LOGO VNBET
LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 54





BỘ KINH TẬP
1

SỐ 425 →440






HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN

* Trang 1 *
device

* Trang 2 *
device

SỐ 425

 KINH HIỀN KIẾP

(CÒN CÓ TÊN LÀ KINH TAM-MUỘI BẠT-ĐÀ-KIẾP.
ĐỜI TẤN GỌI LÀ KINH HIỀN KIẾP ĐỊNH Ý)

 
Hán dịch: Đời Tây Tấn, Tam Tạng Trúc Pháp Hộ,
người nước Nguyệt Chi.
QUYỂN 1

Phẩm 1: HỎI VỀ PHÁP TAM-MUỘI

 
Nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ, trọn trong ba năm, vừa bắt đầu vào năm tiếp theo, Đức Thế Tôn xem lại y phục đều đầy đủ, các nơi chốn giáo hóa đều đã đến khắp, nên khoác y mang bình bát đi tới kinh thành Duy-da-ly, cùng với đại Thánh chúng gồm vô số trăm ngàn các vị Tỳ-kheo hội đủ, chư Bồ-tát gồm tám mươi ức vị.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn ngụ tại nơi chốn thanh vắng, an nhiên, thong thả từ chỗ nhà nghỉ thức dậy. Bồ-tát Tuệ Vương, Khai Sĩ Hỷ Vương, ở riêng hẳn một nơi cũng vừa thức giấc, ra khỏi phòng để vấn an Đức Như Lai, sửa sang, dọn dẹp nơi đạo tràng, trải bày các tòa ngồi.
Lúc này, bốn chúng đệ tử là các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Thanh tín sĩ, Thanh tín nữ, chư Thiên, Long, Quỷ thần, A-tu-luân, Ca-lưu-la, Chân-đà-la, Ma-hưu-lặc, cùng với Nhân phi nhân đều vân tập đến

* Trang 3 *
device

đông đảo. Hết thảy các chúng hội đều nhờ nơi ánh sáng chiếu tỏa của chúng Bồ-tát nên đều được an ổn, hòa hợp. Tất cả các Bậc Đại Thánh trong chúng hội Bồ-tát đều là hàng thần trí thông tuệ, đạt đủ các pháp Tổng trì, hoàn thành các pháp Tam-muội, năm thứ thần thông gồm đủ, mắt nhìn thấu hết thảy mọi tâm niệm của chúng sinh, phân biệt để nhận rõ về các nẻo tư duy giữa đạo tục, lìa hết vọng tưởng, ban bố khắp những lời giảng dạy rộng lớn về pháp Bố thí hòa hợp mọi ý. Các vị Bồ-tát ấy đều tự tu tập đủ các pháp Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Nhất tâm, Trí tuệ, khéo dùng các phương tiện thiện xảo, không gì là không giáo hóa dẫn dắt, đạt pháp không thoái chuyển, giảng nói đạo pháp khắp chốn, thể hiện tâm Từ bi đối với quần sinh, không nuôi giữ tâm sân hại, không chuộng lợi dưỡng. Mọi trường hợp diễn giảng kinh văn đều không nhằm vào chuyện y phục, thức ăn uống, vì đã dứt hết mọi tham đắm. Các vị đó đều đã đạt pháp nhẫn thâm diệu “Vô sở tùng sinh”, vượt qua mọi nẻo sinh diệt, đều là hàng bạn lành của mọi nơi chốn, tầng lớp, đều là tiếng gầm của sư tử, khiến cho mười phương phải quy thuận, trước sau, đầu cuối đều tế độ tất cả để đưa đến bờ giải thoát, đều là bậc dũng mãnh, vô úy, thắng vượt hết thảy đám ma oán, tiêu trừ mọi thứ ngăn che, hành hóa không còn chút trở ngại nào. Các vị ấy đã rõ nơi cội rễ thanh tịnh nên không nghi ngại các pháp. Tích lũy công đức thật không thể xưng kể, lường tính. Nhập sâu vào chốn huyền diệu của đạo lớn vô bờ. Tâm ý hòa hợp, hình diện luôn tươi vui thể hiện nơi sự hỏi han, giao tiếp. Những khi luận đàm luôn ung dung, từ tốn, dứt mọi sắc thái nóng giận. Luôn lìa bỏ giả trá, ca tụng chánh chân, tâm hành vượt qua mọi giới mốc, đạt tới pháp nhẫn của bậc Thánh.
Các vị Bồ-tát ấy đều là bậc biện tài thông suốt, không còn vướng ở giới hạn hay nơi chốn nào. Mạnh mẽ mà có uy thế vì tâm như hư không. Công lao tỏa khắp, mọi hạnh nguyện bền chắc như kim cương nên không nơi chốn nào mà không thâm nhập hành hóa. Bao chốn cõi đi đến chưa từng gặp khó khăn. Các vị đó đều là bậc đã biết được về vô số kiếp cùng các quốc độ mình đã từng trải qua. Theo phương tiện mà thuyết giảng về tất cả các pháp như huyễn hóa, như dợn nắng, như bóng hình, tiếng vang, như cảnh vật trong mộng, như

* Trang 4 *
device

bóng trăng trong nước, như thân cây chuối, như bọt nước tụ tan với vô số đổi thay nối tiếp. Đối với đông đảo chúng sinh mê muội luôn bị trôi nổi, chìm đắm không có chốn để hướng về nương tựa, các vị Bồ-tát ấy đều luôn tìm tới đủ cả năm chốn để cứu giúp, giáo hóa. Các bậc đó đều thông tỏ mọi nơi chốn hướng tới thiện ác của chúng sinh, tùy theo chỗ vui mừng của tâm ý mà diễn nói về những công đức chân thật, luôn thể hiện tâm thương xót, dứt sạch mọi ý niệm thô bạo, mưu hại.
Các vị Bồ-tát ấy đã từng tích chứa vô lượng đức hạnh làm trang nghiêm cõi Phật, phát thệ nguyện lớn lao vô hạn, đạt được những thành tựu vô biên đối với cảnh giới của chư Phật. Luôn thực hiện chánh định nên tâm ý thường tỏ ngộ, chưa từng quên nẻo quy hướng, khi trở về thì luôn tán thán chư Phật hiện tại trong mười phương, thấu tõ các thứ phiền não như bụi tích chứa dần dà nên to lớn. Chí mong cầu trí tuệ Phật, luôn vui thích trong sự chứng đắc các thần thông, khéo dùng mọi quyền xảo để đi đến hàng trăm ngàn hằng hà sa cõi Phật trong mười phương với các đạo tràng thuyết pháp đều từ xa nghe thấy, trí tuệ sáng suốt tu tập các pháp thảy đều thấu đạo, từ đó mưa các pháp cam lồ vi diệu làm thấm nhuần hết thảy các loài, tâm đạo vô lượng trùm khắp tất cả.
Danh hiệu của các vị Bồ-tát ấy là Bồ-tát Từ Thị, Bồ-tát Phổ Thủ, Bồ-tát Quang Thế Âm, Bồ-tát Vũ Âm, Bồ-tát Thiện Đức Bách Thiên, Bồ-tát Hoa Nghiêm, Bồ-tát Tự Tại, Bồ-tát Minh Diễm Thành, Bồ-tát Sướng Âm, Bồ-tát Phụng Vô Số Ức Kiếp Hành, Bồ-tát Giác Ý Lôi Âm Vương, Bồ-tát Kiến Chánh Tà, Bồ-tát Tịnh Tử Kim, Bồ-tát Kỳ Tâm Kiên Trọng, Bồ-tát Uy Quang Vương, Bồ-tát Chiếu Tứ Thiên Lý, Bồ-tát Việt Sở Kiến, Bồ-tát Biện Tích, Bồ-tát Tuệ Vương, Bồ-tát Bất Hư Kiến, Bồ-tát Bạt-đà-hòa cùng với tám vị đại Chánh sĩ.
Lại có Bồ-tát Chúng Hương Thủ, Bồ-tát Vô Lượng Chân Bảo, Bồ-tát Trí Tích, Bồ-tát Đại Tịnh, Bồ-tát Sư Tử Hống, Bồ-tát Âm Vương, Bồ-tát Tịnh Châu Nghiêm Hạnh, Bồ-tát Sư Tử Bộ Sướng Âm, Bồ-tát Vô Lượng Biện Vô Úy… các vị Bồ-tát như vậy có đến tám mươi ức đều hội đủ.

* Trang 5 *
device

Ở nơi cõi tam thiên đại thiên thế giới này thì có Chánh chủ thiên hạ, Tứ đại Thiên vương, Thích, Phạm, Tự tại Thiên vương, Đại phạm Thiên vương, chư Long vương, chư Quỷ thần vương, các vua A-tu-la, các vua Ca-lâu-la, các vua Chân-đà-la, các vua Ma-hưu-lặc, các vua Kiền-đạp-hòa…, tất cả thảy đều tề tựu đông đủ nơi đạo tràng của Phật, mỗi vị đều dùng hương hoa cúng dường và tung rải lên chỗ Phật rồi trở về ngồi qua một bên, hoặc ngồi hoặc đứng yên.
Bấy giờ, Bồ-tát Hỷ Vương nhìn thấy chúng hội đã đông đủ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục cho ngay ngắn, quỳ sát đất, chắp tay cung kính thưa với Đức Phật:
–Kính thưa Thế Tôn! Con có điều muốn thưa hỏi, mong được chấp nhận, con mới dám tỏ bày.
Đức Phật nói:
–Bồ-tát cứ việc thưa hỏi, Như Lai sẽ tùy theo các sự việc mà nêu bày giảng giải.
Bồ-tát Hỷ Vương liền hỏi Phật:
–Thế nào gọi là hàng Bồ-tát với tâm đạo luôn được đầy đủ để dứt trừ phi pháp, phụng hành theo những nẻo tạo tác nào để dứt bỏ mọi thứ phiền não trói buộc, tu ba phẩm:
1. Kinh hành.
2. Trụ vị.
3. Tọa định để thu tóm các vọng động khó điều phục, từ đó vượt qua được hết thảy, khiến cho sự dốc tu thêm tinh tấn, dứt sạch mọi cấu uế?
Thế nào gọi là hàng Bồ-tát thành tựu đầy đủ, thấu tỏ tâm tánh cùng mọi hành động của chúng sinh, ngôn ngữ thường hết mực thành thật, thể hiện được sự hành hóa của Phật, dứt bỏ mọi tranh biện hý luận, tùy theo căn cơ của chúng sinh, sử dụng âm thanh ngôn từ thích hợp, hội nhập vào trí tuệ đích thực, ở trong đời hiện tại được trông thấy hết thảy chư Phật mười phương không bị ngăn ngại, được thấy các pháp thâm diệu, chân thật cho đến các thệ nguyện vô cùng lớn lao của chư Phật, luôn thương xót, lo nghĩ đến các pháp thế gian, tuy hành hóa trong cõi đời mà vĩnh viễn không chút tham đắm, vướng

* Trang 6 *
device

mắc, tu tập thiền định, nhất tâm thực hành các pháp Tam-muội, không theo những lời chỉ dẫn có sẵn mà vẫn tạo được nơi chốn phát sinh, đi theo các pháp giải thoát mà không chấp vào nẻo diệt độ, không vì sự thực hiện chưa đầy đủ chí nguyện của chư Phật mà giữa đường bỏ dở, thậm chí trở lại cầu đạt các pháp của hàng Duyên giác, không dùng thừa này làm thoái chuyển con đường tu tập trong cảnh giới diệt độ. Ý tu vô lượng không có giới hạn các pháp tuệ, tâm chưa từng bị loạn động, hội nhập nơi từng ấy các loại cảnh giới, tạo tác vô hạn nguyện, nếu gặp phải những vấn nạn thì sẽ dùng trí tuệ biện tài tất được thông suốt, thu gồm vô lượng cõi Phật thanh tịnh, đạt đến trí tuệ tột bậc, rốt ráo mà Phật đã đạt được, từ đó giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh, tâm không chút tham vướng, dứt mọi tưởng về người trong khi giảng giải, nêu bày kinh điển, chẳng bám vào các pháp điên đảo để làm hiển lộ các nẻo giải thoát, tu hành đạt đạo nhưng không trụ mãi ở cảnh giới tịch diệt, cũng không có nơi chốn nương tựa như có chỗ ưa thích, ham chuộng đối với các hành nội tâm để dứt trừ các nẻo có không. Nay đối với Đấng Thiên Trung Thiên mong được thấy sự thương xót, nhớ nghĩ. Tánh tuy chậm chạp chẳng dám thưa bày nhiều lần, mong Đức Thế Tôn rủ lòng thương mà ban lời chỉ dạy.
Bấy giờ, Bồ-tát Hỷ Vương bèn đọc tụng ca ngợi:
Thưa hỏi nguyệt thù diệu
Đem ánh sáng cứu đời
Chốn hành của Bồ-tát
Dần đạt đến thành tựu
Vào vô lượng nơi cõi
Chư Thiên người ưa pháp
Nghe, đạt đạo hạnh tột
Vô số kẻ phát tâm
Tin thọ pháp vi diệu
Hỏi khắp, nghe danh độ
Xưng vô lượng trí, tâm
Chứng giải thoát thù thắng

* Trang 7 *
device

Nêu hạnh khắp mười phương
Tôn công đức giải thoát
Công năng Phật tối thượng
Hành tuệ đại Thánh dạy
Nhớ tục tăm tối buộc
Chóng nêu ánh sáng đạo
Liền thấy cõi tam thiên
Giảng, hành đạo như vậy
Tướng hảo như muôn hoa
Giữ đạo, âm vô lượng
Tam-muội cùng Tu-di
Bồ-tát hành như thế
Trung thực, không gì hơn
Không ngã, dứt ba độc
Tịch tĩnh, chúng ngợi khen
Người hỏi, trong hạnh quý
Ý kiên, lời hòa, diệu
Nêu giảng chẳng thiếu sót
Bậc Đại sĩ giũ bụi
Như Phật đạo dạy ta
Quy mạng về đạo giác
Ngày đêm quyết không đổi
Pháp tối thượng thuận nghe
Chân chánh như đạo dạy
Ý định nếu luôn giữ
Thần túc, trí biện tài
Thấy chư Phật mười phương
Hỏi tịch nhiên như Thánh
Giảng tuệ hơn hết thảy
Thông vô số cửa định
Chốn nêu giảng không chán
Nên hỏi hành mười phương
Vào nơi vui chẳng hỏi

