LOGO VNBET
PHẨM THỨ HAI MƯƠI HAI

QUANG MINH BIẾN CHIẾU
CAO QUÝ ĐỨC VƯƠNG BỒ TÁT (D)

 
Bạch Thế tôn ! Như lời Phật dạy: Do gìn giữ tâm Bồ đề, gần gũi tứ vô lượng tâm; do tin thuận “nhất thật tướng” của Đại thừa, dứt hết tham, sân, si, mà Bồ tát được “tâm giải thoát”.
Bạch Thế tôn ! Lời Phật dạy, con không dám nghi, nhưng theo chỗ con hiểu, nghĩa này dường như chưa trọn nghĩa !
Bạch Thế tôn ! Nếu tánh vốn có của tâm không tham, không hệ phược, vậy do nhân duyên gì mà có thể hệ phược và do nhân duyên gì mà có thể hệ phược được tâm ? Ví như vắt sừng, sừng vốn không có sữa, cho nên dù có công, dụng sức bao nhiêu vắt cũng không có sữa. Tâm vốn không tham…sao nay lại có ?

* Trang 322 *
device

Nếu trước vốn không mà sau mới có thì chư Phật và Bồ tát vốn đã không tham, vậy chừng nào sanh tham …trở lại ?
Bạch Thế tôn ? Thạch nữ vốn không con, dù phải bao nhiêu nhơn duyên, thế lực cũng không sao có con được. Tâm vốn không tham, không hệ phược, dù gây tạo nhơn duyên gì cũng không sao sanh tham…được !
Bạch Thế tôn ! Tâm vốn không tham mà lại gọi là “giải thoát” thì chư Phật và Bồ tát có thể nhổ gai trong hư không để ngừa họa cho chúng sanh ư ?
Thế tôn ! Tâm quá khứ đã không thể có, tâm hiện tại cũng không thể có, tâm vị lai lại càng không thể có, vậy “tâm giải thoát” là cái tâm nào ?
Thế tôn ! Ví như ngọn đèn quá khứ không diệt tối, ngọn đèn hiện tại không diệt tối, ngọn đèn vị lai càng không diệt tối vì hai thứ ấy không đồng thời. Tâm cũng vậy, thế sao lại nói là “Tâm giải thoát” ?
Bạch Thế tôn ! Thì ra ! Tham cũng là có ! Nếu tham là không thì người nam lúc thấy người nữ lẽ ra chẳng sanh tham ái. Nếu do người nữ mà sanh tham ái thì tham là có thật. Vì có tham thật mới có tội đọa ba đường…

 

* Trang 323 *
device

Thế tôn ! Như có kẻ thấy tượng vẽ người nữ cũng sanh tham ái, vì sanh tham ái thì tham là có thật. Vì có tham thật nên mới có tội đọa ba đường…
Thế tôn ! Như có kẻ thấy tượng vẽ cũng sanh tham ái, vì sanh tham ái nên có nhiều tội lỗi. Nếu vốn không tham, tại sao thấy tượng vẽ lại sanh tham. Nếu tâm không tham tại sao Như Lai nói, Bồ tát “tâm được giải thoát” ? Nếu tâm có tham tại sao phải chờ thấy người nữ rồi sau mới sanh ? Không thấy thì không sanh ? Hiện tại tôi thấy có quả báo ác là do tham gây ra, nên biết tham là có. Sân và si cũng như vậy !
Thế tôn ! Trong sắc không có tham, trong thanh, hương, vị, xúc, pháp lại sanh ra tham ? Nếu trong các duyên đều không có tham, tại sao riêng chúng sanh có tham mà chư Phật và Bồ tát không sanh tham ?
Thế tôn ! Tâm cũng là bất định ? Nếu tâm là bất định thì không có tham, sân, si…Nếu tâm đã là bất định sao lại nói rằng “tâm được giải thoát” ? Tham cũng là bất định, nếu đã là bất định tại sao lại nhơn nơi tham mà sanh ra ba đường ác ? Người tham và cảnh đối tượng cả hai đều bất định, tại sao cùng duyên một cảnh đối tượng, có người sanh tham, người sanh sân hoặc người khác sanh si ? Nếu cả hai đều bất định, tại sao Như Lai nói rằng Bồ tát tu Đại Niết bàn thì “tâm được giải thoát” ?


 

