LOGO VNBET
SỐ 579
 
 KINH ƯU-BÀ-DI TỊNH HẠNH PHÁP MÔN
 
Hán dịch: Mất tên người dịch, nay phụ vào dịch phẩm
đời Bắc Lương.
 
QUYỂN THƯỢNG
 
Phẩm 1: TU HÀNH
 
 Tôi nghe như vầy:
Một thuở nọ, Đức Phật ở trong cung điện Hoan hỷ, vườn Phất-bà-la của Di-già-la mẫu (Tỳ-xá-khư mẫu) thuộc nước Xá-vệ. Lúc này, Tỳ-xá-khư mẫu cùng một ngàn năm trăm thanh tín Ưu-bà-di đi đến chỗ Phật, cúi đầu lạy sát chân, rồi lui ngồi qua một bên.
Phật bảo:
–Này Tỳ-xá-khư! Sáng sớm con đến đây có duyên sự gì?
Tỳ-xá-khư mẫu thưa Phật:
–Bạch Thế Tôn! Trước đây con đã nghe Như Lai nói lược qua về pháp vô thượng sâu xa, khó hiểu, tên là Ưu-bà-di tịnh hạnh. Cúi xin Thế Tôn hãy thương xót chúng con mà giảng nói phân biệt về tướng của pháp vi diệu ấy. Để khi nghe pháp này rồi, về sau chúng con sẽ thường yên ổn và an vui trong cõi trời, người cho đến khi đạt được Chánh giác.
Phật bảo Tỳ-xá-khư:
–Lành thay, lành thay! Này thiện nữ! Trong vô lượng kiếp thuở

* Trang 951 *
device

xa xưa, con luôn thích nghe pháp và đã cùng quyến thuộc từng thỉnh cầu ta giảng nói pháp này.
Nghe Phật nói về nhân duyên thuở trước, Tỳ-xá-khư mẫu vui mừng khôn xiết và thưa Phật.
–Bạch Thế Tôn! Cúi xin Như Lai giảng nói để con được hiểu rõ hơn.
Phật nói:
–Này Tỳ-xá-khư! Hãy lắng nghe! Ta sẽ giảng rõ cho con. Này thiện nữ! Trong vô lượng kiếp lâu xa về quá khứ, có nước tên Ba-la-nại, vua hiệu là Phạm Dữ, phu nhân tên Bạt-đà-la. Vua có một người con gái tên là Liên Hoa, hình tướng đoan trang, xinh đẹp, bẩm tánh nhu mì, hiền dịu, thông sáng, có ý chí học hỏi, siêng năng dũng mãnh, thường tu hạnh thiện, những kỹ thuật ở đời đều thông đạt và luôn được cha mẹ yêu chuộng.
Bấy giờ, trong núi Tuyết có một Phạm chí tên Na-la-đà, siêng năng tu phạm hạnh, đắc được năm thần thông, luôn giảng pháp cho các đại chúng, nên tiếng tốt đồn xa lan khắp bốn phương. Bấy giờ cô gái ấy nghe bạn bè khen ngợi Phạm chí có thần thông và những công đức khó lường như vậy, lại còn tuyên dương diệu pháp cho đại chúng nữa, nên cô ta rất vui mừng và tự nghĩ: “Người thiện khó gặp, pháp cũng khó nghe được, thân mạng khó bảo tồn, cho nên ta phải mau đến đó để lễ lạy và hỏi pháp.” Nghĩ vậy rồi, cô đến thưa cha mẹ: “Con nghe mọi người khen ngợi Phạm chí, tu hành đạo đức cao vời vợi. Cúi xin cha mẹ hãy cho phép con đến chỗ Phạm chí để thọ hưởng pháp vị.”
Cha mẹ cô nói: “Tuổi con còn nhỏ dại, lớn lên trong cung cấm, tánh tình lại yếu mềm, chưa từng ra khỏi cung. Nay núi Tuyết xa xôi, đường đi gian nan, hiểm trở, làm sao có thể đến đó được?
Nước ta có nhiều Phạm chí kỳ cựu, thần thông trí tuệ vô song, giỏi giảng nói diệu pháp sâu xa. Vì con, ta sẽ thỉnh mời họ vào cung nội để giảng dạy đạo pháp, con sẽ tha hồ học hỏi, không cần phải đi xa.”
Cô gái lại xin: “Thưa cha mẹ! Các Phạm chí kỳ cựu trong nước Ba-la-nại đều tôn trọng và suy tìm đạo thuật của riêng họ. Cúi xin

* Trang 952 *
device

cha mẹ hãy cho phép con được nghe pháp giải thoát.”
Vì quá yêu thương nên vua không muốn trái ý con, đành miễn cưỡng cho phép. Vua cha liền ra lệnh bốn vị quan và thể nữ trong cung chuẩn bị đầy đủ vật cúng dường.
Quan thần tâu vua: “Những gì đại vương ra lệnh, chúng thần đều chuẩn bị xong rồi.”
Khi ấy, vương nữ nghĩ: “Ta cầu nghe được pháp, nay đã đúng lúc.”
Rồi cô cùng một ngàn năm trăm thể nữ trong cung, chở hương hoa đến chỗ Phạm chí để nghe pháp.
Phật bảo:
–Này Tỳ-xá-khư! Vương nữ thuở đó chính là con, còn Phạm chí ở núi Tuyết chính là ta. Lúc xưa, con đã từng cầu nghe pháp cũng như nay. Bây giờ ta sẽ phân biệt giảng nói về pháp môn Tịnh hạnh cho con.
Tỳ-xá-khư thưa:
–Lành thay! Bạch Thế Tôn! Như Lai có lòng lành lớn, thương xót khắp cả chúng sinh, cúi xin Ngài giảng nói con sẽ tu hành theo.
Phật nói:
–Này Tỳ-xá-khư! Các ngươi hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ giảng nói rõ pháp môn Ưu-bà-di Tịnh hạnh cho các con. Pháp ấy được chư Phật hộ niệm, con cần phải tinh tấn tu học. Này Tỳ-xá-khư! Nếu thiện nữ nào lìa bỏ bạn ác, gần gũi bạn lành, người đáng cúng dường thì nên cúng dường, đó gọi là Ưu-bà-di Tịnh hạnh.
Nhờ nhân đời trước được ở nơi đất nước yên ổn, gọi là Tịnh hạnh.
Cúng dường cha mẹ, giúp việc cho chồng, chăm sóc con cái, gọi là Tịnh hạnh.
Đừng coi thường tội nhỏ, việc cần làm thì làm theo thứ lớp, gọi là Tịnh hạnh.
Ưa thích bố thí, tu tập thực hành theo pháp, yêu mến quyến thuộc bạn bè, gọi là Tịnh hạnh.
Tránh xa rượu chè, không làm các điều ác, luôn nói lời yêu thương, gọi là Tịnh hạnh.
Học nhiều kỹ thuật, đầy đủ oai nghi. Nghe được điều gì thì nghiên cứu, ghi nhớ, không để quên mất, gọi là Tịnh hạnh.

