LOGO VNBET
PHẨM THỨ HAI MƯƠI
 
PHẠM HẠNH (D)
    
Tâu Đại vương ! Đại thần Kỳ Bà tâu: Xưa kia Thích Đề Hoàn Nhân lúc sắp chết hiện năm thứ tướng suy:  Một, áo xiêm tự nhớp nhơ. Hai, hoa trên đầu tự héo.
Ba, thân thể tự có mùi hôi. Bốn, nách tự ra mùi hôi. Năm, chẳng bằng lòng chỗ ở của mình.  Những lúc vắng vẻ Thiên Đế thấy dáng Sa môn, Bà la môn ái mộ và
kính trọng như Phật. Ngược lại, các Sa môn, Bà la môn thấy Thiên Đế Thích rất vui mừng nói: Thưa Thiên Đế ! Nay chúng tôi xin quy y với Thiên Đế. Thiên Đế biết những vị này không phải Phật. Họ không thể chữa trị năm suy tướng của ta ! Bấy giờ Thiên tử theo hầu Thiên Đế tên Bát Giá Thi, tâu cùng Thiên Đế: rằng vua Càn Thát Bà có một công chúa tên Tu Bạt Đà, nếu Thiên Đế ban công chúa ấy cho hạ thần,

* Trang 178 *
device

 thần sẽ chỉ người có thể giải cứu, trừ năm suy tướng cho Thiên Đế !    
Thiên Đế đáp: Nếu được như lời anh vừa tâu, công chúa Xá Chỉ, con gái vua A Tu La, hiện là ái hậu của ta, khanh muốn ta cũng ban cho huống hồ công chúa Tu Bạt Đà con của vua Càn Thát Bà !    
_ Tâu Đại vương, hiện nay có đức Phật Thế Tôn hiệu là Thích Ca Mâu Ni, đang ở thành Vương xá, Đại vương nên đến cầu học pháp nơi Phật thì năm suy tướng của Đại vương chắc chắn sẽ được bình an !    
Thiên  đế nghe rồi liền khiến xe giá  đến núi Kỳ Xà Quật  đầu mặt đảnh lễ dưới chân Phật rồi bạch rằng: Thế Tôn ! Trong hàng Thiên, Nhân những gì trói buộc làm cho không tự tại an vui ?    
Đức Phật dạy: Này Thiên Đế Kiều Thi Ca ! Xan tham và tật đố trói buộc nhân thiên làm mất hết khinh an tự tại. 
_ Bạch Thế Tôn ! Xan tham tật đố nhân đâu mà sanh ?
 _ Do vô minh sanh.
_ Vô minh do đâu mà sanh ?
_ Do phóng dật sanh.
_ Phóng dật do đâu mà sanh ?

* Trang 179 *
device

 Do điên đảo mà sanh.   
  _ Điên đảo do đâu mà sanh ?   
 _ Do tâm nghi sanh.    
Bạch Thế Tôn ! Đúng như lời Phật dạy. Vì tâm tôi nghi nên sanh điên đảo. Người chẳng phải Phật mà tưởng là Phật. Giờ đây tôi được thấy Thế Tôn lưới nghi của tôi liền trừ hết. Vì lưới nghi trừ hết nên điên đảo cũng hết. Vì tâm điên đảo hết nên không còn tâm xan tham tật đố.    
Phật bảo: Thiên Đế ! Ông nói rằng không còn tâm xan tham tật đố, vậy ông đã chứng được quả A Na Hàm chăng ? Bậc A Na Hàm không còn tâm xan tham sao lại vì mạng sống mà tìm đến ta. Người thật được quả A Na Hàm chẳng tham cầu mạng sống.     
Bạch Thế Tôn ! Người có điên đảo thì có tham cầu mạng sống. Nay tôi chẳng cầu mạng sống nữa mà chỉ cầu Pháp thân và trí tuệ Phật !   
  _ Này Kiều Thi Ca ! Ngươi cầu Pháp thân và trí tuệ Phật thì tương lai quyết định sẽ được.   
  _ Nghe lời Phật dạy, ngũ suy tướng của Thiên Đế mất hẳn xem như chẳng có gì ! Thiên Đế bèn đảnh lễ rồi đi nhiễu Phật ba vòng, chấp tay cung kính bạch: Thế Tôn ! Nay con chết được sống lại, mất mạng lại

* Trang 180 *
device

được mạng mà còn được Phật thọ ký sẽ chứng được Pháp thân, thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.    
Bạch Thế Tôn ! Tất cả nhân thiên làm thế nào được tăng ích ? Do nhân duyên gì mà phải tổn giảm ?    
Phật dạy: Này Thiên Đế Kiều Thi Ca ! Do đấu tranh mà nhân thiên bị tổn giảm. Khéo tu nhu thuận hòa kính mà được tăng ích.     
_ Bạch Thế Tôn ! Nếu do đấu tranh mà phải tổn giảm, từ nay trở đi con chẳng đấu tranh với A Tu La nữa !
Lành thay ! Lành thay ! Kiều Thi Ca ! Chư Phật Thế Tôn đều nói hạnh nhẫn nhục là nhân Vô thượng Bồ đề.    
Thích Đề Hoàn Nhân lễ Phật rồi trở về Thiên cung.    
Tâu Đại vương ! Đại Thần Kỳ Bà nói: Đức Như Lai trừ hết những nghiệp ác nên gọi Phật là bậc Vô thượng y vương không thể nghĩ bàn ! Nếu Đại vương ra mắt Phật chắc chắn sẽ dứt trừ được trọng tội.    
Trước đây có thanh niên dòng Bà la môn, vì giết hại nhiều người nên có biệt hiệu là Uông Quật Ma La, Uông Quật lúc ác tâm nổi lên, mất hết lý trí cầm gươm toan giết mẹ mình. Hành động bất nhân bất hiếu ấy là

* Trang 181 *
device

một tội nghịch, tất phải đọa địa ngục. Sau đó lại thấy Phật, thân tâm bạo ác hừng hực nổi lên bỏ mẹ đến giết Phật. Đấy là nhân của tội nghịch thứ hai chồng chất đọa vào địa ngục sâu nặng vô cùng ! Rất hạnh phúc thay ! Thanh niên này được Như Lai giáo hóa, tâm ác liền tiêu tan, nghiệp ác đọa địa ngục diệt hết. Chàng thanh niên Uông Quật liền phát tâm Vô thượng Bồ đề, vì thế đức Phật có hiệu là Vô thượng y vương, chẳng phải như hàng lục sư ngoại đạo kia không có đức độ gì có thể so sánh được.    
Còn nữa, tâu Đại vương ! Trước đây nước Xà Bà Đề có đảng cướp năm trăm tên bị vua Ba Tư Nặc bắt được, khoét cả đôi mắt, đem bỏ vào rừng sâu. Đảng cướp khổ sở khóc than tưởng nhớ đến Phật. Đức Phật xót thương xuất hiện trước  đảng cướp khuyên bảo rằng: Các ngươi phải sửa lòng, giữ gìn thân miệng, chớ gây tạo nghiệp ác nữa. Bọn cướp nghe âm thanh dịu dàng ôn tồn của Phật và bạch rằng: Thế Tôn ! Nay chúng con rõ biết Phật có lòng đại từ che chở tất cả chúng sanh. Chúng con xin nương về nơi Phật, nơi Pháp và Tăng !    
Đức Phật vì họ thuyết pháp, tất cả những người trong đảng cướp hết lòng hoan hỉ phát tâm cầu Vô thượng Bồ đề. Do vậy, đức Như Lai chân thật là một

* Trang 182 *
device

Đại y vương vô thượng trong thế gian, chẳng phải như hàng lục sư ngoại đạo.     
Tâu Đại vương ! Nước Xá Bà Đề, có người Chiên Đà La tên Khí Hư đã giết hại nhiều mạng người, gặp được đệ tử Phật là ông Ma Ha Mục Kiều Liên, nghe pháp mà hóa giải hết nhân địa ngục, được sanh lên cõi trời Đao Lợi. Đức Phật có hàng Thánh đệ tử như vậy nên Như Lai quả là một Đại y vương Vô thượng, hàng lục sư ngoại đạo không đáng được đề cập và so sánh !    
Tâu Đại vương ! Ở thành Ba La Nại có trưởng giả A Diệt Đa đâm bà mẹ, giết chết ông cha. Bà mẹ lại tư thông với người khác. Trưởng giả tử lại giết mẹ nữa. Có vị A La Hán là thân hữu của gia đình này biết chuyện, vì hổ thẹn trưởng giả tử giết vị A La Hán. Sau đó, trưởng giả tử đến tịnh xá Kỳ Hoàn cầu xin xuất gia. Các Tỳ kheo biết ông này phạm ba tôi nghịch, nên không vị nào dám nhận cho xuất gia. Trưởng giả tử oán giận, nửa đêm phóng lửa đốt tăng phòng của chư Tăng chúng, giết hại một số chúng tăng tu tập. Thời gian sau, trưởng giả tử qua thành Vương Xá, cầu xin đức Như Lai được xuất gia. Đức Như Lai liền thu nhận rồi giảng nội pháp yếu. Tội nghịch của ông giảm nhẹ theo thời gian, trưởng giả tử lòng khinh an vui mừng, tinh tấn phát tâm hướng về Bồ đề Vô thượng. Do vậy, Như Lai Thế Tôn rõ là bậc Đại y vương vô thượng,