* Trang 324 *
device

Phật bảo Cao Quý Đức Vương Bồ tát: Lành thay ! Lành thay !
Này Thiện nam tử ! Tâm chẳng bị tham…kiết hệ phược, cũng chẳng phải chẳng bị tham…kiết hệ phược. Chẳng phải giải thoát cũng chẳng phải chẳng giải
thoát. Chẳng phải có, chẳng phải không. Chẳng phải hiện tại, chẳng phải quá khứ cũng chẳng phải vị lai. Bởi vì, TẤT CẢ PHÁP ĐỀU KHÔNG CÓ TỰ TÁNH.
Này Thiện nam tử ! Có các nhà ngoại đạo cho rằng nhơn duyên hòa hợp thì có quả sanh ra, điều đó không đúng. Nếu trong các duyên vốn không tánh sanh mà có thể sanh ra thì hư không vốn chẳng sanh, lẽ ra cũng sanh được quả; nhưng hư không vẫn chẳng sanh, vì chẳng phải là nhơn. Do vì trong các duyên vốn có tánh của quả, nên hòa hợp thì sanh ra quả ?
Này Thiện nam tử ! Chư Phật và Bồ tát không bao giờ nói quyết định rằng: Trong nhơn có quả hay trong nhơn không quả ? Trong nhơn cũng có cũng không quả. Trong nhơn chẳng phải có, chẳng phải không quả. Nếu kẻ nào khẳng định ngược lại ba cú nghĩa trên thì đó là ma, bè lũ của ma, là người tham ái, chẳng dứt được sự hệ phược của sanh tử. Người này không rõ biết “tâm tướng” và “tham tướng”.

 

* Trang 325 *
device

Này Thiện nam tử ! Chư Phật và Bồ tát hiển bày lý trung đạo, dù nói các pháp chẳng phải có chẳng phải không, nhưng chẳng quyết định. Vì nhơn nơi nhãn, sắc, minh, tâm, niệm mà có thức ra. thức này quyết định chẳng ở trong nhãn, chẳng ở trong sắc, chẳng ở trong minh, chẳng ở trong tâm, chẳng ở trong niệm, cũng chẳng ở chặng giữa, chẳng phải có, chẳng phải không. Do từ các duyên sanh ra nên gọi là có. Vì không tự tánh nên gọi là không. Do vậy, Như Lai nói: “Các pháp chẳng phải có, chẳng phải không”.
Này Thiện nam tử ! Chư Phật và Bồ tát không nói quyết định rằng: Tâm có tánh thanh tịnh hay tâm chẳng có tánh thanh tịnh. Không thể nói tâm tịnh hay bất tịnh, vì tâm vốn vô trụ. Do từ nơi duyên sanh ra tham, nên nói chẳng phải không; vì vốn không có tánh tham nên nói chẳng phải có.
Này Thiện nam tử ! Từ nhơn duyên mà tâm sanh tham. Từ nhơn duyên mà tâm được giải thoát. Nên biết, nhơn duyên có hai thứ: Một, theo sanh tử, gây tạo nhơn sanh tử. Hai, theo Đại Niết bàn, xây dựng bồi dưỡng nhơn giải thoát Đại Niết bàn.
Thiện nam tử ! Tâm không hòa hợp tham, cũng chẳng hòa hợp với sân si. Ví như mặt nhật, mặt nguyệt dù bị khói bụi mây mù che chướng làm cho chúng sanh không thấy, nhưng tánh của nhật nguyệt

* Trang 326 *
device

nguyệt chẳng hòa hợp với khói bụi mây mù. Dù do nhơn duyên mà tâm sanh tham nhưng tánh của tâm chẳng cùng tham hòa hợp.
Nếu tâm tham thì tánh tham, nếu tâm không tham thì tánh không tham. Tâm không tham không thể làm tham, tâm tham không thể làm không tham. Do nghĩa đó, nên kiết sử hệ phược, tham dục không thể làm nhiểm ô được tâm. Chư Phật, Bồ tát đã loại trừ hết kiết sử, tham ái, hệ phược nên gọi là hạng người “tâm giải thoát”. Tất cả chúng sanh do nhơn duyên mà sanh hệ phược và cũng do nhơn duyên mà được giải thoát.
Này Thiện nam tử ! Ví như núi tuyết, đỉnh cao vót khỉ vượn và người không lên đến được. Cảnh tịnh giải thoát của Phật, Bồ tát, Ma vương ba tuần và người tuyệt phần không thể suy lường. Lưng chừng núi, người cùng khỉ vượn đi đến được, người thợ săn dùng keo nhựa ván gỗ làm bẫy mà bắt khỉ vượn đem về. Khỉ vượn vì dính phải keo nhựa mà bị bắt làm thịt. Phàm phu vì tham ái, ngũ dục, hệ phược, ma ba tuần có được cơ hội tung hoành, giam hãm trong ngục tù tam giới không có ngày ra !
Này Thiện nam tử ! Ví như quốc vương ngự tại cung đình thì thân tâm an lạc, nếu xuất cung dã ngoại thì bất trắc nguy hiểm có thể xảy đến chẳng biết lúc nào ! Tất cả chúng sanh tự trụ nơi chánh quán niệm (tứ