* Trang 8 *
device

Không thưa hạn các cõi
Kính đại Thánh thắng diệu
Mong nêu hành mười phương.
Đức Phật bảo Bồ-tát Hỷ Vương:
–Lành thay, lành thay! Điều Bồ-tát hỏi thật bao quát thâm diệu, thể hiện sự thương xót, nhớ nghĩ đối với tất cả. Có pháp Tam-muội tên là Thông tỏ mọi ngọn nguồn các pháp. Bồ-tát nếu tu tập theo pháp Tam-muội ấy thì sẽ đạt được những công đức kia, mọi hạnh kể trên cũng liền đạt đầy đủ. Nhờ đó, uy thần lồng lộng, thành tựu viên mãn hai ngàn một trăm pháp tu Ba-la-mật, cho đến tám vạn bốn ngàn pháp môn Tam-muội, tám vạn bốn ngàn các pháp môn Tổng trì, thấu rõ khắp mọi nẻo các hành của chúng sinh, mau chóng đạt tới đạo Chánh chân vô thượng, thành Bậc Chánh Giác tối thượng.
Đức Phật bảo Bồ-tát Hỷ Vương:
–Vì sao pháp Tam-muội đó được gọi là Thông tỏ mọi ngọn nguồn các pháp. Nếu hàng Bồ-tát thực hành “sáu kiên pháp” thì thân, khẩu, ý đều thể hiện tâm từ, ngôn ngữ, hành động luôn tương ứng, không trái với ba thừa, không đánh mất thệ nguyện thiết yếu, tỏ đường nẻo của ba thừa, cũng như mở bày chỉ rõ cho chúng sinh về nơi chốn tạo nghiệp. Ngôn ngữ cũng như thế, thân hành thanh tịnh, lời nói luôn nhu hòa ví như cam lồ, tâm niệm sáng tỏ như ánh sáng mặt trời, thường hành động vì lòng thương cảm với tâm từ rộng mở, dứt sạch mọi ý tưởng mưu hại, không rời tâm đại Bi, không tham luyến đối với mọi đối tượng, chẳng chuộng tham dâm. Thân tâm luôn được thanh tịnh, trong sáng, chí vui thích theo đúng pháp, luôn dốc tâm tin, hơn nữa là sự chí thành, không bỏ bê thệ nguyện của mình cùng với mọi liên hệ. Nhận rõ cảnh giới tịch diệt mà không trụ mãi nơi cảnh giới ấy. Độ thoát mọi chúng sinh theo đúng bản hạnh của mình, nhận rõ tội phước nhưng không làm rối loạn thế tục, chưa từng tham đắm đối với thân, chẳng kể gì chuyện bôn ba, giong ruổi. Do thương xót bao khổ não mà muốn độ thoát tất cả, khuyên dạy chúng sinh thực hiện sự an lành mà không tạo nên sự nguy khốn. Giáo hóa mọi kẻ cao

* Trang 9 *
device

ngạo, khiến cho tính ấy bị chế ngự, trừ diệt. Kẻ biếng trễ khiến trở nên siêng năng, chuyển biến tiến đến với giáo pháp chánh đạo. Tu tập theo kho tàng chánh pháp nhằm đạt được trí tuệ tột bậc. Không chấp vào tưởng về người, tâm dứt mọi ngăn ngại. Không tính toán về sở hữu mà còn nhổ sạch gốc rễ của ý niệm ấy. Đoạn trừ các nghiệp về gia đình, chí an định nơi các pháp vô vi. Tánh lìa mọi tưởng để dứt các mối nhớ nghĩ, mong cầu. Không rời chánh định, nhằm mong đạt được trí tuệ. Lìa bỏ những đàm luận về thế tục, khiến chỉ luôn được an trụ. Giảng dạy, hóa độ các nghiệp ở đời mà không hề tính toán, nghĩ suy về nẻo tục. Ý không quên tiêu trừ bao thứ che phủ. Thường nhớ đến kinh pháp, tâm luôn trong lặng sáng tỏ. Vào khắp nơi chốn luôn được thích nghi, chẳng bị mất thứ vị cùng bao nẻo biến chuyển của các pháp. Hiểu rõ thế gian, dứt bỏ mọi nơi xâm phạm sai trái. Đầy đủ các nghiệp, dùng sáu Độ để thực hành. Bỏ sự không tin tưởng để gồm thâu tâm tin tưởng chân thành. Dốc sức với Phật đạo, luôn nhớ nghĩ đến pháp Phật. Siêng năng sám hối lỗi lầm, vui thích hỗ trợ mọi công đức. Giúp chúng sinh tạo nhân lành, khuyến thỉnh chư Phật chuyển cỗ xe chánh pháp. Nên ngợi ca các bậc Thánh mà trừ sạch thói dua nịnh. Tích lũy công đức, thường tinh tấn tu tập. Tâm lìa biếng trễ, siêng cầu đạo pháp. Nương theo các pháp của đạo nghiệp Bồ-tát. Ham thích bố thí với tâm niệm xót thương đối với muôn loài. Luôn ôm ấp ý nguyện lớn lao, mong dứt các nghiệp, luôn hóa độ thuận hợp như giáo pháp đã nêu. Thân, khẩu, ý luôn thanh tịnh, sạch hết mọi cấu bẩn. Chí thành như vậy, chỗ nương của những lời chỉ dạy theo đó mà thực hiện thuận hợp, bỏ phế. Không bám ở cõi Dục, cũng không dựa nơi cõi Sắc, cả đến cõi Vô sắc tịch tĩnh. Từ nơi đó mọi tạo tác có thể trông vào quả báo mà vui vẻ tin tưởng. Kiên định, an trụ nơi pháp Đại thừa không thoái chuyển. Nhờ vậy mới đi vào các cõi tối tăm ngu muội. Nếu giữ lấy cái tâm keo lận thì không thể tạo được tâm tôn kính cúng dường. Giáo hóa chúng sinh dứt bỏ mọi thói dua nịnh xấu xa, không dám coi thường chư Phật, cũng như không mang tâm mưu hại đối với chúng Bồ-tát. Không dùng ngôn ngữ hư vọng làm loạn nẻo đường của bậc Thánh. Nhận thức về sự tinh tấn cùng biếng trễ với tâm bất nhị. Dứt mọi ganh ghét đối với sự đóng góp của

* Trang 10 *
device

kẻ khác giúp cho mình hoàn thành thệ nguyện lớn. Diệt trừ mọi tưởng về kiêu mạn, sân hận, ngu si, điên đảo, tà hạnh, từ đó mới đẩy lùi vô minh. Thân mình luôn tỉnh, chẳng nên trách phạt sự thiếu kém của người. Thường hổ thẹn, tự trách mình chưa được như pháp Phật đã dạy. Thân hành đạo lại phải biết rõ nẻo nên dừng. Lìa bỏ bao liên hệ buộc ràng của thân tộc. Nên chán ghét đối với mọi biến đổi suy hao mà dứt tâm vụ cầu lợi dưỡng, nếu có chỗ đạt được nên phân chia cùng người. Giới luật không chút sai phạm, chẳng nên học theo chúng nhân các thói tệ ngủ nghỉ. Ví như bị lời thô bỉ mạ lị thì nên nhẫn nhục lặng im. Miệng buông câu lời phải nên thận trọng để luôn đứng vững trong đạo mà giáo hóa muôn loài. Ngợi ca sự tinh tấn để cho tâm ý luôn được vui vẻ, thuận hòa. Cùng các Bậc Giải Thoát gần gũi, học hỏi. Khuyến khích nhiều người tham vấn, hỏi han giúp cho việc tu học thêm phần thư thả. Chẳng lìa sự tĩnh lặng riêng mình, thường phải biết tự kiềm chế, ngăn giữ. Đức của bao công phu tu học là nhằm vui cầu thấu đạt diệu nghĩa tánh không, chẳng chuộng các pháp hữu vi, chẳng dựa vào thân xác bốn đại giả hợp. Không ham thích với mọi dòng giống, chẳng nhận lấy mọi nẻo nhập suy thoái, sai lạc. Chẳng cầu tài lợi, không bám víu vào các cảnh giới. Tâm hành nẻo kiên định, dũng mãnh để trừ diệt mọi điên đảo, mê lầm. Tu tập theo đúng Thánh hiền để nhận ra gốc tâm vốn trong sáng.
Chứng đắc các bậc Địa thanh tịnh, dừng dứt mọi hành. Bố thí nhưng chẳng mong cầu. Giữ giới nhưng dứt mọi chốn nhớ nghĩ. Nhẫn nhục lìa mọi nẻo tưởng. Tinh tấn không hề bị mất mát. Thiền định dứt hết mọi xứ sinh khởi. Trí tuệ khỏi phải dẫn dắt. Tôn thờ chánh pháp, tu tập các pháp Ba-la-mật để an trụ trong cõi bình đẳng. Chẳng nên tôn xưng đức mình, không được hủy báng công lao của kẻ khác. Không dựa nơi sinh tử thì không thể đạt đến Niết-bàn, đó là giải thoát. Trừ sạch bao lớp tình, ái để kiến lập chân đế. Diện mạo luôn hòa nhã tươi vui để lìa bỏ mọi sắc thái giận dữ, từ đó tạo được sự thân mật cởi mở. Cung kính các hàng già trẻ, các bậc sĩ đứng tuổi. Tâm luôn rộng mở, sẵn điều nhân nghĩa ân huệ thích ứng để thể hiện, dứt mọi sự nhiễu hại. Chớ bám chặt vào ngôn thuyết,

* Trang 11 *
device

luôn ca tụng các hạnh tịch tĩnh, vô vi. Ở những nơi chốn hòa đồng thì nên thích hợp với mọi người mà vẫn giữ sự tách rời, riêng lẻ. Tâm bình đẳng, đối với thân oán không nghiêng về nẻo ghét yêu. Mong đạt các pháp Tổng trì, thể hiện tâm thương xót muôn chúng sinh không khác gì đối với cha mẹ, thân mình, con cái, như đối với các bậc Hòa thượng, tôn trưởng. Phụng thờ Phật, Bồ-tát luôn đầy đủ, thuận hợp. Cúng dường bốn sự đối với Đức Như Lai cũng là bày tỏ sự ưa thích cõi trang nghiêm thanh tịnh. Kính trọng Tam bảo, giũ sạch mọi khiếp nhược. Nơi ở thường nay đây mai đó, chẳng mảy may tích chứa, gồm thâu. Khoác tấm y giải thoát đủ che thân, ăn uống hạn chế. Không tham luyến thân mạng. Tánh thường thanh tịnh, luôn thực hành việc khất thực. Chẳng rời cuộc sống tri túc, luôn xa lánh chốn đông đúc, ồn tạp. Không luyến tiếc các quan hệ gia đình tộc họ, cũng chẳng ham cảnh sống thế gian. Chẳng bận tâm về chuyện trang sức, điểm tô nên dứt bỏ sạch thói hư dối. Ngôn từ dễ mến khiến người nghe không ai là không hoan hỷ. Luôn khuyến khích giúp đỡ mọi người để họ có cơ hội phát tâm hướng về đạo. Nơi hành hóa dứt mọi mê lầm, chốn hội nhập thuận hợp giáo pháp. Thường thường hỏi han, ca ngợi chư Phật là Bậc Đại Giác. Tâm dốc cầu đạo pháp, luôn kính trọng Thánh chúng. Tôn quý thuận theo tuệ sáng, tu tập đúng nẻo trí đạt. Giúp mọi người thiền định, tư duy để dẫn dắt, giáo hóa họ trở nên tinh tấn. Thường nêu bày, giảng dạy về đạo đức, luôn tuân theo giáo pháp. Tin tưởng nơi cội rễ của công đức để từ đó dẫn dắt, giáo hóa chúng sinh. Ham thích, dốc tin, giảng dạy chỉ rõ về bao nỗi khổ trong đời. Uy nghi luôn được thanh tịnh, thường giữ vững tâm nhân ái lớn lao. Phải biết hổ thẹn, xấu hổ, tỏ ra bận tâm lo lắng đối với các trường hợp khó khăn. Nên từ bỏ sự giao du với kẻ ác cùng bè bạn bất lương. Tu tập theo con đường rốt ráo.
Tâm chí dốc cầu các cửa giải thoát. Mong đạt đúng nẻo Thánh hiền. Tôn phụng bốn ý chỉ hiện bày. Học theo những quyết đoán bình đẳng. Làm dấy khởi phong phú các Căn. Dốc tu tập các Lực. Luôn quan sát bảy Giác ý. Chẳng lìa tám nẻo đường chân chánh. Đạt đến cõi tịch diệt. Nơi quán tưởng được tỏa sáng nên tâm dứt

* Trang 12 *
device

sạch mọi vọng chấp. An vui với kinh pháp, tinh xá luôn được trang nghiêm. Chẳng chốn nào khiến mình phải hổ, không xứ nào làm mình phải thẹn. Trừ mọi điên đảo, dứt hết tưởng tham cầu, ham mộ hạnh Bồ-tát. Rõ Phật đạo là mênh mông, vượt hết thảy mọi cõi bờ, giới mốc, lìa bỏ hạnh tà. Tiêu diệt bao tạo tác chạy theo nẻo tà trong vô số kiếp thời xa xưa. Tu thân tự làm cho mình luôn trong sạch không còn chút bợn nhơ. Chí cầu tịch tĩnh, giữ gìn giới luật tôn quý đúng theo giáo pháp, không mảy may tỳ vết lỗi lầm. Mọi hành hóa theo đúng thời, lìa bỏ phi thời. Nhận rõ mọi việc theo nghi thức thích hợp. Mọi sự đi đến, tới lui phải luôn đủ khắp. Hiếu thuận hai bậc thân thuộc.
Lại phải biết hạn chế chuyện ăn mặc cùng mọi nhu cầu. Thần thông hiển bày thông đạt, ý tu tập các pháp định thêm sáng tỏ bội phần. Không hủy hoại các hành động chân chánh để độ thoát chúng sinh. Tôn phụng, thọ trì mọi kinh điển của Đức Như Lai giảng dạy. Tùy thuận, hỗ trợ, khiến cho mọi thứ lỗi lầm cấu uế đều được trở lại trong lành. Dẫn dắt các Phật tử trong việc cung cấp cúng dường chúng Bồ-tát và chư Phật để du hóa khắp chốn. Tu tập đạt trí tuệ sáng suốt thể hiện qua các hành xử nhân từ, hòa ái. Ham thích phụng thờ chánh pháp. Khuyến hóa hết thảy muôn loài khiến chúng hướng về đạo. An vui sung mãn trong diệu nghĩa của đạo pháp. Xem xét cứu giúp ba đời. Dốc chuộng nẻo tịnh, mọi Y báo về quốc độ luôn trang nghiêm, thanh tịnh hết mực. Thường đem lại an vui cho lớp người tật bệnh như cung kính hai bậc thân thuộc. Do đạt được các pháp Tổng trì nên dùng làm hành trang cho sự hành hóa, quán tưởng. Thực hiện trọn vẹn pháp Tam-muội thì đó chính là ao tắm mát lành. Chánh pháp thanh tịnh là nơi chốn sinh ra muôn vật. Dốc đạt sự kiên định an trụ nơi hết thảy các pháp vô vi. Tâm chuyên, ý định, tuy có nơi chốn hóa độ mà không hề thấy có nơi chốn ấy. Không buộc, không cởi, không tướng, chẳng tướng. Mọi chỗ tuân hành dẫn dắt, giáo hóa cũng không thấy có đông đảo người ham chuộng. Do nắm vững được các pháp Tổng trì mà có thể kiến lập cõi Phật. Mọi hiểu biết cần được soi xét thẩm định để từ đó việc diễn giảng luôn trong sáng rõ ràng. Luôn chiến đấu dũng mãnh để chế ngự hàng phục mọi