* Trang 183 *
device

không phải như bọn lục sư ngoại đạo nói ra toàn ngụy biện ấu trỉ ngu dân !        
Tâu Đại vương ! Đức Thế Tôn lúc chưa thành Vô thượng Bồ đề, Ma vương đem vô số quyến thuộc đến chỗ Bồ tát tĩnh tọa, Bồ tát dùng sức nhẫn nhục phá tan ác tâm của ma, làm cho ma tỉnh ngộ khởi lòng cung kính đồng phát tâm Vô thượng Bồ đề.    
Tâu Đại vương ! Có lần  ở trong thôn nọ Khoáng Dã quỉ giết hại nhiều người, để cứu cho Thiện Hiện trưởng giả đến lượt phải nộp mạng, Như Lai đến thôn Khoáng Dã hiện thân thuyết pháp. Khoáng Dã quỉ  nghe pháp cởi mở vui mừng bèn đem Thiện Hiện trưởng giả trao cho Phật, rồi tất cả quyến thuộc đồng phát tâm Vô thượng Bồ đề    
Tâu Đại vương ! Nước Ba La Nại có người làm nghề hàng thịt tên là Quảng Ngạch, mỗi ngày giết cả hàng ngàn con dê. Khi gặp được Ngài Xá Lợi Phất, một  đệ tử của  đức Phật, thọ Bát quan trai giới trong một ngày đêm. Nhờ công đức đó, mệnh chung Quảng Ngạch thọ sanh làm con trai của Tỳ Sa môn Thiên vương. Đệ tử của đức Phật mà còn có công đức lớn như vậy, huống là đấng Thế Tôn Vô thượng !    
Tâu Đại vương ! Phật có một người em họ là Đề Bà Đạt Đa, ông này chia rẽ tăng đoàn, làm thân Phật

* Trang 184 *
device

chảy máu, giết hại A La Hán Liên Hoa Tỳ kheo ni, phạm cả ba tội nghịch. Vậy mà Như Lai vì ông giảng nói pháp yếu làm cho tội nghịch nặng của ông theo thời gian giảm nhẹ lần lần. Lúc cuối đời Đề Bà Đạt Đa tự biết lỗi mình hướng về với Phật, phát tâm Vô thượng Bồ đề. Thế nên, Như Lai quả là bậc y vương, chẳng phải hàng lục sư ngoại đạo thiển trí luận càn...    
Tâu Đại vương ! Xin Đại vương suy nghĩ kỹ lời của hạ thần, mau đến ra mắt đức Như Lai. Chư Phật có lòng đại bi che chở bình đẳng cho tất cả không cục bộ một người nào. Chánh pháp của Phật rộng rãi bao la, bình đẳng lợi lạc không có kẻ thân người sơ, không ai là giọt máu đào, không ai là ao nước lã ! Như Lai chẳng phải là thầy riêng của tứ chúng mà là thầy của tam giới tứ sanh, của cửu giới thánh phàm. Như Lai không riêng vì người sang giàu quí tộc như vua Bạt Đề Ca mà thuyết pháp, đức Phật cũng thuyết pháp cho người hạ tiện như ông Ưu Ba Ly.  Không riêng thọ sự cúng dường của trưởng giả A Na Bân Kỳ mà cũng thọ nhận thức ăn của người nghèo khó cúng dường.    Đức Phật không riêng độ hạng trí tuệ như ông Xá Lợi Phất, mà cũng thuyết thuyết giáo hóa cho người u tối như Châu Lợi Bàn Đà.  
Như Lai không thiên cho người không tham như ông Ca Diếp xuất gia, mà cũng độ cho người rất tham như ông Bàn Đà xuất gia.  Như Lai

* Trang 185 *
device

chẳng riêng cho người ít phiền não như ông Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp xuất gia mà cũng cho người nhiều vô minh phiền não gây tạo trọng tội như ông Tu Đà Da, em vua Ba Tư Nặc xuất gia.    Đức Phật không vì ông Tà Thảo có lòng cung kính cúng dường mà thuyết pháp giải trừ tâm sân hận cho ông ấy, mà cũng hóa độ cho kẻ ác tâm muốn giết hại Phật như Uông Quật Ma La, hồi tâm qui tam bảo.  Đức Phật không riêng độ cho những người xuất gia chứng quả A La Hán mà cũng giáo hóa cho hàng tại gia cũng có thể chứng tứ quả Thanh Văn. Như Lai không riêng độ cho người có hoàn cảnh an nhàn tịch tĩnh mà cũng thuyết pháp giáo hóa cho vua Tần Bà Ta La đa đoan quốc sự.  Đức Phật hóa độ cả người nghiện ngập rượu chè như Út Già trưởng giả chớ không riêng độ cho những người cữ kiêng chè rượu thanh tao. Đức Phật cũng giáo hóa cho Bà Tư Tra, một bà mẹ cuồng tâm vì con chết, chớ chẳng riêng thuyết pháp cho người chuyên tu thiền định như ông Ly Bà Đa.  Đức Phật không riêng vì đệ tử của mình mà cũng thuyết pháp cho hàng ngoại đạo Ni Kiền Tử.  Phật giáo hóa cho hạng già suy tám chín mươi tuổi, Phật không từ nan giáo dục đạo lý cho lứa tuổi thanh thiếu trung niên. Đức Phật  độ cho dâm nữ Liên Hoa rồi Phật cũng vì Mạt Lợi phu nhân mà thuyết pháp. Phật thọ nhận thức ăn có độc của trưởng

* Trang 186 *
device

giả Thi Lợi Cúc Đa, như thọ nhận những món ngự thiện cúng dường của vua Ba Tư Nặc.     
Tâu Đại vương ! Trưởng giả Thi Lợi Cúc Đa trước kia cũng tạo tội nghịch nhờ đến Phật được nghe thuyết pháp tiêu trừ tội lỗi mà phát tâm Vô thượng Bồ đề, được khinh an thư thái !    
Tâu Đại vương ! Giả sử suốt tháng suốt năm đem vật thực, y phục, lương dược,  đồ cần dùng cung kính cúng dường cho tất cả chúng sanh, chẳng bằng người niệm Phật khoảng chừng một niệm. Giả sử đúc vàng làm người, xe ngựa chở đầy ngọc, vàng trân bảo đem bố thí chẳng bằng người phát tâm muốn đến Phật giở chân bước một bước. Giả sử dùng trăm xe voi chở các thứ trân bảo của nước Đại tần cùng trăm người yêu kiều diễm lệ của nước ấy toàn thân trang sức kim cương chuỗi ngọc, hổ phách trân châu dùng  để bố thí, không bằng người phát tâm hướng về Phật và bước một bước hướng đến Phật.    
Tâu Đại vương ! Giả sử Đại vương cung kính cúng dường hằng hà sa số vô lượng chúng sanh, không bằng một lần Đại vương đến rừng Ta La Song Thọ thành tâm nghe đức Như Lai thuyết pháp yếu trong một thời !    
Bấy giờ vua A Xà Thế bảo Đại thần Kỳ Bà: Này Kỳ Bà ! Đức Như Lai tâm tánh đã điều nhu thì quyến