* Trang 327 *
device

niệm xứ quán) thì được an lạc; nếu thất niệm, buông lung thì bọn ác ma xua đẩy theo con đường khổ đau sanh tử, luân hồi không dứt.
Thế nào là ma vương và bè lũ của ma vương ? Có hạng người đối với vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, cho là thường, lạc, ngã, tịnh. Với pháp thường, lạc, ngã, tịnh, họ hiểu ngược lại, họ là người điên đảo, quyến thuộc của ma !
Lại có hạng người cho rằng các pháp thực có tướng nhất định, thì người này khi thấy sắc cũng chấp sắc có tướng nhất định; thọ, tưởng, hành, thức cũng có tướng cố định. Rồi tướng nhật nguyệt, sơn hà, nam nữ, thập nhị xứ, thập bát giới cũng đều có tướng cố định. Những kẻ có kiến chấp như vậy là sai lầm chơn lý, họ là quyến thuộc của ma, tâm của những người này không thể có giải thoát thanh tịnh.
Lại có hạng người chấp ngũ uẩn là ngã: Rằng ngã ở trong sắc uẩn, sắc uẩn là ngã…cho đến trong thức uẩn, thức uẩn là ngã. Kiến chấp như vậy là quyến thuộc của ma. Người như vậy không phải đệ tử Phật.
Này Thiện nam tử ! Có những hàng đệ tử của ta danh nghĩa sa môn, hình thức đạo sĩ, nhưng tâm trí không cầu Niết bàn mà ham học sách vở ngoại đạo. Chẳng tu học mười hai bộ kinh mà ham hố kinh doanh

* Trang 328 *
device

sự nghiệp.... chẳng siêng tu hạnh tịch tịnh xuất gia mà ham thân cận Quốc vương, Thái tử…Nên biết, những người như thế là quyến thuộc của ma, không phải đệ tử Phật. Do nhơn duyên đó mà tâm cùng với tham đồng sanh, đồng diệt. Sân và si cũng vậy. Do vậy, biết rằng tâm tánh chẳng phải tịnh, cũng chẳng phải bất tịnh. Vì vậy, Như Lai nói: Tu theo Đại Niết bàn được “Tâm giải thoát”.
Cao Quý Đức Vương Bồ tát thưa: Bạch Thế tôn ! Như lời Phật dạy: Nhất xiển đề có nghĩa là người dứt mất thiện căn. Theo con nghĩ nghĩa ấy có lẽ chưa đúng ? Vì hạng người này hãy còn Phật tánh. Đúng chơn lý thì Phật tánh không thể dứt ! Cớ sao Như Lai nói “dứt mất thiện căn” ? Trước đây trong các kinh Phật từng nói: Thiện căn có hai thứ: Thường và vô thường. Thường thì không dứt, vô thường thì có thể dứt. Thiện căn vô thường có thể dứt nên liên lụy đọa tam đồ. Thường chẳng thể dứt, cớ sao Như Lai không khẳng định ý này ? Không dứt Phật tánh, không phải nhất xiển đề. Vậy, Nhất xiển đề mà Như Lai gọi, từ đâu có ?
Bạch Thế tôn ! Nếu nhơn Phật tánh mà phát tâm Vô Thượng Bồ đề, cớ chi Như Lai vì chúng sanh nói những mười hai bộ kinh lắm công khó nhọc ?

 

* Trang 329 *
device

Bạch Thế tôn ! Ví như bốn con sông lớn phát nguyên từ ao A na ba da trên cao nguyên của thế giới chảy ra, giả sử có trời người cùng chư Phật cũng không thể nói rằng nước sông lớn này không chảy vào biển mà nó sẽ trở lại nguồn. Cũng vậy, Bạch Thế tôn ! Người có Phật tánh, không luận nghe pháp hay không nghe, có giới hay không giới, có bố thí hay không bố thí, có tu hay không tu, tất cả lẽ ra đều được Vô thượng Bồ đề !
Bạch Thế tôn ! Như quần thể núi Thất sơn, mặt trời mọc lên ngang hai phần ba núi, không có lý do gì mặt trời trở lại phương đông mà không qua đến hướng tây ! Chúng sanh đã có Phật tánh, không có lý gì chẳng được Vô thượng Bồ đề !
Bạch Thế tôn ! Kinh Đại Niết bàn này, Như Lai nói: “Nhơn quả chẳng phải có chẳng phải không” ? Nghĩa này có đúng thật như vậy chăng ? Từ trước Như Lai chưa từng dạy như vậy ? Trong sữa nếu không có tánh “pho-mai” tất không làm ra “pho-mai” từ sữa. Trong hạt dương xỉ nếu không có tánh cây cao ba mươi thước, tất không mọc lên cây dương cao ba mươi thước. Nếu trong Phật tánh không có quả Vô thượng Bồ đề sao lại có quả Bồ đề Vô thượng ? Dựa trên lý đó mà suy, thì làm sao hợp với lý “nhơn quả chẳng phải có, chẳng phải không” theo lời Phật nói ?

 

* Trang 330 *
device

Phật bảo: Lành thay ! Rất lành thay ! Này Thiện nam tử ! Trong đời có hai hạng người rất là hi hữu:
_ Một, người không phạm tội ác. Hai, người có tội biết cải hối.
_ Lại có hai hạng: Một, làm ơn. Hai, nhớ ơn.
_ Lại có hai hạng: Một, học hỏi điều mới. Hai, ôn nhuần điều học cũ không quên.
_ Lại có hai hạng: Một, sáng tạo cái mới. Hai, tu sửa chỗ cũ.
_ Lại có hai hạng: Một, thích nghe pháp. Hai, thích thuyết pháp.
_ Lại có hai hạng: Một, khéo gạn hỏi. Hai, khéo giải đáp. Đó là những hạng người rất hi hữu trên cõi đời, mà người khéo gạn hỏi là Cao Quý Đức Vương, lời ông vừa gạn hỏi.
Này Thiện nam tử ! Trước kia Phật từng nói, do phước báo của con người có thượng, có trung, có hạ. Thọ mạng của con người đại loại cũng có thượng, trung và hạ như vậy. Người bậc thượng, có thọ mạng một trăm hai mươi tuổi, nếu mắc phải bệnh trong khoảng trung niên gặp thầy giỏi thuốc tốt, chữa trị đúng cách bệnh ắt mau lành, giả sử không có thầy giỏi, thuốc tốt, thang thuốc qua loa mà bệnh cũng lành. Vì phước báo, thọ mạng của người này quyết định.