* Trang 13 *
device

cảnh giới quân ma. Tiêu diệt bao thứ phiền não trần cấu cũng như trừ diệt mọi điều bất thiện. Giữ vững chí nguyện luôn được thanh tịnh sáng rỡ, khiến các loài ma đều chẳng thể phá hoại. Đem ánh sáng của đạo thích nghi tận cùng mọi nơi chốn, xứ sở. Cũng chẳng cần được đời xưng tụng. Các chúng ngoại đạo nghiệp tà không thể biết được. Nên cố vượt qua các pháp của bậc Thanh văn, Duyên giác. Nơi chốn dốc tâm quy ngưỡng là nhằm đạt đến Nhất thiết trí. Chỉ rõ mọi nẻo hướng tới của chúng sinh để dẫn họ hướng về chân đế. Vui thích với các pháp an lạc. Luôn mong muốn khai thị cho chúng sinh. Hòa vui với cuộc sống thế gian để khiến họ ham chuộng các pháp giải thoát. Dùng thuyền đạo pháp đưa tất cả cùng cập bờ giác. Chọn nhiều bè để cùng chuyên chở, tế độ. Thương xót đến hàng chư Thiên mà nêu bày một pháp. Nơi chốn tạo lập không phải là xứ, cõi mập mờ. Muốn bố thí tâm phải được trong lành, thể hiện sự vui hòa nhằm dẫn dạy đám người ham thích vui đùa, khiến họ hướng về nẻo đạo. Nếu ham chuộng việc nghe rộng, biết nhiều, phải nên cung kính, khiêm tốn, thuận hợp, dứt mọi phóng túng, buông lung. Đạt được pháp Tam-muội thời chí có thể hành theo mọi nẻo cao xa vi diệu hơn cả núi Tu-di. Vui thích với năm căn để từ đó xem xét mọi vật đều là không. Tâm tinh tấn đạt không thoái chuyển. Pháp ấy được gọi là Pháp nhẫn vô sở tùng sinh. Các vị Bồ-tát mới phát tâm tu học phải nên dốc sức phụng hành. Đại chúng Chánh sĩ luôn giữ gìn trí tuệ còn tối tăm, thiếu sót của mình để quyết cầu quả vị đại giác. Dùng dũng lực của bậc Chánh sĩ để thấu đạt, dứt mọi phân biệt tôi ta, an trụ nơi Nhất thiết trí. Thông tỏ khắp hết muôn loài mới có thể độ thoát tất cả. Đó chính là chỗ chư Thiên hết mực tán dương, chư Long thần dốc tâm phụng thờ ngưỡng mộ, chúng dân vâng phục thừa hành. Mau chóng đạt được việc tạo lập từng ấy sự nghiệp tu tập hành hóa. Các bậc tu học hoàn tất thảy cùng quy ngưỡng. Các vị Bồ-tát cũng đều tán thán, ca ngợi. Tất cả các bậc pháp chủ thảy đều tuyên giảng thông suốt. Các căn được tịch tĩnh, an định, dùng làm thành quách chắc chắn, khéo dùng phương tiện quyền xảo để đem lại lợi lạc cho muôn loài. Đạt được tư duy tinh túy để dứt sạch mọi nẻo hồ nghi. Đoạn trừ những do dự, lìa bỏ bao lớp phiền não. Cứu

* Trang 14 *
device

độ giải thoát cho vô số chúng sinh. Nếu gặp những kẻ bệnh tật liền hiện bày đủ thứ thuốc quý, chữa lành mọi bệnh, diệt trừ bao nỗi đau nhức. Thường chuộng tư duy, dốc cầu tinh tấn, từ đó tạo được sức mạnh vô úy. Muốn gầm lên tiếng rống của sư tử. Thâm nhập vào cõi biện biệt, tham bác để diễn giảng rộng mọi nẻo nghĩa lý. Thần thông biến hóa, vui thích lãnh hội các pháp. Đạo nhãn được thanh tịnh, sáng tỏa đến cảnh giới giải thoát tịch diệt. Dứt mọi nẻo ác, hóa độ khắp ba cõi: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Tạo các cõi Phật, hưng phát như thế.
An tọa nơi tòa Sư tử, nhập pháp Tam-muội Như huyễn. Thành tựu viên mãn đạt đến quả vị Nhất sinh bổ xứ. Chưa từng quên mất gốc rễ của mọi công đức. Giáo hóa đem lại niềm vui thích cho hạng biếng trễ, giúp họ nhổ sạch mọi tham dục nhỏ hẹp. Tạo lập, siêng năng tu tập, luôn nhớ nghĩ đến việc tế độ hạng lười nhác, sa đọa. Dẫn dắt chúng sinh quy thuận theo ba thừa. Trừ bỏ hết thảy mọi tạo tác về nơi chốn, chỗ ở, sở hữu. Dốc đạt Nhất thiết trí, chứng vô lượng pháp môn, thâu tóm được diệu nghĩa đệ nhất. Ở nơi giáo pháp, giới luật giải thông diệu hành không. Dứt sạch mọi tranh biện, hý luận. Tin Phật đạo, phát khởi thệ nguyện vô thượng. Tuy gắn bó với mọi nhớ nghĩ nhưng không vướng những tưởng chấp vọng tà. Cùng được thấy ba thời, không bị rơi vào nẻo quán tưởng lầm lạc. Khéo sử dụng phương tiện quyền biến để đi vào hết thảy cảnh giới. Làm cho đại đạo được dấy khởi hiển bày, không xem nhẹ việc dốc đạt giải thoát. Ưa chuộng đối với bậc Pháp sư cũng như chú trâu con không thể chán ghét trâu mẹ. Dù theo Pháp sư nhưng không tham cầu lợi dưỡng. Những khi thuyết pháp nên xem xét trước sau, chớ tỏ vẻ khinh mạn chúng hội. Chẳng dứt pháp thí để thể hiện tâm nhân từ, hòa ái. Tôn kính Tam bảo, từ cội nguồn ấy mà phá trừ mọi lớp lưới nghi. Tôn phụng, thừa hành, luôn ân cần gắng gổ, dứt bỏ mọi kiểu bê trễ, nửa chừng. Trọn không sai trái, mất mát nẻo hành hóa của bậc Thánh minh. Nương tựa, thâu tóm cửa giải thoát, cùng đem lại niềm an lạc, điều hòa yên định, giũ sạch mọi phiền não cấu nhiễm, tâm không còn chút tham vướng. Tư duy nên dựa vào sự nhớ nghĩ về việc làm hưng thịnh ba sự, là sự nghiệp

* Trang 15 *
device

hành hóa của chư Bồ-tát. Đem “Ba sự” ấy để làm rõ cho chúng hội biết về đạo vị ngon ngọt tươi tốt. Nếu muốn biến hóa thuyết giảng ban bố đạo nghiệp, âm thanh phải như tiếng sấm dậy. Dẫn dạy về lẽ sinh tử theo mười hai nẻo duyên khởi. Khai thông cửa Chỉ Quán, hướng đến cánh cửa giải thoát. Thương xót đi vào những con đường rộng lớn mà thân luôn an ổn, thung dung, tâm dứt sạch mọi lo lắng, sợ hãi. Nơi chốn yêu mến đối với các bậc Thánh, chưa từng bị mất hay bị lầm lạc. Sự bình đẳng, bền chắc do công đức của Như Lai đem lại, không gì có thể làm cho xoay chuyển. Noi theo gốc mọi ân đức, phước báo thêm dày. Chỉ rõ cho chúng về đầu mối của điều thiện để tu học theo trí tuệ Phật. Thờ phụng trọn đủ đối với bậc mình nương tựa, đó là sự tạo tác tươi sáng tốt đẹp. Chốn hành hóa cũng tốt đẹp thích hợp, chẳng tự mình làm cho mờ tối. Dốc tu theo Phật đạo, làm hiển lộ trí tuệ thâm diệu. Thuyết giảng về cõi Phật luôn đối đáp thông suốt trước mọi lời nêu hỏi. Chính từ chỗ khó khăn vô bờ mà các pháp thanh tịnh giải thoát được phát sinh. Không chán lìa Phật đạo, chẳng từ bỏ trí tuệ ít ỏi. Cùng chia sẻ khó khăn trong tu học thì cùng yêu kính sự hòa đồng. Hướng đến giá trị của sự dũng mãnh, tâm luôn gắn bó với hành động. Muốn có được nơi chốn thuyết giảng đầy đủ thì nên giúp đỡ để cùng giảng thuyết đạt được từng ấy sự tốt đẹp vui thích. Tất cả mọi sự báo ứng nên đem nêu bày cho chúng sinh biết, khiến họ không dám phạm phải. Thông tỏ các pháp nên khéo hành xứ các phương tiện. Tâm luôn nhớ nghĩ về điều tốt đẹp an lành, nhờ đó mọi nhận thức được tường tận, chắc chắn. Luôn tự xét nét về mình để có thể làm vui lòng kẻ khác. Dứt phá bao lớp lưới mê trùm để tiêu trừ vô minh che lấp. Lìa xa các hành, trừ bỏ mọi thức, cắt đứt danh sắc, làm cho lục nhập trở nên tịch diệt. Đoạn trừ các thọ. Diệt sạch mọi xúc (Thống dương: Thọ). Tiêu trừ các ái. Lìa bỏ mọi thủ. Tận diệt mọi nẻo hữu. Nhổ sạch mọi nơi chốn của sinh. Vượt qua cảnh già, bệnh, chết. Vĩnh viễn diệt tan khổ não, dứt hết mọi nạn. Đã lìa khỏi lưới khổ thì tâm không còn chỗ tham đắm vướng mắc. Nơi chốn hành hóa hết mực thông suốt, dốc sức tế độ ba ách nạn. Mọi đối tượng xem xét không còn cấu uế, từ đó tuyên giảng rộng khắp kinh pháp. Bậc nam tử một

* Trang 16 *
device

mình cất bước vững vàng, rửa sạch mọi cấu nhiễm, dứt bỏ sự tham luyến của thân. Nghe, lãnh hội giáo pháp, giữ gìn, nhờ đó mà thâu tóm, thu phục các pháp. Tu học đạo không biết mệt mỏi, hội nhập vào biển lớn của công đức, chưa từng thoái lui. Tích chứa không thể tính kể bao công đức, sự nghiệp về ý nghĩa chân thật. Phật đạo được xiển dương, mắt pháp thêm phần sáng tỏ, hiển lộ. Ngợi ca Thánh chúng, hàng phục đám học giả ngoại đạo. Hết lời tán thán giáo pháp dạy người, thực hành đúng nẻo Bồ-tát. Chẳng cười cợt vui mừng, diệt trừ các mối lợi dưỡng qua ngày tháng. Phải nên xa lìa tội, phước, học theo hạnh như mặt trời. Cung kính đối với quốc vương cùng các bậc Thánh khai mở, dẫn dắt. Chứa nhóm các nhân thanh tịnh giải thoát để đạt đến quả vượt khỏi sinh tử. Nơi chốn hành hóa luôn có đủ uy nghi, biết rõ được thân mạng nhiều đời trước. Nơi chốn sinh ra luôn nhớ đến, chớ quên. Chán ghét các pháp mê muội, tối tăm để dốc tâm quy kính Như Lai. Mọi công đức chân chánh đã được tạo lập từ đó. Vô lượng công lao, sự nghiệp về đạo, nơi chốn giữ gìn giáo pháp đều quy về Nhất thiết trí. Nếu dùng để tuyên giảng rộng khắp thì cần đến sự an trụ nơi kinh sách được biên chép đầy đủ. Nên dứt bỏ mọi mối sợ hãi nên chẳng rơi vào biên vực tận cùng. Kiên định, an trụ đạt được sự bất động để tạo nên nơi chốn thuyết giảng. Tất cả muôn loài ở thế gian đều chung lời ca tụng. Chư Phật thời quá khứ thảy đều thuyết pháp ấy. Luôn được gần gũi với chư Phật thời hiện tại và vị lai. Mọi sở nguyện đều hoàn tất, đạt được công đức, phước báo vô thượng. Thâm nhập vào mọi nơi chốn hành động của chúng sinh, làm cho hai thừa Thanh văn và Duyên giác được sáng rỡ hiện bày. Luôn phụng trì pháp Phật mà không hề quên mất tất cả các pháp môn tu tập hành hóa. Đó là vị Phật trong cuộc đời. Tuyên giảng thông suốt chánh pháp, chóng đạt được trí tuệ của Bậc Chánh Giác. Tham cầu, hỏi han về đức độ của Phật, có thể che chở hộ trì ba thời. Dẫn dắt, giáo hóa mọi chúng sinh trong những hoàn cảnh hiểm nạn bức hại để đưa họ về với thế giới an nhiên tự tại. Theo phương tiện quyền xảo để phân biệt Địa chủng. Nhập các pháp Tam-muội để thấu đạt về Thủy chủng và Hỏa chủng. Kiến lập Phong chủng. Lại dùng Không chủng để đi

* Trang 17 *
device

đến các cửa giải thoát của đạo. Làm cho Không chủng thanh tịnh, từ đó dùng trí tuệ dẫn dắt đem lại lợi lạc cho ba cõi. Dứt mọi mối lo, diệt trừ mọi sự trói buộc, không để sót mảy may. Trừ bỏ mọi vướng chấp, xua tan bao lớp che phủ khiến tâm luôn được yên định, tịch tĩnh. Hiểu rõ con đường tu tập, thân du hóa khắp đó đây nhưng vẫn luôn luôn an tĩnh, thư thái. Cũng rõ mọi chốn hành động của kẻ khác cùng các nơi, xứ được tạo lập còn, mất. Nếu dùng văn tự để diễn đạt thì không quá nệ vào câu, lời. Dứt bỏ mọi phân biệt tôi - ta. Tâm luôn lìa mọi nơi chốn dựa cậy, ham muốn. Tuy còn ở trong cõi đời nhưng phải luôn thấy rõ bao thứ ô trược của nó. Hội nhập vào cảnh giới vi diệu, dần dà làm thức tỉnh, dẫn dắt hạng biếng trễ, lười nhác đối với mọi khó nhọc. Vượt khỏi, hơn hẳn các học phái nhưng không làm hủy hoại những khu vực khác. Dốc tấn tu đạo pháp mà không có chỗ vướng chấp. Luôn cung kính các bậc Thiện sư. Lìa mọi ham muốn về ngủ nghỉ, vượt qua bao bờ dốc ngăn ngại. Dứt hồ nghi, đuổi tham dâm, bỏ lười trễ. Ta - tôi cùng hợp. Đem ánh sáng để dẫn nẻo cho chúng sinh. Không vun quén cho thân mạng, chẳng tham lam cho việc học hỏi tu tập. Chỗ nói năng nên dè dặt, thận trọng. Lời câu luôn tạo được vẻ thanh nhã, hòa hợp. Luôn dốc tâm, thành thật trong tư duy, mọi nêu giảng sẽ chóng thực hiện. Mọi sự nghiệp vì đạo phải thể hiện sự nhân ái, trong sáng, không dấy tâm cầu lợi. An vui trong cảnh vắng lặng tịch tĩnh, mọi nẻo hành hóa đều dựa trên nền ấy. Không mang tâm khiếp nhược, chẳng trách cứ những yếu kém của kẻ khác. Tự giữ lấy thân để hành hóa, luôn tôn phụng đạo pháp. Phải nên thuận theo lẽ bình đẳng. Không nên ở lâu tại một vùng đất nào để du hóa. Buông, mở mọi nơi chốn tham riêng để có được sự bình đẳng lớn lao trong hiện tại. Diệt trừ mọi tăm tối nơi thân để tâm luôn được trong sáng, kiên định. Theo phương tiện mà thực hiện sự tu tập cùng phát triển đời sống tinh thần, nhưng cũng không chấp vào chỗ tư duy. Không đem những tham, vướng của thức mà cầu giải thoát. Tâm luôn chuyên nhất, an định, từ đó mọi phạm hạnh được dấy khởi, hiện bày. Cùng theo nẻo tâm Từ, thương xót mà thi ân khắp chốn. Thường tạo được sự vui vẻ, sắc diện luôn tươi tắn, hòa nhã do thấm đượm sự an lạc từ đạo pháp. Luôn xem xét, cứu giúp

