LOGO VNBET
KINH HOẰNG ĐẠO QUẢNG HIỂN TAM-MUỘI
 
Quyển 2
 
Phẩm 4: THỈNH NHƯ LAI
 
Khi ấy A-nậu-đạt, tự mình cùng với các quyến thuộc, cúi lạy Đức Thế Tôn, quỳ gối chắp tay bạch Đức Phật:
–Xin thỉnh Thiên Tôn, hạ cố oai thần, đi đến ao lớn Vô nhiệt, an trụ ba tháng, để chúng con đem lòng thành cúng dường Thánh Tôn, cúng dường các Bồ-tát biện quả thần thông cùng với các đệ tử lớn của Thánh Tôn; mong Đức Phật thương xót, chấp nhận sự thỉnh cầu của con.
Vì sao? Vì chúng con cúng dường là để hướng đến Bậc Chí Chân Chánh Giác, vậy có phù hợp với nghi thức của Như Lai không? Cúi mong được nghe Đấng vắng lặng, cao tột chỉ dạy cho chúng con dùng pháp nào để cúng dường cho phù hợp; chúng con suy nghĩ rằng, được nghe lại hình tượng pháp cúng dường như vậy sẽ khiến tâm luôn an lạc. Đó có phải là cách phụng thờ Tam bảo không?
Đức Thế Tôn không nhận sự thỉnh cầu ấy.
Long vương lại thỉnh hai tháng, nhưng Đức Như Lai vẫn không nhận. Long vương lại thỉnh một tháng, nhưng Đức Thế Tôn vẫn không nhận. Long vương lại thỉnh nửa tháng, Đức Thế Tôn im lặng nhận lời.
Khi ấy Long vương cùng với quyến thuộc tùy tùng, thấy Đức Thế Tôn đã nhận lời, nên hân hoan sung sướng, liền sinh lòng lành, nhiễu quanh Phật ba vòng, nổi mây, ùn sấm chớp, mưa tuôn khắp mặt đất, bỗng nhiên, trong khoảng khắc, họ đều bay về cung điện của mình.

* Trang 478 *
device

Khi A-nậu-đạt đến ngồi nơi chánh điện của mình, liền cho gọi năm trăm trưởng tử. Tên các trưởng tử là: Thiện Nha, Thiện Thí, Thiện Ý, Thiện Minh, Năng Diệt, Tịch Tướng, Cảm Động, Đại Oai, Cam Oai, Cam Quyền, Cam Đức, Phổ Xưng, Oai Dũng, Trì Mật, Nhẫn Lực, Hành Tường…
Năm trăm trưởng tử như vậy thuở xưa đã trồng đạo Vô thượng chánh chân rồi. Long vương liền bảo với họ:
–Này các con! Nay ta đã thỉnh Đức Như Lai, là Bậc Vô Trước, Bình Đẳng, Chánh Giác và chúng Bồ-tát, cùng các đệ tử của Ngài, suốt trong nửa tháng. Đức Thế Tôn Chánh Giác đã dủ lòng đại Bi, thương xót, khởi lòng thương rộng lớn, chấp nhận lời thỉnh cầu của ta. Vậy các ngươi nên một lòng, cùng nhau siêng năng, hết lòng cung kính Đức Thế Tôn, Như Lai Chí Chân; siêng năng nhớ nghĩ đến vô thường, mỗi người phải vắng lặng, khiêm nhường, cung kính, ở đây chờ đợi Đức Như Lai; cần phải xả bỏ tâm ý dâm dục và những thú vui của loài rồng; trừ bỏ tham, nộ, hại; lìa dục, sắc, thanh, hương, vị, vật trơn mịn.
Vì sao vậy? Vì Đức Thế Tôn nhờ vô dục mà được an lành, tốt đẹp, nhân từ, tao nhã, suy xét rõ ràng, tùy thuận điều phục và vắng lặng; hiển lộ đầy đủ các đức, có người hầu đi theo vây quanh, vô lượng nghi dung; tất cả đều nhờ thực hành các giới chân chánh của chư Phật mà có. Vì vậy, các ngươi trong nửa tháng này, không được vào cung điện, phải trừ bỏ những nhớ nghĩ về dâm, nhuế, ngu si.
Lại nữa, khi Đức Như Lai tuyên giảng chánh pháp, chắc chắn có các Bồ-tát thần thông, Thích, Phạm, Thiên tử, trì thế túc tịnh ở các phương khác sẽ đồng đến dự hội.
Các ngươi phải siêng nhớ nghĩ, tập hợp các hiền thần, nghiêm sức cho rực rỡ, chớ có làm biếng, để các hội chúng, thấy xong, vui mừng nhảy nhót. Đó mới là chân chánh cúng dường Đức Như Lai.
Khi A-nậu-đạt đã ra lệnh xong liền vì Đức Như Lai, trong ao Vô nhiệt, dưới núi Tuyết sơn, hóa làm một tòa tịnh lưu ly, thật hoàn hảo, cao rộng đến bảy trăm do-tuần, rất đặc biệt và kỳ lạ, chung quanh thật đẹp; đặt tám vạn bốn ngàn các báu đủ loại, xen kẽ với những cây báu lạ, dùng các ngọc ngà châu báu để trang sức, có ánh