* Trang 187 *
device

thuộc của Như Lai phải là những người điều nhu. Như rừng chiên đàn thì thuần là cây chiên đàn. Đức Như Lai là bậc thanh tịnh thì quyến thuộc Như Lai hẳn là những người tam nghiệp thanh tịnh. Như Lai tịch tịnh không tham, không phiền não, quyến thuộc của người cũng tịch tịnh sạch trong. Nay ta là người cực ác, thân tâm ô uế, thuộc hạng người địa ngục đâu đáng là người đến ra mắt đức Như Lai ! Giả sử ta có đến đó e rằng Như Lai chẳng đoái hoài tới. Khanh dù khuyên ta, nhưng ta xấu hổ và sợ sệt lắm, không có lòng muốn đi !    
Vua nói dứt lời trên không bỗng có tiếng vọng:   
 "Phật pháp vô thượng sắp suy vong; dòng sông pháp rộng sâu sắp cạn; đèn sáng đại pháp sắp tắt ! Núi pháp sắp lở; thuyền pháp sắp chìm; cầu pháp sắp sập; điện pháp sắp đổ; cột cờ sắp ngả; cây pháp sắp gẫy; bạn lành sắp đi xa, sự khủng bố sắp ập tới; chúng sanh sắp đói khát; dịch phiền não sắp hoành hành; bóng tối vô minh kéo đến. Mặt trời Phật sắp khuất núi Đại Niết Bàn; Phật nếu diệt độ thì tội nghịch thâm trọng của Đại vương không còn ai cứu giải được ! Đại vương không nên bỏ lỡ thời gian.    
Nay Đại vương đã tạo A tỳ địa ngục, đã có nghiệp tất phải thọ báo. Người  đoạ vô gián ngục phải chịu khổ liên tục không có phút giây tạm dừng. Mong Đại

* Trang 188 *
device

vương mau đến gặp Phật. Ngoài đức Phật ra không ai cứu được Đại vương !"
Vua A Xà Thế lòng quá sợ hãi, toàn thân run rẫy, ngước mặt lên trung hỏi: "Người là ai ? Sao chỉ nghe tiếng mà Ngài chẳng hiện thân?"    
Trên hư không có tiếng đáp: "Tôi là Tần Bà Ta La, cha đẻ của Đại vương đó mà. Đại vương nên nghe lời Kỳ Bà chớ nghe lời xằng bậy của sáu đại thần khuyến dụ Đại vương theo con đường tà kiến u mê của bọn lục sư ngoại đạo".     
Nghe xong, vua A Xà Thế ngất xỉu trên đất. Ghẻ nhọt nứt nở thêm nhiều, hôi hám, nhớp nhơ hơn trước. Dù ngự y tận tình chữa trị, trong uống ngoài thoa, nhưng ghẻ nhọt đau nhức càng thêm đau nhức.    
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn ở trong rừng Ta La Song Thọ, bằng Phật nhãn thấy biết vua A Xà Thế đang đau khổ tận cùng, liền bảo đại chúng: "Nay Như Lai sẽ vì vua A Xà Thế ở lại nơi đời vô lượng kiếp chẳng nhập Niết bàn".    
Ca Diếp Bồ tát thưa: Bạch Thế Tôn ! Lẽ ra Như Lai nên vì vô lượng chúng sanh mà trụ thế chẳng nhập Niết bàn, cớ sao Như Lai lại riêng vì vua A Xà Thế ?    
Phật bảo: Này Thiện nam tử ! Trong đại chúng đây không có một người nào cho rằng Phật vĩnh viễn

* Trang 189 *
device

nhập Niết bàn. Vua A Xà Thế cho rằng Phật sẽ nhập Niết bàn và an trụ vĩnh viễn Niết bàn nên đang khổ sầu ngất xỉu thảm thê !
     Này Ca Diếp ! Lời Như Lai nói có ý nghĩa rất sâu kín, ông chưa hiểu được. Ta nói...vì...A Xà Thế, lời nói của Như Lai có ý nghĩa bao hàm: "Vì tất cả chúng sanh lỡ tạo tội ngũ nghịch, những chúng sanh vì hữu vi mà gây tạo ác nghiệp ở trên cõi đời: A Xà Thế là người điển hình gây tạo tội "hữu vi" và ngũ nghịch. A Xà Thế có nghĩa là "vị sanh oán", là một người con có oan nghiệp với cha mẹ, có "tiền cửu hậu hận" với mẹ cha. Do tiền cửu hậu hận oan nghiệp giữa con và cha mẹ cho nên A Xà Thế tạm thời gián đoạn thiện căn, không thấy Phật tánh cho nên trở thành người mang tội nghịch. Thế cho nên Như Lai nói: Vì vua A Xà Thế mà trụ ở đời vô lượng kiếp chẳng nhập Niết bàn đồng nghĩa: "vì vô lượng chúng sanh phạm phải tứ trọng ngũ nghịch. A Xà Thế chỉ là hiện thân của Như Lai: chẳng thể nghĩ bàn” ! Phật, Pháp, Tăng, Đại Bồ tát cũng chẳng thể nghĩ bàn.    
Bấy giờ đức Thế Tôn nhập Nguyệt ái tam muội, phóng ánh sáng lớn. Ánh sáng này mát mẻ chiếu đến thân vua, ghẻ lở trên thân liền lành, hết nóng, hết nhức.

* Trang 190 *
device

_ Vua bảo Đại thần Kỳ Bà: "Ta từng nghe lúc sắp tận kiếp ba mặt trăng liền hiện lên, do đó khổ hoạn của chúng sanh đều được tiêu trừ. Nay chưa đến thân ta, làm cho thân ta được an ổn, ghẻ lở đều lành ?"    
_ Kỳ Bà thưa: Đây không phải là tận kiếp, không phải ánh sáng của ba mặt trăng, cũng không phải ánh sáng của mặt trời hay các tinh tú...    
_ Vậy là ánh sáng của ai, từ đâu có ? Vua hỏi.   
  _ Tâu Đại vương ! Đây là ánh sáng của đấng Thiên Trung Thiên. Ánh sáng này chẳng có ngằn mé, chẳng nóng, chẳng lạnh, chẳng thường, chẳng diệt, chẳng phải sắc, chẳng phải phi sắc, chẳng phải tướng, chẳng phải vô tướng, chẳng phải xanh, vàng,  đỏ, trắng....Vì  độ chúng sanh nên hiện tướng có thể thấy. Dù thấy được nhưng thật ra ánh sáng này vốn không có tướng ! Kỳ Bà tâu.
  _ Này Kỳ Bà ! Đấng Thiên Trung Thiên, nhân duyên gì mà phóng ra ánh sáng này ?   
 _ Tâu Đại vương ! Tướng lành này, chính là vì Đại vương. Bởi vừa rồi Đại vương nói trong đời không có lương y trị được thân bệnh, tâm bệnh của Đại vương, nên đức Thế Tôn phóng ánh sáng này, trước chữa lành bệnh thân của Đại vương, rồi sau đó sẽ trị cho Đại

* Trang 191 *
device

vương lành tâm bệnh mà Đại vương đang ưu tư sầu khổ !    
_ Này Kỳ Bà ! Đức Như Lai cũng nghĩ tưởng đến ta ư ? Vua hỏi    
_ Tâu Đại vương ! Ví như người có bảy đứa con, một đứa bị bệnh, lòng cha mẹ ưu ái săn sóc đứa con bị bệnh nhiều hơn. Đức Như Lai thì bình đẳng với tất cả chúng sanh, nhưng với người có tội thì lòng Phật thiên trọng; với kẻ phóng dật lòng Phật phóng xả; chư Phật đối với chúng sanh chẳng phân biệt giai cấp, dòng dõi, quí tộc, bình dân; không khinh trọng con người trên màu da chủng tộc, giàu nghèo. Chư Phật quan tâm và luôn luôn tán thán những chúng sanh tâm lành có trí, đủ sức nhận thức chân lý.
 _ Tâu Đại vương ! Hiện tượng này là do Như Lai đang nhập Nguyệt ái tam muội nên có ánh sáng ấy phát ra.    
_ Vua hỏi: Sao gọi là Nguyệt ái tam muội ?   
  _ Ví như ánh sáng mặt trăng có thể giúp cho hoa sen nở toàn diện; Nguyệt ái tam muội có thể giúp cho tâm lành của chúng sanh nảy nở rồi tăng trưởng.
 Ví như ánh sáng mặt trăng có thể làm cho tất cả người đi đêm tối vui mừng; Nguyệt ái tam muội có