* Trang 18 *
device

hạng bị đọa lạc, bức hại để họ mong được nương nhờ. Thường dùng các giới ấm làm nhân để tế độ bao người. Thực hiện các pháp Tam-muội, thiền định, đem trí tuệ ấy hội nhập thông suốt các pháp. Thông tỏ văn tự nên tư duy thấu đáo tận cùng. Cởi mở bao thứ trói buộc khiến dứt hết mọi nỗi sợ hãi. Hội nhập vào các thứ âm thanh, đạt được mọi diệu nghĩa. Luôn ưa thích diễn giảng rộng khắp, làm cho đạo pháp được hiển bày. An vui với các giáo pháp của Phật nên không chán chốn tĩnh lặng. Chí gắn bó với đạo, không vụ chuyện trên dưới, thấp cao. Hiển dương các pháp không hề thiếu sót, tùy thuận nhưng không lừa dối đối với chúng sinh. Chí nguyện kiên cường, từ đó mọi việc đều được viên mãn. Sớm tối tinh tấn, dứt hết mọi bê trễ, biếng lười. Tất cả được gọi là pháp Tam-muội Chánh định thông tỏ mọi ngọn nguồn các pháp. Các vị Bồ-tát thực hiện pháp Tam-muội ấy thì có thể đi vào mọi cảnh giới của tất cả chúng sinh, tôn phụng bậc Nhất thiết trí.
Bấy giờ, Đức Phật đọc tụng:
Hành thanh tịnh
Thánh đạo lớn
Tâm tin vui
Dứt nghiệp lầm
Ý tự giác
Biện tài đủ
Là Tam-muội
An trụ bày
Hàng phục ma
Trừ mọi cấu
Dứt nhân duyên
Sinh, tử, dục
Được gọi trí
Phước đức dày
Giúp ba cõi
Pháp vượt bờ
Tuệ Thánh rạng

* Trang 19 *
device

Theo phương tiện
Chủng hiền tỏa
Dứt ân tình
Độ chúng nạn
Phật ngợi khen
Tam-muội ấy
An trụ bày
Nhập vi diệu
Gốc mọi cửa
Được thông tỏ
Dứt giận dữ
Đoạn khổ não
Hằng an lạc
Tam-muội ấy
Nẻo chư Phật
Tâm rộng mở
Hoa giác ý
Nhận Thánh văn
Thâu phương tiện
Mọi an trụ
Giác niệm thông
Nêu thắng đó
Tam-muội định
Ý giác tươi
Cửa thoát chiếu
Như trăng đầy
Ngàn sao ngời
Ánh đạo tỏa
Khắp ba cõi
Pháp ấy vượt
Khen như trăng
Ba đạt trị
Được thanh tịnh

* Trang 20 *
device

Nơi thanh vắng
Bên cây tĩnh
Dứt lợi dưỡng
Cùng dua nịnh
Tích chứa mong
Tam-muội ấy
Trừ bỉ thử
Thiện không mất
Chẳng vì lợi
Ngợi thân đức
Đủ ba y
Thường khất thực
Dốc tu học
Hành Tam-muội
Giữ đúng giới
Theo Thánh hiền
Hỏi minh trí
Luôn riêng khen
Đem nêu giảng
Phụng nẻo chính
Chóng đạt đến
Tam-muội định
Mọi chúng sinh
Đủ vị nhọc
Lìa đông đảo
Vui tịch tĩnh
Dốc tu tập
Tam-muội diệu
Chớ dua nịnh
Chuộng tạng ấy
Hổ thẹn nương
Ăn rõ vị
Nằm giường thiền

* Trang 21 *
device

Ở chốn quán
Vui vô ngã
Luôn an lạc
Giảng minh triết
Ý ung dung
Người mắng, nhẫn
Như tiếng vang
Theo nghiệp chân
Tâm dứt oán
Muốn đạt đến
Tam-muội ấy
Nên biết tin
Tội phước báo
Dứt điên đảo
Cùng nẻo ác
Dốc tu Không
Nẻo Thánh hiền
Sớm tối siêng
Lực tinh tấn
Đạt Tam-muội
Đến cửa tuệ
Thảy cùng lìa
Đọa đường thừa
Chí bình đẳng
Đạo chân thật
Chứng vô sinh
Tỏ pháp diệu
Kẻ dốc tu
Phật thương nhớ.

* Trang 22 *
device

Phẩm 2: NÓI VỀ VIỆC THỰC HÀNH PHÁP TAM-MUỘI
 
Đức Phật nói:
–Này Bồ-tát Hỷ Vương! Do đạt được pháp “Tam-muội thông tỏ mọi ngọn nguồn các pháp” ấy mà lý giải tất cả các pháp, không còn có sự điên đảo. Các pháp vốn không động nên không thể làm cho chúng bị nghiêng ngửa. Nơi chốn hành hóa, chí dốc cứu thoát chúng sinh trong năm nẻo. Chế ngự, hóa độ các thứ ma, khiến chúng tự nhiên quy phục. Làm người trong thiên hạ thì được muôn loài yêu mến, kính trọng, hàng trí thức khâm phục, ngưỡng mộ. Thông đạt các pháp cùng với phi pháp. Đức ấy hết mực sáng tỏ, cũng giống như mặt trăng tròn đầy chiếu sáng nơi trăm ngàn tinh tú. Ở lâu trong cõi sinh tử, mọi chúng sinh đều biết, từ đó khuyến khích, hóa độ hết thảy. Chí nguyện luôn dựa trên tánh thanh tịnh. Dứt bỏ mọi nơi chốn thọ nhận. Luôn dốc vì sự cứu giúp muôn loài trong cả tam thiên đại thiên thế giới, từ đó dẫn tới những thành tựu các quả vị của đạo. Nhận rõ diệu lý vô ngã cũng như tỏ lẽ không có chốn để hướng về. Thấy các nạn trong ba cõi mà giáo hóa, dẫn dắt, vì chúng sinh mà cứu giúp. Đạt được sự cung kính nhưng không vì thế mà dấy kiêu mạn. Vượt mọi sự che phủ, ngăn chận, thông tỏ mọi điều tuyên giảng ban dạy của chư Phật. Diễn thuyết, diệt độ, đều luôn thích ứng với căn cơ cùng hoàn cảnh, do vậy mà đạt đến ba mươi hai tướng của bậc Đại nhân. Đối với mọi sự việc: có lợi, không lợi, hoặc khổ hoặc vui, có danh không danh, ca ngợi hay bài bác… thì nên đem sự hiểu biết đúng đắn về đời gồm có tám pháp, tất không còn mọi vướng mắc, tham đắm. Cứu độ mọi chúng sinh, đem diệu pháp cam lồ để vỗ về, an ủi. Nêu bày rõ sự diệt độ là nhằm khai ngộ hết thảy các loài. Lìa mọi phiền não nung đốt, dứt hết các chướng ngại cản ngăn. Chưa từng dựa bám ngoại cảnh làm mê hoặc sáu căn. Đi vào mười sáu chữ của pháp môn Tổng trì, sẽ biết được nơi chốn đi tới. Nên tuyên giảng khắp điều ấy thì sẽ chóng đạt các pháp Tổng trì.

* Trang 23 *
device

Những gì gọi là mười sáu?
–Một là vô; hai là bộ; ba là hành; bốn là bất; năm là trì; sáu là ngại; bảy là tác; tám là kiên; chín là thế; mười là sinh; mười một là nhiếp; mười hai là tận; mười ba là cái; mười bốn là dĩ; mười lăm là trụ; mười sáu là thiêu. Đó là mười sáu sự việc dùng văn tự để giáo hóa.
Nếu thông tỏ, thực hành mười sáu cách giáo hóa, thông qua văn tự ấy thì sẽ đạt được vô lượng pháp môn Tổng trì cùng quả vị giác ngộ, thấu đạt hết thảy các pháp và được tự tại. Phân biệt, nhận rõ về tâm ý sáng tỏ của tất cả chúng sinh. Tiêu trừ mọi thứ phiền não cấu uế, tất tuyên dương được đạo pháp, tạo được uy lực lớn lao, thông đạt chánh pháp, độ thoát muôn dân, giáo hóa, dẫn dắt về nẻo an lạc. Âm thanh luôn hòa nhã giống như tiếng chuông nhỏ ngân nga. Đạt được sự an trụ trong khắp cõi bình đẳng. Là tiếng gầm rống của sư tử, thể hiện sự kỳ diệu lồng lộng. Đầy đủ các pháp nhẫn vượt bờ, thành tựu được tâm Từ bi rộng lớn. Chiến thắng mọi cảnh giới ma oán. Thông tỏ mọi âm thanh thương cảm của Bậc Chánh Giác. Đạt nhẫn nhục để dứt trừ ngã mạn, chứng diệu nghĩa thâm diệu của thiền định thuận hợp. Nẻo đi, chốn đến tuyên giảng giáo pháp vô thượng. Thâu tóm hết thảy mọi lẽ chính yếu trong kinh điển, không một uy lực nào có thể đạt được. Nhận rõ tất cả các pháp cùng các cửa đạo. Tỏ mọi cõi chốn quy hướng nơi hành động của chúng sinh. Nhớ nghĩ, nhận biết về vô số cõi mà bao kiếp đã từng trải qua. Luôn giữ các pháp để dứt trừ mọi thứ bệnh. Trừ sạch bao lớp lưới buộc trói cùng đoạn hết các mối hồ nghi. Chóng đạt quả vị Chánh giác, nêu bày ánh sáng giác ngộ tỏa lan. Hội nhập khắp cả các pháp theo ánh sáng trí tuệ bậc Thánh chứng đắc. Dốc dùng phương tiện để xua tan mọi phiền não nung đốt. Giảng thuyết các pháp mà chính mình đang tôn phụng, hành hóa. Uống, ăn các diệu pháp cam lồ, phá tan mọi lớp mờ do dự. Lìa bỏ nơi chốn cư ngụ, làm hiển lộ tính chất tự tại, không còn bị phủ che, đem tâm Từ bi mà đùm bọc chúng sinh mọi cõi. Nhớ nghĩ về thân mạng đời trước, cùng nơi chốn đã từng đến, đi. Chí dốc cầu giải thoát, đức sáng nhằm soi đường cho hàng ngu muội tối tăm. Nơi hướng tới của mọi hành hóa là nhằm đạt đến trí tuệ của Bậc Chí Tôn.

* Trang 24 *
device

Thu gồm hết thảy mọi tưởng để tạo lập mọi sự an trụ. Không để mất cõi đạo, cho dù vượt qua bao chặng biến đổi. Thông đạt mọi ngôn ngữ âm thanh mà cũng từ bỏ tất cả chúng. Cõi Phật sẽ hiện ra đầy khắp ngay trong khi dứt sạch mọi phiền não trói buộc. Xa lìa năm ấm mà chẳng dấy tự tại, tự tôn. Mau rõ mọi ngôn từ, sử dụng điều đó nên tiện lợi trong việc hàng phục chúng ma. Dứt bỏ mọi học vấn ngoại đạo, sẽ thấy được không thể kể tính chư Phật hiện tại trong mười phương quốc độ. Lãnh hội các pháp được thuyết giảng, luôn dốc thọ trì không hề quên lãng. Theo sở nguyện ấy, đạt được pháp Tam-muội, đem lại bao niềm an lạc. Nếu có vị Bồ-tát nào đạt được pháp Tam-muội ấy thời sẽ gọi đó là đạt đến Nhất thiết trí. Vì sao? Vì do hoàn tất pháp định đó, chỉ trong khoảnh khắc là tâm ý phát khởi, từ Nhất sinh bổ xứ thành Bậc Tối Chánh Giác. Từ gốc là một khởi thành hai, hai đến ba, ba đến bốn. Từ sự phát ý đó mà liền đạt đến Phật đạo. Vì sao? Vì người thực hiện hoàn tất pháp chánh định ấy chính là đã đạt Nhất thiết trí.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bèn đọc tụng:
Muôn lời dạy dứt lậu
Bậc hơn hẳn muôn loài
Nơi xuất không chốn về
Do thoát mọi nẻo hướng
Hàng phục, dứt tham đắm
Thù thắng, khởi vô hạn
Chấp trì cảnh chung ấy
Diệu hạnh của mười phương
Lìa tranh nên an lạc
Tâm xao, nhiều bụi cấu
Bao người thảy cùng vui
Ngôn từ luôn lưu loát
Theo thắng dứt vướng chấp
Lìa bỏ chốn tối tăm
Tổng trì chánh pháp ấy
Kiến lập ở mười phương

* Trang 25 *
device

Thông tỏ đạt giải thoát
Đến bờ giác an vui
Trời người luôn kính trọng
Chốn cứu giúp hơn hết
Các hành nhằm vượt bờ
Dũng mãnh, đức thể hiện
Dốc tu, phụng kinh văn
Mười thứ lực đạt đến
Mọi nạn tạp đều dứt
Thấu đạt cội nguồn không
Theo tâm chốn yêu thích
Mà dẫn dắt muôn loài
Được theo đúng nẻo chính
Trừ cấu uế bao đời
Mắt đạo nhờ đấy tỏ
Chốn hành đạt không hành
Ý mạnh đầy tình thương
Xem người như con trẻ
Người quý, mọi chốn đến
Khuyên dạy hạng nghiệp tà
Luôn không nơi phá hoại
Chúng, loài thảy thông tỏ
Nơi ấy tạo lập hành
Muôn loài nào sánh được
Khắp mười phương được giúp
Cùng bao kẻ chậm bước
Khuyên vui người không cùng
Luôn tu tập an định
Nghiệp nhà buộc, phải lìa
Phát khởi như cam lồ
Phụng trì kinh điển ấy
Nương bậc đức tối thắng
Công sức thường tích lũy

* Trang 26 *
device

Giảng dạy bao lớp người
Ban vui chúng ngu muội
Trọn dứt nẻo phóng dật
Nơi sáu nẻo thấu tỏ
Thấu đạt lẽ tịch tĩnh
Chúng nhân thích an hòa
Chốn ấy công đức hiện
Hành hóa thật thù thắng
Như trăng sáng không bợn
Độ thoát chúng trời, người
Đường trước dứt sợ hãi
Danh xưng tụng khắp chốn
Thí cam lồ thù diệu
Chốn ấy nên hành hóa
Mau đạt đến Phật đạo
Vững nơi chốn nên trụ
Cõi Phật khắp mười phương
Tuyên giảng pháp giải thoát
Dùng độ bao trời, người
Pháp ấy thậm vi diệu
Cũng nêu hạnh chí chân
Nẻo ấy gắng tu trì
Luôn vui cùng pháp nhũ
Hàng phục thảy chúng ma
Lòng nhân hòa an định
Độ thoát mọi nẻo khổ
Quy ngưỡng đường chính: Phật.
Nơi về, chốn tối thiện
Lìa mọi nẻo gập ghềnh
Dùng phương tiện dũng mãnh
Đức Tổng trì thành tựu.
Đức Phật nói:
–Nếu có vị Bồ-tát tu học thực hành Định ý này thì luôn được

* Trang 27 *
device

chư Phật trong mười phương thảy đều ủng hộ. Dùng ánh sáng từ định chiếu soi tâm, khiến tâm được khai mở thêm sáng tỏ, không còn bị phủ che, nên mọi nhận thức đều dứt sạch bao thứ che phủ, đạt được thần thông, tầm nhìn mở rộng đến vô hạn. Các vị Bồ-tát trong mọi chúng hội thảy cùng hết mực hỗ trợ, khiến thành tựu được quả vị Nhất sinh bổ xứ. Các chúng Thanh văn khắp nơi cùng đến tán thán, đều mong muốn sớm đạt quả vị giác ngộ để cho mười phương chúng sinh được đội ân hóa độ. Đông đủ các vị Phạm vương ở các cõi trời từ tầng thứ bảy trở lên, các vị Phạm thiên ấy đều đích thân thay nhau từ xa luôn hộ trì. Lại khiến chư Thiên chúng thảy đều đến để quy thuận. Thiên đế Thích ở cõi trời Đao-lợi, thân mạng từ những đời trước có nhiều phước đức, luôn biết về điều ấy nên dốc tâm học hỏi pháp chánh định đó. Cũng khiến chư Thiên, người thảy xuống tận nơi chốn lo việc bảo vệ, làm cho mọi sư hành hóa đều được an ổn, ngăn chận những kẻ dối trá xâm phạm. Các vị Tứ Thiên vương đều thân hành đến nơi, lại cũng khiến đám quan thuộc phải luôn ủng hộ vị Pháp sư, trong khoảng hơn bốn ngàn dặm luôn được ổn định, không có những kẻ xấu dò xét, phá phách, khiến cho chánh pháp được yên lành, lần lượt truyền giảng khắp để dẫn dắt, giáo hóa mọi nẻo sinh tử trong năm cõi. Bốn chúng đệ tử cùng các tông phái đều hết lòng cúng dường, lãnh hội sự chỉ dạy không biết mệt mỏi. Luôn vì mọi người thuyết giảng kinh điển khiến cho những người cùng tu học, tâm ý không ai là không được ung dung, tự tại. Mọi người đều đạt sở nguyện của mình, dứt mọi sự oán vọng. Tuy có kẻ mang tâm ganh ghét, muốn có chỗ để quấy loạn nhưng cũng không thể thực hiện được.
Lại nữa, vị Bồ-tát ấy thường tự thể hiện sự nhẫn nhục, tâm luôn đầy mối nhân từ, hòa ái. Nếu hướng về kẻ giận dữ cũng không hề dấy ý niệm xấu ác. Nếu có kẻ nghịch ác muốn đem đến sự nguy hại cho mình, thì chẳng nên cùng kẻ ấy tranh biện, chỉ nên lánh bỏ chứ không cùng gặp. Nếu gặp phải giữa đường thì xem như chẳng hề trông thấy. Tâm từ nhớ nghĩ khắp mười phương đều nên quy ngưỡng về Phật, chớ nên có tâm ác phỉ báng Pháp sư. Luôn nhớ nghĩ đến đạo pháp để dứt mọi điều ác. Luôn tỏ lòng thương đối với những kẻ vì mang tâm độc