* Trang 479 *
device

sáng đẹp, trăm sắc tinh vi rực rỡ, tỏa ra hương thơm. Ở giữa các cây, hóa làm tám vạn bốn ngàn nhà bằng bảy báu, ánh sáng các ngọc báu phản chiếu thật đẹp, không có gì sánh bằng. Đặt ở mười vạn giao lộ, những lá phướn thêu, những xâu các ngọc trân châu đỏ đẹp lạ lùng, thòng xuống. Ở trên các điện có tòa Sư tử, gồm cả thảy tám vạn bốn ngàn tòa, tất cả đều cao rộng, trải lên trên sàng tọa những tấm dạ đủ màu, tuyệt đẹp, vô giá. Đặt ở các giao lộ, đủ các loại báu. Ở trên điện đường, có hai ngàn thể nữ loài rồng, hình sắc tuyệt đẹp, dáng vẻ đẹp vô cùng, sắc mặt rạng rỡ như hoa, miệng tỏa mùi hương thơm, tay cầm đủ các loại hoa, hương bột, hương xoa; tấu các kỹ nhạc, ca vịnh công đức của Phật, làm cho chúng hội thật vui vẻ. Ở trên hư không, hóa làm lọng báu lớn, bao trùm cả ngàn do-tuần. Châu ngọc chạm trổ trong lọng báu ấy, có vô số màu sắc, treo phướn làm bằng lụa đẹp, giữa phướn lụa ấy, treo các chuông linh báu, phong cảnh điều hòa, âm nhạc du dương.
Khi Long vương dọn món ăn trăm vị, chuẩn bị đầy đủ, các việc biến hóa đã xong, ông cùng với quyến thuộc, cung kính chắp tay, hướng về Đức Phật quỳ gối; từ xa thưa Đức Thế Tôn với ý cung thỉnh, dùng bài tụng ngợi khen:
Kho tuệ, trí lớn, tích lũy đức
Tuệ đạt, không đắm, khéo dẫn chúng
Tuệ lớn lan khắp, không chướng ngại
Sức tuệ tột đỉnh, giáng thần quang.
Hiểu tuệ, tâm hành, chỉ Đại nhân
Xem xét mười phương, loài chúng sinh
Thần Tôn tối thượng, nhận con thỉnh
Nhớ nghĩ xót thương, đến đúng thời.
Biết đủ không tham, sống giản dị
Phước nhiều, kỹ xét, Thánh Đạo Sư
Làm tốt, thật tin, biết ý chúng
Thời gian đã đến, xin hạ cố.
Đức Phật vang khắp, hạnh bằng vua
Làm bạn, không thỉnh khởi niệm khắp
Chí nhân, thanh tịnh, như hư không