 

* Trang 331 *
device

Có hạng bệnh nhơn, nếu gặp thầy giỏi, thuốc hay, chăm sóc khéo léo thì được lành, bằng không thì không lành. Đây là những người thọ mạng không quyết định. Hạng người này dù thọ mạng chưa hết, song có thể chết yểu, nếu phạm phải chín điều “cấm kỵ” của thuật dưỡng sinh: Một, biết ăn sẽ không ổn mà cứ ăn. Hai, ăn quá nhiều. Ba, ăn chưa tiêu mà ăn thêm nữa. Bốn, đại tiểu bế tắc mà không điều hòa. Năm, lúc bệnh không nghe lời chỉ dẫn của y sĩ. Sáu, chẳng nghe lời dặn bảo của người khám bệnh. Bảy, cần ói, cố nín chịu không ói. Tám, ham thích đi đêm. Chín, phòng the quá độ. Hạng bệnh nhơn như thế Phật nói: nếu họ gặp thầy giỏi thuốc tốt thì được lành, không gặp thì không lành.
Lại có hạng bệnh nhơn gặp thầy giỏi thuốc tốt hay không đều cũng không lành vì thọ mạng đã hết !
Các hàng chúng sanh cũng vậy. Người phát Bồ đề tâm, gặp bạn lành hay không, gặp Phật, Bồ tát hay không; có được nghe chánh pháp Đại thừa hay không, có được học chánh pháp hay không, họ đều có thể tiệm tiệm nhi tiến trên con đường Vô thượng Bồ đề. Họ sẽ đến đích, ví như người có thọ mạng quyết định.
Hàng Nhị thừa từ quả vị Tu đà hoàn…đến Bích Chi Phật, cần được nghe Phật, Bồ tát, thiện tri thức giảng nói pháp Đại thừa, thì có thể phát tâm Bồ đề,

* Trang 332 *
device

bằng không gặp, không được nghe thì không thể phát tâm. Ví như người bệnh thọ mạng không quyết định, do chín duyên làm cho họ yểu vong. Gặp thầy gặp thuốc thì bệnh lành, không gặp thầy gặp thuốc thì không thọ thêm được nữa !
Hàng Nhất xiển đề là những người dứt mất thiện căn nên dù gặp Phật, Bồ tát, thiện hữu hay không, họ không thể thành tựu quả Vô thượng Bồ đề. Ví như người tuổi thọ đã hết, dù gặp thầy, gặp thuốc tốt bệnh cũng không lành !
Bạch Thế tôn ! Do duyên cớ gì trước đây có lần Phật dạy: Nhất xiển đề vẫn có Phật tánh. Đã có Phật tánh thì Nhất xiển đề ắt sẽ được quả Vô thượng Bồ đề ? Tại sao nói Nhất xiển đề như người tuổi thọ đã hết, dù gặp thầy gặp thuốc cũng khônh lành ?
Phật bảo: Lành thay ! Thiện nam tử ! Nhất xiển đề nếu phát Bồ đề tâm thì Nhất xiển đề không còn gọi là Nhất xiển đề nữa. Do vậy, hạng Nhất xiển đề vẫn có tiêu chuẩn thành Vô thượng Bồ đề.
Này Thiện nam tử ! “Nhất xiển” gọi là “bất cụ”. “Đề” gọi là “tín”. Bất cụ tín hay Tín bất cụ nghĩa là không đủ đức tin hay đức tin hời hợt, gọi là nhất xiển đề, vậy thôi ! Học hiểu sâu sắc hơn, Nhất xiển đề còn có các mặt “bất cụ” như:

 

* Trang 333 *
device

_ Thiện phương tiện bất cụ. (Tu thiện phương tiện thiếu).
_ Tinh tấn bất cụ (Tu tinh tấn thiếu).
_ Niệm bất cụ (Tu chánh niệm thiếu).
_ Định bất cụ (Tu định ít).
_ Tuệ bất cụ (Tu tuệ ít).
Do những nghĩa như vậy, Như Lai nói Nhất xiển đề không thành Phật và có thể đọa địa ngục triền miên. Tuy vậy, Phật tánh của hạng Nhất xiển đề không có lúc tạm không thì làm sao có dứt mất ? Giờ phút nào họ chợt tỉnh ngộ, tin hiểu mình có Phật tánh, bấy giờ họ không còn là nhất xiển đề, họ có thể phát Bồ đề tâm, tu hành kinh Đại Niết bàn, họ thẳng tiến Bồ đề Niết bàn Vô thượng. Vì vậy, Như Lai nói: Nhất xiển đề vẫn được thành Vô thượng Chánh Biến Tri Giác. Do nghĩa đó, nên biết rằng các pháp không có tự tánh của riêng nó. Như lời gạn hỏi của ông, rằng trong sữa có tánh “phó mát” cho nên chế biến thành “phó mát”. Trong hạt cây phi lao có tánh cao hai mươi thước cho nên sanh ra cây phi lao cao hai mươi thước. Người trí không nói như vậy. Sữa chế biến “phó mát” hay “bơ”..nhờ có các duyên. Hạt phi lao cũng vậy. Tại vì không tự tánh, cho nên sữa có thể thành “yaua”, “phó mát”, “bơ”. Tại vì không tự tánh, hạt phi lao có thể cao năm

