LOGO VNBET
LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 53




BỘ ĐẠI TẬP
IV


SỐ 412 →424





HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN

* Trang 1 *
device

* Trang 2 *
device

SỐ 412

 KINH ĐỊA TẠNG BỒ-TÁT BẢN NGUYỆN

 
Hán dịch: Đời Đường, Tam tạng Sa-môn Thật-xoa-nan-đà,
người nước Vu-điền.
 QUYỂN THƯỢNG

PHẨM 1: Thần Thông Tại Cung Đao-Lợi

 
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Thế Tôn ở tại Thiên cung Đao-lợi thuyết pháp cho mẹ. Bấy giờ, các Đức Phật và các Đại Bồ-tát, nhiều đến không thể nào nói hết, ở khắp mười phương vô lượng thế giới, đều đến tụ tập, ngợi khen Đức Thế Tôn ở trong cõi ác đầy cả năm thứ vẩn đục, mà hiện ra sức mạnh của trí tuệ và thần thông rộng lớn không thể nghĩ bàn để thuần hóa những kẻ ương ngạnh, làm cho họ biết được cái gì đau khổ, cái gì yên vui. Các Đức Phật còn sai khiến những vị hầu cận thăm hỏi Đức Thế Tôn.
Khi ấy, Thế Tôn mỉm cười, phóng ra vầng mây ánh sáng, đủ trăm ngàn vạn ức sắc màu, đó là vầng mây sáng đại viên mãn, vầng mây sáng đại Từ bi, vầng mây sáng đại trí tuệ, vầng mây sáng đại Bát-nhã, vầng mây sáng đại Tam-muội, vầng mây sáng đại cát tường, vầng mây sáng đại phước đức, vầng mây sáng đại công đức, vầng mây sáng đại quy y, vầng mây sáng đại tán thán. Phóng ra vầng mây

* Trang 3 *
device

sáng không thể nói hết như vậy rồi, Thế Tôn lại phát ra đủ loại âm thanh vi diệu, đó là âm thanh Bố thí ba-la-mật, âm thanh Trì giới ba-la-mật, âm thanh Nhẫn nhục ba-la-mật, âm thanh Tinh tấn ba-la-mật, âm thanh Thiền định ba-la-mật, âm thanh Bát-nhã ba-la-mật, âm thanh Từ, Bi, âm thanh Hỷ, Xả, âm thanh giải thoát, âm thanh vô lậu, âm thanh trí tuệ và đại trí tuệ, âm thanh sư tử hống và Đại sư tử gầm, âm thanh sấm động, sấm động lớn.
Đức Thế Tôn phát ra đủ loại âm thanh mà không thể nào, không thể nào nói hết như vậy rồi, ở cõi nước Ta-bà này và các cõi nước ở những phương khác, có vô số ức Trời, Rồng, Quỷ thần cũng đến tụ tập tại Thiên cung Đao-lợi. Các chúng ở các tầng trời: Tứ Thiên vương, Đao-lợi, Tu-diệm-ma, Đâu-suất-đà, Hóa lạc, Tha hóa tự tại; Phạm chúng, Phạm phụ, Đại phạm; Thiểu quang, Vô lượng quang, Quang âm; Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh, Biến tịnh; Phước sinh, Phước ái, Quảng quả; Vô tưởng; Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện kiến, Thiện hiện, Sắc cứu cánh; Ma-hê-thủ-la; cho đến trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tất cả Thiên chúng như vậy cùng với long chúng, quỷ chúng và thần chúng đều đến tụ tập. Ở các cõi nước Ta-bà và cõi nước khác, lại có các Thần biển, Thần sông, Thần rào, Thần cây, Thần núi, Thần đất, Thần suối, Thần lúa, Thần ngày, Thần đêm, Thần không gian, Thần thiên giới, Thần ẩm thực, Thần thảo mộc, các Thần chúng như vậy cũng đến tụ tập. Ở các cõi nước Ta-bà và cõi nước khác, lại có các chúa quỷ lớn, như chúa quỷ mắt dữ, chúa quỷ ăn huyết, chúa quỷ ăn tinh khí, chúa quỷ ăn thai trứng, chúa quỷ gây bệnh tật, chúa quỷ trừ độc, chúa quỷ tâm Từ, chúa quỷ phước lợi, chúa quỷ rất yêu kính, những chúa quỷ như vậy cũng đến tụ tập.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Đại Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi (là con của Pháp Vương):
–Ông hãy quan sát, các Đức Phật, các Đại Bồ-tát, cùng Trời, Rồng, Quỷ thần ở thế giới này hay thế giới khác, ở cõi nước này hay cõi nước khác, hiện đang tụ tập tại Thiên cung Đao-lợi đây. Ông có biết được số lượng bao nhiêu không?
Đại Bồ-tát Văn-thù thưa:

* Trang 4 *
device

–Bạch Thế Tôn! Nếu đem năng lực thần trí của con mà tính đến ngàn đời, cũng không thể biết được.
Đức Thế Tôn nói:
–Như Lai lấy mắt Phật mà nhìn, cũng vẫn không đếm hết được số lượng ấy. Vậy mà số lượng ấy đều do Bồ-tát Địa Tạng, từ xa xưa đến bây giờ và sau này; đã hóa độ, đang hóa độ và sẽ hóa độ; đã tác thành, đang tác thành và sẽ tác thành.
Đại Bồ-tát Văn-thù thưa:
–Bạch Thế Tôn! Từ quá khứ, con đã thực hành căn lành lâu lắm, đã chứng được trí tuệ vô ngại, nên nghe Đức Thế Tôn dạy thì con tin tưởng và tiếp nhận tức khắc. Nhưng trí tuệ còn kém như các hàng Thanh văn, tám bộ thiên long và những chúng sinh trong đời vị lai thì dẫu được nghe lời nói thành thực của Đức Thế Tôn cũng vẫn nghi ngờ, có cung kính tiếp nhận đi nữa, cũng không khỏi dị nghị. Do đó, con thỉnh cầu Đức Thế Tôn nói một cách rộng rãi, Đại Bồ-tát Địa Tạng duyên vào đâu mà làm đã lập thệ nguyện gì, đã làm công hạnh gì, mà thành tựu được những việc không thể nghĩ bàn như Đức Thế Tôn vừa dạy.
Đức Thế Tôn nói:
–Này Văn-thù! Cả tam thiên đại thiên thế giới này, có bao nhiêu cỏ, cây, lùm, rừng, lúa, mè, tre, lau, núi, đá, bụi, trần… cứ mỗi vật giả thiết là một sông Hằng; với số cát trong các sông Hằng ấy, mỗi hạt giả thiết là một thế giới; với số bụi của các thế giới này, mỗi hạt giả thiết là một kiếp; mỗi kiếp này tích lũy bao nhiêu hạt bụi, đem cả ra mà giả thiết mỗi hạt bụi này là một kiếp nữa. Vậy mà Bồ-tát Địa Tạng từ khi thực hiện quả vị mười Địa cho đến ngày nay, thời gian ấy còn nhiều hơn cả ngàn lần số lượng về kiếp đã giả thiết trên, huống chi thời gian mà Bồ-tát Địa Tạng thực hiện quả vị Thanh văn và quả vị Bích-chi-phật. Này Văn-thù! Thần lực và nguyện lực của vị Bồ-tát này không thể nghĩ bàn. Trong đời vị lai, nếu có thiện nam, thiện nữ nào nghe được danh hiệu của vị Bồ-tát này mà xưng tụng, khen ngợi, chiêm ngưỡng, lễ bái, trì niệm, cúng dường, cho đến vẽ, khắc, đắp, sơn hình tượng của Bồ-tát thì người

* Trang 5 *
device

ấy sẽ được trăm lần sinh lên tầng trời Đao-lợi này, dứt khoát không còn rơi vào đường dữ.
Này Văn-thù! Đại Bồ-tát Địa Tạng trong quá khứ dài lâu, trước đây hàng nhiều kiếp đến không thể nào nói hết, bản thân Bồ-tát là con một vị đại trưởng giả. Thời kỳ ấy, thế giới này có Đức Phật xuất hiện, danh hiệu là Như Lai Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh. Vị con của đại trưởng giả nhìn thấy tướng tốt của Đức Như Lai ấy với ngàn phước trang nghiêm, nhân đó mới bạch hỏi Đức Phật kia đã thực hành hạnh nguyện gì mà được tướng tốt như vậy.
Đức Như Lai Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh nói: “Muốn có được thân tướng như vầy, phải trải qua thời gian dài, cứu độ hết thảy những tội khổ mà chúng sinh thọ lãnh.” Văn-thù! Lúc ấy, con của vị đại trưởng giả, nhân lời huấn dụ này mà phát nguyện: “Cho đến cùng tận đời vị lai, trải qua những kiếp không thể tính kể đi nữa, con nguyện vì những tội khổ mà chúng sinh lãnh thọ trong sáu đường, sẽ vận dụng mọi phương tiện, làm cho họ được giải thoát tất cả, bấy giờ bản thân con mới bước lên quả vị Phật.” Đứng trước Đức Như Lai Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh, Bồ-tát Địa Tạng đã lập thệ nguyện lớn lao như vậy, nên ngày nay, dẫu trải qua những kiếp nhiều đến trăm ngàn vạn ức trăm triệu không thể nào nói hết, ngài vẫn còn là vị Bồ-tát.
Thêm nữa, trong quá khứ cách nay những a-tăng-kỳ kiếp không thể nghĩ bàn, bấy giờ ở thế giới này có Đức Phật xuất hiện, danh hiệu là Như Lai Giác Hoa Định Tự Tại Vương. Đời sống của Ngài đến bốn trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ kiếp số. Trong thời kỳ tượng pháp, có một nữ nhân thuộc chủng tộc Bà-la-môn, phước đời trước sâu dày, quần chúng khâm phục, đi đứng nằm ngồi đều được chư Thiên hộ vệ.
Nhưng mẹ của nữ nhân lại mê tín tà thuyết, khinh thường Tam bảo. Nữ nhân như bậc Thánh ấy giải thích đủ cách để khuyên mẹ, ý nguyện làm cho mẹ phát sinh kiến thức chân chánh. Mẹ của nữ nhân chưa tin hoàn toàn thì chẳng bao lâu sinh mạng đã kết thúc, nghiệp thức sa vào ngục Vô gián. Nữ nhân Bà-la-môn biết mẹ lúc còn sống không tin nhân quả thì chắc phải tùy theo nghiệp dữ mà sa vào đường