* Trang 953 *
device

Có lòng cung kính tôn trọng mọi người, bớt ham muốn, biết đủ, thọ ân thì phải báo đáp, gọi là Tịnh hạnh.
Không bị tám pháp làm động, tánh tình hòa nhã, gọi là Tịnh hạnh.
Không lo buồn, thường được an ổn. Tất cả những việc phải làm đều không lùi bước và không ngừng nghỉ, gọi là Tịnh hạnh.
Đối với pháp thiện không biếng nhác, mau chứng Niết-bàn giải thoát vô thượng, gọi là Tịnh hạnh.
Nhẫn nhục, vâng lời, thường muốn gần gũi Sa-môn, thân hành động chân chánh, làm theo nghiệp nhà, gọi là Tịnh hạnh.
Dùng lửa trí thiêu đốt phiền não, đầy đủ pháp thiện, dũng mãnh không thoái lui, gọi là Tịnh hạnh.
Không chê bai người, không đánh đập, khéo bảo vệ các căn, giữ tâm không tán loạn, gọi là Tịnh hạnh.
Tâm chân thật không tham lam, ưa thích chỗ thanh vắng, siêng năng tu tập, không bao giờ thoái lui, gọi là Tịnh hạnh.
Làm tăng trưởng đạo Bồ-đề, không để thoái chuyển, nhàm chán ba cõi như thây chết, quán sát sâu xa như vậy, gọi là Tịnh hạnh.
Ưa bỏ những gì khó bỏ, những giới cấm khó giữ thì giữ cho tốt đẹp, thích tu thiền định, không bị tán loạn, gọi là Tịnh hạnh.
Với đạo Bồ-đề, vô lượng chúng sinh có tư tưởng thoái lui, nhưng ta tiến tới. Còn tất cả người tiến tới thì ta không được thoái lui, đi đứng cũng như vậy, gọi là Tịnh hạnh.
Tất cả chúng sinh bị thiêu đốt căn lành thì ta làm cho chúng phát sinh, mọi người thích phát sinh căn bất thiện thì ta liền diệt nó. Sinh tử không cùng ta ở một bên ấy, gọi là Tịnh hạnh.
Sau khi nghe Phật dạy, Tỳ-xá-khư vui mừng hớn hở chưa từng có và thưa Phật:
–Bạch Thế Tôn! Ưu-bà-di pháp môn có bao nhiêu hạnh?
Phật bảo:
–Này Tỳ-xá-khư! Có mười pháp phải làm, con cần tu học. Thế nào là mười?

* Trang 954 *
device

1.Gặp người có lỗi bỏn sẻn thì phải thích tu hạnh bố thí.
2.Gặp người có lỗi nơi năm căn thì phải thích giữ giới cấm.
3.Gặp người tại gia có lỗi thì phải thích xuất gia.
4.Gặp người có lỗi nghi ngờ thì phải thích tu trí tuệ.
5.Gặp người có lỗi làm biếng thì phải thích siêng năng tấn tới.
6.Gặp người có lỗi sân giận thì phải thích tu hạnh nhịn nhục.
7.Gặp người có lỗi nói dối thì phải thích sự trung thành, tin cậy.
8.Gặp người có lỗi loạn tâm thì phải thích thiền định.
9.Gặp người có lỗi tội khổ thì phải thích tu Từ bi.
10.Gặp người có lỗi về khổ vui thì phải thích thực hành tâm xả bỏ.
 Muốn nói rõ lại nghĩa trên, Đức Thế Tôn nói kệ:
Từ thí được giàu lớn
Xả bỏ thân yêu quý
Lìa dục, vui xuất gia
Giữ giới thâu các căn.
Tu học được trí tuệ
Tinh tấn đoạn biếng nhác
Nhẫn nhục trừ sân giận
Nói thật không hư dối.
Gặp tám pháp thế gian
Tâm an trụ bất động
Tâm luôn thích thiền định
Không bao giờ tán loạn.
Từ bi lợi chúng sinh
Tu lìa bỏ khổ lạc
Nếu ai hành pháp này
Gọi là đại dũng mãnh.
Được qua bờ biển pháp
Mà chứng đạo Bồ-đề.
Nghe Phật nói vậy, Tỳ-xá-khư rất vui mừng và thưa Phật:
–Bạch Thế Tôn! Có bao nhiêu điều cần phải lìa bỏ? Có bao nhiêu pháp cần phải gần gũi?
Phật bảo Tỳ-xá-khư:

* Trang 955 *
device

–Có năm mươi tám pháp cần phải tu học, cũng cần lìa bỏ. Đó là gì? Nghĩa là xa lìa tất cả các pháp bất tịnh, gần gũi pháp tịnh. Nên xa lìa pháp ác, gần gũi pháp thiện. Không đáng nuôi dưỡng thì không nuôi dưỡng. Chỗ không nên đến thì đừng đến gần gũi. Chỗ đáng đến thì nên đến. Việc không nên làm thì không bao giờ làm. Việc đáng làm thì tạo mọi cách để làm. Việc phi pháp mà cầu được thì không nên dùng. Nếu đúng như pháp thì nên thọ dụng. Điều phục thân tâm thích ở nơi thanh vắng. Từ bỏ lời lừa dối, thực hành chánh ngữ. Tránh xa lười biếng, thích hành tinh tấn. Thâu tóm các căn không cho phóng túng. Tâm khiêm nhường, cung kính, bỏ cao ngạo ngã mạn. Thường thực hành nhẫn nhục không sân giận. Không tranh cãi kiện tụng, hòa hợp với đại chúng. Xả bỏ không ở nơi che giấu nhưng sống ở nơi hiển lộ ra. Lìa bỏ lời vô nghĩa, luôn nói lời đúng nghĩa. Tránh sinh tà mạng, sống bằng chánh mạng. Khéo lượng thân mình, mà thọ nhận thức ăn uống. Không thích cầu nhiều mà luôn biết đủ. Không cứng cõi mà sống mềm mại như đất. Tu tập lời hòa nhã, tránh xa lời cộc cằn. Tránh xa chỗ không an lạc mà sống nơi an lạc. Bỏ sự bất đồng ý kiến để cùng nhau sống chung. Lìa chỗ không có học vấn, để đi đến chỗ có học vấn. Nhàm chán ba cõi không sống trong ba cõi. Tránh tất cả tạo tác nên trụ vào không chỗ tạo tác. Bỏ ngã kiến tu học pháp không.
Này Tỳ-xá-khư! Trên đây là năm mươi tám pháp đầu tiên con cần phải tu hành.
Vì muốn làm rõ lại nghĩa trên nên Đức Thế Tôn nói kệ:
Việc học thuận tất cả
Trước sau sẽ không thừa
Xa lìa và gần gũi
Làm xong được an lạc.
Đã học tất cả pháp
Sở nguyện đều đầy đủ
Bỏ thân mạng yêu quý
Mà chứng đạo Vô thượng.
Nếu ai học như vậy
Đối với môn Tịnh hạnh