* Trang 192 *
device

thể khiến cho người tu tập đi trên con đường Niết bàn vui mừng.      
_Ví như ánh sáng mặt trăng từ đêm mồng một đến rằm, mặt trăng sáng mỗi ngày một tăng cho đến cực kỳ viên mãn; Nguyệt ái tam muội làm cho người mới phát tâm, căn lành lần lần thêm lớn cho đến đầy đủ Đại Niết Bàn.     
 _ Ví như ánh sáng mặt trăng từ đêm mười sáu đến đêm ba mươi, hình sắc, ánh sáng lần lần giảm bớt; Nguyệt ái tam muội có thể làm cho phiền não lần lần tiêu mòn rồi dứt hết.    
 _ Ví như đang lúc nắng nóng bức, tất cả mọi người thường nghĩ đến ánh sáng mặt trăng, lúc trăng sáng đã soi thì liền hết nóng bức; Nguyệt ái tam muội có thể làm cho chúng sanh trừ được phiền não nóng bức.      
_ Ví như mặt trăng tròn là vua trong các tinh tú, là cam lồ vị tất cả chúng sanh ưa thích; Nguyệt ái tam muội là vua của các pháp lành, là cam lồ vị, chúng sanh đều ưa thích.    
Vua nói: Ta nghe các Như Lai chẳng cùng người ác ở chung đàm luận, như biển lớn chẳng dung chứa tử thi; như chim Oan ương chẳng đậu nhà xí; Thiên Đế Thích Đề Hoàn Nhân không ở chung với loài quỉ; chim Câu Suy La chẳng đậu cây khô. Tội nặng như ta đâu

* Trang 193 *
device

có thể gần được đức Như Lai. Theo ta nhận xét, đức Như Lai thà gần voi say, sư tử, cọp,  sói lửa hừng chớ chẳng gần gũi với người tạo tội ác quá nặng. Vì vậy, ta không lòng nào dám đến gặp Phật.    
_ Kỳ Bà tâu: Ví như người khát nước thì cầu đến suối nước trong, người đói cầu vật thực, người nóng bức tìm bóng mát, người lạnh tìm lửa. Nay Đại vương cũng nên cầu Phật như vậy. Như Lai còn vì hàng Nhất xiển đề mà thuyết pháp, huống hồ Đại vương chẳng phải nhất xiển đề !    
_ Vua nói: Này Kỳ Bà ! Ta từng nghe Nhất xiển đề là kẻ không tin, không nghe, chẳng thể quan sát, chẳng hiểu được nghĩa lý, tại sao đức Như Lai lại thuyết pháp cho họ ?    
_Tâu Đại vương ! Ví như có người mang bệnh nặng dù biết khó trị, nhưng lương y có tâm lành vẫn tận tâm tìm cách chữa trị để kéo dài mạng sống cho bệnh nhân, vẫn chọn thuốc tốt, thang hay hòa hợp để bệnh nhân uống được mau lành, còn việc uống hay không uống, lỗi của bệnh nhân, không phải lỗi của thầy thuốc. Như Lai cũng vậy; dù biết rõ căn tánh của hàng nhất xiển đề, những đức Như Lai cũng vì họ mà thuyết. Lòng từ bi của bậc nhất thiết trí không bỏ rơi sót, không phân biệt đối xử với tất cả chúng sanh. Như khi gặp người bệnh liền ban bố pháp dược, người

* Trang 194 *
device

bệnh không chịu uống, đó không phải lỗi của Như Lai. Vã lại, trong hàng Nhất xiển đề cũng có hai hạng khác nhau. Một là hạng lợi căn. Hai là hạng trung căn. Hạng lợi căn đời hiện tại có thể gieo rắc thiện căn.  Hạng trung căn thì xông ướp viễn nhân cho họ ở đời sau . Chư Phật thuyết pháp bao giờ cũng đem lại sự lợi ích. Ví như người sạch sẽ bị té trong hầm phẩn, có người bạn tốt xót thương, liền nắm tóc kéo ra khỏi hầm. Chư Phật thấy chúng sanh đọa trong ba đường ác, phương tiện cứu tế làm cho được ra khỏi. Do vậy, Như Lai vì hàng Nhất xiển đề mà thuyết pháp.    
_ Vua bảo Kỳ Bà: Nếu đức Như Lai thật có những điều như vậy, hãy nên chọn ngày lành giờ tốt chúng ta sẽ đến gặp Phật.    
_ Kỳ Bà Tâu: Trong giáo pháp của Như Lai không cần phải chọn lựa ngày tốt giờ lành. Ví như người bị phải cơn bệnh nặng đâu nên lần lựa đợi ngày tốt giờ lành mà phải cấp tốc tìm gặp lương y. Nay Đại vương bệnh nặng phải gặp cầu Phật, không nên chần chờ bê trễ.    
_ Tâu Đại vương ! Lửa gỗ chiên đàn và lửa gỗ y lan, tướng lửa cháy không khác nhau. Ngày tốt ngày xấu đến gặp Phật đều được diệt tội.        
_ Vua A Xà Thế liền bảo cận thần tên là Kiết Tường rằng: Nay ta muốn đến chỗ đức Phật, khanh

* Trang 195 *
device

nên sắm sửa các phẩm vật để cúng dường Phật và đại đức tăng...    
_ Vua A Xà Thế cùng phu nhân xa giá một muôn hai ngàn cỗ: voi lớn năm ngàn thớt, mỗi thớt chở ba người, cầm phan lọng, hoa hương kỹ nhạc, nhiều thứ phẩm vật cúng dường. Đoàn tùy tùng mười tám muôn kỵ mã. Nhân dân trong nước Ma Kiệt Đà mười tám muôn người đồng đi theo vua.    
Lúc bấy giờ nơi thành Câu Thi La, đại chúng tụ hội chu vi khoảng mười hai do tuần, mọi người đều thấy vua và phu nhân từ xa đi đến.    
Đức Phật bảo đại chúng: Nhân duyên gần của Vô thượng Bồ đề quí hơn hết là bạn lành. Vua A Xà Thế nếu chẳng nghe lời Kỳ Bà thì trong ba tuần nhật nữa quyết định sẽ chết và mang lấy nghiệp báo địa ngục A tỳ.     
Vua A Xà Thế trên đường đi lại được tin vua Tỳ Lưu Ly ngồi thuyền vào biển bị lửa cháy mà chết. Tỳ kheo Cu Ca Ly ngã lăn trên đất thọ lấy nghiệp A tỳ. Tu Na Sát Đa là người đã gây nhiều tội ác, nhờ có căn duyên lành đến ra mắt đức Phật, nghe pháp mà tội ác được tiêu vong.    
Vua nghe những tin như vậy và nói với Kỳ Bà rằng: Nay ta được nghe những tin ấy, nhưng còn chưa

* Trang 196 *
device

chắc. Khanh hãy đến ngồi chung một thớt voi với ta. Giả sử ta bị đọa địa ngục, khanh nắm giữ ta lại đừng để ta bị đọa. Ngày trước ta từng nghe những người đắc đạo chẳng bị vào địa ngục.    
Đức Phật bảo Đại chúng: Vua A Xà Thế còn tâm nghi, nay ta sẽ làm cho vua được tâm quyết định. Trong pháp hội có vị Bồ tát hiệu là Trì Nhất Thiết bạch Phật rằng: "Trước kia Phật nói tất cả pháp đều không có tướng quyết định. Sắc không có tướng quyết định nhẫn đến Niết bàn cũng không có tướng quyết định. Tại sao hôm nay Phật nói rằng: Vì vua A Xà Thế làm cho được tâm quyết định ?   
  Phật nói: Lành thay ! Lành thay ! Thiện nam tử ! Nay Phật sẽ làm cho vua A Xà Thế có tâm quyết định. Vì có tâm quyết định mới dứt trừ tâm nghi sợ tội đọa địa ngục của vua. Dùng tâm quyết định để phá trừ tâm nghi ngờ sẽ tội lỗi. Tâm tội lỗi không quyết định cho nên mới có thể phá trừ. Nếu tâm của vua là quyết định thì tội nghịch của vua làm sao phá trừ được ! Do vậy, Như Lai làm cho vua A Xà Thế có tâm quyết định.     
Vua A Xà Thế đến rừng Ta La Song Thọ, ngước thấy đức Như Lai ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp rạng rỡ như tòa núi vàng ròng.