* Trang 6 *
device

dữ, nên đem bán nhà cửa, sắm nhiều hoa hương và phẩm vật để cúng dường, tổ chức lớn sự cúng dường chư Phật và các chùa, tháp.
Tại một ngôi chùa, nữ nhân Bà-la-môn thấy Đức Như Lai Giác Hoa Định Tự Tại Vương, được đắp vẽ với đủ mọi nét đẹp Từ bi và trang nghiêm. Nữ nhân chiêm bái dung nhan của Phật, lòng thành kính ngưỡng mộ lại bội phần tăng lên. Nữ nhân tự nghĩ: “Phật là Bậc Đại Giác, hoàn thành trí thấu triệt toàn bộ. Nếu Đức Phật còn, khi mẹ con mất, con đến hỏi, chắc chắn Đức Phật biết được mẹ con sa lạc chỗ nào.” Nữ nhân khóc khá lâu, lại thiết tha chiêm ngưỡng Đức Như Lai Giác Hoa Định Tự Tại Vương. Thốt nhiên trong không gian như có tiếng bảo, nữ nhân đang khóc kia, con đừng quá bi lụy, ta sẽ chỉ cho con biết chỗ mẹ con sinh đến. Nữ nhẫn chắp tay, hướng lên không gian mà thưa:
–Vị nào định giải tỏa lo buồn cho con đây? Từ khi mất mẹ đến giờ, con thương nhớ ngày đêm, không có chỗ nào có thể hỏi để biết thế giới mẹ con sinh đến.
Trong không gian lại có tiếng nói:
–Ta là Như Lai Giác Hoa Định Tự Tại Vương, đã nhập diệt mà con đang chiêm ngưỡng lễ bái đó. Thấy con nhớ mẹ quá, hơn những kẻ thường tình, nên ta đến chỉ cho con.
Nữ nhân Bà-la-môn nghe nói như vậy, cả người đổ xuống, chân tay rã rời, hai bên đỡ cứu một lát mới tỉnh, lại hướng lên không gian, thưa:
–Xin Phật thương con, mau dạy cho con biết thế giới mẹ con sinh đến. Con cảm thấy cơ thể và tâm trí của con sắp phải chết mất.
Đức Như Lai Giác Hoa Định Tự Tại Vương bảo nữ nhân:
–Con cúng dường xong rồi trở về nhà, ngồi ngay thẳng mà trì niệm danh hiệu của ta thì sẽ biết ngay chỗ mẹ con sinh đến.
Nữ nhân lạy Phật, về nhà ngay. Với lòng nhớ thương mẹ, nữ nhân ngồi ngay thẳng, trì niệm danh hiệu của Đức Như Lai Giác Hoa Định Tự Tại Vương, suốt một ngày đêm. Bỗng thấy thân mình đến một bờ biển, nước biển đó sôi sục, có nhiều thú dữ, toàn là mình sắt, lướt nhảy trên mặt biển, xua bên này đuổi bên kia. Lại thấy trăm

* Trang 7 *
device

ngàn vạn kẻ, nam có nữ có, nổi lên ngập xuống trong biển ấy, bị các thứ thú dữ tranh nhau mà ăn. Lại thấy quỷ Dạ-xoa hình thù kỳ dị, lắm tay lắm mắt, nhiều chân nhiều đầu, nanh chóa ngoài miệng và sắc nhọn như gươm, một mặt xua đuổi tội nhân đến cho thú dữ, mặt khác chúng tự chụp bắt, túm đầu chân lại. Thảm cảnh vạn trạng, không đủ cam đảm mà nhìn mãi.
Nữ nhân Bà-la-môn nhờ năng lực của sự niệm Phật nên không sợ hãi gì cả. Có một chúa quỷ, tên Vô Độc, bước đến cúi đầu đón tiếp, hỏi:
–Lành thay, Bồ-tát! Người cần gì mà đến đây?
Nữ nhân hỏi chúa quỷ:
–Chỗ này là gì?
Chúa quỷ thưa:
–Chỗ này là lớp biển thứ nhất, ở về phía Tây dãy núi Đại thiết vi.
Nữ nhân hỏi:
–Tôi nghe nói giữa dãy núi ấy có địa ngục ở trong đó, thật chăng?
Chúa quỷ thưa:
–Thật có địa ngục.
Nữ nhân hỏi:
–Làm sao tôi đến được nơi địa ngục này?
Chúa quỷ thưa:
–Nếu không thần lực thì nghiệp lực, thiếu hai lực ấy thì không thể nào đến được.
Nữ nhân lại hỏi:
–Lớp biển này vì sao nước sôi sục, lại có nhiều tội nhân và lắm thú dữ?
Chúa quỷ thưa:
–Tội nhân ấy là những kẻ làm ác ở châu Diêm-phù mới chết. Trải qua bốn mươi chín ngày, nếu trong dòng tộc không có ai làm công đức để cứu vớt họ, do khi còn sống họ cũng không tạo nhân lành

* Trang 8 *
device

thì sẽ y theo nghiệp dữ đã làm mà nhận quả khổ ở địa ngục, quả khổ đương nhiên là trước hết phải bơi qua lớp biển này. Phía Đông lớp biển này, cách mười vạn do-tuần, lại có một lớp biển nữa, khổ sở gấp đôi biển này. Phía Đông lớp biển sau này, lại còn một lớp biển khác nữa, khổ sở càng gấp đôi. Do nhân độc ác từ ba nghiệp thân, miệng, ý tạo ra, nên nó mang tên biển nghiệp, là ba chỗ này đây.
Nữ nhân lại hỏi chúa quỷ:
–Nhưng địa ngục thì ở chỗ nào?
Chúa quỷ thưa:
–Trong ba lớp biển này toàn là địa ngục, số lượng đến hàng trăm hàng ngàn và khác biệt với nhau. Lớn nhất thì có mười tám, kế đó thì có năm trăm, khổ hại không lượng, kế đó nữa thì có trăm ngàn, cũng vô lượng khổ sở.
Nữ nhân lại hỏi:
–Mẹ tôi mới mất, không biết nghiệp thức phải đến chỗ nào?
Chúa quỷ hỏi lại:
–Mẹ ngươi khi sống quen làm hạnh nghiệp gì?
Nữ nhân nói:
–Mẹ tôi tà kiến, phỉ báng Tam bảo, có lúc hơi tin nhưng toàn là bất kính, chết mới mấy ngày không biết sinh đến chỗ nào?
Chúa quỷ hỏi:
–Mẹ ngươi tên họ là gì?
Nữ nhân nói:
–Cha mẹ tôi đều là dòng dõi Bà-la-môn, cha là Thi-la Thiện Hiện, mẹ là Duyệt-đế-lợi.
Chúa quỷ chắp tay thưa:
–Xin Thánh nữ trở về, khỏi cần lo buồn thương nhớ. Nữ tội nhân Duyệt-đế-lợi đã sinh lên cõi trời cách nay ba ngày, được biết là nhờ hiếu nữ làm phước cho mẹ, bằng sự tu phước cúng dường chùa tháp, thờ phụng Đức Như Lai Giác Hoa Định Tự Tại Vương. Không phải một mình mẹ của Thánh nữ được thoát địa ngục, mà tội nhân ở ngục Vô gián trong ngày ấy cũng được vui vẻ, cùng sinh lên cõi trời với mẹ người. Nói rồi, chúa quỷ chắp tay thi lễ xin cáo lui.

* Trang 9 *
device

Nữ nhân Bà-la-môn liền tỉnh mộng, ý thức việc này rồi, tức khắc đến trước hình tượng của Đức Như Lai Giác Hoa Định Tự Tại Vương thờ trong chùa tháp mà phát nguyện cao rộng: “Nguyện đến cùng tận đời vị lai, chúng sinh có bao kẻ tội khổ, con xin tìm đủ mọi cách làm cho họ được giải thoát.”
Đức Thế Tôn bảo Đại Bồ-tát Văn-thù:
–Chúa quỷ Vô Độc lúc ấy là Bồ-tát Tài Thủ ngày nay, còn nữ nhân Bà-la-môn thì chính là Bồ-tát Địa Tạng.