* Trang 956 *
device

Không chỉ riêng Thanh văn
Duyên giác và Bồ-tát.
Ở trong vô lượng kiếp
Khen công đức người ấy.
Sau khi Phật nói kệ, Tỳ-xá-khư mẫu lòng vui mừng hỏi thêm:
–Bạch Thế Tôn! Pháp môn Tịnh hạnh có bao nhiêu loại gọi là đại hạnh.
Phật nói:
–Có ba đại hạnh, con phải tu hành. Ba đại hạnh đó là:
1.Đại tín tâm.
2.Đại tinh tấn.
3.Đại trí tuệ.
Tỳ-xá-khư thưa:
–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là đại tín tâm?
Phật nói:
–Đại tín tâm là tin Phật, Phật là Bậc Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Só, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phậ Thế Tôn. Đây gọi là lòng tin sâu rộng.
Tỳ-xá-khư hỏi:
–Sao gọi là đại tinh tấn?
Phật nói:
–Nếu trong lúc sáng suốt tu hành để tiến tới, có thể xa lìa vứt bỏ tất cả pháp ác thì cũng cần phải giữ gìn tất cả pháp thiện. Với pháp thiện thì dũng mãnh không dừng nghĩ. Đấy gọi là đại tinh tấn.
Tỳ-xá-khư hỏi:
–Sao gọi là đại trí tuệ?
Phật nói:
–Người nào có trí tuệ, mắt sẽ thấy các pháp sinh diệt, bậc Thánh là phải vượt qua diệt hết khổ vô thường. Đó gọi là đại trí tuệ.
Trên đây là ba đại hạnh.
Để làm rõ lại nghĩa trên, Đức Thế Tôn nói kệ:
Với đại tín tâm
Ghi sâu không lìa

* Trang 957 *
device

Các hạnh đầy đủ
Để cầu Bồ-đề.
Với đại tinh tấn
Vững vàng không bỏ
Cần tu cho tròn
Để cầu Bồ-đề.
Với đại trí tuệ
Hiểu rõ rốt ráo
Đủ Ba-la-mật
Để cầu Bồ-đề.
Pháp đã tăng trưởng
Nghe biết đại danh
Tăng trưởng tận rồi
Tùy ý tu hành.
Nhờ biết như vậy
Hiểu pháp hơn người.
Sau khi Phật nói kệ này, Tỳ-xá-khư mẫu lòng rất vui mừng, lại hỏi thêm Phật:
–Bạch Thế Tôn! Pháp môn Ưu-bà-di Tịnh hạnh muốn bước lên Phật địa thì có bao nhiêu hạnh?
Phật nói:
–Này Tỳ-xá-khư! Có bốn hạnh để bước lên Phật địa. Đó là:
1.Tinh tấn không biếng nhác.
2.Trí tuệ không mê lầm.
3.Định tâm không thoái lui.
4.Hành Từ bi làm lợi ích cho chúng sinh.
Này Tỳ-xá-khư! Nhờ bốn pháp này mà bước lên Phật địa.
Để làm rõ lại nghĩa trên, Đức Thế Tôn nói kệ:
Tinh tấn không biếng nhác
Trí tuệ không mê hoặc
Thiền định không thoái lui
Hành từ lợi chúng sinh
Nhờ bốn pháp này đây
Mà chứng Nhất thiết trí.

* Trang 958 *
device

Sau khi Phật nói kệ này. Tỳ-xá-khư mẫu rất vui mừng lại hỏi Phật:
–Bạch Thế Tôn! Có bao nhiêu pháp để an trụ đắc quán? Làm thế nào để pháp tập hợp lại không bị phân tán và pháp hợp có bao nhiêu pháp?
Phật nói:
–Này Tỳ-xá-khư! Có bốn pháp để an trụ đắc quán. Đó là Từ, Bi, Hỷ và Xả. Trong đó pháp tập hợp không bị phân tán là khi đắc trí Thanh văn, trí Bích-chi-phật, trí Nhất thiết trí và trí Phật. Pháp hợp có ba mươi hai pháp quán đó là:
1.Niệm Phật.
2.Niệm Pháp.
3.Niệm Tăng.
4.Niệm Giới.
5.Niệm Thí.
6.Niệm Thiên.
7.Niệm A-na (Sổ tức quán).
8.Niệm Bát-na (Niệm tử).
 9.Quán tưởng diệt. 10.Quán tưởng thân.
11.Quán tưởng tịch tĩnh.
12.Quán tưởng địa.
13.Quán tưởng thủy.
14.Quán tưởng hỏa.
15.Quán tưởng phong.
16.Quán tưởng xanh.
17.Quán tưởng vàng.
18.Quán tưởng đỏ.
19.Quán tưởng trắng.
20.Quán tưởng hư không.
21.Quán tưởng thức xứ.
22.Quán tưởng phình trướng.
23.Quán tưởng hôi thối.
24.Quán tưởng tuôn chảy.