* Trang 197 *
device

Đức Thế Tôn cất tiếng Phạm âm chào vua: Đại vương !   
Lúc  đó, vua A Xà Thế nhìn hai bên tự nghĩ: "Không rõ ai là Đại vương trong đại chúng này ! Ta là người nhiều tội lỗi không phúc đức, đức Như Lai chẳng lẽ gọi ta Đại vương !"   
Đức Như Lai lại lên tiếng gọi: "Đại vương A Xà Thế !"   
Vua nghe dứt lời trong lòng rất vui mừng nghĩ rằng: "Đức Như Lai hiếu cố đến ta, rõ là đức Như Lai có lòng đại từ bi bình đẳng đối với tất cả húng sanh".   
Vua bạch Phật rằng: Thế Tôn ! Nay lòng tôi không còn nghi ngờ. Quyết định biết rằng đức Như Lai, bậc Đại sư y vương vô thượng của tất cả húng sanh.   
Bấy giờ Ca Diếp Bồ tát nói với Trì Nhất Thiết Bồ tát: "Đức Như Lai đã làm cho vua A Xà Thế được tâm quyết định"
Vua A Xà Thế bạch Phật: Thế Tôn ! Giả sử hôm nay tôi được ngồi chung ăn uống với Phạm vương, Đế Thích cũng chẳng vui mừng bằng một lời kêu gọi của đức Như Lai.     
Vua liền đem những tràng phan, tàng lọng, hoa hương, phẩm vật, kỷ nhạc trổi lên dâng đến cúng

* Trang 198 *
device

dường Phật, đảnh lễ dưới chân và đi nhiễu bên hữu ba vòng, rồi ngồi qua một phía.   
  Phật nói: "Này Đại vương ! Nay Phật sẽ vì nhà vua mà nói pháp yếu. Nhà vua nên hết lòng lóng nghe.
Còn là người phàm phu cần phải chuyên tâm quán sát ở thân này có hai mươi việc:
1.  Trong thân của ta không có công đức vô lậu.
2.  Không có căn lành.
3.  Chưa được điều thuận.
4.  Sa rớt hầm sâu toàn chỗ đáng sợ.
5.  Dùng phương tiện gì để thấy Phật tánh.
6.  Tu thiền định gì để được thấy Phật tánh.
7.  Sanh tử khổ tương tục, không thường, không ngã, và không tịnh.
8.  Khó có ai thoát khỏi tám nạn.
9.  Thường bị oan gia theo dõi.
10. Không một pháp gì ngăn được những hữu lậu.
11. Chưa thoát khỏi ba đường ác.
12. Đầy đủ những ác kiến.
13. Chưa qua khỏi bờ sông ngũ nghịch.

* Trang 199 *
device

14. Chưa qua khỏi dòng sanh tử không bờ.
15. Chẳng tạo nghiệp lành, chẳng được quả báo lành.
16. Không có ta làm mà người khác chịu quả.
17. Nếu ta tạo nghiệp thì quả báo chẳng mất.
18. Không tạo nhơn vui thì không được quả vui.
19. Do vô minh mà sanh, cũng do vô minh mà chết.
20. Quá khứ, vị lai, hiện tại thường buông lung phóng dật.
Này Đại vương ! Người trần thế phàm tục nên quán sát thân này có hai mươi điều như vậy. Do quán sát như vậy mà không ưa thích sanh tử. Nếu không ưa thích sanh tử thì được chỉ quán. Theo thứ tự quán tưởng sanh tử: Sanh, trụ, dị, diệt, nắm giữ chánh niệm tư duy trong mọi thời. Thường quán niệm: Tín, tấn, tàm, quí, giới, định, tuệ. Do vậy, có thể biết rõ tâm tướng, giới tướng, rồi quở trách điều ác không làm. Tuệ giác huân tập và phát sanh không còn sợ chết, cũng không sợ ba ác đạo. Nếu không chuyên tâm quán sát hai mươi  điều trên thì tâm thường buông lung phóng dật, không việc ác nào chẳng dám làm.
    Vua thưa: Thế Tôn ! Qua ý nghĩa lời Như Lai dạy, tôi nhận thấy, từ trước tôi chưa từng quán sát hai mươi

* Trang 200 *
device

điều ấy, nên tôi đã gây tạo tội ác. Do đó, tôi rất sợ ba đường ác.    
Bạch Thế Tôn ! Tôi tự chuốc họa, tạo tội ác lớn: Vua cha vô tội tôi lại giết hại, đối với hai mươi điều Phật vừa nói. Tôi không quán sát phần nào, tôi như người đui, điếc, si mê vô trí; cho nên hiện nay tôi rất sợ hãi, rằng tôi quyết định chắc sẽ đọa địa ngục A tỳ.   
 Phật nói: Này Đại vương ! Tất cả pháp, tánh tướng của nó đều vô thường, không có quyết  định. Sao nhà vua lại nói quyết  định sẽ  đọa  địa ngục A tỳ.      
Vua thưa: Thế Tôn ! Nếu tất cả pháp không tướng quyết định thì tội giết cha của tôi cũng không quyết  định. Bởi vì, nếu tội giết cha của tôi quyết định thì tất cả pháp hóa ra cũng quyết định ?    
Phật khen: Lành thay ! Lành thay ! Đại vương ! Chư Phật nói tất cả pháp không có tướng quyết định, nhà vua lại có thể rõ biết, tội giết hại cũng chẳng có tướng quyết định.
   _ Này Đại vương ! Như lời nhà vua nói: "Vua cha vô tội lại làm hại". Gì là cha ? Ấy chỉ là danh tự giả lập trên năm ấm, chúng sanh vọng tưởng gọi là cha. Thập nhị nhập, thập bát giới, tìm trong đó cái gì là cha ? Nếu sắc ấm là cha thì bốn  ấm kia lẽ ra không phải. Nếu bốn ấm kia là cha thì sắc ấm lẽ ra cũng không

* Trang 201 *
device

phải. Nếu sắc cùng phi sắc hợp lại làm cha thì không đúng lý. Vì tánh của sắc và phi sắc vốn không thể hợp.
 _ Này Đại vương ! Chúng sanh phàm phu đối với sắc ấm vọng tưởng là cha. Sắc ấm như vậy cũng không thể hại được. Vì sắc ấm có những mười thứ. Trong mười thứ ấy, riêng sắc chất là có thể thấy, có thể cầm lấy, rờ mó; có thể cân lường, đo đếm, có thể cột mở và có tướng nặng nhẹ, dài ngắn, thấp cao...dù có những tánh chất như thế, nhưng tánh của sắc không có sát na dừng trụ. Vì không dừng trụ cho nên không bao giờ thật cầm nắm được sắc, không bao giờ thật thấy biết, không bao giờ thật buộc mở, cân lường được. Sắc tướng đã như vậy thì làm sao mà giết hại được. Nếu sắc chất là cha có thể giết hại mắc phải tội báo, thì chín thứ kia lẽ ra không phải là cha. Nếu chín thứ kia không phải là cha thì lẽ ra không phải mắc tội giết hại !    
_ Này Đại vương ! Sắc có ba thứ: Quá khứ, vị lai và hiện tại. Quá khứ và vị lai thì không thể giết hại. Quá khứ không thể giết hại được. Hiện tại cũng không thể giết hại được, vì quá khứ đã qua rồi, hiện tại thì niệm niệm diệt. Chỉ vì ngăn vị lai không sanh mà gọi là giết hại ấy thôi. Một thứ sắc mà vừa có thể giết hại được vừa không thể giết hại được. Không giết hại được thì sắc chẳng có tánh quyết định. Sắc đã chẳng quyết định thì sự giết hại cũng chẳng quyết định. Giết đã chẳng

* Trang 202 *
device

quyết định thì quả báo cũng chẳng quyết định. Sao nhà vua lại nói quyết định đọa địa ngục ?    
_ Này Đại vương ! Tội nghiệp của tất cả chúng sanh tạo ra có hai thứ: Một là tội khinh. Hai là tội trọng. Nếu tâm và khẩu gây tạo thì gọi là tội khinh. Nếu tâm, khẩu và thân cùng gây tạo thì thuộc về tội trọng. Tâm nghĩ, miệng nói mà không làm thì mắc quả báo nhẹ. Ngày trước Đại vương chẳng bảo giết mà chỉ truyền lệnh hạ ngục và tuyệt lương. Cấm tiếp tế đồ ăn thức uống. Nếu Đại vương truyền lệnh chém đầu vua cha, thị thần liền đem chém cũng còn chẳng mắc tội nặng huống hồ Đại vương không truyền lệnh ấy ! Trong việc giết hại này, nếu Đại vương mắc tội thì chư Phật lẽ ra cũng mắc tội. Bởi vì Tiên vương Tần Bà Ta La thường vun trồng những căn lành nơi chư Phật. Do vậy được quả báo tốt, ngày nay được làm vua. Nếu chư Phật chẳng thọ sự cúng dường thì Tiên vương chẳng có phước báo làm vua. Nếu Tiên vương không làm vua, thì Đại vương đâu có vì nước, vì ngôi mà giết hại. Thế cho nên nếu Đại vương giết cha mà có tội thì chư Phật chúng ta lẽ ra cũng có tội. Còn nếu chư Phật không mắc tội, sao Đại vương lại riêng mắc tội một mình ư ?   
  _ Này Đại vương ! Tiên vương Tần Bà Ta La trong một kiếp trước có tâm ác. Lúc nọ vua đi săn bắn nơi núi Tỳ Pha La lòng trông mong gặp được muông thú,