 
Phẩm 2: THÂN PHÂN HÓA QUY TỤ LẠI
 
Khi ấy, tất cả thân hình của Bồ-tát Địa Tạng đã phân hóa tại các địa ngục, của những thế giới nhiều đến trăm ngàn vạn ức, không thể nghĩ bàn, không thể tính kể, vô số con số vô số, đều đến tụ tập tại Thiên cung Đao-lợi. Do thần lực của Đức Thế Tôn mà từ các phương xứ của mình, thân hình phân hóa nào cũng dẫn theo những người đã thoát khỏi đường dữ, nhiều đến số lượng ngàn vạn ức trăm triệu và đều cầm hương hoa đến cúng dường Đức Thế Tôn. Những người đi theo này, nhờ Bồ-tát Địa Tạng giáo hóa đối với đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đã vĩnh viễn không còn thoái chuyển. Những người này, từ bao kiếp lâu xa, đã bị trôi lăn trong biển lớn sinh tử, chịu khổ trong sáu đường không lúc nào dừng nghỉ. Ngày nay, nhờ Từ bi cao cả và thệ nguyện sâu xa của Bồ-tát Địa Tạng mà họ thực hiện được đạo quả. Khi đến Đao-lợi, lòng họ quá mừng, chiêm ngưỡng Đức Thế Tôn mắt không rời một thoáng.
Vào lúc ấy, Đức Thế Tôn đưa cánh tay vàng xoa trên đỉnh đầu hết thảy thân hình của Bồ-tát Địa Tạng đã phân hóa tại các thế giới nhiều đến trăm ngàn vạn ức, không thể nghĩ bàn, không thể tính kể, vô số con số vô số, rồi bảo:
–Này Bồ-tát Địa Tạng! Như Lai đã ở trong cõi ác đầy cả năm thứ vẩn đục mà giáo hóa những kẻ ương ngạnh, làm cho tâm tính của họ thuần hậu, xa bỏ đường tà, quay về nẻo chánh. Nhưng trong mười

* Trang 10 *
device

phần, có một vài phần vẫn còn thói dữ. Chính Như Lai cũng vẫn phân hóa thân hình ra cả ngàn trăm ức, vận dụng đủ cách mà hóa độ. Kẻ trình độ cao thì nghe Như Lai dạy là tin tưởng và tiếp nhận tức khắc. Kẻ có quả báo tốt thì ân cần khuyến hóa rồi cũng được thành tựu. Kẻ ám độn thì giáo hóa thật lâu mới biết quay về. Còn kẻ nghiệp nặng thì không sinh tâm kính ngưỡng. Những kẻ như trên, khác nhau đến mấy, Như Lai cũng phân hóa thân hình mà cứu độ. Hoặc hiện thân nam, hoặc hiện thân nữ. Hoặc hiện thân là trời, là rồng, hoặc hiện thân là quỷ là thần. Hoặc hiện là núi rừng, dòng nước, đồng bằng, sông ngòi, ao hồ, suối giếng, tạo ích lợi khắp cả mọi người, ai cũng được độ thoát. Hoặc hiện thân Đế Thích, hoặc hiện thân Phạm vương, hoặc hiện thân Luân vương, hoặc hiện thân Cư sĩ, hoặc hiện thân Quốc vương, hoặc hiện thân tể tướng, hoặc hiện thân thuộc quan. Hoặc hiện các thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, thiện nam, tín nữ. Cho đến các thân Thanh văn, La-hán, Bích-chi-phật, Bồ-tát. Như Lai hiện ra những thân như vậy để hóa độ. Không phải Như Lai chỉ hiện ra trước họ duy nhất thân hình Phật mà thôi.
Này Bồ-tát Địa Tạng! Ông hãy quan sát xem, Như Lai đã bao kiếp, siêng và khổ, hóa độ những kẻ tội khổ, ương ngạnh và khó dạy. Nhưng nhìn chung, vẫn còn những kẻ chưa thuần hậu thì cũng phải tùy nghiệp dữ mà chịu quả khổ. Trong quả khổ ấy, nếu họ sa vào đường dữ, lãnh chịu khổ sở khốc liệt thì ông hãy nhớ hôm nay, tại Thiên cung Đao-lợi này, Như Lai đem người ở cõi Ta-bà, trong quãng từ nay đến ngày Di-lặc Từ tôn xuất thế, thiết tha ký thác cho ông, làm sao cho họ được thoát hẳn mọi thống khổ, được gặp Phật và được tiếp nhận sự thọ ký.
Khi ấy, bao nhiêu thân hình của Bồ-tát Địa Tạng phân hóa tại các thế giới đều hợp lại một bản thân, cảm kích rơi lệ thưa với Phật:
–Bạch Thế Tôn! Từ bao kiếp đến nay, con nhờ Thế Tôn dìu dắt mà được thần lực siêu việt và trí tuệ vĩ đại. Thân hình phân hóa của con khắp các thế giới nhiều đến như cát của trăm ngàn vạn ức sông Hằng, mỗi thế giới con lại phân hóa trăm ngàn vạn ức thân hình, mỗi thân hình con hóa độ trăm ngàn vạn ức người, làm cho họ quy kính Tam bảo, rời sinh tử, đến Niết-bàn. Hễ biết làm lành theo lời huấn thị

* Trang 11 *
device

của Thế Tôn thì điều lành ấy dẫu bằng một sợi lông, một giọt nước, một hạt cát, một mảy bụi, hay chỉ bằng một chút lông tóc đi nữa, con cũng hóa độ cho họ dần dần được ích lợi lớn lao. Kính xin Thế Tôn đừng vì những kẻ tội ác trong vị lai mà lo nghĩ. Ba lần như vậy, Bồ-tát Địa Tạng vẫn kính xin Thế Tôn đừng vì những kẻ tội ác trong vị lai mà lo nghĩ.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn khen ngợi Bồ-tát Địa Tạng:
–Lành thay, lành thay! Như Lai rất vui mừng và sẽ hỗ trợ cho ông. Ông sẽ có đủ năng lực hoàn thành thệ nguyện vĩ đại đã phát ra từ bao kiếp lâu xa, sự hóa độ rộng lớn ấy hoàn tất sẽ chứng đắc quả vị Bồ-đề.

 

Phẩm 3: QUAN SÁT NGHIỆP DUYÊN CỦA CHÚNG SINH

 
Bấy giờ, thân mẫu của Đức Thế Tôn là Ma-da phu nhân, chắp tay một cách cung kính, hỏi đức Địa Tạng:
–Bạch Thánh giả! Người Diêm-phù gây ra bao nghiệp sai khác, vậy phải chịu quả khổ như thế nào?
Bồ-tát Địa Tạng nói:
–Kính thưa Phật mẫu, ngàn vạn thế giới các cõi, hoặc nơi có địa ngục, nơi không; hoặc nơi có nữ nhân, nơi không; hoặc nơi có Phật pháp, nơi không; cho đến Thanh văn, Bích-chi-phật cũng vậy, nơi có nơi không, chứ không phải chỉ có mỗi một tội báo là địa ngục.
Ma-da phu nhân lại thưa:
–Bạch Bồ-tát! Tôi xin được nghe trước về những tội báo phải thọ lãnh trong các nẻo ác của người Diêm-phù.
Địa Tạng đáp:
–Kính thưa Phật mẫu! Xin Phật mẫu nghe và tiếp nhận, tôi sẽ nói sơ lược về điều ấy.
Phật mẫu thưa:

* Trang 12 *
device

–Xin Thánh giả nói cho.
Bấy giờ, Bồ-tát Địa Tạng nói:
–Kính thưa Phật mẫu! Tại phía Nam châu Diêm-phù này, nghiệp dữ gây quả khổ, có những danh xưng như thế này: Kẻ nào bất hiếu, thậm chí sát hại cha mẹ thì sẽ phải đọa vào địa ngục Vô gián, ngàn vạn ức kiếp cầu thoát cũng khó mong được thoát khỏi. Kẻ nào làm chảy máu thân Phật, phỉ báng Tam bảo, khinh thường kinh pháp, cũng sẽ đọa vào địa ngục Vô gián, ngàn vạn ức kiếp cầu thoát cũng khó mong được thoát khỏi. Kẻ nào xâm phạm làm tổn hại, hay vấy bẩn dù một chút chỗ Tăng, Ni thường trú, hoặc ngay trong chốn Già-lam mà phóng túng làm sự không phải phạm hạnh hay sự sát hại sinh mạng thì sẽ đọa vào địa ngục Vô gián, ngàn vạn ức kiếp, cầu thoát cũng khó mong được thoát khỏi. Kẻ nào giả làm Sa-môn tâm hạnh không phải Sa-môn, lạm dụng phá hoại sự thường trụ của Tăng chúng, lừa đảo thế nhân, vi phạm giới luật, tạc các việc ác thì sẽ đọa vào địa ngục Vô gián, ngàn vạn ức kiếp, cầu thoát cũng khó mong được thoát khỏi. Kẻ nào trộm cắp tài vật, thóc gạo, đồ ăn, đồ uống và đồ mặc của tăng chúng thường trú, cho đến một vật không cho mà cũng lấy thì sẽ đọa vào địa ngục Vô gián, ngàn vạn ức kiếp, cầu thoát cũng khó mong được thoát khỏi.
Bồ-tát Địa Tạng lại nói:
–Kính thưa Phật mẫu! Những kẻ làm những tội ác trên đây thì phải đọa vào địa ngục Vô gián, đó là nơi có năm nghiệp cảnh hành hạ liên tục không gián đoạn, mong mỏi sự khổ sở tạm ngừng cho một lát, cũng không thể có được.
Ma-da phu nhân lại hỏi:
–Bạch Bồ-tát Địa Tạng! Địa ngục Vô gián là gì?
Bồ-tát Địa Tạng nói:
–Kính thưa Phật mẫu! Địa ngục phần nhiều thường ở giữa dãy núi Đại thiết vi. Loại lớn thì có mười tám sở. Loại kế thì có năm trăm, tên gọi khác nhau. Loại kế đó nữa thì có trăm ngàn, tên gọi cũng khác. Địa ngục Vô gián có bờ thành chu vi hơn tám vạn dặm, làm toàn bằng sắt; thành ấy cao một vạn dặm, trên thành lửa dồn kín