* Trang 959 *
device

25.Quán tưởng hư nát.
26.Quán tưởng phân tán nơi nơi.
27.Quán tưởng rơi rớt tứ tung.
28.Quán tưởng xương thịt ngổn ngang.
29.Quán tưởng xương ướt.
30.Quán tưởng xương màu trắng.
31.Quán tưởng tất cả vô thường.
32.Quán tưởng tất cả các pháp là vô ngã.
Đó là ba mươi hai pháp quán cùng với bốn vô lượng tâm, gọi là an trụ đắc quán trí Thanh văn, trí Bích-chi-phật, trí Nhất thiết trí và trí Phật là pháp tập hợp không bị phân tán.
Đức Thế Tôn nói lại bằng kệ:
Nếu dùng hạ quán
Đắc trí Thanh văn
Khéo tu trung quán
Đắc trí Duyên giác
Thượng quán gồm đủ Đắc trí Bồ-đề.
Phật nói kệ này xong, Tỳ-xá-khư mẫu lòng rất vui mừng và lại hỏi Phật:
–Bạch Thế Tôn! Đối với pháp môn bất tịnh nên trụ tâm như thế nào để mau lìa phiền não và thông đạt sáu môn?
Phật bảo Tỳ-xá-khư:
–Có ba mươi hai pháp môn, đối với bất tịnh thì tâm luôn tìm chỗ vui trụ, để mau lìa phiền não thông đạt sáu môn. Ba mươi hai pháp môn đó là gì? Nghĩa là trong thân có: lông, tóc, móng, ghèn, răng, da, thịt, gân, xương, thận, mỡ lá, mở miếng, tủy, não, tim, lá lách, thận, gan, mật, đại trường, tiểu trường, lá lách, phổi, dạ dày, bụng, máu, đàm, mồ hôi, nước giải, nước mắt, nước mũi và phân rất là bất tịnh.
Này Tỳ-xá-khư! Đó là ba mươi hai điều quán bất tịnh làm cho tâm thích trụ vào pháp môn Tịnh hạnh, mau xả bỏ phiền não, được thông đạt sáu môn.
Để làm rõ lại nghĩa trên, Đức Thế Tôn nói kệ:

* Trang 960 *
device

Giống như dòng sông
Đều vào biển cả
Trong pháp môn này
Dòng quán cũng vậy.
Khéo quán thô tế
Tịnh và bất tịnh
Pháp vô thượng trí
Phật đều thông đạt.
Nghe Phật nói kệ này, Tỳ-xá-khư mẫu rất vui mừng và lại hỏi Phật:
–Bạch Thế Tôn! Đối với pháp môn Tịnh hạnh, Bồ-tát có bao nhiêu sự ràng buộc trụ vào thế gian mà không được giải thoát?
Phật bảo:
–Này Tỳ-xá-khư! Pháp môn Tịnh hạnh, trước các Bồ-tát có bảy thứ ràng buộc trụ vào thế gian. Bảy pháp đó là:
1.Nếu ta được độ mà thế gian chưa độ thì ta sẽ độ cho.
2.Nếu ta đã giải thoát mà thế gian chưa giải thoát thì ta sẽ giải thoát cho họ.
3.Nếu ta đã giác ngộ mà thế gian chưa giác ngộ thì ta sẽ giác ngộ cho họ.
4.Nếu ta đã điều phục mà thế gian chưa điều phục thì ta sẽ điều phục cho họ.
5.Nếu ta đã an vui mà thế gian chưa an vui thì ta sẽ làm cho họ được an vui.
6.Nếu ta thành đạo mà thế gian chưa thành đạo thì ta sẽ dẫn dắt cho họ thành đạo.
7.Nếu ta đã được Niết-bàn mà thế gian chưa được Niết-bàn thì ta sẽ tạo điều kiện để họ nhập Niết-bàn.
Này Tỳ-xá-khư! Đó là bảy sự ràng buộc mà Bồ-tát phải trụ ở thế gian, không được giải thoát.
Để làm rõ lại nghĩa trên, Đức Thế Tôn nói kệ:
Độ rồi, độ chúng sinh
Thoát rồi, thoát chúng sinh
Giác rồi, giác chúng sinh

* Trang 961 *
device

Điều rồi, điều chúng sinh.
An rồi, an chúng sinh
Đạt rồi, dạy chúng sinh
Ta đã được Niết-bàn
Khiến chúng sinh cũng được.
Ba cõi như nhà lửa
Tham dục như lưới bùn
Tất cả đều diệt sạch
Để chứng đạo Bồ-đề.
Thế Tôn nói kệ này xong, Tỳ-xá-khư mẫu rất vui mừng lại hỏi Phật:
–Bạch Thế Tôn! Với pháp môn Tịnh hạnh thì phải tu bao nhiêu hạnh thiện để tròn đầy tất cả pháp?
Phật nói:
–Tu ba hạnh thiện để tất cả pháp được tròn đầy. Ba pháp thiện là:
1.Hạnh thiện thuộc thân.
2.Hạnh thiện thuộc khẩu.
3.Hạnh thiện thuộc ý.
Ba hạnh thiện này đầy đủ thì tất cả pháp được tròn đầy, nghĩa là bố thí được tròn đầy, trì giới được tròn đầy, xuất gia được tròn đầy, được trí tuệ tròn đầy, được tinh tấn tròn đầy, được nhẫn nhục tròn đầy, được chân thật tròn đầy, thệ nguyện được tròn đầy, được Từ, Bi, Hỷ, Xả tròn đầy, được bốn tư tròn đầy, được bốn Định tròn đầy, được bốn Thần túc tròn đầy, được năm Căn tròn đầy, được năm Lực tròn đầy, được bảy Bồ-đề tròn đầy, được tám Chánh đạo tròn đầy, được chín trí tròn đầy, được mười Lực tròn đầy, được trí đạo Tu-đà-hoàn tròn đầy, được trí quả Tu-đà-hoàn tròn đầy, được trí đạo Tư-đà-hàm tròn đầy, được trí quả Tư-đà-hàm tròn đầy, được trí đạo A-na-hàm tròn đầy, được trí quả A-na-hàm tròn đầy, được trí đạo A-la-hán tròn đầy, được trí quả A-la-hán tròn đầy, được bốn trí tròn đầy đó là pháp trí, vị tri trí, danh tự trí và tha tâm trí tròn đầy, được tận trí tròn đầy, được vô sinh trí tròn đầy, được song thần lực tròn đầy, được đại Bi Tam-muội trí tròn đầy, được Nhất thiết trí tròn

* Trang 962 *
device

đầy, được vô ngại trí tròn đầy.
Này Tỳ-xá-khư! Đó gọi là tu ba hạnh thiện đầy đủ sẽ làm cho tất cả các pháp được tròn đầy.
Bấy giờ Thế Tôn nói kệ:
Tu ba hạnh thiện rồi
Tròn đầy tất cả pháp
Các pháp tròn đầy rồi
Thì chứng đạo Bồ-đề.
Phật nói kệ xong, Tỳ-xá-khư mẫu rất vui mừng, lại hỏi Phật:
–Bạch Thế Tôn! Trong pháp môn Tịnh hạnh có bao nhiêu niệm cho bậc Đại nhân?
Phật nói:
–Có tám niệm cho bậc Đại nhân. Tám niệm đó là:
1.Ít muốn chẳng phải là không ít muốn.
2.Biết đủ chẳng phải là không biết đủ.
3.Vắng lặng chẳng phải là không vắng lặng.
4.Xa lìa chẳng phải là không xa lìa.
5.Tinh tấn chẳng phải là không tinh tấn.
6.Thiền định chẳng phải là không thiền định.
7.Trí tuệ chẳng phải là không trí tuệ.
8.Vô ngại chẳng phải là không vô ngại.
Này Tỳ-xá-khư! Đó là tám niệm của bậc Đại nhân.
Để làm rõ lại nghĩa trên, Đức Thế Tôn nói kệ:
Khéo định các niệm
Niệm phi pháp thiện
Nếu hủy niệm này
Để rồi chán lìa.
Khéo định các niệm
Niệm phi pháp thiện
Quán rõ pháp tướng
Bước tới vô thượng.