* Trang 480 *
device

Con chuẩn bị xong, chờ Thần Tôn.
Oai ngự mười phương, cứu giúp đời
Phật sự mười tám đều có đủ
Độ chúng đứng đầu, hạnh Từ bi
Nguyện Phật cùng chúng, thời đã đến.
Sắc tốt thẳng ngay, thân tướng đẹp
Ngọc quý đủ thứ, hoa trăm màu
Tâm Phật vui vẻ, ban tuệ pháp
Bậc Thượng Đại Nhân, xin xét thời.
Tiếng Phạm thanh tịnh, như sấm sét
Loan phụng reo mừng, sư tử bước
Đầy đủ diệu âm, ai cũng thích
Mọi người hy vọng được nhìn thấy.
Ba ngàn cõi Phật không đâu bằng
Không ai biết được tâm Như Lai
Thánh tôn thấy rõ hạnh chúng sinh
Việc tu, thường đúng thời mới dạy.
Biết lúc phổ độ, Phật quyền biến
Thấu rõ chúng sinh có Thánh thệ
Xét kỹ hành động, bằng mắt sáng
Oai thần đầy đủ, nguyện chiếu soi.
Chúng sinh thảy đều rất khát ngưỡng
Mười lực, giữ oai thế, không mạn
Đức của Đại Nhân mạnh mẽ thế
Tánh Thánh xót thương hơn thế nữa.
Hổ thẹn, đầy đủ đức cao tột
Nến cứu vớt chúng sinh vô biên
Thầy bạn vô song, cùng cứu đời
Lòng thương giáo hóa vô số rồng.
Ở đời, oai đức rộng, cứu tế
Biết rõ các hành nên như ý
Khai mở chỉ đường, chỉ Thiên Tôn
Thần túc nhẹ nhàng xin đến dự.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn biết A-nậu-đạt thỉnh nguyện, thời gian

* Trang 481 *
device

đã đến liền bảo các Tỳ-kheo, đắp y, ôm bát cùng đến phó hội.
Long vương Vô Nhiệt quỳ gối từ xa, thưa:
–Chư Tôn đã chấp nhận con cúng dường nửa tháng, vậy bây giờ xin Chư vị quang lâm.
Bấy giờ, tám vạn bốn ngàn vị Bồ-tát đều là những bậc Đại thần thông, đức đầy, quả đủ cùng hai ngàn đệ tử cũng là bậc Thần túc cao tột theo hầu; tất cả nhiễu quanh Đức Thế Tôn, rồi ra đi.
Đức Như Lai Chí Chân từ đỉnh núi Thứu, bỗng bay lên hư không, dùng thần lực mà đi, toàn sắc thân của Phật phóng ra vô số trăm ngàn ánh sáng, chiếu khắp tam thiên đại thiên cảnh giới, chỗ nào cũng rực sáng.
Các trời của cõi Dục và cõi Sắc, đều thấy Đức Thế Tôn, phát ra vô số ánh sáng, bay lên hư không; nên tự bảo nhau:
–Đức Thần tôn đi đến chỗ vua Vô Nhiệt, sắp đem pháp giáo hóa, diễn nói nghĩa sâu xa rốt ráo. Vì vậy nên mới có đại chúng vây quanh.
Ngay trong nữa tháng ấy, nhiều chúng của các trời, số đến trăm ngàn, được thấy Đức Thế Tôn và được nghe thuyết pháp. Họ lại được xem thấy, sự cảm biến trang nghiêm, do vua Vô Nhiệt tạo ra, nên khiến Đức Thế Tôn mới đi đến nơi đó.
Khi ấy, các Thiên tử ai cũng khởi ý nghĩ cúng dường Đức Như Lai; hoặc muốn rải hoa, hoặc làm mưa danh hương, hoặc tấu nhạc trời để ca ngợi công đức của Phật, hoặc treo đủ các loại cờ, phướn, lọng, hoặc kết dải lụa năm màu đi theo Đức Như Lai. Thân Đức Thế Tôn chiếu sáng rực rỡ, hơn cả ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, tinh tú và cả ánh sáng của các trời; oai thần của Đức Thánh Phật, chiếu sáng vô lượng; căn, định đều vắng lặng, dáng đi an ổn phúc lành; Thích, Phạm, Tứ Thiên, biến hiện các thứ oai lực, phụng kính, hầu hạ, theo sau Đức Như Lai.
Bấy giờ, Thánh Tôn đến dưới Tuyết sơn, đứng ở phía bên phải, bảo Hiền giả Đại Mục-kiền-liên:
–Ông hãy đến cung điện, là chỗ ở của vua Vô Nhiệt và bảo rằng: “Đức Như Lai đã đến, đúng lúc, mời Đức Thế Tôn vào.”
Hiền giả Đại Mục-kiền-liên vâng theo Thánh chỉ, bay ngay