* Trang 13 *
device

lại, ít có chỗ rống; trong thành, ngục sở liền nhau nhưng tên gọi khác nhau, trong đó có một ngục sở tên ngục Vô gián. Ngục sở ấy chu vi một vạn tám ngàn dặm. Tường ngục cao một ngàn dặm, làm toàn bằng sắt; lửa trên xuyên xuống dưới, lửa dưới thấu lên trên; có rắn sắt và chó sắt phun lửa thỏa thích, rượt đuổi tội nhân, chạy qua lại trên tường ngục. Trong ngục có cái giường, rộng đầy vạn dặm một người thọ tội, tự thấy thân mình nằm khắp mặt giường, mà ngàn vạn người cùng lúc thọ tội, ai cũng tự thấy thân mình nằm khắp mặt giường. Do nghiệp dữ của những người ấy mà chiêu cảm ra quả khổ như vậy.
Tội nhân trong địa ngục Vô gián phải chịu đủ thứ cực hình. Trăm ngàn Dạ-xoa và quỷ dữ nanh như gươm, mắt như điện, móng như đồng, móc kéo tội nhân. Lại có các Dạ-xoa khác, cầm kích sắt lớn đâm tội nhân, vào mình, vào miệng, vào mũi, vào bụng, vào lưng, rồi hất lên trên không, giơ kích đỡ lấy, hoặc xóc để trên giường. Lại có chim ưng bằng sắt móc mắt tội nhân. Có rắn sắt quấn cổ tội nhân mà siết. Cả trăm đốt xương và khớp của cơ thể đều bị đóng đinh dài. Lưỡi bị lôi ra mà cày, ruột bị rút ra mà chặt, miệng bị rót nước đồng sôi, mình quấn dây sắt nóng. Chết đi sống lại cả ngàn vạn lần. Vậy mà phải trải qua cả ức kiếp, cầu thoát nhưng khó mong được thoát khỏi. Hễ thế giới này hư hoại thì chuyển qua thế giới khác, thế giới khác hư hoại thì chuyển qua thế giới khác nữa, thế giới khác nữa hư hoại thì chuyển qua thế giới khác khác nữa. Sau khi thế giới này kết thành thì lại bị chuyển về. Quả khổ ngục Vô gián là như vậy.
Vì năm việc sau đây, do nghiệp dữ cảm ra liên tục không gián đoạn nên gọi là Vô gián. Những gì là năm?
1.Cực hình chịu suốt ngày đêm, cho đến hết số kiếp, không lúc nào gián đoạn, nên gọi là Vô gián.
2.Một tội nhân cũng tự thấy mình đầy cả ngục, mà nhiều tội nhân, ai cũng tự thấy mình đầy cả ngục, nên gọi là Vô gián.
3.Hình cụ như chóa ba, gậy, chim ưng, rắn, sói, chó, cối giã, cối xay bằng đá, cưa, đục, đồ chặt, đồ phát, vạc nấu, nước sôi, lưới sắt,

* Trang 14 *
device

dây sắt, lừa sắt, ngựa sắt, da sống để quấn đầu, sắt sôi để dội thân, viên sắt nóng để bắt nuốt khi van đói, nước sắt sôi để bắt uống khi kêu khát, từ năm này qua năm khác, trọn hết số kiếp vài trăm triệu năm, các cực hình liên hợp mà lại liên tục, không có gián đoạn, nên gọi là Vô gián.
4.Bất kể nam nữ, mọi rợ, văn minh, già trẻ, sang hèn, rồng thần, trời quỷ, hễ tạo nghiệp dữ thì lãnh nhận quả khổ và đồng chịu như nhau, nên gọi là Vô gián.
5.Sa vào ngục Vô gián thì từ khi mới vào cho đến hết trăm ngàn kiếp, mỗi một ngày đêm, chết đi sống lại đến cả vạn lần, cầu lấy một lát tạm ngừng cũng không thể có được, trừ khi nghiệp dữ hết rồi mới được chết hẳn mà sinh làm loài khác: Sống chết liền liền như vậy, nên gọi là Vô gián.
Bồ-tát Địa Tạng nói với Phật mẫu:
–Địa ngục Vô gián nói đại lược là như vậy. Nếu nói rõ ràng về tên, về các dụng cụ tra tấn, về sự khổ sở trong đó thì suốt một kiếp muốn nói cho hết vẫn không hết được.
Ma-da phu nhân nghe rồi, buồn và lo, chắp tay đảnh lễ rồi lui về chỗ của mình.

 

Phẩm 4: SỰ CẢM ỨNG VỚI NGHIỆP CỦA NGƯỜI DIÊM-PHÙ

 
Bấy giờ, Bồ-tát Địa Tạng thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con nương nhờ thần lực của Thế Tôn mà khắp trong trăm ngàn vạn ức thế giới, con đã phân hóa thân hình mình để cứu vớt những kẻ đang chịu quả khổ của nghiệp dữ. Nếu không có thần lực Từ bi vĩ đại của Thế Tôn, con không thể có sự biến hóa được như vậy, nay con lại được Thế Tôn đem sáu đường chúng sinh, trong quãng từ nay đến ngày Di-lặc thành Phật, ký thác cho con, dạy con phải cứu độ cho họ giải thoát.
Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời. Xin Thế Tôn đừng lo nghĩ.

* Trang 15 *
device

Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Địa Tạng:
–Hết thảy chúng sinh chưa giải thoát thì thức tánh vô định, làm dữ thì kết thành quả khổ, làm lành thì cảm ra phước báo, làm lành làm dữ gì cũng tùy vào hoàn cảnh mà phát sinh, rồi luân chuyển trong năm đường liên miên bất tận, trải qua những kiếp nhiều như cát bụi mà vẫn còn mê mờ, lầm lẫn, vẫn bị chướng nạn, như cá lội trong lưới, cuốn theo dòng nước chảy mãi: Đã sẩy vào trong dòng nước có lưới rồi thì dẫu có tạm ra vào, cũng chỉ lẩn quẩn trong lưới ấy mà thôi. Nên vì họ mà Như Lai lo nghĩ. Nay ông đã muốn hoàn thành lời nguyện căn bản và lời thề trọng đại trong nhiều kiếp đã qua, là hóa độ những kẻ tội khổ một cách sâu rộng thì Như Lai còn lo nghĩ gì nữa.
Khi Đức Thế Tôn nói ra lời ấy thì trong pháp hội có một vị Đại Bồ-tát danh hiệu Định Tự Tại Vương bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Bồ-tát Địa Tạng từ bao kiếp đến nay đã phát những nguyện gì mà ngày nay được Thế Tôn ân cần xưng tụng, con thỉnh cầu Thế Tôn tóm tắt dạy cho chúng con.
Đức Thế Tôn dạy Đại Bồ-tát Định Tự Tại Vương:
–Hãy nghe cho kỹ, hãy khéo nghĩ và nhớ! Như Lai sẽ vì ông mà phân biệt giảng nói đây.
Trong quá khứ, cách nay bằng những kiếp nhiều đến vô lượng vô số trăm triệu không thể nào nói hết, lúc ấy có Đức Phật hiệu là Nhất Thiết Trí Thành Tựu, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Đức Phật sống đến sáu vạn kiếp. Khi chưa xuất gia, Đức Phật là một tiểu quốc vương, kết bạn với một tiểu quốc vương lân bang, cùng nhau thực thi mười nghiệp lành, tạo lợi ích cho dân chúng. Nhưng dân chúng ở nước lân bang đa số làm ác. Hai vị quốc vương mới bàn tính tìm phương cách thích hợp. Một vị nguyện thành Phật sớm để hóa độ cho hết dân chúng ấy. Một vị thì nguyện: Nếu không hóa độ trước những kẻ tội khổ, làm cho họ được yên vui và đạt được sự toàn giác thì bản thân chưa muốn thành Phật.