* Trang 28 *
device

dữ mà bị đọa vào các nẻo ác, chịu mọi khổ nạn nơi ba đường dữ. Đáng thương cho những kẻ đó, do ngu muội, mê lầm nên cứ mãi chạy theo nẻo độc hại, rốt cuộc trở lại tự làm hại thân mình. Cũng như nơi cạnh gốc cây to, gió thổi mà lại quét ngược chiều, hốt nhiên lửa sinh trở lại đốt cháy thân hình. Hay như loài rắn độc, hàm chứa độc ngày một thêm nhiều, trở lại tự hại lấy thân. Như sắt sinh ra nhiều chất rỉ để tự hủy diệt lấy nó. Ngu tối bưng bít, che ngăn, tâm không được mở rộng, thông tỏ. Chẳng nhớ nghĩ đến ân của các vị Bồ-tát, Pháp sư. Phản bội, sinh tâm nhiễu hại, chống lại các bậc sư phụ. Dốc mang lòng tham thù, ganh ghét, muốn đem điều nguy hiểm để hại bậc thi ân, những kẻ ấy nhất thời tự mình có thể phóng tâm tự tôn, tự đại, nhưng chẳng biết nhìn xem kỹ về các nạn lớn đang chờ mình. Thật hết sức đáng thương!
Chư Thiên, Long, Quỷ thần, Thiên thần nơi hư không, A-tu-luân, Ca-lâu-la, Chân-đà-la, Ma-hưu-lặc thảy cùng đến đảnh lễ cung kính quy mạng, muốn luôn được chiêm ngưỡng để mãi được bày tỏ lòng ngưỡng mộ, tôn sùng của mình. Dốc sức lãnh hội mọi diệu nghĩa của kinh điển để thông tỏ, thọ trì. Luôn nhớ nghĩ, phụng hành, chưa từng có sự bê trễ, biếng nhác. Chư thần luôn yêu mến, tôn kính, lo toan mọi việc cúng dường. Kính trọng đạo đức như người con hiếu đối với cha mẹ, sau bao nhiêu năm tháng lâu dài ly biệt bị đói khổ, thiếu thốn liên tiếp. Được chư Thiên, Thần minh, Nhân phi nhân yêu mến, tôn kính, oai đức vô cùng lớn lao một cách trọn vẹn như vậy, đều là do Bồ-tát đã dốc tâm tinh tấn tu học pháp Tam-muội ấy có được tâm Từ bi rộng lớn. Vì thế mà đạt được đức lớn đó.
Đức Phật bảo Bồ-tát Hỷ Vương:
–Nếu có vị Bồ-tát tích lũy công đức, dẫn dắt, giáo hóa vô số trăm ngàn chúng sinh, khiến họ đạt được an lạc vô cùng lớn lao, thì sự việc ấy cũng không khác với việc Bồ-tát chẳng dùng sự vui đùa, lấy pháp Tam-muội kia làm nhân để đạt được công lao thù thắng đặc biệt, đức ấy tên là “Lìa mọi tham đắm đối với sự khen ngợi của mười phương.” Mọi hành hóa đều đạt sự an nhiên bất động như núi Tu-di, ánh sáng như nhật nguyệt tỏa khắp thiên hạ. Đức quý giá như đất là gốc sinh ra muôn vật. Đạo được tôn quý, quả vị được nâng

* Trang 29 *
device

cao, sinh ra các đạo phẩm như sáu Độ Ba-la-mật. Bồ-tát hội nhập pháp tạng, tâm như hư không, dứt mọi vướng chấp, riêng mình đi khắp trong ba cõi mà không chút trở ngại. Cũng như chim bay lượn khắp hư không chẳng có tí vết chân. Cũng như hoa sen chẳng nhiễm nơi nước bùn, bụi bặm. Chư Phật trong mười phương thảy đều khuyến khích Bồ-tát thực hành pháp Định ý ấy. Nên nay Phật tuyên giảng rõ: Các vị hãy luôn tinh tấn, chớ nên nghi hoặc. Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di cùng với phàm phu thứ dân, cả đến chín mươi sáu thứ ngoại đạo với sáu mươi hai loại kiến chấp, cho tới các loài côn trùng thân cứng, thân mềm, bay dọc, bò ngang, thở gấp mà sống, người cùng với chẳng phải người, tu học pháp Tam-muội này, nếu được nghe đến tên liền sinh tâm vui mừng thì đều đạt được sở nguyện, sau đó sẽ lãnh hội được diệu lý của pháp Tam-muội ấy.
Bấy giờ Đức Thế Tôn đọc kệ:
Thường sáng tỏ
Chánh pháp Phật
Tín căn vui
Tuệ bậc nhất
Hành an định
Dứt tôi - ta
Giữ tịch tĩnh
Tam-muội diệu
Đạt tự tại
Rõ nhẫn nhục
Che ba thời
Như lọng báu
Tạo lập, hóa
Vô số người
Theo tuệ ấy
Ví như biển
Hết bỉ - thử
Cùng phiền não

* Trang 30 *
device

Giảng Phật đạo
Mọi diệt độ
Trừ cấu nhiễm
Độ ba đời
Dốc tu tập
Luôn an nhiên
Rõ thân mạng
Cùng kẻ khác
Chí luôn nhớ
Nẻo Phật đạo
Niệm an trụ
Hết thảy nghiệp
Cùng đạt được
Tam-muội diệu
Dắt dẫn nhiều
Thâu cõi gốc
Luôn giảng pháp
Diệt khổ não
Tu bố thí
Vị cam lồ
Dốc phụng hành
Chủng tánh Phật
Sáng tỏ tột
Từ diệu bày
Xưng tụng khắp
Mọi công đức
Nơi chúng hội
Thật lồng lộng
Như trăng tròn
Vào thu sáng
Mọi quyến thuộc
Tài, danh, đức
Chốn sinh tử

* Trang 31 *
device

Phật đều biết
Biện tài đó
Như thủy vương
Hành Tam-muội
Theo công đức
Pháp tự nhiên
Không, vô ngã
Mau chóng đạt
Diễn bày nghĩa
Như thế khắp
Cõi đại thiên
Theo chân đế
Tam-muội ấy
Mọi tư duy
Ba ngàn cõi
Khắp chúng sinh
Như hằng sa
Muốn cầu học
Đạo cam lồ
Chốn tuệ đạt
Vượt hơn hết
Độc chẳng hại
Cùng lửa, đao
Dứt rắn dữ
Chẳng sợ hãi
Chúa La-sát
Không thể hại
Đem tâm hòa
Dốc tu tập
Tài sản còn
Nhà cửa đủ
Dứt bệnh, lo
Cùng tội, nạn

* Trang 32 *
device

Chuyên tâm trì
Bốn câu pháp
Mắt luôn tỏ
Chẳng lãnh hội
Sáu hai kiến
Ức Phật khuyên
Hữu học nên
Tư duy ấy
Nếu thường phụng
Pháp Tổng trì
Hành tinh tấn
Pháp Tam-muội
Như dốc cầu
Chóng thành đạo
Đạt an lạc
Ruộng công đức
Nên tu học
Gốc kinh điển
Đạt hết thảy
Tịch nhiên, không.

Phẩm 3: NÊU BỐN SỰ VIỆC CỦA BỒ-TÁT

 
Bồ-tát có bốn điều cần làm thì mau chóng đạt được pháp chánh định. Những gì là bốn điều?
1. Bố thí nhưng không dấy khởi tưởng về phước thí đối với tất cả.
2. Trì giới, chẳng phạm mọi điều ngăn cấm, đem hết chí nguyện cầu đại đạo.
3. Luôn mang tâm Từ, đối với mọi oán ghét hay thân thương đều thể hiện bất nhị.

* Trang 33 *
device

4. Luôn xem mọi loài chúng sinh trong ba cõi thảy là thân tộc của ta, chưa từng bỏ rơi một loài nào.
Bồ-tát lại có bốn điều cần làm, tất mau đạt được pháp chánh định ấy:
1. Thường đem tâm đại Từ ban bố khắp chúng sinh.
2. Luôn mang tâm đại Bi, nhận thấy chúng sinh nơi ba đường dữ phải chịu bao khổ não mà xót thương vô hạn, nên cứu độ giải thoát tất cả.
3. Thấy chúng sinh do mê mờ lầm lạc mà cứ mãi quanh quẩn trong năm nẻo luân hồi, không thể tự mình gắng sức thoát ra được. Do đó mà nêu bày rõ con đường chân chánh để họ dốc chí theo đức ấy mà tự ra khỏi nẻo tối.
4. Xem chúng sinh trong ba dòng chảy sinh tử luôn qua lại từ đầu mối đến chung cuộc không thể cắt đứt được, thân khổ tâm não, vì thế mà thương xót, nhớ nghĩ, dốc tâm nêu giảng rõ về cội rễ của tội, phước trong cõi sinh tử, là gốc của chánh pháp vô vi.
Bồ-tát lại có bốn điều cần thực hiện để đạt pháp định ý ấy. Những gì là bốn?
1. Xem các thứ tà thuật mê hoặc gồm trong sáu mươi hai thứ kiến chấp mà không dứt khoát lìa bỏ, lại do dự, mập mờ thì sẽ rơi vào bao lớp lưới mê, khác nào loài chim tự lao vào lưới vì tham cái lợi nhỏ nhặt, đâu biết đó chính là tự hại mình.
2. Xem chín mươi sáu loại ngõ hẹp mê hoặc tự tạo lấy sự ngu muội tăm tối, cũng như loài thiêu thân tự lao vào ánh sáng của ngọn đèn, đã bị chìm đắm trong ba đường dữ hoặc quẩn quanh nơi năm nẻo luân hồi mênh mông không thể nào thoát thân. Chỉ có chư Phật cùng chúng Đại Bồ-tát mới có thể cứu độ được.
3. Xem chúng ngoại đạo dốc hành nghề phù chú hại người, Bồ-tát luôn thương xót họ. Ví như kẻ đã bị dòng nước dữ cuốn chìm, sau đấy mới hối hận thì làm sao còn kịp?
4. Như kẻ làm nghề săn bắn, bắn giết các loài chim, hay buông lưới bắt cá, tích chứa bao tội chồng chất, vô số ức đời bị đọa vào ba nẻo ác. Bồ-tát nguyện lìa bỏ nơi an lành của thân mình để đến cứu độ

* Trang 34 *
device

họ. Vì họ mà nêu giảng về mối lo của tội, phước trong cõi sinh tử, chỉ rõ về nẻo vô vi giải thoát, hoặc lại làm hiển lộ đạo Chánh giác Vô thượng, khiến cho những kẻ ấy đạt được an lạc.
Bồ-tát lại có bốn việc cần làm mới mau đạt được pháp chánh định ấy. Đó là:
1. Tạo hình tượng Phật ngồi trên tòa sen. Nếu phỏng theo để vẽ lên vách tường, lên lụa dày, vải bông hay vải tơ dày, thảy đều đạt tính chất đoan nghiêm, tươi đẹp, khiến cho mọi người trông thấy đều vui mừng, do đó đạt được phước về đạo.
2. Giữ lấy kinh này theo từng quyển, từng cuốn biên chép ra sách vở. Nếu dài thì có thể dùng loại tơ lụa đặc biệt, khiến cho văn tự được biên chép trên dưới đều ngay hàng, rõ nét.
3. Đọc tụng kinh này, ngày đêm luôn tinh tấn, không rời bỏ kinh văn, khiến cho lời kinh được truyền khắp, không một vấp váp, trở ngại nào và những người nghe liền được thông tỏ.
4. Thọ trì pháp Tam-muội này, là ngọn nguồn của chư Phật, mỗi mỗi đều nhận rõ, vì con người mà nêu bày diệu nghĩa thông suốt để khéo khai mở cho Bồ-tát con đường đi tới quả vị Chánh giác Vô thượng, khiến cho tất cả chúng Bồ-tát đều cùng học hỏi, thọ trì, không dấy tâm nghi hoặc, nên mỗi vị đều thông đạt.
Bấy giờ, Đức Phật đọc kệ:
Nghe kinh này
Vui đức lớn
Nếu có người
Cầu đạo ấy
Học, lành thay!
Bốn câu đó
Nên đạt đến
Mười thứ lực
Tám mươi ức
Vua cõi người
Những sáu mươi
Luôn an trụ

* Trang 35 *
device

Thường cùng giúp
Kẻ học ấy
Nên đọc tụng
Tam-muội này
Nếu được nghe
Đạt thiện lợi
Đã lãnh hội
Nên tin, vui
Đều thành tựu
Chẳng nghi đạo
Thảy đều thấy
Sinh tử không
Hành Phật đạo
Nên được nghe
Vui công sức
Chẳng biếng trễ
Nhất thiết trí
Như xem tay
Dùng chữ viết
Kinh điển này
Luôn biết, nhớ
Trăm ngàn kiếp
Biện tài hơn
Đạt quả Phật
Nêu giảng rõ
Tối định ý
Vương tử nguyệt
Được nghe rõ
Ba cõi nước
Làm Sa-môn
Ngày đêm siêng
Nghe thọ pháp
Đời sau rốt

* Trang 36 *
device

Sau mạng chung
Liền vãng sinh
Cõi Phật khác
Như hằng sa
Lại hơn nữa
Chư Thiên cùng
Cúng dường Phật
Từ nơi ấy
Nghe Tam-muội
Trong ba kiếp
Thành Phật đạo
Có Phật hiệu
Vô Yểm Bảo
Phật Định Quang
Chốn giáo hóa
Được nghe biết
Đạt quả đức
Do vậy nghe
Nên siêng năng
Vì mười phương
Luôn cứu độ
Nay ta muốn
Ân cần dặn
Bậc nhân hiền
Lời nhu hòa
Là pháp thêm
Kho báu đạo.

