
* Đại Niết bàn vô thượng của Như Lai, có tám đức nhiệm mầu bất khả tư nghì, trí của hàng Thanh văn Duyên giác không thể suy lường biết được. Những Bồ tát trồng sâu chủng tánh Đại thừa, có khả năng tư duy, quán chiếu nhận thức “lý pháp giới”, “vô vi pháp”, “chơn như thể”, “nhất chơn pháp giới”, “pháp thân Như Lai”, “nhất thiết tức nhất”, “chư pháp tương tức”, “nhất đa tương dung”, “trùng tùng duyên khởi”…có khả năng tư duy dường ấy mới nhận thấy rõ ý nghĩa

* Trang 315 *
device

thậm thâm vi diệu, bất khả tư nghì ĐẠI NIẾT BÀN của Thế tôn là vô thượng.
* Tất cả các pháp chỉ là danh ngôn giả đặt. Sự giả đặt, dựa trên hai trường hợp mà có ra danh ngôn ấy: Một, do có nhân duyên dựa trên sự thể mà đặt tên, như “Xá Lợi Tử” con của bà Xá Lợi. Đây là nhơn tên mẹ mà đặt tên con. Như Mục Kiền Liên, tên của dòng họ mà đặt tên. Như Lai cũng vậy, vì sanh trong họ Cù Đàm, nhơn dòng họ Cù Đàm mà gọi tên là Cù Đàm. Hai, tự phát. Ai muốn đặt gì cũng được, lần hồi quen gọi, rồi mọi người nhất trí với nhau trong một xã hội cùng chung chủng tộc. Các nhà thiên văn, khoa học, vi trùng học…đặt tên các hành tinh, thiên thể…dựa trên yếu tố tự phát “biến kế” này!
* THẦN THÔNG là thuật ngữ trong Phật giáo. Bất tư nghì danh THẦN. Vô ngại tự tại danh THÔNG. Gọi là người được thần thông là người “vô ngại tự tại bất tư nghì”. Vô ngại tự tại một cách mầu nhiệm khó hành, khó hiểu, hạng phàm phu, người tiểu quả khó tin. Bởi vì thần thông không phải bay cao, đi nhanh, chiếu sáng le lói, thoạt có thoạt không…như ảo thuật gia diễn xuất, như sự “hóa phép” của thần tiên tưởng tượng trong dân gian. Mà “thần thông” của đạo Phật nói lên sức “TỰ TẠI VÔ NGẠI” trong đời sống của con người đắc đạo. Sự đắc đạo của người này đạt đến trình độ “pháp giới

* Trang 316 *
device

giới bất nhị”, “chư pháp tương tức”, “nhất đa tương dung”, “nhất tức nhất thiết”…
* Tu học kinh Đại Niết bàn đến được chỗ xưa chẳng đến, thấy được điều xưa chưa từng thấy, và biết được những việc từ trước chưa từng biết, đấy là một sự thật hiển nhiên mầu nhiệm. Bởi vì nếu người ta sử dụng nhục nhãn mà thấy nghe…thì sự thấy nghe phổ biến, mọi người ai cũng thấy cũng nghe. (10/10/04 Băng 165)Nếu người nhìn sự vật hiện tượng qua thiên nhãn, hoặc pháp nhãn thì sự thấy nghe này người phàm phu chưa hề được thấy nghe. Bồ tát sử dụng tuệ nhãn quán sát thế gian, cái nhận thức “tánh không” của Bồ tát, hàng Thanh văn, Duyên giác không hề biết được. Tu học theo tiêu chưẩn thấy nghe của Phật nhãn, tức nhiên là thấy những gì từ xưa chưa được thấy, nghe những gì từ trước chưa từng nghe…Cho đến biết những điều từ trước tới nay chưa từng biết, bởi vì tu học kinh Đại Niết bàn là tu học tinh thần giáo lý liễu nghĩa Đại thừa trong Đại thừa.
* Nhơn quả là chơn lý, lời Phật dạy, chớ không phải lời của thiên ma ngoại đạo sàm sỡ vu vơ. Thế mà, ở kinh Đại Niết Bàn này, Cao Quý Đức Vương Bồ tát hỏi Phật: Vì cớ chi ở kinh này Như Lai nói: “không có nhơn quyết định cũng không có quả quyết định ? Đức Phật khen, lời thưa hỏi của Cao Quý Đức Vương lợi ích lớn cho chúng sanh. Rồi đức Phật dạy: Vì có nhơn duyên nên Như Lai nói có nhơn quả, vì có nhơn duyên

* Trang 317 *
device

Như Lai nói không nhơn quả. Nói rõ ra: “Hữu vi có nhơn quả, vô vi không có nhơn quả. Tục đế có nhơn quả, chơn đế không có nhơn quả”, Hiện tượng môn có nhơn quả. Bản thể bình đẳng môn không có nhơn quả. Chơn lý thì phải tu học như vậy mới hiểu ý Như Lai. Như Lai vô số phương tiện trên đường hóa đạo chúng sanh.
* Kim Cang tam muội, nói đủ là Kim Cang Bát Nhã tam muội. Từ bố thí ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật gọi tắt là “Kim cang tam muội”, một thứ đại định “Trí tuệ” bền, chắc, cứng như Kim Cang.
* Có bốn pháp giúp cho người đệ tử Phật gần gũi Đại Niết Bàn:
1. Thân cận bạn lành.
2. Ham thích nghe pháp.
3. Thường nhiếp niệm tư duy chánh pháp.
4. Ứng dụng chánh pháp thực hành trong đời sống.
Bồ tát thường quán sát tư duy: Khổ hạnh, hoang tưởng, ỷ lại tha nhơn, khiếp sợ siêu hình, trông chờ cứu rỗi, quỵ lụy cầu xin là hành động trái chân lý, phát xuất từ những tâm tư yếu đuối, mê mờ. Dù có siêng năng, cần khổ cũng không đem lại kết quả an lành giải thoát. Như bệnh nhơn không gặp đúng thầy, đúng thuốc, tất phải chết oan uổng mà thôi.