* Trang 16 *
device

Này Bồ-tát Định Tự Tại Vương! Vị quốc vương nguyện thành Phật sớm là Như Lai Nhất Thiết Trí Thành Tựu, còn vị quốc vương nguyện hóa độ lâu dài những kẻ tội khổ mà chưa thành Phật là Bồ-tát Địa Tạng.
Còn nữa, trong quá khứ, cách nay vô lượng vô số kiếp, có Đức Phật xuất hiện ở thế gian, danh hiệu của Đức Phật là Như Lai Thanh Tịnh Liên Hoa Mục. Đức Phật sống đến bốn chục kiếp. Trong thời kỳ tượng pháp có một vị La-hán, đem phước đức độ cho người, nhân đó mà tuần tự giáo hóa họ, vị La-hán ấy gặp một nữ nhân tên Quang Mục, thiết trai cúng dường. Vị La-hán hỏi cô ấy muốn cầu nguyện điều gì?
Quang Mục thưa:
–Gặp ngày mẹ con mất, con muốn nhờ phước đức cúng dường của Tôn giả để cứu vớt cho mẹ con, không biết mẹ con hiện nay sinh đến chỗ nào?
Vị La-hán liền nhập định quan sát, thấy mẹ Quang Mục đọa vào đường dữ, chịu khổ khốc liệt, sau đấy hỏi Quang Mục:
–Mẹ con lúc sống đã làm nghiệp dữ gì mà nay phải chịu khổ lớn ở trong đường dữ?
Quang Mục thưa:
–Thói quen của mẹ con thích ăn cá và ba ba, nhưng thích ăn nhất lại là cá và ba ba con. Bằng cách hoặc chiên hoặc nấu, mẹ con tha hồ mà ăn. Số lượng sinh mạng của chúng, tính ra đến ngàn vạn mà còn hơn nữa. Xin Tôn giả thương mà dạy cho con biết làm cách nào để cứu mẹ.
Vị La-hán tỏ lòng Từ bi chỉ dạy cách thức, khuyên Quang Mục:
–Hãy chí thành trì niệm danh hiệu của Đức Như Lai Thanh Tịnh Liên Hoa Mục, đắp vẽ hình tượng Như Lai mà thờ phụng thì người còn kẻ mất sẽ được phước báo.
Quang Mục nghe vậy, tức khắc xả bỏ cả những gì mình luyến tiếc, nhờ vẽ liền tượng Phật mà tôn thờ. Hết lòng tôn kính, Quang Mục khóc lạy, chiêm ngưỡng. Ngay sau đêm ấy, Quang Mục mộng

* Trang 17 *
device

thấy thân Phật ánh vàng rực rỡ, đồ sộ như núi Tu-di, phóng ra ánh sáng lớn bảo Quang Mục:
–Mẹ con không bao lâu nữa sẽ sinh trong nhà con, hễ biết đói lạnh là biết nói.
Sau đó, nữ tỳ trong nhà của Quang Mục sinh một đứa bé, chưa đầy ba ngày đã biết nói. Cúi đầu, tủi khóc, đứa bé nói với Quang Mục:
–Trong phạm vi sinh tử, hễ tự làm nghiệp dữ thì tự chịu quả khổ. Ta là mẹ con đây, lâu nay phải ở trong chỗ đen tối. Từ khi biệt ly với con, ta sa mãi vào trong địa ngục lớn. Nhờ phước con làm nên mới được sinh làm người, nhưng làm người hèn hạ mà chết yểu, năm mười ba tuổi sẽ lại bị sa vào đường dữ. Con có cách gì cứu mẹ cho khỏi?
Quang Mục nghe nói, biết đúng là mẹ mình, nghẹn ngào khóc mà hỏi:
–Nếu là mẫu thân thì tất phải biết tội mình đã làm những nghiệp gì mà phải sa vào đường dữ?
Đứa bé nói:
–Sát sinh và mắng nhiếc, vì hai nghiệp dữ ấy mà phải chịu quả khổ. Nếu không có phước con làm để cứu nạn cho mẹ thì với hai nghiệp dữ ấy lẽ đáng mẹ chưa được giải thoát.
Quang Mục hỏi:
–Quả khổ địa ngục như thế nào?
Đứa bé nói:
–Quả khổ ấy nói ra thật bất nhẫn. Mà có nói đi nữa, trăm ngàn năm cũng không hết.
Quang Mục nghe như vậy, hướng mặt lên không gian, kêu khóc, thưa:
–Con cầu nguyện cho mẹ thoát hẳn địa ngục, hết mười ba tuổi thì không còn tội nặng để phải sa vào đường dữ. Chư Phật mười phương xin thương tưởng con, chứng minh cho con vì mẹ mà phát thệ nguyện rộng lớn: “Nếu mẹ con được thoát hẳn ba nẻo đường ác và kiếp người hèn hạ, cho đến thân nữ nhân cũng vĩnh viễn không thọ

* Trang 18 *
device

sinh nữa, trước hình ảnh Đức Như Lai Thanh Tịnh Liên Hoa Mục, con nguyện từ nay sắp đi, đến trăm ngàn vạn ức kiếp sau này, có bao nhiêu những kẻ tội khổ ở trong địa ngục ngạ quỷ súc sinh của các thế giới, con thề cứu vớt cho họ thoát khỏi những chỗ ấy, khi những kẻ tội khổ thành Phật cả rồi, sau đó con mới bước lên quả vị Chánh giác.”
Phát thệ nguyện rộng lớn như vậy rồi, Quang Mục nghe rõ tiếng nói của Đức Như Lai Thanh Tịnh Liên Hoa Mục dạy bảo:
–Này Quang Mục! Lòng Từ bi của con thật lớn lao, biết vì mẹ mà phát nguyện vĩ đại. Ta thấy mẹ con hết mười ba tuổi, bỏ quả báo này rồi, sẽ sinh làm một Phạm chí, sống lâu trăm năm. Hết quả báo ấy thì vãng sinh quốc độ vô ưu, sống lâu với những kiếp không thể tính kể. Về sau thành Phật hóa độ sâu rộng, trong đó có nhân loại và chư Thiên, số người được hóa độ nhiều như cát sông Hằng.
Đức Thế Tôn bảo Đại Bồ-tát Định Tự Tại Vương:
–Vị La-hán đem phước đức hóa độ Quang Mục lúc ấy là Bồ-tát Vô Tận Ý ngày nay. Mẹ của Quang Mục nay là Bồ-tát Giải Thoát. Còn Quang Mục thì chính là Bồ-tát Địa Tạng, trong những kiếp lâu xa của quá khứ, Bồ-tát Địa Tạng đã Từ bi như vậy, đã phát ra thệ nguyện nhiều như cát sông Hằng, đã quyết hóa độ chúng sinh một cách sâu rộng. Sau này, bất cứ nam tử hay nữ nhân, có kẻ làm lành, có kẻ làm dữ, có kẻ phủ nhận nguyên lý nhân quả, có kẻ tà dâm vọng ngữ, có kẻ lưỡng thiệt ác khẩu, có kẻ phỉ báng Đại thừa, những kẻ tạo nghiệp dữ như vậy, tất sa vào đường ác. Nhưng nếu gặp bạn lành khuyến khích quy y Bồ-tát Địa Tạng dẫu chỉ trong một thời gian rất ngắn, những kẻ ấy cũng có thể thoát được quả khổ trong ba đường ác. Nếu ai hết lòng tôn kính, quy y, chiêm ngưỡng, lễ bái, xưng tụng, hay phụng sự cúng dường những hoa hương, y phục, bảo vật, ẩm thực thì trong vị lai, trăm ngàn vạn ức kiếp thường được ở trên các cõi trời thọ hưởng sự yên vui thượng diệu. Phước báo chư Thiên hết rồi, sinh xuống nhân gian, cũng vẫn còn trăm ngàn kiếp được làm đế vương, nhớ được nhân quả gốc ngọn về đời trước của mình.