* Trang 203 *
device

nhưng hôm nay chưa gặp  được con mồi nào; lòng vua không vui thú, bỗng gặp một Tiên nhơn tu hành đã được ngũ thần thông đang tĩnh tọa.Vua nổi cơn giận dữ nói; tại người này nên hôm nay ta đi săn không gặp được muông thú. Vua sai đuổi đi và sai quân hầu cận truy giết. Lúc sắp chết Tiên vương sanh lòng oán hận, tuyên thệ rằng: "Ta vốn vô tội, ngươi dùng tâm khẩu giết hại ta, đời sau ta sẽ cũng dùng tâm khẩu giết hại ngươi !"    
Tiên vương nghe lại lời ấy trong lòng hối hận ăn năn, truyền chôn cất tử thi cúng dường theo nghi lễ..    
Ngày trước Tiên vương tạo ác nghiệp như vậy còn bị thọ báo nhẹ, chẳng  đọa  địa ngục, huống là Đại vương chẳng như vậy. Tiên vương tự mình làm ra, trở lại tự thọ lấy báo, có chi đâu Đại vương lại mắc phải tội giết hại. Đại vương nói: "Vua cha không tội". Sao lại nói rằng không tội ? Luận về người không nghiệp ác thì không báo ác. Người có tội ác thì có báo ác. Tiên vương nếu vô tội thì đâu có thọ lấy tội báo. Tiên vương Tần Bà Ta La hiện đời cũng được quả báo lành, đồng thời cũng có bị quả báo ác. Do vậy Tiên vương cũng là chẳng nhất định. Do vì chẳng nhất định cho nên sự giết hại cũng chẳng nhất định. Giết hại đã chẳng nhất định vậy mà nhà vua lại nói rằng: "Tội nhà vua quyết định đọa địa ngục" là sao ?

* Trang 204 *
device

_ Này Đại vương ! Chúng sanh điên cuồng có bốn hạng: Một, tham vọng mà điên cuồng. Hai, bị thuốc mà điên cuồng. Ba, bị bùa chú mà điên cuồng. Bốn, do nghiệp duyên đời trước mà điên cuồng.    
Trong hàng đệ tử Phật nếu mắc phải bốn thứ điên cuồng này, dầu tạo nhiều tội ác Như Lai cũng chẳng coi người này là phạm giới. Người này giả sử có tạo tội ác cũng không phải đọa trong ba đường ác; khi hết điên cuồng, người này không bị coi là phạm giới.    
Đại vương vì tham ngôi quốc vương mà trở thành nghịch tử giết hại vua. Do tham cuồng gây tạo, sao lại Đại vương phải mắc tội ? Như người say rượu giết hại thân mẫu, lúc tỉnh say rồi sanh lòng hối hận, nghiệp giết mẹ này thực ra không có tội báo !    
Đại vương tham vọng cuồng nhiệt ngôi vua mà hành  động chớ không chủ tâm cố ý làm tội nghịch, thế mà bảo là mắc tội thì không hợp lý ! Ví như nhà ảo thuật nơi một hí trường, họ hóa ra trai gái, voi ngựa, nhà cửa lâu đài, người ngu cho đó là thật, người trí biết chẳng phải thật. Sự giết hại cũng như vậy, phàm phu cho đó là thật, chư Phật biết là chẳng phải thật. Ví như tiếng vang trong hang núi, người ngu cho là tiếng thật của ai, người trí biết là chẳng phải thật. Sự giết hại này phàm phu cho là thật, chư Phật biết là chẳng phải thật. Như bóng trong gương; như ánh nắng gợn khi trời nắng

* Trang 205 *
device

gắt; như Càn thát bà thành; như dục lạc trong mộng...người ngu cho là thật, người trí biết chẳng phải thật. Sự giết hại cũng vậy, phàm phu cho đó là thật, chư Phật biết chẳng phải thật.  
  _ Này Đại vương ! Cách thức giết, nghiệp giết, người giết, quả giết, nhẫn đến giải thoát, ta đều rõ thấu tất cả, ta vẫn không có tội. Đại vương chỉ biết ra lệnh giết hại sao Đại vương lại có tội ?    
_ Này nữa Đại vương ! Có những chúng sanh lúc mặt trời mọc tạo nhiều tội ác, lúc mặt trăng mọc đi cướp của, có khi giết hại mạng người. Lúc mặt trời, mặt trăng không mọc thì chẳng làm việc ác. Dù nhân mặt trời mặt trăng khiến người kia làm việc ác, nhưng mặt trời mặt trăng không mắc tội. Sự sát hại này cũng vậy, dù như trong cung vua thường truyền lệnh giết dê làm thịt mà lòng vua không hề nghi sợ, tại sao với vua cha riêng sanh lòng sợ sệt ? Dù người và cầm thú, súc vật có tôn ti quý tiện khác nhau nhưng quí mạng sống, cùng sợ chết đồng nhau không khác. Cớ sao đối với loài dê sanh lòng xem khinh, không sợ, còn đối với vua cha khởi lòng tôn trọng, sầu khổ lo buồn ?     
Người đời là tôi tớ của tham ái, bị tham ái sai khiến mà làm giết hại. Giả sử có quả báo thì tội của tham ái, Đại vương bị sai sử thì có tội gì ?
   

* Trang 206 *
device

Còn như Niết bàn là pháp chẳng phải có, chẳng phải không, mà cũng là có. Sát hại cũng như vậy, dù chẳng phải có chẳng phải không, mà cũng là có. Người tàm quí thì chẳng phải có; người không tàm quí thì chẳng phải không. Người thọ quả báo thì gọi là có. Người chấp không thì chẳng phải có. Người chấp có thì chẳng phải không. Người chấp có thì cũng gọi là có. Vì người chấp có thì có mắc quả báo. Người không chấp có thì không mắc quả báo. Người chấp thường thì chẳng phải không. Người không chấp thường thì chẳng phải có. Do nghĩa đó, dù chẳng phải có, chẳng phải không mà cũng có.
 Này Đại vương ! Xét về mạng sống của chúng sanh là hơi thở ra vào, vì làm dứt hơi thở ra vào cho nên gọi là giết hại. Chư Phật thuận theo thế đế lưu bố ngữ cho nên cũng gọi là giết hại.    
Này Đại vương ! Sắc uẩn là vô thường. Nhân duyên của sắc uẩn cũng là vô thường. Đã từ nhân duyên vô thường mà sanh thì sắc uẩn sao lại   là thường ? Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy ! Do vô thường nên khổ. Do khổ cho nên không. Do không nên vô ngã.      
Vậy vô thường, khổ, không, vô ngã bốn món, món nào bị giết hại ? Vả lại, nếu giết hại vô thường thì được Niết bàn thường. Giết hại khổ thì được lạc. Giết hại vô ngã được chân ngã; giết hại

* Trang 207 *
device

 không được chân như thật ư ? Hẳn là không có lẽ như vậy.    
Này Đại vương ! Nếu giết hại vô thường, khổ, không, vô ngã thì cùng  với Phật  đồng. Phật cũng giết vô thường, khổ, không, vô ngã mà chẳng bị đọa địa ngục. Đại vương sao lại bị đọa ?
Lúc đó, vua A Xà Thế duyên theo lời dạy của Phật vừa tư duy, vừa quán chiếu sắc ấm...nhẫn đến thức ấm...Vua tỉnh ngộ, nhận thức tánh duyên sanh của ngũ uẩn, liền bạch Phật:    
Thế Tôn ! Nay tôi mới nhận biết sắc ấm là vô thường nhẫn đến thức ấm đều vô thường. Trước kia nếu tôi biết được như vậy thì tôi đã chẳng tạo tội nghịch !    
Bạch Thế Tôn ! Tôi từng nghe chư Phật là cha mẹ của chúng sanh. Tuy nghe như vậy, nhưng chưa có lòng tin chắc. Nay tôi mới có lòng tin quyết định. Bạch Thế Tôn ! Tôi cũng từng nghe, núi Tu Di do bốn chất báu: vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Nếu có loài chim đậu chỗ nào trên núi, màu chim liền  đồng màu núi, dù nghe như vậy, tôi cũng chẳng tin chắc. Nay tôi đến trong pháp hội của Phật liền được đồng màu sắc. Giờ đây tôi rõ biết các pháp: vô thường, khổ, không, và vô ngã.