* Trang 963 *
device

Phẩm 2: TU HỌC (Phần 1)
 
Đức Phật nói kệ xong, Tỳ-xá-khư mẫu lòng rất vui mừng, lại hỏi Phật:
–Bạch Thế Tôn! Đối với pháp môn Tịnh hạnh, Bồ-tát mới tu học phải tu học như thế nào để chứng đắc Bồ-đề?
Phật nói:
–Bồ-tát mới tu học có năm mươi điều tu học để chứng đắc Bồ-đề, năm mươi điều đó là gì?
Đó là: Nhập sâu vào pháp tánh, không xả bỏ, không giảm, không đọa, không thoái lui, tu học tâm xả, tu học đa văn, tu học oai nghi, tu học chiến thắng quân ma, tu học ánh sáng, tu học tướng tốt của Phật, tu học giới cấm, tu học Tam-muội, tu học Bát-nhã, tu học đại Bát-nhã, tu học hạnh thiện, tu học đại hạnh thiện, tu học sắc tướng, tu học không hai lời, tu học như ý túc, tu học thượng như ý túc, tu học đại như ý túc, tu học diệu như ý túc, tu học ý hành, tu học ý hành đã có, tu học đại ý hành, tu học chỗ thâu tóm của Phật, tu học tự tại, tu học tướng của tâm Phật, tu học tướng của tâm viên mãn, tu học thần thông, tu học đại thần thông, tu học chân thật, tu học làm vua thống lãnh bằng chánh pháp để an trụ được lâu dài, tu học đến chỗ cùng cực, tu học cõi Phật, tu học thọ mạng của Phật, tu học cây Bồ-đề, tu học hoa sen, tu học pháp Phật giảng, tu học đại pháp luân, tu học chuyển pháp luân, tu học Thiện tri thức, tu học không lìa bỏ chúng sinh, tu học tay viên mãn, tu học áo bằng cây Kiếp ba, tu học tòa Sư tử, tu học nằm nghiêng hông bên phải, tu học vị thức ăn của Phật, tu học trú xứ, tu học tướng thủy của Như Lai.
Này Tỳ-xá-khư! Đó là năm mươi pháp học mà Bồ-tát mới tu học cần phải tu học để thể nhập sâu vào “không bỏ, không giảm, không đọa, không thoái lui”, con nên biết điều ấy.
Thế Tôn nói kệ:
Đầy đủ tất cả hành
Để cầu pháp vắng lặng

* Trang 964 *
device

Ánh sáng chiếu cõi Phật
Vì thương xót chúng sinh.
Dẫn đường cho chúng sinh
Thoát khỏi nạn ba cõi
Tất cả pháp không cùng
Như Lai đã thấu đạt.
Sau khi Thế Tôn nói kệ này, Tỳ-xá-khư mẫu lòng rất vui mừng, lại hỏi Phật:
–Bạch Thế Tôn! Như Lai có bao nhiêu ánh sáng, Bồ-tát mới tu học phải tu hành như thế nào?
Phật nói:
–Này Tỳ-xá-khư! Như Lai có sáu loại ánh sáng. Sáu loại đó là:
1.Ánh sáng xanh.
2.Ánh sáng vàng.
3.Ánh sáng đỏ.
4.Ánh sáng trắng.
5.Ánh sáng hồng.
6.Ánh sáng màu sáng trong.
Này Tỳ-xá-khư! Đó là sáu loại ánh sáng của Như Lai. Bồ-tát mới tu học phải tu hành như thế nào để được ánh sáng này?
Này Tỳ-xá-khư! Vì Bồ-tát tu học theo ánh sáng màu xanh nên luôn dùng hoa xanh, hương xoa xanh, hương bột xanh, vải xanh, châu báu xanh để cúng dường. Nếu nhập thiền định thì thường quán màu xanh. Làm vậy xong, nguyện đời vị lai được có ánh sáng màu xanh.
Bồ-tát tu học ánh sáng màu vàng như thế nào? Nghĩa là thường lấy hoa vàng, hương xoa vàng, hương bột màu vàng, vải vàng, châu báu vàng để cúng dường. Nếu vào thiền định thì thường quán màu vàng. Sau khi làm vậy nguyện đời vị lai được có ánh sáng màu vàng.
Bồ-tát tu học ánh sáng đỏ như thế nào? Nghĩa là thường lấy hoa đỏ, hương xoa đỏ, hương bột màu đỏ, vải đỏ, châu báu đỏ để cúng dường. Nếu khi nhập thiền định thì luôn quán màu đỏ. Làm như vậy rồi nguyện đời vị lai được có ánh sáng màu đỏ.
Bồ-tát tu học ánh sáng màu trắng như thế nào? Nghĩa là thường lấy hoa trắng, hương xoa trắng, hương bột màu trắng, vải trắng, châu