* Trang 19 *
device

Này Định Tự Tại Vương! Bồ-tát Địa Tạng có thần lực lớn lao, không thể nào nghĩ bàn, làm ích lợi sâu rộng cho mọi người như vậy. Bồ-tát các người hãy nhớ kinh này và truyền bá rộng rãi.
Đại Bồ-tát Định Tự Tại Vương thưa:
–Bạch Thế Tôn! Xin Thế Tôn đừng lo nghĩ. Chúng con, ngàn vạn ức Đại Bồ-tát, chắc chắn có năng lực nương theo uy thần của Thế Tôn mà truyền bá kinh này một cách rộng rãi tại châu Diêm-phù, để đem lợi ích cho chúng sinh.
Thưa Thế Tôn như vậy rồi, Đại Bồ-tát Định Tự Tại Vương chắp tay cung kính đảnh lễ, lui về chỗ của mình.
Lúc ấy, bốn vị Thiên vương ở bốn phương cùng đứng dậy khỏi chỗ họ ngồi, chắp tay cung kính thưa:
–Bạch Thế Tôn! Từ những kiếp lâu xa, Bồ-tát Địa Tạng đã phát đại nguyện như trên, vì lý do nào mà cho đến ngày nay sự hóa độ của Bồ-tát vẫn chưa hết, Bồ-tát vẫn còn lặp lại đại nguyện ấy? Chúng con thỉnh cầu Thế Tôn dạy cho chúng con rõ.
Đức Thế Tôn bảo bốn vị Thiên vương:
–Lành thay, lành thay! Như Lai hôm nay vì lợi ích sâu rộng cho các ông, cho hết thảy chư Thiên, nhân loại và các loài khác, trong hiện tại và vị lai, sẽ nói về những phương tiện mà Bồ-tát Địa Tạng ở trong các nẻo đường sinh tử của châu Diêm-phù, thuộc thế giới Ta-bà này, đã tỏ lòng thương cảm sâu xa cứu những kẻ tội khổ.
Bốn vị Thiên vương thưa:
–Bạch Thế Tôn! Chúng con rất muốn được nghe.
Thế Tôn dạy bốn vị Thiên vương:
–Từ những kiếp lâu xa cho đến ngày nay, Bồ-tát Địa Tạng đã hóa độ chúng sinh mà vẫn chưa hoàn tất đại nguyện, là vì: Một mặt thương những kẻ tội khổ trong thời hiện tại, mặt khác nhìn đến vô số kiếp thuộc thời vị lai, những kẻ ấy gây tội khổ vẫn dây dưa không ngừng, nên Bồ-tát vẫn phải lặp lại thệ nguyện trọng đại.
Vì như vậy, nên ở tại châu Diêm-phù của thế giới Ta-bà, Bồ-tát đã vận dụng trăm ngàn vạn ức phương tiện mà giáo hóa. Này bốn vị Thiên vương, Bồ-tát Địa Tạng gặp người sát sinh thì nói về

* Trang 20 *
device

quả khổ đời trước gặp tai ương chết yểu, gặp người trộm cắp thì nói về quả khổ nghèo nàn và khốn khổ, gặp người tà dâm thì nói về quả khổ phải làm loài bồ câu uyên ương, gặp người ác khẩu thì nói về quả khổ bà con đánh cãi nhau, gặp người hủy báng thì nói về quả khổ không lưỡi hoặc lở miệng, gặp người sân giận thì nói về quả khổ xấu xí lại tàn tật, gặp người keo kiệt thì nói về quả khổ cầu gì cũng không được, gặp người ăn uống vô độ thì nói về quả khổ đói khát và bệnh tật, gặp người săn bắn tha hồ thì nói về quả khổ kinh hãi điên cuồng mà mất mạng, gặp người phản nghịch cha mẹ thì nói về quả khổ trời đất giết chết bằng tai nạn, gặp người thiêu đốt núi rừng thì nói về quả khổ cuồng sảng tự chuốc lấy cái chết, gặp cha ghẻ mẹ ghẻ ác độc thì nói về quả khổ phải chịu cảnh roi vọt tự gây ra ngay trong đời này, gặp người lưới bắt chim non thì nói về quả khổ cốt nhục phân ly, gặp người phỉ báng Tam bảo thì nói về quả khổ mù điếc câm ngọng, gặp người khinh ngạo giáo pháp thì nói về quả khổ sẽ đọa lâu trong các đường ác, gặp người phá tán lạm dụng của Tăng chúng thường trú thì nói về quả khổ nhiều đời luân hồi địa ngục, gặp người làm bẩn phạm hạnh vu khống Tăng, Ni thì nói về quả khổ ở lâu trong loài súc sinh; gặp người sát hại sinh vật bằng nước sôi, bằng lửa, bằng sự chém chặt thì nói về quả khổ luân hồi đền mạng lẫn nhau, gặp người phá giới phạm trai thì nói về quả khổ cầm thú đói khát, gặp người tiêu dùng phi lý thì nói về quả khổ nhu cầu thiếu thốn, gặp người ngã mạn cao ngạo thì nói về quả khổ tôi tớ hèn hạ, gặp người đâm thọc gây rối thì nói về quả khổ không lưỡi hay nhiều lưỡi, gặp người kiến thức sai lầm thì nói về quả khổ sinh chỗ không có pháp Phật.
Đại loại như vậy, người Diêm-phù từ thân, miệng, ý tạo ra nghiệp dữ và kết thành quả khổ có đến hàng trăm hàng ngàn, nay Như Lai chỉ nói sơ lược. Đối với nghiệp dữ và quả khổ khác nhau như vậy của người Diêm-phù, Bồ-tát Địa Tạng đã vận dụng hàng trăm hàng ngàn phương tiện mà giáo hóa cho họ. Vì lẽ những người ấy, sau khi chịu những quả khổ như Bồ-tát Địa Tạng đã nói, họ còn bị đọa vào địa ngục, trải qua nhiều đời kiếp khó có hy vọng thoát khỏi. Các ông là hộ vệ dân chúng và hộ vệ đất nước thì đừng để

* Trang 21 *
device

nghiệp dữ mê hoặc mọi người.
Bốn vị Thiên vương nghe Đức Thế Tôn dạy, buồn và khóc, chắp tay lạy Phật lui về chỗ của mình.

 

Phẩm 5: DANH XƯNG ĐỊA NGỤC

 
Bấy giờ, Đại Bồ-tát Phổ Hiền bạch đức Địa Tạng:
–Thưa nhân giả! Tôi thỉnh cầu ông nói cho tám bộ, cho bốn chúng, cho cả mọi người trong hiện tại, vị lai, về tên gọi và những cực hình của địa ngục, nơi chịu quả khổ của những kẻ gây tội ác ở thế giới Ta-bà, trong đó có châu Diêm-phù, để bao kẻ sau này, trong thời kỳ giáo pháp cuối cùng, biết rõ quả khổ ấy.
Địa Tạng đáp:
–Thưa nhân giả! Tôi sẽ dựa vào uy thần của Thế Tôn và của nhân giả mà nói sơ lược về tên gọi và những cực hình, những quả khổ ở địa ngục.
–Thưa nhân giả! Phía Đông Diêm-phù có dãy núi tên Thiết vi. Giữa dãy núi ấy đen tối thăm thẳm, không có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, có địa ngục lớn nhất tên Cực vô gián, có địa ngục tên Đại a-tỳ, có địa ngục tên Bốn góc, có địa ngục tên Dao bay, có địa ngục tên Tên lửa, có địa ngục tên Núi ép, có địa ngục tên Phóng giáo, có địa ngục tên Xe sắt, có địa ngục tên Giường sắt, có địa ngục tên Bò sắt, có địa ngục tên Áo sắt, có địa ngục tên Ngàn mũi nhọn, có địa ngục tên Lừa sắt, có địa ngục tên Nước đồng sôi, có địa ngục tên Ôm cột đồng, có địa ngục tên Lửa tuôn, có địa ngục tên Cày lưỡi, có địa ngục tên Chặt đầu, có địa ngục tên Đốt chân, có địa ngục tên Ăn mắt, có địa ngục tên Viên sắt, có địa ngục tên Cãi cọ, có địa ngục tên Rìu sắt, có địa ngục tên Giận nhiều…
Bồ-tát Địa Tạng nói với Đại Bồ-tát Phổ Hiền:
–Thưa nhân giả! Trong dãy núi Thiết vi có những địa ngục như vậy, số lượng không có giới hạn. Lại còn có địa ngục Kêu la,

* Trang 22 *
device

địa ngục Rút lưỡi, địa ngục Phẩn giải, địa ngục Xích đồng, địa ngục Voi lửa, địa ngục Chó lửa, địa ngục Ngựa lửa, địa ngục Bò lửa, địa ngục Núi lửa, địa ngục Đá lửa, địa ngục Giường lửa, địa ngục Cầu lửa, địa ngục Chim ưng lửa, địa ngục Cưa răng, địa ngục Lột da, địa ngục Uống huyết, địa ngục Đốt tay, địa ngục Đốt chân, địa ngục Đâm ngược, địa ngục Nhà lửa, địa ngục Nhà sắt, địa ngục Sói lửa. Những địa ngục như vậy mỗi thứ còn có những địa ngục nhỏ phụ thuộc, hoặc một hoặc hai, hoặc ba hoặc bốn, cho đến hàng trăm hàng ngàn và có tên gọi khác nhau.
Bồ-tát Địa Tạng nói với Đại Bồ-tát Phổ Hiền:
–Thưa nhân giả! Tất cả địa ngục ấy được cảm ra do nghiệp lực của những kẻ làm ác ở châu Diêm-phù. Nghiệp lực cực lớn: Cao như núi Tu-di, sâu như biển cả, hại cả Thánh đạo. Vì vậy, mọi người đừng khinh thường những việc ác nhỏ, cho là không hại gì. Bởi lẽ chết rồi, quả báo đủ cả, một chút mảy may cũng phải chịu lấy. Chí thân như tình cha con đi nữa, cũng đường ai nấy đi. Giả sử có gặp nhau, cũng không được chịu thay cho nhau. Tôi nay dựa vào uy thần của Thế Tôn, chỉ kể sơ lược những cảnh tượng cực hình về quả khổ phải chịu ở trong địa ngục. Ước mong nhân giả nghe qua lời ấy.
Đại Bồ-tát Phổ Hiền nói:
–Chính vì tôi đã biết từ lâu về quả khổ nơi ba đường ác, nên mong muốn Đại sĩ nói để làm cho sau này, trong thời kỳ giáo pháp cuối cùng, những kẻ làm ác nghe lời Đại sĩ mà biết quay về với Phật.
Bồ-tát Địa Tạng nói:
–Thưa nhân giả! Cực hình ở địa ngục là như thế này. Có chỗ kéo lưỡi tội nhân cho bò cày. Có chỗ moi tim tội nhân cho Dạ-xoa ăn. Có chỗ đun vạc sôi cuồn cuộn mà nấu thân tội nhân. Có chỗ nung đỏ cột đồng mà bắt tội nhân ôm lấy. Có chỗ phun lửa táp vào tội nhân. Có chỗ toàn là băng lạnh. Có chỗ tràn đầy phẩn giải. Có chỗ phóng toàn viên sắt có cạnh sắc gai nhọn. Có chỗ đâm toàn giáo lửa. Có chỗ chỉ đánh lưng bụng. Có chỗ chỉ đốt tay chân. Có chỗ rắn sắt quấn siết. Có chỗ xua chó sắt cắn. Có chỗ toàn là bắt cỡi lừa sắt. Thưa nhân giả! Cực hình như vậy có trong các địa ngục được tạo do hàng