 

* Trang 334 *
device

thước, mười thước, hai mươi thước, hoặc không có thước nào, nếu không có “duyên” phò trợ.
Phật tánh của chúng sanh cũng vậy, nhờ các nhơn duyên được thấy, nhờ các nhơn duyên mà được đạo Bồ đề. Nhờ các nhơn duyên rồi sau mới thành đạo Bồ đề, điều đó chỉ rõ Phật tánh cũng là vô tánh vậy. Do vô tánh nên có thể thành Vô thượng Bồ đề. Do duyên cớ đó Đại Bồ tát thường tán thán điều lành của người, không rao nói xấu ác của kẻ khác. Đấy gọi là Bồ tát tu hành chất trực tâm.
Cao Quý Đức Vương Bồ tát thưa: Bạch Thế tôn ! Tất cả các pháp, tánh nó tự không hay là nó chẳng không do tu “không tam muội” rồi sau mới thấy không ? Nếu tánh nó tự không thì chẳng phải tu “không” rồi sau mới thấy không, cớ sao Như Lai nói do tu “không” mà được thấy “không” ? Nếu tánh nó tự chẳng không thì dù có tu “không” cũng chẳng thể làm cho nó thành “không” được !
Phật bảo: Tất cả các pháp, tánh của nó tự không vì tánh của tất cả pháp vốn là “bất khả đắc”, vì nó chẳng là gì, chẳng có gì để “được” cho ai và cho ai được ! Như sắc tánh chẳng hạn. Sắc chẳng phải địa, chẳng phải thủy, chẳng phải hỏa, chẳng phải phong cũng chẳng rời ngoài địa, thủy, hỏa, phong. Chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng…cũng chẳng rời ngoài

* Trang 335 *
device

xanh, vàng, đỏ, trắng. Chẳng phải có, chẳng phải không dù có thể nói là “sắc”. Vì tánh “bất khả đắc” như vậy. Bởi tương tợ và tương tục mà phàm phu kiến thủ theo nhận thức của mình mà cho là các pháp tánh chẳng “không tịch”.
Này Thiện nam tử ! Nếu có Sa môn hay Bà la môn nào thấy tất cả pháp tánh chẳng không, phải biết rằng người đó không biết Sa môn, Bà la môn, người đó không phải tu Bát nhã ba la mật, họ không được vào Đại Niết bàn, không được hiện tiền thấy Phật, Bồ tát; họ là thành phần quyến thuộc của ma !
Này Thiện nam tử ! Tất cả pháp tánh nó vốn tự không mà cũng do Bồ tát biết tu tập Bát nhã ba la mật đa mà thấy rõ các pháp là không.
Này Thiện nam tử ! Tất cả các pháp vì tánh nó vô thường nên diệt có thể diệt được, nếu tánh nó là thường thì diệt làm sao diệt được nó ?
Pháp hữu vi vì có tướng sanh nên sanh có thể sanh nó, vì nó có tướng diệt nên diệt có thể diệt nó. Các pháp vì có tướng khổ cho nên khổ có thể làm cho nó khổ ! Như tánh muối là mặn nên có thể ướp mặn vật khác…Tánh mật là ngọt nên có thể ướp ngọt vật khác...Tánh giấm là chua nên có thể ngâm chua vật khác…Tánh cam lồ làm cho người không chết, nếu đem hợp với vật khác cũng có thể thành “vị cứu tử”.

* Trang 336 *
device

Bồ tát tu “không tam muội” cũng như vậy. Vì tu “không” cho nên thấy tất cả các pháp, tánh của nó đều “không tịch”.
Cao Quý Đức Vương Bồ tát hỏi: Bạch Thế tôn ! Như muối có thể làm cho vật không mặn thành ra mặn. Tu không tam muội thấy tất cả pháp là không. Theo con thấy tam muội này không trọn lành, chưa tuyệt hảo, vì còn chất mâu thuẩn điên đảo ở trong. Bởi vì tất cả pháp là không. Vậy mà còn gọi “thấy” là thấy những gì ?
Này Thiện nam tử ! Tu không tam muội nhìn thấy tất cả pháp chẳng phải không mà thấy thành “không tịch”, điều đó đem lại sự giải thoát cho chúng sanh mà không tổn thất gì, hiện tượng vạn hữu sum la trước mắt. Cũng như muối làm cho vật chẳng mặn thành mặn. Tu không tam muội nhìn pháp “chẳng phải không” thành không, để đối trị tham ái của phàm phu.
Này Thiện nam tử ! Tham tâm sở, tánh của nó chẳng phải không, dù không nói nó hẳn có. Nếu tánh tham là không thì chúng sanh không vì tham ái mà phải thọ lãnh cảnh khổ địa ngục, nếu bị khổ địa ngục thì tánh của tâm sở tham hẳn không phải là không có ?
Này Thiện nam tử ! Tánh của sắc là có. Gì là tánh của sắc ? Tánh của sắc chính là điên đảo. Do điên đảo