* Trang 37 *
device

Phẩm 4: NÓI VỀ BẬC PHÁP SƯ
 
Đức Phật nói với Bồ-tát Hỷ Vương:
–Về thời quá khứ, trải qua vô số kiếp không thể tính kể hết, bấy giờ có Đức Phật hiệu là Biện Nghiêm Tịnh Lôi Âm Hống Như Lai, là Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Thượng. Thời Đức Phật ấy tại thế, có một vị Pháp sư tên là Vô Lượng Đức Biện Tràng Anh Biến Âm, thường được nghe Đức Như Lai giảng về pháp Tam-muội ấy, đã dốc tâm cầu học, nhận rõ, nêu bày, dùng vào công việc giáo hóa chúng sinh, đối với vô số ức trăm ngàn chư Thiên, chúng dân, thảy đều đem pháp Tam-muội ấy mà hóa độ tất cả. Bấy giờ có một vị vương thái tử tên là Tịnh Phước Báo Chúng Âm được nghe pháp Tam-muội đó, trong lòng vô cùng hân hoan, liền đem trăm ngàn tấm y hết mực tốt đẹp, thuộc loại có giá trị đặc biệt, dâng lên cúng dường vị Pháp sư, miệng phát ra lời nguyện:
–Nguyện khiến cho hết thảy chúng sinh trong khắp ba cõi đang chịu bao điều nguy khốn, đều có thể vươn lên đứng vững để được nhận lấy pháp Tam-muội này.
Do gốc của phước đức đó nên vị vương thái tử kia được trông thấy tám mươi ức hằng sa chư Phật, từ đấy mới tạo nên các công hạnh để phụng trì chánh pháp bình đẳng. Tại những nơi chốn được nghe chư Phật thuyết giảng về pháp Tam-muội ấy, thảy đều được dùng các phương tiện để nêu giảng, truyền bá, mọi người được nghe đều có thể dốc tâm nhận lãnh, phụng trì, thực hành pháp định ý đó. Do vậy mà ở các nơi chốn được sinh ra của vị Vương thái tử luôn được biết về thân mạng đời trước. Ở nơi vô lượng cõi Phật công đức thanh tịnh, đã thành Bậc Tối Chánh Giác. Vị vương thái tử Tịnh Phước Báo Chúng Âm ấy hiện tại chính là Đức Phật A-di-đà ở thế giới Tây phương cực lạc. Còn vị Pháp sư đã từng giáo hóa độ thoát vô số chúng sinh đó chính là Đức Như Lai Đại Nguyệt.
Vị vương thái tử kia cúng dường, tự quy ngưỡng vị Pháp sư Vô Lượng Đức Biện Tràng Anh Biến Âm, nhờ vậy mà có thể tiêu trừ

* Trang 38 *
device

hoàn toàn mọi thứ tội lỗi che phủ trong những bảy vạn kiếp. Do diệu dụng được nghe thuyết giảng về pháp Tam-muội định ý ấy mà ngay lúc còn là thái tử đã từ bỏ mọi sự tiếp xúc khách khứa tăng, tục, dứt sạch các mối trở ngại để diễn giảng rộng khắp các đạo phẩm. Ở nơi mỗi mỗi chốn sinh ra đều đạt được vô lượng môn cùng các nẻo thực hành các pháp Tổng trì, ý phát khởi là trong một thời, thậm chí là chỉ trong một khoảnh khắc cũng không rời pháp Phật.
Đức Phật nói:
–Bấy giờ lại có vị Phật hiệu là Diện Duyệt Ly Cấu Nguyệt Thủ Tạng Uy Như Lai, là Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Thượng xuất hiện ở đời thuyết giảng về pháp Tam-muội ấy. Lúc đó có một người con của bậc Trưởng giả tên là Diệu Tịnh Quảng Tâm, được nghe thuyết về pháp ấy, đem lòng tin của mình đối với chánh pháp về thuyết phục cả gia đình cùng tin theo, bày tỏ việc mình không ham thích sự nghiệp ở thế gian nên xuất gia làm vị Sa-môn. Sau đó cho về nhà bảy vạn thể nữ, tài sản quý giá cũng đem ra bố thí cả, vì gia đình có tới bốn kho chứa các thứ châu báu cùng bao loại ngọc ngà vô giá kỳ lạ khác, nếu đổ ra đầy nơi đất thì mỗi kho báu ấy có thể rải khắp đến ba mươi vạn một ngàn tám trăm nơi chốn dùng để du ngoạn thăm chơi. Xuất gia hành đạo, người con bậc trưởng giả này chưa từng cất bước giẫm xéo một cách vô lý trên mặt đất, chẳng còn mang tâm vướng bận về việc bỏ nước, lìa vua làm vị Sa-môn du hóa đó đây. Làm bậc Sa-môn trải qua một vạn sáu ngàn năm, luôn nhất tâm đi kinh hành, tinh tấn dốc tu chưa hề có sự dừng nghỉ, bê trễ. Ngay ở thời gian đầu cũng không dấy tâm niệm lười nhác, đã từ bỏ mọi kẻ hầu hạ như ngày cũ, tự mình lo chuyện ăn uống, rửa ráy, chẳng ham ngủ nghỉ, thường hay thức tỉnh, cũng không chọn ngồi các chỗ sang trọng suốt trong một vạn sáu ngàn năm. Dốc tu như vậy nên mau chóng nhận được trọn vẹn diệu nghĩa nơi kinh pháp mà Phật đã giảng dạy. Đem kinh pháp dốc tâm đọc tụng khắp mọi nơi, âm thanh vang vọng, hòa nhã, lại đạt được pháp Tổng trì tên là “Hội nhập khắp các thứ âm thanh”, đối với pháp Tổng trì ấy đều cung kính hết mực vì Phật mà đảnh lễ. Có tới sáu mươi sáu triệu chúng chư Thiên thường theo vị Sa-môn ấy để thăm

* Trang 39 *
device

hỏi, nhận lãnh mọi việc cung cấp, thừa hành. Vị Sa-môn ấy thân tâm luôn an lạc, tinh tấn trong mọi thời, luôn hết lòng tạo thêm nhiều phương tiện để phụng sự Đức Như Lai. Vị ấy đã thành Bậc Chánh Giác ở thế giới phương Nam, hiệu là Nhất Thiết Đức Nghiêm, thế giới ấy gọi là Đức tịnh, là Bậc Tối Chánh Giác ở cõi đó.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền đọc kệ:
Ta nhớ thân mạng trước
Vô số hằng sa kiếp
Phật hiệu Biện Nghiêm Tịnh
Lôi Âm Hống Như Lai
Có Tỳ-kheo giữ pháp
Thường nơi tòa Sư tử
Giảng pháp Tam-muội này
Vương thái tử được nghe
Đem đủ loại y quý
Cúng dường vị Pháp sư
Được thấy khắp chư Phật
Đắc Phật A-di-đà
Mọi tội từ đời trước
Bao kiếp đã phạm phải
Nghe thuyết tuệ vị này
Thảy đều được dứt sạch
Có Phật Ly Cấu Nguyệt
Giảng pháp Tam-muội ấy
Con bậc trưởng giả nghe
Tôn kính nên xuất gia
Một vạn sáu ngàn năm
Siêng tu pháp diệu đó
Chưa từng ham ngủ nghỉ
Cũng không hề biếng trễ
Thánh đạo luôn dốc cầu
Do nghe cùng lãnh hội

* Trang 40 *
device

Chẳng lại chốn nhà cũ
Dứt mọi thứ ái ân
Thấy hằng sa chư Phật
Đều cùng theo thọ nhận
Mọi đạo nghiệp thâm nhập
Phật đạo chóng thành tựu
Sở nguyện được viên mãn
Gọi là “Ý người vui”
Cùng thời đạt Phật đạo
Phải siêng tu pháp ấy
Ở vào thời vị lai
Được nghe dấu tuệ đó
Nghiệp tài sản không an
Xuất gia dứt tham luyến
Mắng mỏ hoặc đánh đập
Phỉ báng, lời còn thêm
Mỗi mỗi nghe, tỏ pháp
Nêu giảng chỗ Phật dạy
Gặp khốn, trăm ngàn phiền
Dâm dục khó, gắng sức
Nhận rõ bao phiền não
Tự thuyết nên Phật đạo
Trong mộng thấy nơi Phật
Tự vui, ta chánh giác
Mà vui cùng với pháp
Ta chẳng nghi Phật đạo
Nương cầu âm hưởng tốt
Do nghe kinh điển ấy
Nơi tâm tự thông tỏ
Liền đắc thành Phật đạo
Lãnh hội được diệu lý
Nghe chừng ấy sự nghiệp
Chẳng một chướng ngại nào

* Trang 41 *
device

Chốn hiện như hư không
Vì thế nên xuất gia
Được vô số lợi lạc
Dùng việc họ hàng xấu
Tâm sinh cùng phỉ báng
Rõ nạn khổ nêu trừ
Nương nghe mà ý giữ
Lại coi thường kẻ khác
Ta do thành Phật đạo
Được thấy đủ ánh sáng
Cúng dường Bậc Đại Thánh
Đi đứng tự sợ, mừng
Cho mình đạt Phật đạo
Có kẻ dua nịnh ấy
Rời bỏ đạo vi diệu
Luôn luôn mang ưu sầu
Do nhân khinh người đó
Nếu được nghe kinh này
Ắt biết rõ pháp Phật
Mau đạt Bậc Chánh Giác
Thấy Phật A-di-đà
Kẻ luôn dựa điên đảo
Cũng bỏ đạo cao xa
Nếu từ gốc chẳng thuận
Phật chẳng trao pháp ấy
Xem vị con trưởng giả
Thí cả bao kho báu
Sau đấy thì xuất gia
Nhà nhà đến hành khất
Theo Như Lai Định Quang
Từng nghe diệu nghĩa ấy
Hình ảnh Tam-muội đó
Dốc tinh tấn phụng hành.

* Trang 42 *
device

Đức Phật nói:
–Bồ-tát hành đạo luôn đem tâm đại Từ bi cứu giúp khắp mười phương cùng hóa độ bao người khác, nhất là đối với hạng thấp kém. Đem sáu pháp Ba-la-mật, bốn Tâm vô lượng, sáu thứ thần thông, khéo sử dụng các phương tiện quyền xảo để giáo hóa chúng sinh các loại, nhất là thể hiện đúng nghĩa vụ đối với bốn ân. Sự giáo hóa ấy thật là mênh mông và luôn tạo được sự an ổn lâu dài. Các vị Bồ-tát thường nên lìa bỏ những vướng bận về nghiệp nhà để góp phần làm cho đạo pháp được hưng thịnh. Tạo ra những trận mưa các pháp cam lồ để giảng truyền kinh điển. Giống như bậc lương y dùng thuốc để trị dứt các bệnh về thời khí trái tiết như cảm gió, nóng lạnh…
Về tâm thì có bốn thứ bệnh: Một là tham dâm; hai là giận dữ; ba là si mê tăm tối; bốn là phân chia đây kia. Bồ-tát dùng ánh sáng của trí tuệ chân chánh để trừ sạch bốn thứ bệnh về tâm ấy. Nhờ đó mà đạt đến mười Lực, cùng bốn Vô sở úy. Ví như mặt trời xuất hiện thì mọi thứ tối tăm đều bị tiêu trừ, không còn dấu vết gì về chỗ bị trừ bỏ ấy. Bồ-tát khéo dùng phương tiện về trí tuệ để nêu cao ánh sáng của bậc đại Thánh chiếu khắp ba cõi, làm cho năm ấm, sáu trần, mười hai nẻo dẫn dắt nối nhau không dứt, liền bị tiêu diệt, không còn biết về chỗ hướng đến, tạo ra. Cũng giống như mặt trăng hiện ra nơi tối tăm thì sẽ xua tan mọi thứ u ám của đêm tối và nơi đó liền được sáng soi. Bồ-tát cũng như vậy, đem trí tuệ của đạo soi sáng khắp cõi sinh tử, xua sạch cấu uế của ba độc nhưng tâm không chút tham đắm. Dẫn dạy, giáo hóa một cách trọn vẹn, rốt ráo về bao nỗi khốn khổ khôn cùng của muôn loài, từ đó đạt được pháp Tam-muội Vô sở tùng sinh, độ thoát hết thảy. Cũng như nơi biển lớn vốn chứa trong lòng có bao thứ châu báu kỳ lạ, quý giá, đặc biệt. Kẻ thâm nhập vào đấy để khai thác nếu có đầy đủ các phương tiện thì tất thu được dồi dào các thứ châu báu kia. Bồ-tát cũng như thế, hội nhập vào biển pháp Đại thừa, chọn lấy các pháp vi diệu của bậc Khai sĩ, làm cho đạo tràng thêm trang nghiêm thanh tịnh với ba cánh cửa giải thoát luôn mở rộng, quán xuyến cả ba thời để cứu giúp mọi nỗi khổ đau, nguy khốn. Như bậc Chuyển luân vương cai trị gồm thâu bốn cõi thiên hạ, được chúng dân tôn kính, ngưỡng mộ. Bồ-tát cũng như thế, hòa nhập hết

* Trang 43 *
device

thảy các nẻo sinh lão bệnh tử, luôn đầy đủ bốn thứ Tâm vô lượng để trị dứt bốn thứ bệnh về tâm, khiến chúng hoàn toàn sạch bóng, trước sau, đầu cuối, mọi thứ hư mục, mất còn tức thì xóa hết, chẳng để lại dấu vết. Như bậc lão luyện trong nghề chèo thuyền đưa người qua sông, luôn qua lại không lúc nào dừng dứt. Bậc Bồ-tát đem một phần của kho tàng các pháp Tổng trì, quảng diễn về những điểm cốt yếu thâm diệu của đạo pháp chân thật để giáo hóa muôn loài, trải qua vô số kiếp mà không hề biết mệt nhọc. Như cha mẹ sinh dưỡng con cái mong chúng dần khôn lớn nên người. Bồ-tát cũng như vậy, dùng các pháp của trí tuệ phương tiện để thực hành tâm đại Từ bi, khuyến hóa bao kẻ ngu muội, tối tăm, khiến họ dấy khởi tâm đạo, tín thọ năm giới, thực hành mười điều thiện, biết rõ bốn ân, tu tập phát huy bốn tâm vô lượng, sáu pháp vượt bờ, đạt tới giải thoát. Bồ-tát hành xử các phương tiện quyền xảo, hướng tới khắp mười phương, từ đó đạt được quả vị Thập trụ, Nhất sinh bổ xứ, tiến tới quả vị Chánh giác Vô thượng, thành Bậc Tối Chánh Giác, độ thoát hết thảy mọi loài còn đắm chìm trong biển sinh tử, khiến họ tâm được an nhiên, ngược dòng chảy mà đạt tới ngọn nguồn. Cũng như trồng cây, từ hạt giống mọc lên cây con với rễ, chồi, rồi dần dà lớn thêm với những thân, đốt, cành, lá, hoa trái sum suê. Bồ-tát cũng như thế, từ lúc mới phát tâm liền đạt được niềm vui nơi tâm ý, rồi thân ý dần được tự tại, dứt năm thứ ngăn che, khỏi nỗi khốn về ba đường dữ cùng bao điều khổ trong tám nạn, tu tập sáu pháp Ba-la-mật là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền tư, trí tuệ, đạt pháp nhẫn Vô sở tùng sinh, dứt sạch mọi nơi chốn dựa cậy, bám víu cùng mọi nẻo lường tính, không còn vướng chấp về ta - người, thọ mạng của thân, bao đầu mối về có không. Ở tại một nơi mà xuất hiện tại nhiều nơi chốn để cứu giúp. Trải qua khắp nẻo sinh lão bệnh tử luôn có mặt ở đời. Sáu pháp tu vượt bờ đã thành tựu nên khéo sử dụng phương tiện, tùy thời mà dẫn dắt chúng sinh, không khiến bị rơi vào chốn mê lầm vì ngu si, tối tăm, tội lỗi ngăn che, trùm lấp. Bồ-tát thân tâm luôn thanh tịnh như hư không, chẳng sợ mọi khó khăn. Trí tuệ thù thắng là thứ thần dược muôn đời dùng để chữa trị lành hết thảy bao thứ khốn khổ xưa nay. Như bậc trưởng giả sinh được nhiều con cái, mỗi người con đều thích thú trong