* Trang 23 *
device

trăm hàng ngàn hình cụ toàn là đồng, sắt, đá và lửa. Cả bốn thứ này đều do nghiệp dữ chung của mọi người cảm ra. Nếu kể cho rõ về cực hình ở địa ngục thì trong mỗi chỗ đã có cả trăm cả ngàn cảnh tượng thảm khốc, huống chi nhiều chỗ. Tôi nay dựa vào uy thần của Thế Tôn và của nhân giả mà nói sơ lược như trên. Nói và giải thích cho rõ thì trọn đời cũng không hết được.
 

Phẩm 6
: THẾ TÔN TUYÊN DƯƠNG

 
Bấy giờ, toàn thân Đức Thế Tôn phóng ra ánh sáng lớn, chiếu khắp các cõi Phật tương đương số cát của trăm ngàn vạn ức sông Hằng, rồi xuất ra âm thanh vĩ đại, tuyên cáo hết thảy chư Đại Bồ-tát cùng Thiên, Long, Quỷ thần, Nhân phi nhân trong các cõi Phật ấy:
–Các người hãy nghe, hôm nay Như Lai sẽ xưng tụng tán dương việc Đại Bồ-tát Địa Tạng khắp trong thế giới mười phương, đã vận dụng sức mạnh của uy thần và lòng Từ bi vô cùng vĩ đại, không thể nghĩ bàn, cứu vớt hộ trì hết thảy những kẻ tội khổ. Sau khi Như Lai nhập Niết-bàn, các người là những Bồ-tát, Đại sĩ và Thiên, Long, Quỷ thần hãy làm mọi cách mà kính giữ kinh này, để cho ai nấy đều thực hiện được Niết-bàn an vui.
Khi lời của Đức Thế Tôn được nói ra, trong pháp hội có một vị Đại Bồ-tát danh hiệu Phổ Quảng, chắp tay cung kính thưa:
–Bạch Thế Tôn! Hôm nay con thấy Thế Tôn xưng tụng Bồ-tát Địa Tạng có uy thần và Từ bi rất là vĩ đại không thể nghĩ bàn, nên con thỉnh cầu Thế Tôn, vì đời vị lai, vì những người trong thời kỳ giáo pháp cuối cùng, nói về việc Bồ-tát Địa Tạng đem lại ích lợi trong nhân loại và chư Thiên, lúc tạo nguyên nhân cũng như lúc hưởng chịu kết quả, để tám bộ thiên long cùng những kẻ trong vị lai biết tôn kính tiếp nhận huấn dụ của Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói:
–Này Đại Bồ-tát Phổ Quảng và cả bốn chúng! Hãy nghe cho

* Trang 24 *
device

kỹ, Như Lai sẽ nói sơ lược cho các người về việc Bồ-tát Địa Tạng làm lợi ích bằng cách tạo ra phước đức trong nhân loại và chư Thiên.
Đại Bồ-tát Phổ Quảng thưa:
–Bạch Thế Tôn! Chúng con xin tuân lời Thế Tôn, nguyện muốn được nghe.
Đức Thế Tôn dạy:
–Này Đại Bồ-tát Phổ Quảng! Trong đời vị lai, nếu có thiện nam hay thiện nữ nào nghe danh hiệu của Bồ-tát Địa Tạng mà chắp tay, xưng tụng, lễ bái hay ngưỡng mộ thì người ấy siêu thoát được tội mà đáng lẽ phải chịu khổ trong ba mươi kiếp.
Này Phổ Quảng! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào vẽ hình tượng của Bồ-tát Địa Tạng, hay tạc hình của Bồ-tát Địa Tạng bằng đất đá, keo sơn, bạc vàng, đồng sắt, dù chỉ để một lần chiêm ngưỡng hay một lần lễ bái thì kẻ đó vẫn được trăm lần sinh lên cõi trời Đao-lợi, trong một thời gian lâu dài không sa vào đường dữ. Giả sử phước báo ở cõi trời đã hết rồi, phải sinh xuống nhân gian thì cũng vẫn còn làm quốc vương không mất lợi ích lớn lao.
Này Phổ Quảng! Nếu có nữ nhân nào chán thân nữ nhân, chí thành cúng dường Bồ-tát Địa Tạng bằng cách vẽ tượng, hay đúc tượng bằng đất đá, keo sơn, đồng sắt, rồi ngày nào cũng tinh tấn cúng dường các thứ như hương hoa, đồ ăn uống, quần áo, gấm vĩc, lụa là, cờ phướn, lọng báu, tiền của, vật báu thì nữ nhân ấy, sau khi thọ hết thân quả báo nữ nhân này rồi, trăm ngàn vạn kiếp không còn sinh vào thế giới nữ nhân, huống chi phải thọ lại thân ấy. Ngoại trừ trường hợp vì Từ bi, quyết phải thệ nguyện làm thân nữ nhân để hóa độ kẻ khác. Thiện nữ ấy, nhờ sức oai thần của đức Địa Tạng mà mình cúng dường và nhờ sức mạnh từ công đức cúng dường đức Địa Tạng, nên trăm ngàn vạn kiếp không còn làm thân nữ nữa.
Này Phổ Quảng! Nếu có nữ nhân nào chán ngán thân xấu xí nhiều bệnh hoạn thì hãy đến trước hình tượng Bồ-tát Địa Tạng mà chí tâm chiêm ngưỡng, lễ bái. Làm như vậy dẫu chỉ một thời gian ngắn, nữ nhân ấy ngàn vạn đời sẽ được thân tướng mạo toàn hảo, không còn những bệnh hoạn. Còn nếu nữ nhân xấu xí ấy không chán ngán

* Trang 25 *
device

thân nữ thì trong trăm ngàn vạn ức đời thường sẽ được làm vương nữ, vương phi, con gái của tể tướng, của quý tộc, của đại trưởng giả, sinh ra là đoan trang, tướng mạo tuyệt hảo. Vì lòng chí thành chiêm ngưỡng, lễ bái đức Địa Tạng mà được phước như vậy.
Này Phổ Quảng! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào đến trước hình tượng Địa Tạng mà diễn tấu âm nhạc, ca vịnh, tán dương, dùng hương hoa cúng dường, lại khuyến khích một người cho đến nhiều người cùng làm như vậy thì những người ấy, trong hiện tại cũng như trong vị lai, luôn luôn được hàng trăm hàng ngàn quỷ thần ngày đêm hộ vệ, không để cho việc dữ lọt vào tai họ, huống chi là để họ bị mọi sự ngang trái.
Này Phổ Quảng! Trong đời vị lai, nếu có người ác, quỷ ác và thần ác, thấy thiện nam hay thiện nữ nào biết quy y, tôn kính, cúng dường, xưng tụng, chiêm ngưỡng hay lễ bái hình tượng Bồ-tát Địa Tạng mà phát sinh lòng mỉa mai, phỉ báng, cho là việc vô phước và vô ích, hoặc nhe răng ra mà cười, hoặc công kích sau lưng, trước mặt, hoặc lôi cuốn một người hay nhiều người chung nhau phỉ báng thì sự phỉ báng này, dẫu chỉ trong một lát, kẻ phỉ báng ấy bị đọa vào địa ngục. Khi chư Phật ở Hiền kiếp đã nhập diệt cả rồi, quả khổ của sự phỉ báng ấy làm cho họ vẫn còn ở trong địa ngục A-tỳ, chịu hình phạt rất nặng. Hiền kiếp qua rồi mới được làm ngạ quỷ, ngàn kiếp sau đó mới được làm súc sinh, ngàn kiếp sau đó nữa mới được làm người. Dẫu được làm người, nhưng làm người nghèo nàn, hèn hạ, các căn không đủ, phần nhiều bị nghiệp dữ trở lại kết nơi tâm lý, nên không bao lâu lại sa vào đường dữ.
Này Phổ Quảng! Phỉ báng sự cúng dường Bồ-tát Địa Tạng của người khác mà còn bị quả khổ như vậy, huống chi chính mình phỉ báng Bồ-tát Địa Tạng bằng những ác kiến hủy diệt.
Này Phổ Quảng! Trong đời vị lai, nếu có người nam hay người nữ nào đau ốm liệt giường mòn gối, cầu sống không được, muốn chết cũng không xong. Ban đêm mộng thấy quỷ dữ, thấy bà con, thấy đi vào đường hiểm, thấy lắm sự kinh hãi, thấy đi với quỷ thần. Rồi ngày tháng dần dà chuyển thành lao bệnh, trong giấc ngủ kêu la thảm thiết. Đó là lúc đang bị luận định về nghiệp dữ, nặng nhẹ chưa quyết,

