LOGO VNBET
29.KINH ĐẠI CÂU-HI-LA1
 
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật du hóa tại thành Vương xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa.
Bấy giờ, vào lúc xế chiều, Tôn giả Xá-lê Tử từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Đại Câu-hi-la2, chào hỏi lẫn nhau, rồi ngồi xuống một bên.
Tôn giả Xá-lê Tử nói với Tôn giả Đại Câu-hi-la như vầy: “Tôi có điều muốn hỏi, mong ngài nghe cho chăng?”
Tôn giả Đại Câu-hi-la trả lời rằng:
“Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, ngài muốn hỏi điều gì xin cứ hỏi, tôi nghe rồi sẽ suy nghĩ”.
Tôn giả Xá-lê Tử hỏi rằng:
“Này Hiền giả Đại Câu-hi-la, có điều kiện nào mà nhân điều kiện đó mà Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh3 và thể nhập chánh pháp không?”
Tôn giả Đại Câu-hi-la trả lời rằng:
“Có vậy, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết bất thiện và biết căn của bất thiện.
“Thế nào là biết bất thiện? Ác hành của thân là bất thiện, ác
_______________
1. Bản Hán, quyển 7. Tương đương Pàli, không tìm thấy tương đương chính xác; A. IX. 13 Koṭihita, A.IV. 174 Koṭṭhika, ghi giữa cuộc thảo luận giữa ngài Mahàkoṭṭhika và Sàriputta với nội dung không hoàn toàn đồng nhất với bản Hán này.
2. Đại Câu-hi-la Pàli: Mahàkoṭṭhita, hoặc Mahàkoṭṭhika.
3. Bất hoại tịnh Pàli: avecca-pasàda, cũng nói là bất động tín, bất hoại tín, hay chứng tịnh; tín tâm không thể bị lay chuyển; đức tin trong sáng. Có bốn bất hoại tín (chứng tịnh): tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, tin Thánh giới.

* Trang 219 *
device

hành của khẩu là bất thiện, và ác hành của ý là bất thiện. Đó là biết bất thiện.
“Thế nào là biết bất thiện căn? Tham là căn của bất thiện, nhuế, và si là căn của bất thiện. Đó là biết căn của bất thiện.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết bất thiện và biết căn của bất thiện như vậy, đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều kiện nào mà nhân điều kiện đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?
“Có vậy, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết thiện và biết căn của thiện.
“Thế nào là biết thiện? Diệu hành của thân là thiện. Diệu hành của ý và khẩu là thiện. Đó là biết thiện.
“Thế nào là biết căn của thiện? Vô tham là căn của thiện, vô nhuế và vô si là căn của thiện. Đó là biết căn của thiện.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết thiện và biết thiện căn như vậy, đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
Tôn giả Đại Câu-hi-la trả lời rằng:
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Nghĩa là Tỳ-kheo biết như thật về thức ăn, biết như thật về tập của thức ăn, thực diệt và thực diệt

* Trang 220 *
device

đạo của thức ăn4.
“Thế nào là biết như thật về thức ăn? Có bốn loại thức ăn: Một là đoàn thực, thô và tế5; hai là xúc thực6; ba là ý tư thực7; bốn là thức thực8.Đó là biết như thật về thức ăn.
“Thế nào là biết như thật về tập của thức ăn9?
Do ái mới có thức ăn. Đó là biết như thật về tập của thức ăn.
“Thế nào là biết như thật về diệt của thức ăn? Ái diệt tức là thức ăn diệt. Đó là biết như thật về diệt của thức ăn.
“Thế nào là biết như thật về diệt đạo của thức ăn10? Tám chi Thánh đạo, từ chánh kiến cho tới chánh Định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của thức ăn.
“Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về thức ăn, biết như thật về tập của thức ăn, thực diệt và thực diệt đạo của thức ăn như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?
_________________
4. Thực Pàli: àhàra. Có bốn loại thức ăn; xem các cht. dưới.
5. Đoàn thực thô tế thức ăn được nắn lại hay vo tròn (theo tục ăn bốc); thức ăn vật chất, gồm loại cứng và loại mềm tức cố thể và chất lỏng; Pàli: kabaliṅkàro àhàro oḷàriko và sukkumo.
6. Nguyên-Hán: canh lạc thực hay xúc thực, thức ăn là sự xúc chạm, chỉ sự tiếp xúc giữa căn và cảnh. Pàli: phasso àhàro.
7. Ý tư thực hay tư niệm thực, thức ăn là tư duy của ý thức. Pàli: manosañcetanà-àhàro.
8. Thức thực thức ăn là sự nhận thức, phân biệt. Pàli: viññàṇaṃ àhàro.
9. Hán: thực tập Pàli: àhàra-samudaya, sự tập khởi hay khởi nguyên của thức ăn.
10. Hán: thực diệt đạo Pàli: àhàra-nirodha-gàminipaṭipadà, sự thực hành dẫn đến chỗ diệt trừ thức ăn.