* Trang 44 *
device

việc xây cất mười lớp lầu gác cao rộng để mời các vị vương tôn công tử đến vui chơi nơi lầu gác mới của mình, cho hòa tấu các loại nhạc hay, để mọi khách khứa trên dưới đều cùng vui thích. Đức Thế Tôn cũng như vậy, đem tâm từ bao la thể hiện qua tình thương vô bờ, dùng phương tiện quyền xảo để giáo hóa, dẫn dắt các loài chúng sinh trong ba cõi, mở bày chỉ rõ con đường chính dẫn đến chốn giác ngộ giải thoát. Gốc ngọn của quả vị Thập trụ nơi Bồ-tát là từ buổi đầu phát tâm, khiến mọi người trông thấy đều vui thích, không ai là không phát tâm. Từ quả vị Trụ thứ nhất là điểm khởi hành cho con đường tu tập của Bồ-tát. Dùng bố thí để cứu giúp kẻ khốn cùng, kẻ bị trói buộc, giam hãm trong ba cõi. Về những nẻo nghèo thiếu đối với đạo pháp thì bố thí bảy thứ tài sản về tinh thần, dùng Nhất thiết trí chánh giác làm giới hạnh, từ đó Bồ-tát kiên trụ được trí tuệ vô hạn. Không dừng lại với sự chứng đắc giữa chừng. Tu học luôn thể hiện tâm ý nhân hòa, dốc tin Tam bảo, thể hiện tâm Từ bi mênh mông, tâm thương xót vô tận gồm trong bốn Tâm vô lượng, từ đấy năm thứ thần thông được thành tựu. Năm thứ thần thông được thành tựu dẫn tới việc hoàn bị sáu pháp tu vượt bờ. Sáu pháp này đạt được thì đạt đến pháp nhẫn nhu thuận. Nhẫn ấy đạt được thì gọi là Hưởng nhẫn thứ nhì, thứ ba, có thể thông hiểu hết thảy gốc rễ của mọi âm hưởng vốn là không tịch. Mọi âm hưởng trong ba cõi đều là hư, không thật, không phải là chân đế. Do thấu đạt diệu nghĩa ấy mà tạo được nhân để dần dần hội nhập vào pháp nhẫn Vô sở tùng sinh. Tất thông tỏ về ba cõi đều không cội rễ, năm nẻo không có khởi đầu. Người có trí tuệ thông đạt như thế mới thực sự đạt pháp nhẫn Vô sở tùng sinh. Ví như hư không dứt hết mọi ngả yêu ghét, do vậy mà sự thọ nhận được mau chóng, dứt khoát. Đã được sự thọ nhận như thế thì đạt đến cõi chánh định, trong hiện tại được thấy chư Phật ở mười phương. Như người sáng có đôi mắt trong suốt, bầu trời ban đêm không mây nên nhìn thấy rõ các tinh tú, Đông, Tây, Nam, Bắc ngẩng đầu nhìn khắp hư không, tinh tú nhiều vô hạn, thảy đều biết vị trí của chúng. Bồ-tát cũng như thế, đạt được chánh định trong hiện tại thì thấy được hết thảy chư Phật trong mười phương, tất biết nơi chốn, danh hiệu, lời dạy dỗ, các vị Bồ-tát đệ tử, cùng với quyến thuộc nhiều ít. Thuyết

* Trang 45 *
device

pháp độ sinh tất biết được số lượng ấy. Từ nơi cõi Tam-muội xuất định, vì người thuyết pháp, nói về các nẻo thông tuệ, khiến những người được nghe đều phát tâm cầu đạo Bồ-đề vô thượng. Theo đó, tích chứa các hạnh, nêu bày một cách chính xác về quốc độ, giảng dạy cho chúng sinh thấy rõ về cội rễ của mình. Theo bệnh mà cho thuốc thích hợp khiến mọi bệnh đều dứt. Đối với mọi căn cơ thượng, trung, hạ theo đấy mà khai thị, dẫn dắt, mỗi hạng đều khiến đạt được sở nguyện. Ví như bậc Thánh vương có nhiều vương tử, tùy theo tài trí của mỗi người lần lượt sử dụng hợp lý. Hoặc cho làm thái tử, sau này sẽ nối ngôi vua cai trị bốn cõi thiên hạ, hoặc cho làm đại thần thường hầu hạ bên cạnh, dùng để bảo vệ mình. Hoặc cử làm vị sứ giả cho đi các nơi nêu bày về uy mạng của đế vương. Bồ-tát cũng như thế, giáo hóa tất cả chúng sinh, tùy theo căn trí cao, thấp, trung bình mà khai mở, dẫn dắt. Hoặc làm hiển lộ con đường tu tập của hàng Bồ-tát Chánh giác Vô thượng, hiểu rõ về quá trình tu tập từ đầu đến tận cùng theo trí tuệ phát sinh từ định, có Phật không Phật cùng an trụ như thế, tâm không đi vào cõi thâm diệu thì sẽ không tỏ ngộ được giáo pháp ấy. Hoặc nêu bày về nẻo Duyên giác, khuyến dụ để tiến tới phía trước, có được trí tuệ lớn lao thì mới đạt đến quả vị của bậc Thánh giác ngộ, gốc vốn không có hai. Ví như nước các dòng sông đều cùng chảy về biển cả, hợp làm một vị. Thấy cảnh sinh tử mà lo sợ, cũng như đối với bao hoạn nạn trong ba cõi, bao khổ ách nơi các nẻo địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, nên sợ khổ, chán thân mà cầu pháp tu Thanh văn, vì thế mà nêu giảng về các nạn trong cõi sinh tử, cứ mãi luân chuyển không cùng, quẩn quanh với năm đường không biết đến lúc nào dừng, từ đó hết lời tán thán về sự an lạc của cõi Niết-bàn giải thoát, vượt khỏi mọi chi phối của sinh lão bệnh tử, dứt mọi đói khát, nóng lạnh, không oán, không buộc, chẳng mở chẳng đóng, không vui không buồn, chẳng sang chẳng hèn, không liền không đoạn, vượt mọi đến đi, tan hợp, lìa hẳn mọi nạn cùng với đạo thông hợp. Từ cái nhân ca ngợi về con đường khó dễ, khổ an, khiến người dốc tu học nẻo vô vi, dần dà tiến lên phía trước mà đạt tới con đường lớn. Cũng như bốn ngả sông ngòi chảy vào biển lớn hợp thành một vị, nước biển không thể phân biệt là nước của nguồn sông nào. Ba thừa

* Trang 46 *
device

cũng thế, rốt lại là cùng đạt đến sự gặp gỡ ở một cõi: Chánh giác Vô thượng bao la không bến bờ, là cội nguồn thanh tịnh. Đạt được quả vị Thập trụ thì gọi là Dũng phục. Vì sao được gọi là Dũng phục? Ví như một vị dũng tướng thống lónh cả một đại quân, vị tướng ấy cùng với quân binh của mình đã hàng phục được quân địch dữ tợn, khiến chúng thảy đều quy thuận. Bồ-tát cũng như thế, đạt được pháp định Dũng Phục thì có thể đi khắp trong ba cõi, vượt lên trên mọi nẻo hữu vô, dùng đạo soi sáng tâm, không gì không thông tỏ, thấu triệt. Mỗi vị đều tự quy về, cùng phát tâm đạo, an tọa nơi gốc cây Bồ-đề như Đức Phật, hàng phục đám quân ma, độ thoát chúng sinh trong mười phương.
Đức Thế Tôn bèn đọc tụng:
Bồ-tát hành đại Từ
Thường điều phục tâm mình
Cùng hóa độ chúng sinh
Chốn giáo hóa luôn an
Chữa lành các thứ bệnh
Bồ-tát trừ ba độc
Nhật hiện xua tăm tối
Giáo hóa dứt nẻo buộc
Trưởng giả mười lớp lầu
Mười trụ dốc tiến tới
Như cây dần lớn tốt
Mới phát tâm cũng thế
Ngu xuất làm Sa-môn
Tâm còn vướng thân thuộc
Gánh nặng vì lợi dưỡng
Tâm vui nơi nghiệp nhà
Chẳng hề nghe pháp định
Chẳng xuất gia, không giới
Thành tựu đạt Phật đạo
Tu học dứt phóng dật
Đời mạt pháp, tu học

* Trang 47 *
device

Được nghe kinh điển này
Tâm cúng dường vì lợi
Cầu danh hành bài báng
Trước mặt cung kính lễ
Lời khen thật lành thay!
Nơi chỗ riêng về sau
Lại buông lời sai, xấu
Giả buồn mà rơi lệ
Tự quy nhớ về thân
Nhân gặp gỡ nơi nhà
Thuyết nêu toàn hạnh ác
Chẳng muốn kính phụng thầy
Chẳng thuận bậc Thánh hiền
Thân mình mong đạt hơn
Quấy loạn cho là tịnh
Muốn hủy công đức người
Tự khen công lao mình
Biết quý mà mang ganh
Ghét người được cúng dường
Hoa hương cùng vải vóc
Kỹ nhạc, cờ, phướn, lọng
Cúng dường xá-lợi Phật
Tự cho được thấy Phật
Nếu nghe kinh điển này
Nên cúng dường chân thật
Trừ bỏ mọi thú vui
Thường học hạnh căn bản
Dùng làm chốn thân nương
Năng dứt mọi che chắn
Nên cung kính nơi kinh
Ví như Tu-bồ-đề
Liền dứt mạng tham ái
Luôn tu nơi thanh vắng

* Trang 48 *
device

Siêng tu kinh đạo ấy
Mạng ở đời sắp hết
Nay nói với Hỷ Vương
Nghe rõ chỗ hành hóa
Tự biết điều phục ý
Hãy tin thuận phụng hành
Thường phỉ báng nơi Phật
Lời ấy là không thật
Ở nơi bốn bộ chúng
Lại tự cho chân đế
Kẻ tham nẻo lợi dưỡng
Chẳng vui đạo chánh Phật
Kẻ ấy tuy tỏ kính
Rời giải thoát thậm xa
Đại thần túc nơi ta
Uy lực lớn hiện rõ
Đều dùng giữ pháp cấm
Phụng hành nên đạt đạo
Tôn giới pháp Tổng trì
Như kẻ ngu bất cập
Thảy lìa nơi tham lợi
Tu tập chốn am vắng
Nay Phật bèn kiến lập
Mọi thuyết giảng chẳng hư
Đời vị lai sau này
Kinh ấy ở mọi chốn
Gặp vô lượng ánh sáng
Lại thấy dứt mọi giận
Sáu mươi hai ức Phật
Chúng hội cùng đều thấy
Phật tất ban lời dặn
Pháp này phải nên giữ
Do kinh này thấy ấn

* Trang 49 *
device

Nên sau này cùng giữ
Thời mưa hoa vi diệu
Trời, người khắp đại thiên
Tất cùng nhau ca ngợi
Do được nghe pháp này.
Bấy giờ, Bồ-tát Hỷ Vương cùng với ba vạn người đông đủ được nghe những lời Phật nêu giảng, xúc động khiến rơi nước mắt, cung kính, sợ sệt đến rợn cả người, liền rời khỏi chỗ ngồi đứng dậy, để lệch vai áo bên phải, chắp tay cùng thưa với Đức Phật:
–Kính thưa Thế Tôn! Chúng con vào đời vị lai ở thời mạt pháp, trong cõi thế xấu ác đầy năm thứ vẩn đục, chẳng hề dám khinh dể bậc Pháp sư. Nếu có kẻ bất kính muốn hủy hoại thì xin cho ánh sáng của đạo pháp được chiếu khắp đến tất cả bậc Trí thức. Vào thời này gặp lúc đạo pháp suy kém, ít người học thức đến với đạo nên số người thông tỏ đạo không thể nhiều. Đạo pháp thanh tịnh trong sáng sắp đến lúc suy tàn. Luôn lo lắng về sự vô thường của đạo pháp, trong thời nhiễu loạn cho dù thân mạng bị mất cũng dốc hộ trì tất cả kinh điển thể hiện trí tuệ của Đức Như Lai, khiến cho luôn có được sự an ổn lớn lao để kẻ chuyên tu học có chỗ riêng biệt mà nhất tâm tìm cầu. Nên thọ nhận để cùng giữ gìn kinh, tượng Như Lai như vậy, cùng từng ấy kho tàng đạo phẩm, để cho các bậc Hữu học dùng trí tuệ cùng mọi biện tài dựa vào đấy mà thông tỏ cội rễ của vô lượng các công đức, sẽ dùng pháp ấn khuyến hóa, ấn chứng cho tất cả, thâu tóm, nắm giữ hết thảy mọi chúng sinh để hàng phục quân ma đủ loại, hiểu rõ về Nhất thiết trí cùng công sức trong quá trình tu tập. Thọ trì kinh điển ấy, biên chép thành sách vở. Nếu ở cõi địa ngục thì sẽ vì hết thảy chúng sinh ở đấy nhẫn chịu mọi khổ nạn, không hề chán nản. Do dụng lực của pháp Tam-muội ấy nên dù đi khắp ba cõi, năm nẻo với đủ các thứ nạn cũng không hề biết mỏi mệt. Từ đó thể hiện bốn tâm vô lượng, đem Từ bi hoan hỷ hộ trì bốn ân, thi ân với tâm nhân ái nhằm mang lại lợi lạc cho mọi người, dẫn tới việc tế độ hạng ngu si, tăm tối trong mười phương. Cùng phát tâm Bồ-đề, mọi khổ nạn nơi địa ngục được dừng dứt, ngạ quỷ no đủ, súc sinh được thoát

* Trang 50 *
device

kiếp, sinh lên cõi trời, người. Nếu là chư Thiên hay người thì tâm luôn rộng mở vui thích với đạo pháp. Chúng sinh trong năm cõi thì tâm luôn thông tỏ, kính tin Tam bảo, chẳng tham luyến cảnh phú quý ở đời, xem xét trong ba cõi cũng như ảo hóa, hình bóng, tiếng vang, dợn nắng, thân cây chuối, cảnh thấy trong mộng, bọt nước tung, tụ, thấu rõ hết thảy các pháp là không thực. Cùng phát tâm Bồ-đề: Nguyện cứu độ mọi nguy khổ, tai ác của chúng sinh khắp mười phương.
Bấy giờ, Bồ-tát Hỷ Vương trong lòng vừa vui buồn lẫn lộn, liền đọc tụng:
Con do rõ nghiệp ấy
Theo ý ham đạo nghĩa
Chẳng khinh nẻo ánh sáng
Ca ngợi bao kẻ giúp
Từ bỏ cả thân mạng
Quyết cầu chánh pháp Phật
Lo sợ nơi đời sau
Giữ pháp Tam-muội này
Nếu trải vô số kiếp
Ở trong cõi địa ngục
Vui giữ pháp bảo ấy
Luôn nhẫn thọ mọi khổ
Vì hết thảy chúng sinh
Thuyết pháp không chốn cầu
Bố thí mọi tài vật
Thương xót khắp muôn loài
Giả sử thân xác này
Đoạn xương tủy, máu huyết
Trọn chẳng hề biếng trễ
Chốn sinh nơi đời sau
Tu tập chốn yên vắng
Bỏ hết mọi sở hữu
Tâm từ trùm các loài