* Trang 26 *
device

nên chết đã khó mà làm lành càng khó hơn. Mắt phàm nam nữ làm sao rõ được việc ấy. Vậy thân nhân nên đến trước tượng Phật hay tượng Bồ-tát, cao tiếng mà tụng cho bệnh nhân một biến kinh này. Và cũng nên đem tài sản mà bệnh nhân vốn luyến tiếc như y phục, đồ quý, ruộng vườn, nhà cửa, đến trước bệnh nhân, cao tiếng nói rõ mình tên họ như vậy, xin vì bệnh nhân mà đến trước kinh Phật và tượng Phật đem tài sản của bệnh nhân cúng dường kinh tượng, hoặc tạo tượng Phật hay tượng Bồ-tát, hoặc làm chùa tháp, hoặc cúng vào quỹ hương đèn, hoặc cúng dường tăng chúng thường trú. Hãy nói ba lần như vậy cho bệnh nhân nghe và biết. Giả sử bệnh nhân ý thức đã tàn, đến nỗi hơi thở đã hết, cũng vẫn mỗi ngày cho đến bảy ngày, cao tiếng mà nói và cao tiếng tụng kinh. Như vậy bệnh nhân ấy, sau khi chết, nghiệp dữ đã làm dẫu nặng đến như năm tội phải đoạ vào ngục Vô gián đi nữa, cũng vẫn thoát khỏi lâu dài, sinh ra ở đâu cũng tự biết đời trước của mình. Ấy là bệnh nhân được người khác làm cho mà hiệu quả đến như vậy, huống chi chính thiện nam hay thiện nữ nào tự sao chép kinh Địa Tạng, hoặc khuyên người sao chép, tự đắp vẽ tượng Địa Tạng hay khuyên người đắp vẽ thì kết quả nhận được là lợi ích lớn.
Này Phổ Quảng! Vì lý do ấy, hễ thấy ai đọc hay tụng kinh Địa Tạng, dù trong chốc lát xưng tụng hay tôn kính kinh này, các người cũng phải vận dụng trăm ngàn phương tiện, khuyến khích cho họ nỗ lực đừng có thoái chí thì quyết chắc trong hiện tại cũng như trong vị lai, họ sẽ thực hiện được ngàn vạn ức công đức không thể nghĩ bàn.
Này Phổ Quảng! Trong đời vị lai, nếu có những kẻ chiêm bao hay ngủ say, thấy các quỷ thần với bao nhiêu biến dạng buồn có, khóc có, rầu có, than có, sợ có, hãi có thì đấy toàn là cha mẹ, con cái, anh em, chị em, hay vợ chồng, bà con, trong quá khứ một đời mười đời hay trăm đời ngàn đời, hiện ở trong đường dữ mà chưa được thoát khỏi, không biết hy vọng vào đâu làm phước để được cứu vớt, nên họ báo mộng cho những kẻ bà con ruột thịt trong quá khứ, trông mong làm phước để cứu họ thoát khỏi đường dữ. Này Phổ Quảng! Các người hãy vận dụng thần lực làm cho những kẻ bà con ruột thịt ấy biết tìm đến trước tượng Phật hay tượng Bồ-tát, chí tâm tự tụng kinh

* Trang 27 *
device

này hay cung thỉnh người khác tụng cho, số lượng phải ba biến hay bảy biến. Như vậy, những kẻ bà con còn ở trong đường dữ kia, hễ tiếng tụng kinh đủ biến chấm dứt thì họ cũng được siêu thoát, mộng mị cũng không bao giờ còn thấy họ nữa.
Này Phổ Quảng! Trong đời vị lai, nếu có những kẻ thấp kém, ví như những người làm tôi tớ cho đến những người không còn được tự do, ý thức về nghiệp cũ mà muốn sám hối thì hãy chí thành chiêm ngưỡng, lễ bái hình tượng Bồ-tát Địa Tạng và ít nhất cũng trong một tuần bảy ngày, trì niệm danh hiệu của Bồ-tát cho được vạn biến thì những người ấy hết quả báo này rồi, trong ngàn vạn đời sau thường sinh chỗ tôn quý, lại không còn trải qua quả khổ ở trong ba đường dữ.
 Này Phổ Quảng! Trong đời vị lai, tại châu Diêm-phù này, Sát-đế-lợi hay Bà-la-môn, Trưởng giả, hay Cư sĩ, mọi người thuộc chủng tộc và sắc tội khác nhau. Nếu có con mới sinh thì bất cứ nam hay nữ, trong một tuần bảy ngày, hãy sớm đọc tụng cho chúng bản kinh không thể nghĩ bàn này, lại trì niệm cho chúng danh hiệu của Bồ-tát Địa Tạng đủ số vạn biến. Như vậy, những trẻ sơ sinh ấy, bất cứ nam hay nữ, nếu đời trước có nghiệp dữ sẽ chịu quả khổ thì cũng tiêu tan được cả, yên vui, dễ nuôi, tăng thêm tuổi thọ, nếu sinh ra do phước đức thì càng hạnh phúc và tuổi thọ lại càng thêm lên.
Này Phổ Quảng! Trong đời vị lai, mỗi tháng các ngày mồng một, mồng tám, mười bốn, rằm, mười tám, hăm ba, hăm bốn, hăm tám, hăm chín hay ba mươi, là những ngày tra cứu tội ác để phán định nặng nhẹ. Mà người ở phương Nam cõi Diêm-phù thì mỗi cử động hay suy tư toàn là nghiệp, toàn là tội, huống chi lại còn mặc ý sát sinh, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ, nghiệp dữ cả trăm cả ngàn. Trong những ngày thập trai trên đây, nếu kẻ nào biết đến trước tượng Phật, tượng Bồ-tát hay tượng Hiền thánh mà tụng một biến kinh này thì khu vực người ấy cư trú, Đông, Tây, Nam, Bắc chu vi một trăm do-tuần, mọi tai nạn sẽ không xảy ra và nhà ở của người ấy bất cứ lớn nhỏ, từ hiện tại đến vị lai, trong cả trăm cả ngàn năm đều thoát hẳn khỏi đường dữ. Mỗi ngày thập trai mà biết tụng kinh này một biến thì chỉ một việc ấy, ngay trong đời này, cũng đã làm cho cả nhà không có tai họa, bệnh tật, được ăn mặc sung túc.

* Trang 28 *
device

Cho nên, này Phổ Quảng! Ông nên biết: Bồ-tát Địa Tạng đã dùng sức oai thần vĩ đại, để làm những sự ích lợi cho người đạt đến số lượng trăm ngàn vạn ức, không thể nói hết. Đối với Bồ-tát Địa Tạng, người ở Diêm-phù lại có nhân duyên lớn lao. Người ở đây nghe danh hiệu hay thấy hình tượng của Bồ-tát, cho đến nghe kinh này dầu chỉ được ba chữ hay năm chữ, hay một câu đủ nghĩa trong một bài kệ thì hiện tại đạt được sự yên vui vi diệu, mà vị lai trăm ngàn vạn đời luôn luôn được sinh ra trong nhà tôn quý, tướng mạo và tánh tình đều hoàn hảo.
Đại Bồ-tát Phổ Quảng nghe Đức Thế Tôn tán dương và xưng tụng Bồ-tát Địa Tạng rồi, liền quỳ xuống, chắp tay thưa:
–Bạch Thế Tôn! Từ lâu rồi con đã biết vị Bồ-tát này có thần lực không thể nghĩ bàn và nguyện lực vĩ đại như Thế Tôn dạy, nhưng vì con muốn làm cho bao kẻ sau này biết những sự ích lợi có được từ thần lực và nguyện lực ấy, nên đã thỉnh vấn Thế Tôn. Con xin cung kính, tiếp nhận những lời Thế Tôn huấn dụ.
Bạch Thế Tôn! Kinh này gọi tên là gì và dạy chúng con truyền bá như thế nào?
Đức Thế Tôn dạy Đại Bồ-tát Phổ Quảng:
–Kinh này có ba danh hiệu: Có thể mang tên là Bản Nguyện của Bồ-tát Địa Tạng, cũng có thể mang tên là Bản Hạnh của Bồ-tát Địa Tạng, lại có thể mang tên là Sức Bản Thệ Của Bồ-tát Địa Tạng. Cả ba danh hiệu ấy đều căn cứ vào thệ nguyện trọng đại vì lợi ích cho chúng sinh của Bồ-tát Địa Tạng đã phát ra từ bao kiếp lâu xa. Vì lý do ấy, các người hay y theo đại nguyện như vậy mà truyền bá kinh này.
Đại Bồ-tát Phổ Quảng nghe Đức Thế Tôn huấn dụ, chắp tay cung kính, làm lễ lui về chỗ của mình.

* Trang 29 *
device

 
Đại Tập 53- Bộ Đại Tập IV- Số 412-> 424