* Trang 965 *
device

báu trắng để cúng dường. Nếu nhập thiền định thì thường quán màu trắng. Làm vậy rồi, nguyện đời vị lai được có ánh sáng màu trắng.
Bồ-tát tu học ánh sáng màu hồng như thế nào? Nghĩa là thường lấy hoa màu hồng, hương xoa hồng, hương bột hồng, vải hồng, châu báu hồng để cúng dường. Nếu nhập thiền định thì luôn quán màu hồng. Làm vậy rồi, nguyện đời vị lai được có ánh sáng màu hồng.
Bồ-tát tu học màu ánh sáng sáng trong như thế nào? Nghĩa là thường lấy hoa màu sáng trong, hương xoa sáng trong, hương bột sáng trong, vải sáng trong, châu báu sáng trong để cúng dường. Nếu nhập thiền định thì luôn quán ánh sáng sáng trong. Làm vậy rồi, nguyện đời vị lai được có ánh sáng rực rỡ sáng trong.
Này Tỳ-xá-khư! Đó gọi là Bồ-tát tu học sáu thứ ánh sáng của Như Lai.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ:
Ánh sáng Phật có sáu
Ánh sáng màu xanh, vàng
Màu đỏ, trắng và hồng
Tướng sáng chiếu rất sáng.
Nếu người có trí tuệ
Luôn siêng năng tu hành
Ai thích ánh sáng đẹp
Nên học hạnh rộng lớn.
Cúng dường hoa, hương, đèn
Dâng lên Đấng Vô thượng
Tu học sáu loại hạnh
Nguyện gì cũng thành tựu.
Sau khi Phật nói kệ. Tỳ-xá-khư mẫu lòng rất vui mừng, lại hỏi Phật:
–Bạch Thế Tôn! Tướng của bậc Đại nhân có bao nhiêu loại và Bồ-tát mới tu học phải tu học như thế nào?
Phật nói:
–Tướng của bậc Đại nhân có ba mươi hai. Bồ-tát tu học thì có hai mươi hạnh hợp lại với tướng Đại nhân thành hai đạo và không có dư.

* Trang 966 *
device

Hai đạo đó là:
1.Nếu người tại gia thì được làm Chuyển luân thánh vương cai trị bốn thiên hạ, chiến thắng các nước và đầy đủ bảy báu: Xe vàng báu, voi trắng báu, ngựa trắng báu, ma-ni báu, ngọc nữ báu, thần giữ kho báu, chủ binh báu.
Lại còn có ngàn người con dũng mãnh oai hùng có thể chiến thắng quân địch, tận cùng bờ biển lớn, đều dùng chánh pháp để hàng phục chứ không dùng binh trượng.
2.Còn như người xuất gia thì được thành Phật là bậc tối tôn, đệ nhất trong cõi trời và người, có đầy đủ ba mươi hai tướng của bậc Đại nhân.
Ba mươi hai tướng đó là gì? Đó là thân màu vàng ròng, ánh sáng tròn chiếu rộng một tầm màu vàng sáng rực, thân như Phạm thiên cao thẳng, sau cổ có ánh sáng như mặt trời, đỉnh có nhục kế, tóc xanh biếc, thân Phật tròn đầy như cây Ni-câu-luật, giữa chặng mày có lông như Đâu-la-miên, mí mắt trên dưới khép kín nhau, tròng con mắt màu xanh biếc, lưỡi che cả mặt, tiếng như Phạm thiên có tám loại như tiếng Ca-lăng-tần-già, miệng có bốn mươi cái răng, răng trắng đều khít, má như sư tử, da dẻ mịn màng bụi nhơ không dính, mỗi lỗ chân lông có một sợi mềm mại màu xanh biếc, các lông đều xoay về bên phải, ngực như sư tử, ngực có chữ vạn, bảy chỗ đầy đặn, kẽ tay và kẽ chân có màng mỏng dính lại, ngón tay thon dài, hai tay nắm khít nhau, đứng tay dài quá đầu gối, tướng âm mã tàng, gót chân đầy đặn như bánh xe có một ngàn căm. Đó là ba mươi hai thân tướng của bậc Đại nhân.
Này Tỳ-xá-khư! Hai mươi điều để tu được tướng của bậc Đại nhân là gì? Về thuở xa xưa, khi Như Lai còn là người phàm, đối với pháp thiện ta thành tựu vững vàng không phải là dễ thọ trì. Thân làm điều thiện, miệng nói điều thiện, tâm nhớ nghĩ làm thiện, đem tất cả ban cho chúng sinh, giữ vững giới cấm, luôn an trú trong thanh tịnh, cúng dường cha mẹ, Sa-môn, Bà-la-môn, bậc kỳ cựu đức lớn và sáu thân quyến thuộc. Đối với pháp thiện ta đều thực hành đủ. Ta tu tập trọn vẹn và tích trữ nghiệp thiện rất nhiều, sinh tử vô lượng lần, cho đến còn một đời nữa thôi (Nhất sinh bổ xứ) thì tự tại như ý, hưởng sự

* Trang 967 *
device

sướng vui ở cõi trời như: Thọ mạng, sắc lực, ngôi vua, tiếng tăm, sắc, thanh, hương, vị, xúc. Sau khi thọ sự sướng vui ở cõi trời, sinh xuống nhân gian được tướng của bậc Đại nhân, khi chân vừa đạp xuống đất thì khít với mặt đất, dở chân lên còn lại dấu bánh xe, mu bàn chân đầy đặn giống như mu rùa. Nhờ tướng này, nếu là tại gia thì được làm Chuyển luân thánh vương, nếu xuất gia thì được chứng Chánh đẳng Bồ-đề Vô thượng, không còn sinh tử, đạt được Niết-bàn thường lạc. Oan gia trong ngoài, Phạm, Ma, Sa-môn, Bà-la-môn không thể làm hại được. Đó gọi là Phật.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ:
Các pháp đều nhu hòa
Luôn giữ trai giới cấm
Bố thí tâm bình đẳng
Quán kỹ pháp vô thường.
Tất cả nghiệp đã tạo
Tâm thọ trì kiên cố
Nhờ có hành nghiệp này
Thường sinh lên cõi trời.
Hưởng sướng vui ở đó
Sau sinh vào loài người
Hưởng phước báu thế gian
Dưới chân được bằng phẳng.
Đạp xuống đều khít đất
Đất in hình bánh xe
Tại gia hay xuất gia
Đều có tướng như vậy.
Dù Phạm thiên, Ma vương.
Sa-môn, Bà-la-môn
Tất cả các oan gia
Đều phải bị hàng phục.
Xuất gia hành học đạo
Đoạn hẳn nguồn sinh tử
Các hành đã đầy đủ
Chứng đắc bậc Vô thượng.