* Trang 51 *
device

Kẻ bệnh cấp thuốc men
Chưa từng theo nghiệp ấy
Như mọi hành phản tà
Nên tu chân ngôn đó
Từ trong kinh ấy dạy
Dốc tu dứt phóng dật
Theo đúng lời Phật dạy
Hành xử nên nhẫn nhục
Chúng con cùng đồng bạn
Riêng cõi hoặc trong chúng
Mọi chốn vô sở úy
Chẳng tham cầu lợi dưỡng
Nêu giảng tôn Phật đạo.
Lúc Phật giảng nói về đoạn kinh này có tới bảy mươi hằng hà sa số chúng sinh từ các cõi Phật không thể tính kể hết, đã đến lãnh hội đoạn kinh ấy, đều đạt pháp Không thoái chuyển, sẽ thành tựu nơi đạo Bồ-đề vô thượng. Cùng lúc, có một vạn vị Bồ-tát đều cùng đạt được pháp Tam-muội đó, thảy tự phát thệ nguyện quan trọng: “Vào thời vị lai, đời mạt pháp đều dốc tâm tôn phụng các bậc Pháp sư cùng cúng dường đầy đủ. Ba mươi triệu triệu chư Thiên, người, đều đạt được sự an trụ nơi địa Không thoái chuyển, sẽ thành Bậc Chánh Giác. Sáu mươi triệu triệu chư Thiên, người đạt Pháp nhãn thanh tịnh. Mười tám ức người cùng với bốn chúng đệ tử đều có được pháp nhãn, dứt sạch mọi thứ xấu ác nơi ba đường dữ. Đức Phật dùng hào quang chiếu sáng khắp mười phương, đến tận cùng hằng hà sa số thế giới chư Phật, trùm khắp cõi địa ngục Vô trạch, trên lên tới cõi trời cao nhất. Hết thảy chúng sinh nơi cõi trời Tam thập tam đều đạt được sự an ổn, không còn trở lại bị các thứ khổ nạn nữa. Từ ánh hào quang ấy, mỗi nẻo đều tự nhiên hóa hiện vô lượng trăm ngàn ức triệu đóa hoa sen quý thanh tịnh, nơi mỗi mỗi đóa hoa sen ấy đều có Đức Như Lai an tọa, các chúng đệ tử quyến thuộc cũng đều có mặt đông đủ, cũng an tọa trên các đóa hoa sen như Đức Như Lai. Bên cạnh mỗi mỗi chư Phật đều có Bồ-tát Hỷ Vương cung kính quỳ gối chắp tay, dốc

* Trang 52 *
device

khuyến thỉnh chư Như Lai thuyết giảng pháp Tam-muội đó. Hết thảy chư Phật hóa hiện với vô số các vị không thể tính kể hết ấy, hợp với đông đảo chúng sinh, thảy khiến cho mọi người thông tỏ về tính chất vô cùng tận, không còn nơi chốn bị trở ngại, cho đến giác ngộ về lẽ bình đẳng.”
 

Phẩm 5: NÓI VỀ VIỆC CÚNG DƯỜNG BẰNG PHÁP THÍ

 
Bấy giờ, Đức Phật nói với Bồ-tát Hỷ Vương:
–Bồ-tát chớ nên đem các thứ như y phục, thực phẩm cúng dường, thể hiện sự tôn phụng Như Lai và cho đấy là sự cúng dường bậc nhất. Muốn thực sự cúng dường Phật, phải nên dùng pháp để cúng dường mới đúng là phụng sự Như Lai. Vì sao? Vì về thời quá khứ xa xưa, trải qua vô số kiếp không thể tính kể, có Đức Phật hiệu là Kim Long Quyết Quang, thọ mạng của Đức Phật này là vô hạn lượng, quốc độ tên là Vô lượng tịnh, chúng hội đạo tràng cũng không thể lường tính hết được.
Khi ấy, có một vị Pháp sư tên là Vô Hạn Lượng Bảo Âm, hành hóa vào đời cuối của thân mạng sau rốt, đã dốc học theo pháp Tam-muội kia. Còn lại, hết thảy các vị Tỳ-kheo khác thì không mấy quan tâm đến pháp bảo đó. Vị Pháp sư này không hề biết khiếp sợ, cũng không tham luyến đối với thân mạng mình, vì thế lại càng siêng năng tinh tấn diễn giảng pháp Tam-muội đã học được. Vị Pháp sư đi vào nơi núi cao, ăn uống bằng những loại hoa quả trong rừng.
Lúc này, cõi trời Tứ Thiên vương cũng như chư Thiên, nhân ở các cõi trời cao hơn, cho đến chư Thiên ở cõi trời thứ hai mươi bốn là A-ca-nị-trá, thảy đều đến để lãnh hội kinh do vị Pháp sư nêu giảng. Vô số chúng dân nhiều nơi đều cùng nhớ đến vị Pháp sư, tâm luôn luyến tiếc, buồn rầu, mong muốn được trông thấy ông ta, cũng là để tỏ lòng kính phục đối với thanh danh và được nghe pháp âm quen thuộc.
Thời ấy, có vị vua tên là Sử Chúng Vô Ưu Duyệt Âm, là bậc

* Trang 53 *
device

Chuyển luân thánh vương đã đến thẳng trú xứ của vị Pháp sư kia dốc tâm lãnh hội pháp Tam-muội ấy. Đã được nghe, nhà vua hoan hỷ và muốn làm đẹp lòng vị Pháp sư nên cung kính thưa:
–Theo ý riêng, thì ta nên tuyên giảng truyền bá khắp nơi pháp bảo này, khỏi phải lo sợ gì. Tôi sẽ thân hành sai khiến người cùng nhau túc trực để bảo vệ. Sẽ khiến ba vạn người luôn có mặt bên cạnh Pháp sư. Hiện nay tôi cùng ở đây, chớ có lo ngại gì về những khó khăn. Tôi sẽ đích thân hộ vệ, vì đây là pháp bảo của Phật đã từng thuyết giảng, rất khó được nghe.
Thế rồi vị Chuyển luân vương bèn sai một ngàn người con của mình, đều là hạng dũng mãnh, kiệt xuất, một người có thể địch ngàn người, tất cả được dùng để bảo vệ vị Pháp sư. Còn ba vạn người túc trực kia thì thường đem các món ăn ngon cúng dường vị Pháp sư, tất cả đều thể hiện sự an ổn theo chỗ mà họ tạo được một cách thuận tiện nhất. Vị Pháp sư thường đem tâm hòa nhã hành xử, không hề dấy ý xâm phạm hay mưu hại gì. Do vậy mà đã trao truyền những gì họ cần và hết thảy đều nhận được đầy đủ. Như thế là vị Pháp sư ấy đã tạo lập được oai lực từ uy thần của pháp bảo kia. Trong nửa kiếp đã diễn giảng về pháp Tam-muội đó. Do gốc của công đức đã vun trồng nên hết thảy các vị Vương thái tử đều tạo được cuộc sống hòa hợp. Một ngàn vị ấy cùng với đám quyến thuộc trải qua tám mươi kiếp được thấy sáu mươi ức ba-na-thuật triệu triệu chư Phật Thế Tôn, đều theo chư Phật để có được pháp Tam-muội ấy. Theo như sở nguyện của tâm, tất cả đều được thọ nhận để giữ gìn các cõi Phật.
Này Bồ-tát Hỷ Vương! Bồ-tát muốn biết vị Pháp sư thời ấy hẳn là một người nào xa lạ chăng? Chớ nên nghĩ như thế, vị đó hiện tại chính là Đức Phật A-di-đà. Còn vị quốc vương bấy giờ mang tên là Vô Ưu Duyệt Âm chính là Đức Phật A-súc. Một ngàn vị Vương thái tử kia chính là một ngàn vị Phật xuất hiện trong Bạt-đà kiếp này.
Đức Phật nói tiếp:
–Này Bồ-tát Hỷ Vương! Bấy giờ ba vạn người được nhà vua sai khiến làm công việc túc trực giữ gìn vị Pháp sư ấy, nay chính là Bồ-tát Hỷ Vương cùng với ba ngàn vị Bồ-tát. Thời ấy, do vun trồng công

* Trang 54 *
device

đức nên theo thệ nguyện của mình mà có được phước báo lớn, dẫn tới sự an định thuận hợp, luôn tôn kính đối với pháp bảo Tam-muội, cùng thực hiện con đường tu tập theo hạnh Bồ-tát.
Này Bồ-tát Hỷ Vương! Muốn tu học đạt được pháp Tam-muội đó thì phải đem tâm cung kính thọ trì kinh sách, đọc tụng, lãnh hội thấu đáo, thuyết giảng, cho đến dốc tâm ý phụng hành.
Đức Phật bèn đọc tụng:
Muốn thí hết thảy, an chúng sinh
Gồm đủ các kho đầy ngàn, ức
Nếu có phát tâm giữ đạo quý
Phước công đức ấy không thể ví
Giả như chúng sinh trong mười phương
Đều khiến thành tựu quả Duyên giác
Suốt trong một kiếp cúng dường đủ
Phước ấy chẳng sánh phát tâm đạo
Đều khiến chúng sinh thành Phật đạo
Theo nơi an ổn cúng một kiếp
Nếu có phát tâm giữ đạo quý
Phước ấy lớn lao chẳng thể ví
Nếu kẻ dốc cầu các pháp Phật
Mà chẳng dấy khởi phát tâm đạo
Chẳng bằng giữ lấy bốn câu tụng
Phước ấy như theo giữ tâm đạo
Giả như chúng sinh nơi đời này
Thảy đều tạo lập giữ Phật đạo
Nếu nghe câu ấy mà kính thọ
Phước ấy vượt hơn, tâm dứt sợ
Trăm ngàn ức kiếp như hằng sa
Hết thảy châu báu đầy các cõi
Thường đem cúng dường chư Bồ-tát
Giữ một câu tụng kệ thù thắng
Pháp Tam-muội ấy chẳng thể bàn
Nếu thọ giữ trọn bốn câu tụng

* Trang 55 *
device

Công đức ấy đem giúp Phật đạo
Thảy đều hoan hỷ như chẳng dứt
Mạng khi lâm chung vô số Phật
Tự nhiên hóa hiện nơi trước mắt
Chư Phật khắp cõi trong mười phương
Cùng giúp dấy khởi bốn câu tụng
Mạng khi lâm chung vô số Phật
Đến giúp tâm ấy chẳng chợt quên
Theo đúng sở nguyện nhận chốn sinh
Do diệu lực pháp Tam-muội ấy
Thân luôn an ổn, tâm luôn hòa
Đến tận cõi trời, Thánh hiền an
Chẳng rõ thống khổ đến Phật đạo
Mà khuyên giúp đó gọi dũng mãnh
Vào trăm ngàn ức vô lượng cửa
Kho sáng tối thắng tỏa vô cùng
Uy lực ta trụ tụng tuyên giảng
Nên gắng tu tập pháp Tam-muội
Chư Phật ở đấy nên tụng, giảng
Do vậy mà phải gắng tinh tấn
Chư Phật hiện tại năng tu hành
Chẳng đạt, đời sau mang nặng hối
Liền thấy pháp ấy ở nơi tay
Thanh tịnh hòa hợp cùng phụng hành
Đều là con ta hóa vô tận
Thừa Phật trước sau hiện tâm Từ.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn thuyết giảng về pháp Tam-muội xong, lại dùng pháp ấy mà nhập chánh thọ. Bồ-tát Hỷ Vương cũng thực hiện pháp Tam-muội đó với việc chọn lựa các nhân để hội nhập bảy mươi thứ chánh pháp. Sự chọn lựa ấy chứng tỏ uy thần lớn lao của pháp Tam-muội.
Lúc này, bên trong kinh thành Duy-da-ly cũng như các khu vực ở ngoài thành, mỗi nơi đều có đến tám vạn bốn ngàn dân chúng tụ

* Trang 56 *
device

họp, cùng một tâm niệm và nói với nhau:
–Đức Như Lai là Bậc Chánh Giác Vô Thượng, không dễ gì được gặp trong đời. Ở cõi thế gian hàng bao nhiêu năm mới có một vị Phật xuất hiện, nên ít có dịp được thấy, cùng nghe Đức Phật thuyết pháp. Những nơi chốn nào được Đức Phật thương tưởng, nhớ nghĩ đến nhiều thì những nơi ấy được nhiều an lành, yên ổn. Đức Phật còn rủ tâm Từ bi đối với chư Thiên cùng mọi người trong mười phương. Hiện nay, nơi tĩnh thất, Đức Phật đang nhập pháp Tam-muội. Chúng ta nên mau đến khuyến thỉnh Đức Như Lai ra khỏi pháp chánh định kia để tiếp tục thuyết giảng.
Tức thì đám dân chúng đông đảo gồm cả dân trong và ngoài kinh thành Duy-da-ly ấy cùng nhau tìm đến chỗ Hiền giả Xá-lợi-phất, thưa với Hiền giả:
–Phật xuất hiện ở đời là điều ít có. Những người có được tâm tin đối với Phật cũng đâu phải là điều dễ dàng. Thân mạng con người khó được, chánh pháp giải thoát khó gặp, nếu Đức Như Lai cứ an trụ mãi trong pháp Tam-muội thì ai là người có thể dẫn dắt chúng tôi được tiếp tục trông thấy tâm Từ bi ban phát khắp tất cả mọi loài?
Hiền giả Xá-lợi-phất nghe đám đông dân chúng thành Duy-da-ly trình bày như thế liền rời khỏi chỗ ngồi, sửa lại y phục, rồi đến ngay chỗ Đức Phật, đứng yên nơi phía trước, cất tiếng thưa nhẹ nhàng, lại búng ngón tay thật mạnh, rồi dùng tay vỗ vào hai đầu gối, ý là muốn cho Đức Như Lai từ trong pháp Tam-muội được nhận biết, nhưng vì Đức Phật đang còn nhập chánh định nên Hiền giả không rõ là Đức Như Lai thực hiện pháp Tam-muội này như thế nào. Hiền giả Xá-lợi-phất bèn đến chỗ Hiền giả Mục-kiền-liên, đầu đuôi kể lại hết sự việc vừa rồi cho Hiền giả Mục-kiền-liên nghe. Hiền giả Mục-kiền-liên liền vận dụng diệu lực thần thông của mình, khiến cho khắp Tam thiên đại thiên thế giới đều vang động, rồi Hiền giả đứng nơi cõi Phạm thiên nói lớn:
–Xin được trông thấy Đức Như Lai ra khỏi pháp Tam-muội!
Rốt cuộc, vẫn không thể lay chuyển được Đức Như Lai. Bấy giờ, hai vị Hiền giả này liền tìm đến chỗ Hiền giả A-nhã-câu-luân

* Trang 57 *
device

cùng các vị Hiền giả khác như Ba-đề, Phi-phá, Đại Xứng, Kiêu-hằng-bát, La-vân, Phân-nậu, Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên, Ca-diếp, A-nan, Phân-na, Dư Đại, Kiếp-tân-nô, Hòa Lợi, Bồ-tát Di-lặc cùng với năm ngàn vị Bồ-tát khác, tất cả cùng đi đến chỗ Phật, nhiễu vòng quanh Đức Thế Tôn, rồi các vị, mỗi người lần lượt ngồi vào chỗ mình thường ngồi.
Lại có Tứ đại Thiên vương, Thiên đế Thích, Diễm thiên, Đâu-thuật thiên, Hóa tự tại thiên, cùng với chư Thiên, nhân trong cõi Dục số lượng không thể tính kể, mỗi mỗi vị đều xa giá nghiêm trang cùng đến nơi chỗ Phật an tọa, tất cả đều cung kính đảnh lễ ngang chân Phật, lui ra và đứng qua một bên, thảy đều chắp tay, thân hướng về Đức Phật, bày tỏ mối sầu cảm kính mộ. Các vị Phạm thiên, Quang âm thiên, Thanh tịnh thiên, Ly giới thiên, cho đến Tịnh thân thiên, số lượng chư Thiên tử không thể tính kể hết, tất cả đều một lòng cung kính đảnh lễ hướng về Phật, mong muốn Đức Thế Tôn ra khỏi pháp Tam-muội.

* Trang 58 *
device

 
Đại Tập 54 - Bộ Kinh Tập I - Số 425 -> 440