* Trang 221 *
device

“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về lậu, biết như thật về lậu tập của lậu, diệt của lậu và diệt đạo của lậu.
“Thế nào là biết như thật về lậu? Có ba lậu là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu11.Đó là biết như thật về lậu.
“Thế nào là biết như thật về tập của lậu? Do vô minh mới có lậu. Đó là biết như thật về tập của lậu.
Thế nào là biết như thật về diệt của lậu? Do vô minh diệt thì lậu diệt. Đó là biết như thật về diệt của lậu.
“Thế nào là biết như thật về diệt đạo của lậu? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho tới chánh Định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của lậu.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về lậu, biết như thật về lậu tập của lậu, diệt của lậu và diệt đạo của lậu như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về khổ, biết như thật về khổ tập, khổ diệt và khổ diệt đạo.
“Thế nào là biết như thật về khổ? Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ, sở cầu bất đắc khổ, nói tóm lại ngũ thạnh ấm khổ. Đó là biết như thật về khổ.
“Thế nào là biết như thật về khổ tập? Do lão tử mới có khổ. Đó là biết như thật về khổ tập.
“Thế nào là biết như thật về khổ diệt? Lão tử diệt tức khổ diệt. Đó là biết như về khổ diệt.
“Thế nào là biết như thật về khổ diệt đạo? Tám chi Thánh đạo
____________
11. Ba lậu: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu Pàli: kàma-àsavà, bhava-àsavà, avijjà-àsavà.

* Trang 222 *
device

từ chánh kiến cho đến chánh Định là tám. Đó là biết như thật về khổ diệt đạo.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về khổ. Biết như thật về khổ tập, khổ diệt và khổ diệt đạo như vậy. Đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về già chết, biết như thật về tập khởi của già chết, diệt của già chết và diệt đạo của già chết.
“Thế nào là biết như thật về già? Đó là, người kia già cả, đầu bạc, răng rụng, sự cường tráng càng ngày càng suy giảm, thân còng, chân vẹo, cơ thể nặng nề, hơi thở đưa lên, chống gậy mà đi, thịt teo rút, da nhăn như cây gai, các căn rụng rời, nhan sắc xấu xí. Đó là biết như thật về già.
“Thế nào là biết như thật về chết? Đó là, chúng sanh kia và tất cả chủng loại sai biệt của chúng sanh kia, khi mạng chung, cơn vô thường đến, thì chết rồi chôn và tan rã, tuổi thọ chấm dứt và bị phá hoại, mạng căn bế tắc; đó là của chết. Trước kia là nói về già, đây là nói về chết. Đó gọi là lão tử. Đó là biết như thật về lão tử.
 “Thế nào là biết như thật về tập của già chết? Đó là, do sanh mà có già chết. Đó là biết như thật về tập của già chết.
“Thế nào là biết như thật về diệt của già chết? Đó là, sanh diệt tức già chết diệt. Đó là biết như
thật về diệt của già chết.
“Thế nào là biết như thật về diệt đạo của già chết? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh Định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của già chết.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về già chết. Biết như thật về tập của già chết, lão tử diệt của già chết và diệt

* Trang 223 *
device

đạo của già chết như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về sanh, biết như thật về tập của sanh, diệt của sanh và diệt đạo của sanh.
“Thế nào là biết như thật về sanh? Đó là, chúng sanh kia và tất cả chủng loại sai biệt của chúng sanh kia, đến lúc sanh thì sanh, đến lúc xuất thì xuất, đến lúc thành thì thành; khi phát khởi năm ấm liền có mạng căn. Đó là biết như thật về sanh.
“Thế nào là biết như thật về tập của sanh? Do hữu mà có sanh. Đó là biết như thật về tập của sanh.
“Thế nào là biết như thật về diệt của sanh? Hữu diệt tức sanh diệt. Đó là biết như thật về diệt của sanh.
“Thế nào là biết như thật về diệt đạo của sanh? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh Định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của sanh.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về sanh. Biết như thật về tập của sanh, diệt của sanh và diệt đạo của sanh như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về hữu, biết như thật về tập của hữu, diệt của hữu và diệt đạo của hữu.