* Trang 208 *
device

Bạch Thế Tôn ! Tôi thấy từ hạt y lan mọc lên cây y lan, chẳng thấy hạt y lan mọc lên cây chiên đàn. Nay tôi mới thấy từ hạt y lan mọc lên cây chiên đàn. Hạt y lan chính là thân tôi, cây chiên đàn chính là tâm vô căn tín của tôi. Vô căn chính là từ trước tôi chẳng biết cung kính Như Lai, chẳng tin chánh pháp, chẳng trọng chúng tăng, không biết giá trị của Tam bảo trên cõi đời này !
Bạch Thế Tôn ! Nếu tôi chẳng gặp Như Lai tôi sẽ phải thọ vô lượng khổ địa ngục trong vô lượng số kiếp. Nay tôi được gặp Phật trọn nên công đức lành, tiếp nhận ánh sáng trí tuệ của Như Lai ban cho, ánh sáng trí tuệ ấy  đốt cháy màng lưới mê mờ ngũ uẩn phù hư, duyên sanh vô ngã, vô tướng mà tôi đã trói buộc mình trong ấy.    
Đức Phật nói: Lành thay ! Lành thay  Này Đại vương ! Giờ phút này Như Lai biết chắc chắn rõ ràng. Rằng : "Đại vương đã hóa giải, tiêu trừ hết tâm ác của một chúng sanh !"    
Bạch Thế Tôn ! Vua thưa. Nếu tôi phá hoại tiêu trừ tâm ác của chúng sanh rồi, thì dù tôi có thường ở nơi A tỳ địa ngục trong vô lượng kiếp chịu khổ thay cho chúng sanh đi nữa, tôi cũng chẳng lấy làm khổ.

* Trang 209 *
device

Lúc bấy giờ vô lượng nhân dân nước Ma Kiết Đà một lòng phát tâm Vô thượng Bồ đề. Nhờ sự phát tâm của nhiều người mà tội nặng của vua A Xà Thế trở thành tội nhẹ...Vua cùng phu nhân, các thể nữ đồng phát tâm Vô thượng Bồ đề hướng về Tam bảo trong bối cảnh nhân duyên hi hữu trọng đại này !   
Vua A Xà Thế bảo Đại thần Kỳ Bà: "Nay ta chưa chết đã được thân trời; bỏ mạng sống ngắn ngủi được mạng trường thọ; bỏ thân vô thường, được thân chân thường. Từ giờ phút này ta là đệ tử của tất cả chư Phật".    
Nói xong, nhà vua bèn đem tất cả phan lọng, hương hoa trân bảo, kỷ nhạc...dâng cúng dường đức Phật. Sau khi cúng dường xong, nhà vua nói kệ tán dương đức Phật:
...Lời Phật khéo diệu nhiệm mầu
Diễn nói pháp thậm thâm bí mật
Kho tàng đệ nhất nghĩa hiển bày
Rộng, lược chúng sanh đều lợi lạc
Vô thượng pháp dược của Như Lai
Khéo chữa gốc bệnh của chúng sanh
Hữu duyên được nghe lời Phật nói

* Trang 210 *
device

Tiền khiên tội chướng được tiêu tan
Như bóng tối được mặt trời soi đến
Nay tôi quy y đấng Thế Tôn
Nguyện đời đời là đệ tử Phật
Nay tôi dâng phẩm vật cúng dường
Dâng cúng Phật, Pháp, Tăng tam bảo
Nguyện cùng tất cả chúng sanh
Được gặp Phật, phát tâm tu thiện
Tâm sáng tròn tội chướng rỗng không
Hãy học theo đệ nhất nghĩa Đại thừa
Mới tỏ ngộ: Thật tánh vô minh là Phật tánh
Đức Thế Tôn khen ngợi: Lành thay ! Lành thay ! Người phát tâm Vô thượng Bồ  đề là người trang nghiêm cõi nước của chư Phật và là người cúng dường tam bảo chân chánh và thiết thực trên đường giác ngộ và giải thoát.    
Này Đại vương ! Phật nói với vua A Xà Thế. Từ xa xưa nhà vua ở nước của Phật Tỳ Ba Thi, vua đã phát tâm Vô thượng Bồ đề. Nên biết rằng phát tâm Bồ đề có vô lượng quả báo lành như vậy. Từ nay về sau

* Trang 211 *
device

nhà vua phải siêng năng tinh tấn tu dưỡng  tâm Bồ đề. Người tu tâm Bồ đề sẽ tiêu trừ được vô vàn tội ác !   
Vua A Xà Thế cùng nhân dân nước Ma Đà Dà nhiễu quanh Phật ba vòng rồi lễ tạ trở về cung. Dân chúng tùy tùng hoan hỉ trở về trụ xứ tư gia !
*** PHẨM THIÊN HẠNH, PHẬT NÓI Ở KINH TẠP HOA.
 
TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG
     
* Thiên Đế Thích nói riêng, Trời nói chung, chỉ cho hàng người có phước đức tốt hơn, có quả báo cao hơn người bình thường trên trần thế. Theo kinh điển Phật, người phát tâm trì giới tu thập thiện nghiệp đạo sẽ được quả báo Trời. Quả báo trời có an lành, có hạnh phúc, và có hàng trời còn hưởng cả lạc thú nữa. Trời là một đường trong sáu đường xuống lên qua lại, chưa ra ngoài vòng khổ  đau vì sanh tử  ưu bi khổ não. Trời có nhiều cảnh giới riêng, nhưng trời thường xuống lên qua lại trong tam giới, bởi lẽ trời chưa đủ khả năng trí tuệ nhận thức chân lý. Do vậy, vô minh che

* Trang 212 *
device

lấp hành động thiện ác của họ in tuồng như chuyện rủi may, họ chưa có ý thức vượt ra ba cõi là thế nào ! Cho nên trời còn sợ sệt, khổ sầu về "ngũ suy tướng" hiện.   
* Như lời Phật khai thị Thiên đế: "Hết xan tham tật đố, chứng quả A Na Hàm thì phải là người không còn sợ chết, chẳng tham cầu mạng sống. Tham cầu mạng sống là điên đảo, vì tham cầu mạng sống là chống lại chân lý. Người chứng đạo phải là người tùy thuận chân lý,  vậy thôi !   
*  Thiên đế nghe lời Phật dạy "ngũ suy tướng" mất biến không còn. Thiên đế tỏ ngộ chân lý vô thường, dù chết mất thân mạng thất đại hữu vi, sống lại với pháp thân thường, lạc, ngã, tịnh, bất sanh, bất diệt của chính mình.    
* Thiên  đế chí thành tri ân  đấng Thế Tôn vô thượng và hứa với Phật: rằng từ nay về sau Thiên đế và chư thiên cần hóa giải đấu tranh hận thù với A Tu La, bồi dưỡng đức nhẫn nhục nhu hòa, phát Bồ đề tâm hướng đến con đường chánh giác.   
  * Y sĩ giỏi có thể trị lành cho hàng trăm, hàng vạn bệnh nhân. Đức Phật độ cho nhiều hạng người đều thoát khỏi khổ ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục, vì vậy đức Phật có hiệu y vương vô thượng.    
* Văn tự ngữ ngôn, nói rằng Phật độ thoát tất cả chúng sanh đều khỏi khổ, Phật độ nhiều loại chúng

* Trang 213 *
device

sanh, độ cho nhiều hạng người. Nói và nghe  điều  đó không khó, nhưng hiểu cho thật sự, cho tận  đáy lòng cho những người khó tánh, tâm phục khẩu phục, không phải tư duy qua loa thiền định hời hợt mà hiểu được. Người tháo gút giỏi là người biết tìm cái mối dây để tháo. Phật độ thoát khổ cho tất cả loài chúng sanh là vì Phật rõ và biết kỹ cái "Gốc" khổ. Dạy cách bứng được gốc thì cây sẽ ngả đổ tức thì ! Gốc của sanh tử khổ đau là MỘNG, là TƯỞNG, là ĐIÊN ĐẢO, là CHẤP THỦ sai lầm về NGÃ, PHÁP !   
 * Lòng từ bình đẳng của Phật thể hiện rõ qua sự nghiệp độ sanh, bình đẳng cho mọi hạng người, mọi căn cơ, mọi nghề nghiệp, như ánh sáng mặt nhật soi rọi bình đẳng cho vạn loại trên cõi đời.    
*  Tiếng vọng từ không trung khuyến cáo A Xà Thế với lời lẽ chân tình thống thiết: "Hãy mau đến với Phật, không nên do dự chần chờ mà mất cơ hội "cải tử hoàn sanh" ở hiện đời và phải nhận lấy quả báo ác vay trả, trả vay vô lượng kiếp !"    
Tiếng vọng  đó không phải từ hồn ma bóng quái nào, vì  đạo Phật không chấp nhận tin tưởng hồn ma bóng quái, kể cả "hồn ma bóng chúa" của Tiên đế TẦN BÀ TA LA, dù kinh có nói rằng đó là tiếng nói, lời khuyến cáo của Tiên đế, một người cha đau khổ với tâm