* Trang 482 *
device

vào ao lớn Vô nhiệt, hiện nơi hư không, cách mặt đất bảy trượng, hóa thân giống như vua Kim sí điểu, đứng trên cung điện Long vương A-nậu-đạt, bảo với Long vương:
–Đức Như Lai đã đến.
Các Long chúng và các thể nữ… không ai mà không ngạc nhiên kinh hoàng, hoảng sợ; lông trong người dựng đứng, chạy trốn bốn hướng, cùng bảo nhau rằng:
–Ao này từ xưa không có chim Kim sí điểu, vậy chim này từ đâu đến?
Khi ấy, A-nậu-đạt bảo các người trong cung, thái tử, quyến thuộc và an ủi họ:
–Các ngươi hãy an tâm, đừng hoảng, đừng sợ! Đó là Hiền giả Đại Mục-kiền-liên, vâng lời Đức Như Lai, nên hiện thần biến ấy. Hiền giả Mục-kiền-liên đến đó bảo xong, trở về chỗ Đức Thế Tôn.
Lúc này, A-nậu-đạt liền cùng với các người con, thần dân, phu nhân, thể nữ, toàn thể người lớn nhỏ trong cung, cùng vây quanh, họ đều dâng hoa đẹp, hương bột thơm và các thứ hương thoa; cờ phướn, lọng, ca xướng, các thứ âm nhạc, hòa điệu nhịp nhàng, cùng đến nghinh rước Đức Chánh Giác.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn cùng với các Bồ-tát, các đệ tử, các trời, rồng, các tôn thần vây quanh, đi đến cung điện Vô nhiệt, nơi đặt sẵn các tòa cao rộng. Đức Như Lai đến rồi ngồi vào tòa Sư tử cao rộng ấy. Tiếp theo là các Bồ-tát, sau đó là các chúng đệ tử đều ngồi vào chỗ của mình.
Long vương xem thấy Đức Thế Tôn và các Bồ-tát, chúng hội đệ tử đã an tọa xong, trong lòng hứng khởi vui sướng vô cùng, liền cùng mọi người trong cung, tự tay bưng dọn đầy đủ những món ngon bổ hơn thế gian, mời dâng trăm thứ ngon lạ có hương vị trời; hết lòng cúng dường Phật, đệ tử và các chúng hội, để mong mọi người đều no đủ.
Khi Đức Thế Tôn, Bồ-tát và các đệ tử đã ăn uống xong, lau tay, rửa bát, cũng đã hoàn tất; lúc ấy A-nậu-đạt mới thưa với Đức Như Lai, xin Đức Như Lai thuyết pháp.
Bấy giờ là sau giờ ngọ, Đức Thế Tôn ra khỏi thiền định, ngồi

* Trang 483 *
device

ngay thẳng để nói pháp. Chúng hội đến dự ngót cả ngàn do-tuần, từ khắp nơi đến, đứng đầy cả hư không, không có kẻ hở, trời, rồng, quỷ thần và người chẳng phải người, vây quanh Đức Chí Chân Chánh Giác. Mọi người trong hội thảy đều vui mừng.
 
 

Phẩm 5: HẠNH VÔ DỤC


 
Bấy giờ, Long vương với sắc mặt hân hoan, đến phía trước, quỳ gối, bạch Đức Phật:
–Cúi mong Đức Thế Tôn nói pháp, cho chúng hội này được nghe; khiến cho tất cả thoát khỏi sinh tử; vĩnh viễn trừ bỏ các khổ do sự chấp vào tướng năm ấm; các hành vi trần lao, mê mờ nhơ bẩn; khiến cho chúng con mãi mãi không còn ý ba độc trói buộc và các chúng loài rồng được dứt bỏ sự tà vạy, u tối, ẩn nấp trong tâm ý họ, khiến họ đạt đến chỗ tốt lành, làm cho ai nấy đều vui mừng, tu hạnh Bồ-tát sâu xa, dù sau này Đức Như Lai có còn tại thế hay đã diệt độ; hãy khiến cho chúng con, ở tại đất nước mình, ra sức bảo vệ và gìn giữ chánh pháp.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn khen ngợi Long vương:
–Lành thay! Lành thay! Này A-nậu-đạt! Hãy lắng nghe nghĩa này cho kỹ, siêng năng nhớ nghĩ, để trình bày chỉ vẽ cho mọi người. Ta sẽ nói cho, khiến chúng hội này, nhiều người sẽ thoát khỏi tội khổ, nhổ tận gốc những ý tưởng lôïn xộn, còn nghi ngờ trong tâm khiến cho họ hiểu được trí rộng khắp để thoát khỏi ba cõi.
Khi ấy Long vương thưa:
–Lành thay! Thưa Thế Tôn! Mong Thế Tôn giảng nói, chúng con xin cúi đầu nhận lãnh.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Long vương:
–Có một pháp hạnh mà Bồ-tát nếu làm thì trời, người hết sức cung kính. Pháp đó là gì? Đó là quyết chí tu hành pháp sâu xa để thực hành vô dục.