* Trang 224 *
device

“Thế nào là biết như thật về hữu? Có ba hữu: Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu12.Đó là biết như thật về hữu.
Thế nào là biết như thật về tập của hữu? Do thủ13 mà có hữu. Đó là biết như thật về hữu tập.
Thế nào là biết như thật về hữu diệt? Thủ diệt tức hữu diệt. Đó là biết như thật về hữu diệt.
Thế nào là biết như thật về hữu diệt đạo? Tám chi Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh Định là tám. Đó là biết như thật về hữu diệt đạo?
Này Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về hữu, biết như thật về hữu tập, hữu diệt và hữu diệt đạo như vậy. Đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về thủ, biết như thật về thủ tập, thủ diệt và thủ diệt đạo.
“Thế nào là biết như thật về thủ? Đó là bốn thủ14: dục thủ, giới thủ, kiến thủ và ngã thủ. Đó là biết như thật về thủ.
“Thế nào là biết như thật về tập của thủ? Do ái mà có thủ. Đó là biết như thật về tập của thủ.
“Thế nào là biết như thật về diệt của thủ? Nghĩa là ái diệt thì thủ diệt. Đó là biết như thật về diệt của thủ.
_______________
12. Ba hữu: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu Pàli: kàma-bhava, rùpa-bhava, àrùpa-kàma.
13. Nguyên-­Hán: thọ  Pàli: upàdàna.
14. Hán: tứ thọ Bốn thọ hay bốn thủ: dục thủ giới (cấm) thủ kiến thủ  ngã (ngữ) thủ Pàli: cattàrimàni upàdànàni, kàmupàdànaṃ diṭṭhupàdànaṃ sìlabbatupàdanaṃ attavàdupàdànaṃ.

* Trang 225 *
device

“Thế nào là biết như thật về diệt đạo của thủ? Tám chi Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh Định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của thủ.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về thủ, biết như thật về tập của thủ, diệt của thủ và diệt đạo của thủ như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về ái, biết như thật về tập của ái, diệt của ái và diệt đạo của ái.
“Thế nào là biết như thật về ái? Có ba ái: dục ái, sắc ái và vô sắc ái15.Đó là biết như thật về ái.
 “Thế nào là biết như thật về tập của ái? Do thọ16 mà có ái. Đó là biết như thật về tập của ái.
“Thế nào là biết như thật về diệt của ái? Thọ diệt tức ái diệt. Đó là biết như thật về diệt của ái.
“Thế nào là biết như thật về diệt đạo của ái? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh Định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của ái.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về ái, biết như thật về tập của ái, diệt của ái và diệt đạo của ái như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
_______________
15. Ba ái: dục ái, sắc ái, vô sắc ái Pàli: kàma-taṇhà, rùpa-taihà, arùpa-taṇhà.
16. Nguyên-Hán: giác  Pàli: vedanà.

* Trang 226 *
device

Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về thọ, biết như thật về tập của thọ, diệt của thọ và diệt đạo của thọ.
“Thế nào là biết như thật về thọ? Có ba thọ: lạc thọ17, khổ thọ và bất lạc bất khổ thọ. Đó là biết như thật về thọ.
“Thế nào là biết như thật về tập của thọ? Do xúc18 mà có thọ. Đó là biết như thật về tập của thọ.
“Thế nào là biết như thật về diệt của thọ? Do xúc diệt nên thọ diệt. Đó là biết như thật về diệt của thọ.
“Thế nào là biết như thật về diệt đạo của thọ? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh Định. Đó là biết như thật về diệt đạo của thọ.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về thọ, biết như thật về tập của thọ, diệt của thọ và diệt đạo của thọ như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về xúc, biết như thật về tập của xúc, diệt của xúc và diệt đạo của xúc.
_________________
17. Hán: ba giác, tức ba thọ: khổ thọ , lạc thọ bất khổ bất lạc thọ Pàli: tisso vedanà, sukhà vedanà dukkhà vedanà adukkhamasukhà vedanà.
18. Hán: canh lạc   Pàli: phassa.

* Trang 227 *
device

“Thế nào là biết như thật về xúc? Có ba xúc19: lạc xúc, khổ xúc và bất lạc bất khổ xúc. Đó
là biết như thật về xúc.
“Thế nào là biết như thật về tập của xúc? Do sáu xứ mà có xúc. Đó là biết như thật về tập của xúc.
“Thế nào là biết như thật về diệt của xúc? Sáu xứ diệt tức xúc diệt. Đó là biết như thật về diệt của xúc.
“Thế nào là biết như thật về diệt đạo của xúc? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến đến chánh Định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của xúc.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về xúc, biết như thật về tập của xúc, diệt của xúc và diệt đạo của xúc như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về sáu xứ20, biết như thật về tập của sáu xứ, diệt của sáu xứ và diệt đạo của sáu xứ.
“Thế nào là biết như thật về sáu xứ? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Đó là biết như thật về sáu xứ.
“Thế nào là biết như thật về tập của sáu xứ? Do danh sắc mà có sáu xứ. Đó là biết như thật về tập của sáu xứ.
“Thế nào là biết như thật về diệt của sáu xứ? Danh sắc diệt tức sáu xứ diệt. Đó là biết như thật về diệt của sáu xứ.
“Thế nào là biết như thật về diệt đạo của sáu xứ? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh Định là tám. Đó là biết như thật về
______________
19. Hán: ba canh lạc: lạc canh lạc , khổ canh lạc  bất lạc bất khổ canh lạc
20. Lục xứ Pàli: cha ayàtana.