* Trang 337 *
device

nên chúng sanh tham đắm. Nếu tánh của sắc chẳng phải điên đảo thì không thể làm cho chúng sanh tham đắm ! Vì nó sanh tham cho chúng sanh, nên biết rằng tánh của sắc không phải là không. Do nghĩa đó, nên tu “không tam muội” chẳng phải là điên đảo vậy.
Này Thiện nam tử ! Bồ tát trụ bậc cửu địa thấy pháp có tánh, do vậy, không thấy Phật tánh. Nếu đã thấy Phật tánh thì chẳng còn thấy “tánh” của tất cả pháp. Do tu tập “không tam muội” nên chẳng thấy pháp tánh, vì chẳng thấy pháp tánh cho nên thấy Phật tánh.
Chư Phật và Bồ tát đối với hiện tượng vạn pháp có hai cách nói: Một, nói vạn pháp có tánh. Hai, nói vạn pháp không có tánh. Vì chúng sanh nói vạn pháp có tánh, với hiền thánh nói vạn pháp không có tánh. Vì người chưa thấy được “pháp không” “dạy tu” “không tam muội” để được thấy. Người chưa thấy Phật tánh cũng do tu “không tam muội” mà thấy được “pháp không”. Do thấy được tánh của các pháp là “vô” nên thấy được Phật tánh. Do nghĩa đó, nên biết rằng tu “không” thì thấy được “không” !
Này Thiện nam tử ! Ông gạn hỏi rằng: Người thấy “không” thì không còn gì để thấy. Vậy cái gọi là “thấy” còn thấy những gì ?

 

* Trang 338 *
device

Phật bảo: Đúng vậy, Thiện nam tử ! Đại Bồ tát không có thấy. Không có thấy nghĩa là không có phân biệt đối tượng.
Không phân biệt đối tượng, vị Đại Bồ tát thấy biết rằng vạn pháp đối tượng là những thứ “không có gì”. Không có gì, vì chúng là pháp “huyễn sanh, huyễn diệt”. Do vậy, Đại Bồ tát thấy Phật tánh. Nếu không thấy được tánh “không có gì” của vạn pháp, đồng nghĩa với không thể tu “Bát Nhã Ba La Mật”. Không tu Bát Nhã Ba La Mật Đa thì không thể đi vào Niết bàn, không bao giờ có Đại Niết bàn, dù ngày đêm lễ bái, tụng niệm cầu xin, quì lạy, gối chai trán mốp ! Vì chân lý đó, Bồ tát tu tập hướng tới trí tuệ đáo bỉ ngạn: thấy tất cả tánh của vạn pháp “vô sở đắc”, nghĩa là chẳng có gì để được cho ai và cũng chẳng có ai làm cách gì để được !
Này Thiện nam tử ! Bồ tát không những do tu “không tam muội” “mà thấy không”; lúc tu bố thí ba la mật, trì giới ba la mật...rồi bát nhã ba la mật cho đến ngũ uẩn, lục nhập, thập nhị xứ, thập bát giới..tứ đế pháp cũng không. Như Lai cũng không, Đại Niết bàn cũng không. Vì vậy, Bồ tát thấy tất cả pháp đều không. Do tu “không tam muội” mà lúc dòng họ Thích Ca bị thảm sát nhiều người, ông A Nan thì sầu khổ đau thương khóc lóc, còn Như Lai sắc diện chẳng

* Trang 339 *
device

chút lộ vẻ buồn thương ! Bởi vì Như Lai thường trụ trong “không định”, trong “như huyễn tam ma đề”, còn A Nan chỉ sử dụng nhục nhãn cho nên nhìn vạn pháp hữu vi là thật !
Này Thiện nam tử ! Bồ tát tu tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo, đi vào Đại Niết bàn: thường, lạc, ngã, tịnh, rồi vì các chúng sanh phân biệt diễn thuyết kinh Đại Niết bàn, hiển thị Phật tánh. Nếu Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích Chi Phật, Bồ tát tín thọ kinh này thì đều được vào Đại Niết bàn. Nếu người không tin thì trôi nổi lăn lộn trong biển sanh tử ưu bi !
Cao Quý Đức Vương Bồ tát hỏi Phật: Bạch Thế tôn ! Có thể có chúng sanh nào đối với kinh này chẳng sanh lòng tôn trọng cung kính ?
Đức Phật bảo: Này Thiện nam tử ! Sau Như Lai nhập Niết bàn có hàng ngu si mệnh danh là đệ tử Phật, làm chuyện phạm giới, thích việc đấu tranh, bỏ bê mười hai bộ kinh, đi học văn hóa ngoại lai, kinh sách tà đạo để nhận lấy hư danh, nhận chứa tám thứ vật bất tịnh, tự dối với mọi người nói rằng: Phật cho phép. Những người ngu si này đem chiên đàn đổi lấy gỗ tạp, đem vàng đổi lấy thau, đem bạc đổi lấy kẽm, lấy chì…và đem cam lồ đổi lấy độc dược ! Như Lai gọi đó là những người đáng thương xót !