* Trang 968 *
device

Lại nữa, này Tỳ-xá-khư! Tu hành như thế nào để có tướng bánh xe ngàn căm? Thuở xa xưa khi Như Lai còn là người phàm luôn gánh vác cho chúng sinh, dẹp trừ sự sợ hãi cho họ, bố thí niềm vui không khiếp sợ. Nếu được ai bố thí, ta đều đem cho chúng sinh chứa nhóm nghiệp thiện cao lớn không thể tính kể. Sau khi qua đời, được sinh lên cõi trời, hưởng nhiều vui sướng. Lần lượt như vậy qua vô lượng, vô biên lần, sau đó sinh làm người, được tướng của bậc Đại nhân, dưới bàn chân có bánh xe ngàn căm. Tướng bánh xe tròn đầy giống như bánh xe vàng ròng. Được tướng này rồi nếu tại gia thì làm Chuyển luân thánh vương, cai trị bốn thiên hạ, có đầy đủ bảy báu, luôn có Sa-môn, Bà-la-môn, Cư só, đại thần, trưởng giả và bốn binh vây quanh. Nếu xuất gia thì được thành Phật, có đại chúng vây quanh được Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già… cung kính tôn trọng.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ:
Ta từ vô lượng kiếp
Qua lại trong ba cõi
Giúp cho chúng sinh vui
Trừ lo sợ cho họ.
Khéo làm không dừng nghĩ
Nhờ nghiệp công đức này
Thường sinh lên cõi trời
Đến “Nhất sinh bổ xứ.”
Dưới chân hình ngàn căm
Sáng rực như xe vàng
Nhờ tạo ngàn hạnh nghiệp
Thành bậc Nhân Trung Tôn.
Có đại chúng vây quanh
Chiến thắng các ma oán
Nếu là dòng Sát-lợi
Thì làm vua Chuyển luân.
Nếu xuất gia học đạo
Thì thành Vô Thượng Tôn

* Trang 969 *
device

Trời, người, A-tu-la
Ma-hầu-la, vân vân.
Loài bốn chân phi nhân
Đều cung kính cúng dường
Tiếng đồn khắp mười phương
Làm ruộng phước cho người.
Lại nữa, này Tỳ-xá-khư! Tu hành như thếù nào để có ba tướng Đại nhân? Về thuở xa xưa, khi Như Lai còn là người phàm, không giết hại chúng sinh, xả bỏ ý tưởng sát sinh, không đánh đập, không bao giờ cất chứa những khí cụ dùng để đánh đập, luôn sinh lòng hổ thẹn, tu tập Từ bi, nghiệp thiện tích chứa cao dày không thể nghĩ bàn, trải qua sinh tử vô lượng kiếp, cho đến Nhất sinh bổ xứ, được vào làm người thì được ba tướng Đại nhân:
1.Gót chân đầy đặn.
2.Ngón tay thon dài.
3.Thân tròn và thẳng như Phạm thiên.
Nhờ tướng này mà được thọ mạng lâu dài, hiện tướng sống lâu, giữ gìn mạng sống không sợ chết yểu. Nếu xuất gia thì được thành Phật, thọ mạng lâu dài. Tất cả thế gian, trời, người, Sa-môn, Bà-la-môn, không ai có thể phá hoại tuổi thọ của Như Lai được.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ:
Ai cũng sợ chết, sợ gậy đao
Lấy mình ví dụ chớ đánh đập
Cho nên xa lìa, không nhớ nghĩ
Nhờ hạnh thiện này, sinh cõi trời.
Hưởng quả báo trời, vui vô lượng
Qua đời làm người, được ba tướng
Tay, chân thẳng dài, thân tròn đầy
Đi trên đất vững như rùa vàng.
Ngón tay thon dài như búp măng
Thân thể sáng rỡ như Tu-di
Ba tướng này thành Thiên Nhân Tôn
Biểu hiện Như lai sống dài lâu.
Lại nữa, này Tỳ-xá-khư! Tu hành như thế nào để có tướng bảy

* Trang 970 *
device

chỗ tròn đầy? Về thuở xưa, khi Như Lai còn là người phàm, luôn luôn làm thí chủ, đem những thức ăn, trái ngọt, hương thơm, nước uống, siêng năng bố thí, chứa nhóm nghiệp này cao xa không thể nghĩ bàn cho đến khi đạt Nhất sinh bổ xứ, được hưởng vui sướng ở cõi trời, sau sinh làm người được tướng bảy chỗ tròn đầy. Môi, cằm, tay, chân đều đầy đặn. Nhờ tướng này nếu là tại gia thì làm Chuyển luân thánh vương, có đầy đủ món ăn thượng hạng trong thế gian. Còn nếu xuất gia thì được thành Phật, thọ nhận thức ăn uống cao tột bằng vị ngon nhất trong trời, người.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ:
Ăn uống ngửi nếm món vô thượng
Thí chủ luôn tu hành như vậy
Vì hạnh thiện này không thể lường
Hưởng vui sướng như vườn hoan hỷ
Thọ nghiệp báo sinh xuống làm người
Được tướng Đại nhân, bảy chỗ đầy
Tay chân mềm mại không ai bằng
Nhờ tướng này được món thượng hạng
Tại gia, xuất gia đều như vậy
Như Lai đoạn hẳn lậu ba cõi
Cho nên được thành bậc Vô thượng.
Lại nữa, này Tỳ-xá-khư! Tu hành như thế nào để tay chân mềm mại có tướng màng lưới mỏng, dính lại với nhau? Vào thuở xa xưa khi Như Lai còn là người phàm, luôn dùng bốn Nhiếp pháp để giáo hóa chúng sinh, đó là: Bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự. Có ai cầu xin điều gì cũng không làm trái ý họ, tích chứa nghiệp này cao xa cho đến Nhất sinh bổ xứ, được hưởng vui sướng của cõi trời, sau sinh xuống làm người thì được hai tướng Đại nhân:
1.Tay chân mềm mại.
2.Tay chân có màng lưới mỏng dính lại nhau.
Nhờ tướng này nếu tại gia thì được làm Chuyển luân thánh vương, cai trị bốn thiên hạ. Còn nếu xuất gia thì thành Pháp vương, giáo hóa vô lượng chúng sinh như: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn

* Trang 971 *
device

-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân phi nhân…
Bấy giờ, Thế Tôn nói kệ:
Tu Bố thí, Ái ngữ
Lợi hành cùng Đồng sự
Luôn dùng bốn Nhiếp pháp
Giáo hóa không bỏ ai.
Nhờ tu hành nghiệp này
Thường sinh trong trời, người
Rồi sinh xuống làm người
Được hai tướng Đại nhân.
Tay chân đều mềm mại
Và màng lưới dính nhau
Vi diệu mỏng nhỏ đẹp
Ngoài vàng trong sắc hồng.
Nhờ có hai tướng này
Tại gia làm Chuyển luân
Lấy pháp thiện giáo hóa
Ai nấy đều thuận theo.
Giữ gìn không vi phạm
Vui mừng khen Thánh vương
Ban ân không ai bằng
Lòng từ thấm bốn phương.
Nếu lìa bỏ năm dục
Xuất gia được thành Phật
Vì chúng sinh giảng pháp
Người nghe đều lãnh thọ.
Lại nữa, này Tỳ-xá-khư! Tu hành như thế nào để có tướng cổ chân Như Lai thẳng tròn và lông trên thân xoay về phía phải?
Phật bảo:
–Này Tỳ-xá-khư! Về thuở xưa, khi Như Lai còn là người phàm, luôn dùng pháp thiện để giáo hóa chúng sinh, thường thực hành việc bố thí bằng pháp không bao giờ nói lời vô nghĩa. Nhờ nghiệp này mà được tăng trưởng lớn mạnh, cho đến đạt Nhất sinh bổ xứ.Sau sinh làm người được hai tướng Đại nhân:

* Trang 972 *
device

1.Chân cao thẳng không thấy mắc cá.
2.Lông xoay tròn phía phải.
Nhờ tướng này, nếu tại gia thì được làm Chuyển luân thánh vương, bậc tôn quý cao nhất trong loài người, vui vẻ vui sướng trong năm dục, có bảy báu, có một ngàn người con theo hầu bên cạnh. Nếu bỏ nhà vào núi học đạo thì được thành Phật, là bậc tôn quý cao tột nhất trong hàng trời, người, không có ai sánh bằng, tất cả chúng sinh đều cung kính tôn trọng:
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ:
Luôn dùng pháp thiện
Lợi ích chúng sinh
Luôn dùng lời hay
Giáo hóa chúng sinh.
Luôn dùng lực tốt
Giữ gìn chúng sinh
Hoan hỷ vui sướng
Luôn ban pháp thí.
Không còn ganh ghét
Nhờ có nghiệp này
Tích chứa vô lượng
Sinh làm loài người.
Được tướng Đại nhân
Một: Chân tròn thẳng
Không thấy mắt cá
Hai: Lông xoay tròn.
Đều quay bên phải
Nếu là tại gia
Làm Chuyển luân vương
Làm vua thiên hạ.
Nếu là xuất gia
Được chứng thành Phật
Bậc tôn quý nhất
Trong cõi trời, người.
Lại nữa, này Tỳ-xá-khư! Tu hành như thế nào để chúng sinh

* Trang 973 *
device

được tướng bắp chân như nai? Về vô lượng kiếp xa xưa, khi Như Lai còn là người phàm, thường dạy bảo người tất cả những ghi chép trong sách sách vở, oai nghi, nghề nghiệp, thuốc men, chú thuật, dạy giữ giới cấm dạy cho họ đầy đủ, ta luôn suy nghĩ: “Làm thế nào để mọi người hiểu rõ hoàn toàn về ý nghĩa mau thông đạt, không có tâm mệt mỏi nhàm chán.” Nhờ cất chứa nghiệp này rộng lớn cho đến Nhất sinh bổ xứ, được hưởng vui sướng ở cõi trời. Sau sinh làm người được tướng Đại nhân có bắp chân giống như nai. Nếu ở tại gia thì làm Chuyển luân thánh vương, cai trị bốn thiên hạ, tất cả vật cần dùng để cúng dường hễ nghĩ đến thì có ngay. Nếu xuất gia thì được thành Phật, hễ cần những vật cúng dường trong cõi trời hay cõi người thì cũng đều có ngay.
 
Bấy giờ, Thế Tôn nói kệ:

Các sách đều chỉ dạy
Công xảo và chú thuật
Phương thuốc để trị bệnh
Luôn tự suy nghĩ rằng.
Sao để họ chóng thành
Học tập không mệt mỏi
Lần lượt dạy người khác
Do nhờ hành nghiệp này.
Chứa nhóm không thể lường
Đến Nhất sinh bổ xứ
Thành tướng tốt đại nhân
Có bắp chân như nai.
Thon đẹp và đầy đặn
Da mỏng lại mềm mại
Lông đứng xoay bên phải
Nhờ tướng Đại nhân này.
Ký thành Nhân trung tôn
Tại gia làm Luân vương
Sở cầu mau thành tựu
Nếu xuất gia thành Phật.
Tất cả vật cúng dường
Nghĩ là có đầy đủ.

* Trang 974 *
device

Lại nữa, này Tỳ-xá-khư! Tu hành như thế nào để có tướng da bóng láng trơn không bị dính bụi trần? Vào thuở xưa, khi Phật còn là người phàm, nếu có Sa-môn, Ba-la-mật, Sát-lợi, Cư sĩ đến chỗ ta hỏi: “Bạch Thế Tôn! Những gì là hạnh tốt và những gì là không tốt? Những gì là nên gần gũi và những gì là nên tránh xa? Hành nghiệp gì được hưởng an lạc và hành nghiệp gì phải thọ khổ não?”
Thuở ấy, ta phân biệt cho họ:
Pháp này nên làm, pháp này không nên làm.
Pháp này nên hành, pháp này không nên hành.
Pháp này được vui sướng, pháp này không vui sướng.
Nhờ tích chứa vô lượng hành nghiệp này cho đến Nhất sinh bổ xứ mà được thọ hưởng vui sướng ở cõi trời. Sau sinh làm người được tướng Đại nhân có làn da bóng mịn, không bị dính bụi nước. Ví như hoa sen tuy ở trong nước mà không bị nước làm ô nhiễm. Thân tướng của Như Lai cũng như vậy. Nhờ tướng này, ở tại gia thì làm Chuyển luân thánh vương, thông minh trí tuệ. Nếu ở thế gian thì làm Sa-môn, Ba-la-mật, Sát-lợi, Cư sĩ thì không ai sánh bằng. Nếu xuất gia học đạo thì sẽ thành Phật, có trí tuệ rộng lớn, trí tuệ lanh lợi tối thượng hơn hết, trí tuệ của chư Thiên, Trời, Người, Phạm, Ma, Sa-môn, Bà-la-môn cũng không thể sánh bằng.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ:
Phật ở vô lượng đời
Làm người phàm tu hành
Nếu có ai đến hỏi
Khuyến khích dạy mau thành.
Thường sống đời xuất gia
Khéo phân biệt nghĩa lý
Do nhờ hành nghiệp này
Được sinh lên cõi trời.
Có trí tuệ rất lớn
Một khi sinh làm người
Được da bóng mịn màng
Nhờ có tướng tốt này.
Thành tựu đại trí tuệ

* Trang 975 *
device

Nếu làm dòng Sát-lợi
Tại gia làm Chuyển luân
Nếu không ở tại gia.
Xuất gia được thành Phật
Đại Nhất thiết chủng trí
Trên trời và cõi người
Không ai sánh bằng được.

* Trang 976 *
device

Đại Tập 57 - Bộ Kinh Tập IV - Số 490->584