* Trang 228 *
device

diệt đạo của sáu xứ.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về sáu xứ, biết như thật về tập của sáu xứ, diệt của sáu xứ và diệt đạo của sáu xứ như vậy; đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử, đó là có Tỳ-kheo biết như thật về danh sắc21, biết như thật về tập của danh sắc, diệt của danh sắc và diệt đạo của danh sắc.
“Thế nào là biết như thật về danh sắc? Đó là bốn ấm phi sắc22 là danh. Thế nào là biết về sắc? Bốn đại23 và sắc do bốn đại tạo24.Đây là nói về sắc, trước đó nói về danh, đó là danh sắc. Đó là biết như thật về danh sắc.
Thế nào là biết như thật về tập của danh sắc? Do thức mà có danh sắc. Đó là biết như thật về tập của danh sắc.
“Thế nào là biết như thật về diệt của danh sắc? Thức diệt tức danh sắc diệt? Đó là biết như thật về diệt của danh sắc.
Thế nào là biết như thật về diệt đạo của danh sắc? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh Định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của danh sắc.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về danh sắc, biết như thật về tập của danh sắc, diệt của danh sắc và diệt đạo
_____________
21. Danh sắc Pàli: nàma-rùpa.
22. Tứ phi sắc ấm (hay uẩn) Pàli: cattàro arùpakkhandhà, gồm thọ, tưởng, hành và thức.
23. Tứ đại Pàli: cattàro mahàbhùtà.
24. Tứ đại tạo vi sắc Pàli: catumaṃ mahàbhùtànaṃ upàdàya rùpaṃ.

* Trang 229 *
device

của danh sắc như vậy. Đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật về thức25, biết như thật về tập của thức, diệt của thức và diệt đạo của thức.
“Thế nào là biết như thật về thức? Có sáu thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Đó là biết như thật về thức.
“Thế nào là biết như thật về tập của thức? Do hành mà có thức. Đó là biết như thật về tập của thức.
“Thế nào là biết như thật về diệt của thức? Hành diệt tức thức diệt. Đó là biết như thật về diệt của thức.
“Thế nào là biết như thật về diệt đạo của thức? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh Định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của thức.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về thức, biết như thật về tập của thức, diệt của thức và diệt đạo của thức như vậy, đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?”
“Có, thưa Tôn giả Xá-lê Tử. Đó là có Tỳ-kheo biết như thật
_____________
25. Thức   Pàli: viññàṇa.

* Trang 230 *
device

về hành26, biết như thật về tập của hành, diệt của hành và diệt đạo của hành.
“Thế nào là biết như thật về hành? Có ba hành27: thân hành, khẩu hành và ý hành. Đó là biết  như thật về hành.
“Thế nào là biết như thật về tập của hành? Do vô minh mà có hành. Đó là biết như thật về tập của hành.
“Thế nào là biết như thật về diệt của hành? Vô minh diệt tức hành diệt. Đó là biết như thật về diệt của hành.
“Thế nào là biết như thật về diệt đạo của hành? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh Định là tám. Đó là biết như thật về diệt đạo của hành.
“Này Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo biết như thật về hành, biết như thật về tập của hành, diệt của hành và diệt đạo của hành như vậy, đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, nếu có Tỳ-kheo mà vô minh đã dứt, minh đã phát sanh, thì vị ấy còn phải làm những gì nữa?”
Tôn giả Đại Câu-hi-la trả lời rằng:
“Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có thầy Tỳ-kheo mà vô minh đã dứt, minh đã phát sanh, thì vị ấy không còn gì phải làm nữa”.
Tôn giả Xá-lê Tử nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lê Tử khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Hai vị Tôn giả cùng nhau nói về nghĩa như vậy, thảy đều hoan hỷ phụng hành, từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi.
____________________
26. Hành Pàli: saưkhàra.
27. Ba hành: thân hành khẩu hành ý hành Pàli: tayo saṃkhàra, kàyasaṃkhàro vacìsaṃkhàro cittasaṃkhàro.

* Trang 231 *
device

* Trang 232 *
device

 
Đại Tập 3 - Bộ A-Hàm III - Kinh Trung A-Hàm Số 1