 

* Trang 340 *
device

Đời sau, kinh Đại Bát Niết bàn này lưu hành trong đời có các đệ tử Phật thọ trì chơn chánh, diễn nói cạn tỏ ý kinh, có thể bị ác Tỳ kheo công kích giết hại. Những ác Tỳ kheo hiệp ước với nhau cùng nhận định với hiểu biết ngu si rằng: Kinh Đại Niết bàn không phải Phật nói. Vì tất cả chư Phật đều nói các pháp vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh mà kinh này nói có thường, lạc, ngã, tịnh. Chư Phật không cấm Tỳ kheo chứa các vật bất tịnh, kinh này lại cấm. Các kinh khác, Phật nói có ba thừa, kinh này lại nói chỉ có nhất Phật thừa và Đại Niết bàn…Nghe những ý tứ trái tai ấy, chúng ta biết rằng kinh Đại Niết bàn này không phải của Phật nói. Còn nữa, chư Phật thì nhập Niết bàn vĩnh diệt đâu còn gì khác, kinh này nói Phật thường trụ, Pháp thường trụ, Tăng thường trụ. Phật là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, Phật không Niết bàn với nghĩa vĩnh diệt. Đây là ý tứ lạ tai chắc chắn không phải kinh Phật nói. Lại nữa, kinh này tư tưởng vượt hẳn phương quảng Đại thừa cho nên biết kinh này không phải của Phật….
Này Thiện nam tử ! Những người có tư tưởng, có nhận thức theo kiến giải như trên dù mang danh đệ tử Phật, hình thức đệ tử Phật qua dáng mặc, tướng đi, nhưng họ chẳng tin thuận kinh Đại Niết bàn này. Ở trong thời kỳ như vậy, nếu có chúng sanh tin thuận kinh điển này, phải biết đây là chơn chánh đệ tử Phật là

* Trang 341 *
device

những người tục diệm truyền đăng, xiển dương chánh pháp. Do tín tâm thâm hậu mà những người này thấy Phật tánh, nhập Đại Niết bàn.
Cao Quý Đức Vương Bồ tát thưa: Tuyệt diệu thay ! Đức Thế Tôn !
Nay Như Lai khéo khai thị kinh Đại Niết bàn. Nhờ cơ hội này, con đã thấy rõ thêm từng phần Phật tánh và con tự tin khả năng đi vào Đại Niết bàn là do ở chính nơi con.

 
TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG
 
* Cao Quý Đức Vương nêu ba nghi vấn:
ƒ Một, tham…có tự tánh, vì có tự tánh cho nên tham làm ô trọc tâm, ràng buộc được tâm ?
ƒ Hai, tâm có tự tâm chơn thật, vì vậy sau khi tu hành tâm được giải thoát ?
ƒBa, tham có tự thể, tâm có tự thể và giải thoát cũng có tự thể ?
Ba nghi vấn này, Bồ tát Cao Quý Đức Vương nhằm mục đích đánh thức tâm nghi của chúng sanh, muốn

* Trang 342 *
device

cho chúng sanh ứng dụng thành ngữ: “Đại nghi, Đại ngộ” trong chốn thiền môn đấy !
Như Lai Thế tôn thì không bao giờ là người nắm tay lại mà bao giờ cũng là người sẵn sàng tung vãi để lợi lạc chúng sanh.
Đức Như Lai ôn tồn bảo: Cao Quý Đức Vương ! Điều căn bản nhận thức để nhận thức chánh pháp Đại thừa trong đạo Phật là: “CÁC PHÁP KHÔNG TỰ TÁNH”.
Tâm không tự tánh cho nên trong ba đời: Quá, hiện, vị lai tìm tâm không có. Tham, sân, si, đối tượng buộc ràng hệ phược tâm, tìm thực tánh của nó, không hề có tánh.
Cái gọi là “giải thoát” hệ phược, khiến cho tâm được giải thoát. Sự thật, tâm nào có giải thoát gì đâu, vì nó vốn không hệ phược.
CÁC PHÁP KHÔNG TỰ TÁNH vì không tự tánh cho nên không thể nói quyết định. PHẬT PHÁP BẤT ĐỊNH PHÁP, vì bất định pháp cho nên các pháp chuyển biến hình thành theo nhơn duyên, mà nhơn duyên thì trùng trùng vô tận sanh diệt đổi thay cho nên nhơn và quả của vạn pháp cũng chuyển biến không ngừng.
* Từ nhơn duyên mà tâm trở thành tham kết và bị hệ phược. Cũng từ nhơn duyên mà tâm trở thành thanh