* Trang 214 *
device

 lượng hải hà "tha thứ hết cho con mình" mà tiếng vọng đó nhận xét ta có thể thấy do các nhân duyên:
Một, nhân duyên gần là thiện tri thức Kỳ Bà.
Hai, nhân duyên nội tại, vua A Xà Thế dù dục vọng làm mê mờ đen tối, nhưng "chủng tử lành" tiền kiếp có, và lương tâm lương tri kiếp hiện tại chưa mất hết.
Ba, nhân duyên hội ngộ: vua A Xà Thế đang thọ quả báo ác, sự đau đớn hoành hành: đau chân há miệng phải nghĩ tưởng tìm cách giải cứu khổ đau.
Bốn, duyên hội ngộ, nhờ gieo rắm những hạt giống lành ấy, trong giờ phút đau khổ cùng cực và ăn năn hối hận tận đáy lòng, bấy giờ "Diệu Âm Bồ tát xuất hiện". Cho nên tiếng vọng trong không kia chính là tiếng của Diệu Âm Bồ tát, tiếng lòng mầu nhiệm của vua A Xà Thế tự khuyến cáo và chỉ có vua A Xà Thế tự nghe. Giả sử lúc đó có ai ở kề ngồi cạnh bên vua cũng không bao giờ có tiếng để nghe...   
* Phật vì vua A Xà Thế mà trụ ở đời vô lượng kiếp là một câu nói "lạ tai" đối với một Thế Tôn Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đệ tử Phật hãy lưu ý học đoạn kinh này và lời nói này của Phật !    
* Phật không nhập Niết bàn theo ý nghĩ "biệt ly vĩnh viễn đối với chúng sanh", như vua A Xà Thế lo nghĩ.
  

* Trang 215 *
device

  * Vì vua A Xà Thế, cũng tức là vì những ông vua ông quan...lỡ lầm phạm vào tứ trọng và ngũ nghịch    
* Vì vua A Xà Thế, cũng tức là vì tất cả chúng sanh lỡ phạm vào tội trọng như vua A Xà Thế đã phạm.    
* Vì vua A Xà Thế, cũng là vì đào tạo nhiều thế hệ Phật cho tương lai ! Dù đã phạm tội, nhưng còn lương tâm có lòng tàm quí, biết ăn năn hối hận những điều sai trái tội lỗi, biết sám hối tận đáy lòng thì tội sẽ tiêu tan, phước sẽ sanh trưởng và quyết ngày thành Phật, không ai tước đoạt được cái quyền ấy của con người !
 * Lập một phương thang chữa trị bệnh nhân của Đông y sĩ, người ta gia giảm dược tính như viên chỉ huy một cuộc hành quân: quân, thần, tá, sứ phần việc vị trí rõ ràng. Đánh mạnh mục tiêu nào trước, thọc sâu chỗ hiểm yếu...để tiêu diệt đối phương...    
Đức Phật trị “bệnh ân hận”, sợ hãi và khổ đau cùng cực của vua A Xà Thế bằng tâm sở chủ lực là "giải nghi" vi quân. Tâm quyết định tức là "đức tin kiên cố" của vua A Xà Thế vi thần. Đúng bệnh, đúng thuốc vua liền khỏi bệnh...
* Một tiếng "Đại vương" của Phật, đến tai vua A Xà Thế đã là "cam lộ", là "A Dà Đà" diệu dược cải tử hoàn sanh đối với vua A Xà Thế rồi ! Thế gian người ta gọi đó là "đòn tâm lý". Dùng thủ thuật đông phương y học thì bấm cho một huyệt. Dùng Thiện xảo của Tâm lý

* Trang 216 *
device

học thì đánh cho một đòn. Huyệt "giải nghi", đòn "quyết định". Đúng đòn, đúng huyệt giải bệnh ngay tức khắc. Thảo nào đức Phật chẳng là: đấng y vương vô thượng!
 *TẤT CẢ PHÁP KHÔNG CÓ TÁNH QUYẾT ĐỊNH cho nên...vô thường có thể là nguyên nhân cho khổ đau con người; nhưng "vô thường" với Phật nhãn sử dụng thì lại là nguyên nhân đưa đến "diệt tội", giải tỏa ám ảnh, mặc cảm, khổ đau. Vì "vô thường" cho nên tánh tướng của tất cả pháp không có cố định, vì không cố định cho nên không có pháp nào có tánh quyết định. Do nghĩa đó người chưa ác có thể làm ác; người đã ác có thể trở lại "cải ác tùng thiện". Hành thiện mãi phước đức trí tuệ mỗi ngày tăng trưởng và tăng trưởng cho đến tột đỉnh cao thì quả Vô thượng Bồ đề và Vô thượng Niết bàn tự đến.    
Nếu không khéo học tu chưa vượt khỏi ba cõi thì phước báo ở địa vị Trời, đến ngày "ngũ suy tướng hiện" vẫn là "tiền lộ mang mang vị tri hà vãng", "nào ai có biết số phận ngày mai...".  Tất cả pháp không có tướng quyết định là vậy.   
* Người học Phật, hoặc đệ tử Phật, hay nhà nghiên cứu giáo lý đạo Phật nên đặc biệt lưu tâm. Đức Phật trị ác bệnh "ngũ nghịch" của vua A Xà Thế bằng phương "sanh tử đoạt mạng" thang. Căn tánh, cơ thể

* Trang 217 *
device

tiếp nhận được dược vị và tác dụng công phạt cực mạnh của thuốc thì hồi phục sức lực tự tại của thân tâm một cách hoàn hảo. Ngược lại, căn tánh cơ thể không tiêu hóa, nạp thụ được dược vị thì sẽ mất tất cả, thân mạng đều mất. Nói rõ ra, người nghe phải nghe bằng nhĩ căn Đại thừa, tư duy bằng chủng tánh Đại thừa, nhận thức qua tri kiến Đại thừa. Phải thể nhập "lý pháp giới", "nhất thiết tức nhất", "nhất tức nhất thiết", "pháp giới nhất chân".   Rồi phải học: "sự pháp giới",  "vạn pháp sai biệt".  "Tâm như công họa sư,  họa chủng chủng ngũ ấm, nhất thiết thế giới trung vô phép nhi bất tạo.  Phải nhận rõ tánh "duyên sanh" của vạn pháp. Phải biết kỹ chất "như huyển" của sự vật hiện tượng. Đó là chủng tánh của người có đủ sức tiếp thụ hiệu lực của "sanh tử đoạt mạng thang" một cách có hiệu quả như mong muốn.    
Cái phương thang "nhân sâm ẩm" giai thoại xưa còn lưu trong sách vở, nhằm để răn nhắc cho mọi người. Phải "ứng bệnh dữ dược" mới là "y vương vô thượng "!    
* Ai là người có tu tập ít nhiều thiền định, có tư duy, có quán chiếu về thân ngũ ấm thất đại của kiếp con người mới thấy rõ ý nghĩa sâu xa và trung thực với chân lý. Dựa trên ngôn từ của THẾ ĐẾ LƯU BỐ thì vua Tần Bà Ta La bị giết hại. Vua A Xà Thế

* Trang 218 *
device

sau khi uống "sanh tử  đoạt mạng thang" của  đức Phật, nhà vua tỉnh ngộ, viễn ly cái thấy "sai biệt môn", trực nhận BÌNH ĐẲNG MÔN", bấy giờ vua A Xà Thế, vua Tần Bà Ta La, Di Đề Hi mẫu hậu và mấy vạn tùy tùng trước đức Phật Thích Ca và hằng hà sa số, bất khả thuyết Phật sát vi trần số chư Phật bất tức bất ly, tương dung tương tức trong pháp giới nhất chân bất nhị...
Vua A Xà Thế nói với Đại thần Kỳ Bà: "Nay ta chưa chết mà  đã được thân trời; bỏ mạng sống ngắn ngủi được mạng trường thọ; bỏ thân vô thường được thân chân thường". Được thân trời, được thọ mạng, được thân chân thường mà vua A Xà Thế nói, phát xuất từ quan niệm giác ngộ chân lý và nhận thức chân lý bên mặt BÌNH ĐẲNG MÔN của pháp giới bất nhị. "Tùy kỳ tâm tịnh tắc Phật độ tịnh"./.

* Trang 219 *
device

 
Đại Bát Niết Bàn Kinh Tập 2