 

* Trang 318 *
device

* Không, vô tướng, vô nguyện là ba môn tam muội, ba đối tượng “sở tư duy” của một thiền giả. Thiền giả tham quán, tư duy ba đề tài ấy, sẽ đập vỡ tan tam giới, nhị thập ngũ hữu mà không lưu lại một tí ti tro bụi. Vì thế, Bồ tát chẳng thấy có gì nữa để ước nguyện mong cầu.
* Muốn gần gũi Đại Niết bàn, rất cần được gần gũi thiện tri thức. Thiện tri thức đúng nghĩa phải là quảng kiến đa văn Phật pháp, là người thực hành, thực chứng đạo pháp. Thiện tri thức hiền và lành là lẽ đương nhiên, nhưng có lúc thiện tri thức ấy phải không hiền không lành thì mới có lợi cho mình. Rồi người thiện tri thức lại vừa hiền vừa lành, vừa không hiền không lành. Gặp được thiện tri thức đúng nghĩa đúng vai như người đau bệnh gặp lương y giỏi hộ vệ chăm sóc đỡ đần, người bệnh chắc chắn không lâm vào nguy kịch, được lành. “Ứng bệnh dữ dược” vai trò một thiện tri thức đúng nghĩa là vậy. Cho nên gặp thiện tri thức tốt gần đồng nghĩa với gặp Bồ tát, gặp được Phật rồi vậy.
* Ông trưởng giả Tu Đạt Đa (Cấp Cô Độc) khi có bệnh, tâm thần bấn loạn, sợ hãi lo âu, Phật bảo Xá Lợi Phất thuyết pháp, nói về sự hư ảo, tạm bợ mong manh của kiếp con người, của tiền tài, danh vọng sự nghiệp qua “thập dụ”: Mộng, huyễn, bào, cảnh trung tượng, thủy trung nguyệt, càn thát bà thành, ba tiêu, dương diệm, như lộ, như điện. Ông Tu Đạt Đa tâm thần định tĩnh tỏ ngộ Phật pháp, chứng quả Tu đà hoàn. Người

* Trang 319 *
device

thiện tri thức đóng một vai trò rất quan trọng đối với chúng sanh, với một bệnh nhân cần pháp dược, nhờ có thính pháp mà gần gũi Đại Niết bàn.
* Mù, một mắt, hai mắt nhìn cảnh vật khác nhau rõ rệt. Không nghe pháp, nghe pháp mà không tư duy, không ứng dụng, không đem lại lợi ích. Chỉ có hạng nghe pháp rồi tư duy, rồi ứng dụng thấy được chơn lý mới gần gũi Đại Niết bàn.
* Tu Xa ma tha, Tam ma bát đề, thiền na, tức là chỉ, quán và tư duy. Đấy là ba pháp môn phương tiện then chốt trong rừng giáo lý Phật. Chỉ có nghĩa là chặn đứng tạp niệm, gạt bỏ những niệm lự quá khứ, cắt đứt niệm lự sẽ phát triển nghĩ ngợi tương lai. Đó là công dụng của “CHỈ” Quán là nêu ra một đối tượng nào đó, chú tâm vào đối tượng đó để tư duy.
Thiền na có nghĩa là tư duy. Tư duy thế nào ? Tư duy để làm gì ? Để biết gì ? Đây là vấn đề người tu hành cần học. Học với ai ? Trường phái nào ? Lấy lý trí nào ? Dựa vào tiêu chuẩn nào soi rọi để nhận biết đúng sai ?
ƒ Dứt bỏ pháp ác
ƒ Phát huy pháp thiện.
ƒ Chiếu kiến “ngũ uẩn giai không”.
Tu học như vậy là tu học đúng chánh pháp

 

* Trang 320 *
device

Trái lại là tu học mà không đem lại lợi ích gì !
* Niết bàn có bốn đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.
Sanh nhơn không làm ra Niết bàn.
Tác nhơn càng không thể kiến tạo Niết bàn.
Niết bàn từ “liễu nhơn” mà hiện hữu…
* Niết bàn không dành riêng, không ưu đãi cho ai hết. Mọi người có thể “kiến lập” cho mình một Niết bàn theo khả năng của mình. Ví dụ:
Niết bàn của người phàm.
Niết bàn của A La Hán.
Niết bàn của Bích Chi Phật.
Niết bàn của Bồ tát.
* Niết bàn không có ở đâu hết mà không ở đâu chẳng có.
Chữ NIẾT có nghĩa là “không”, chỉ cần một nghĩa thôi. Niết là KHÔNG.
Chữ BÀN có tám vạn bốn ngàn nghĩa. Như là tham, sân, si, mạn, nghi, như là thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm chủ kiến v.v..như là…như là…và…như là…./.

 

* Trang 321 *
device

 
Đại Bát Niết Bàn Kinh Tập 2