* Trang 343 *
device

tịnh được Đại Niết bàn. Vì vậy, tâm không thể nói quyết định và nhơn duyên cũng không thể nói quyết định, cho đến Pháp tánh, Phật tánh cũng không thể nói quyết định.
* Bốn bộ A hàm thuộc hệ tư tưởng Tiểu thừa. Các bộ Phương quảng thuộc hệ tư tưởng Đại thừa, sinh thời Đức Phật đinh ninh, chỉ cặn kẻ, dạy bảo cho các Tỳ kheo đệ tử mình phải thường tư duy quán chiếu “ngũ thủ uẩn” chính bản thân mình. Nếu chấp mắc sai lầm ngũ thủ uẩn là đệ tử của ma không còn là đệ tử Phật. Người đệ tử Phật phải thấy rõ tánh vô ngã, vô thường, khổ, bất tịnh ở ngũ thủ uẩn thân. Đó là nền móng để xây dựng những tầng lâu đài giải thoát, giác ngộ cao và cao mãi.
* Là đệ tử Phật, học kinh Đại Niết bàn phải thận trọng lưu ý vấn đề: “Nhất xiển đề” và “Phật tánh”. Phật tánh thì tất cả chúng sanh đều có, mà người nhất xiển đề là một chúng sanh cho nên nhất xiển đề vẫn có Phật tánh. Vì vậy, người nhất xiển đề vẫn có tiêu chuẩn được thành Phật như tất cả mọi con người.
* “Nhất xiển đề” cái từ ấy không có tánh cố định, cũng như Phật từng dạy: “Tất cả pháp không một pháp nào có tánh cố định” vậy. Nhất xiển đề là “bất cụ tín” đối với ác nhân, ác báo, ác đức, ác tâm…Trong đời sống của kiếp con người, thời điểm nào, bao nhiêu năm, sống bằng tâm hồn “TÍN BẤT CỤ” ấy, thì thời điểm đó,

* Trang 344 *
device

khoảng năm tháng đó, TA là “NHẤT XIỂN ĐỀ” chánh hiệu. Một tâm hồn không có lương tâm, lương tri, không biết nhơn quả, không sợ tội báo, con người ấy xa rời hiền thánh, không thân thích bạn lành thì quả Niết bàn, Bồ đề, Phật không từ đâu mà có ! Rồi bỗng nhiên ! Trong một duyên lành nào đó, lòng trắc ẩn nẩy mầm, tâm từ bi xuất hiện, thiện hữu tri thức hộ trì, hướng dẫn nẻo phước, đường lành, biết tà, biết chánh, biết ngụy, biết chơn…Bấy giờ TA là người hiền thiện, thậm chí ta quy y tam bảo, rồi ta trở thành phật tử. Thế thì, giờ ngày này TA KHÔNG LÀ NHẤT XIỂN ĐỀ nữa, đương nhiên ta có quyền, ta có đủ tiêu chuẩn để mà thành Phật, để thọ dụng quả Bồ đề, Niết bàn vô thượng !
* Các pháp, tánh của nó “tự không”. Chữ “không” phải được hiểu là “không tịch”, nghĩa là tự nó chẳng làm gì khổ đau phiền phức cho ai. “Không” cũng có nghĩa là trống rỗng, vì nó “vô ngã”, không tự có bản chất chơn thật. Vì vậy, dùng tuệ nhãn mà nhìn xem sẽ nhận rõ tánh “bất khả đắc” của vạn pháp không có khó khăn gì ! “Bất khả đắc” có nghĩa là chẳng có gì để được, vì tánh như huyễn của nó.
Huyền Giác Thiền sư:
“Thủ bất đắc, xả bất đắc”
“Bất khả đẳng trung, chi ma đắc…?”

* Trang 345 *
device

* Tánh của vạn pháp thì “không”. Tướng của vạn pháp “chẳng phải không”.
Tuệ nhãn và Phật nhãn của Phật và Bồ tát nhìn vạn pháp không.
Nhục nhãn của phàm phu muốn xa lìa tâm luyến ái nhiểm ô trước
vạn pháp phải tu “không tam muội” mới được thấy không. Còn chư Phật, Bồ tát thì chẳng cần tu “không” mà vĩnh viễn thấy biết “vạn pháp giai không”. Do vậy, phàm phu tu “không tam muội” là rất cần !
* Không phải chỉ có kinh Đại Niết bàn mới có người không sanh lòng tôn trọng và cung kính, mà mười hai bộ kinh đều có người không sanh lòng tôn trọng và cung kính. Bởi vì chủng tử ngoại đạo họ tin theo tà giáo, họ mê tín dị đoan, huyễn hoặc, hoang đường thì làm sao tôn trọng, cung kính chánh pháp cho được ! Những người mệnh danh đệ tử Phật, hình tướng dáng vẻ đạo sĩ mà tâm còn tham ái “hữu vi”, còn tích lũy tám thứ bất tịnh thì không bao giờ họ sanh lòng tôn trọng cung kính kinh này . /.

 

* Trang 346 *
device

 
Đại Bát Niết Bàn Kinh Tập 2