* Trang 484 *
device

–Sao gọi là tu hành pháp sâu xa để thực hành vô dục?
Này Long vương! Bồ-tát nương và tùy thuận vào nhân duyên mà không lìa ranh giới của hai kiến chấp. Người biết có và không, thấy được các pháp. Còn chấp vào nhân duyên, không thấy có pháp, không do duyên sinh, kẻ ấy nghĩ: Pháp dựa vào nhân duyên, không dựa vào nhân duyên, nên không nương vào ma. Người nương vào duyên, kẻ ấy không nói “Tôi”, cũng không nói “Ta”.
Vả lại, pháp dựa vào trong duyên, nên không có “Ngã” và “Ngã sở”, cái dựa vào duyên thì không có chủ, cũng không nắm bắt được. Ai theo thuận duyên, phát sinh sự hiểu rõ, mau đạt được ý niệm về bốn thứ để dựa vào.
Sao gọi là bốn? Đó là:
1.Dựa vào nghĩa cùng tột, không dựa vào văn.
2.Dựa vào tuệ hành, không dựa vào thức niệm.
3.Dựa vào thuận nghĩa kinh, không dựa vào phan duyên.
4.Dựa vào pháp, không dựa vào người.
Sao gọi là nghĩa? Những gì là tuệ? Sao là thuận nghĩa? Sao là niệm pháp?
nghĩa tức là nghĩa của Không; không nhận vọng kiến là nghĩa của Vô tướng; không chấp vào niệm thức, là nghĩa Vô nguyện; không chấp vào ba cõi là nghĩa vô số. Không chấp vào pháp số.
Vả lại nghĩa ấy, đối với pháp, phi pháp vốn không có hai; âm thanh là vô đắc; niệm tưởng là vô niệm; với pháp xứ thì vô trụ; vì vô nhân nên thọ mạng; âm thanh ngôn ngữ là không chỗ có.
Vả lại, là nghĩa, pháp nghĩa ấy là nghĩa vô dục.
–Sao gọi là Bồ-tát làm pháp nghĩa?
Đó là nghĩa không có sắc của con mắt, tiếng của lỗ tai, hương của mũi, vị của lưỡi, xúc của thân, pháp của tâm. Đó là nghĩa không sinh sắc; nghĩa không giảm sắc; nghĩa không vì thống, tưởng, hành, thức; nghĩa không có hành thức sinh diệt; nghĩa không có sự ham muốn sắc, vô sắc; nghĩa không có ý muốn về sắc và vô sắc sinh diệt; nghĩa không ngã; nghĩa không có ngã kiến dính mắc vào; nghĩa không có nhập; nghĩa không chấp vào nhân kiến; nghĩa không chấp

* Trang 485 *
device

vào có thân Phật; nghĩa không chấp vào chữ pháp. Không tính số thực có chấp vào nghĩa; cũng lại không có nghĩa chấp thí, giới, nhãn, tấn, định, trí; hiểu nghĩa nhập vào tất cả các pháp. Đó gọi là Bồ-tát làm pháp nghĩa, nhờ theo nghĩa này mà không thoái lui. Đó gọi là nghĩa.
–Sao gọi là Tuệ?
Đó là Khổ không sinh tuệ, tập không nhớ nghĩ tuệ, tận hết các tuệ, Đạo không chí tuệ. Đối với pháp huyễn của ấm, các tánh, pháp tánh không hủy hoại tuệ. Đối với các tình, không giữ là tuệ, hiểu nhập vào các pháp, rõ biết chúng sinh, căn đầy tuệ đủ, ý chí nhớ nghĩ không quên; đối với các chánh ý, không ý không nhớ nghĩ; đối với các đoạn ý, là thiện và bất thiện như nhau; đối với các thần túc, thân tâm tạo ra tuệ.
Lại nữa, đối với các căn, rõ biết tuệ nặng hay nhẹ; đối với giác ý, biết các pháp tuệ; nhưng đối với các lực, để điều phục tuệ. Đạo là vô số đối với tuệ diệt tịch; quán tuệ biệt pháp, khởi thủy không sinh tuệ, vị lai không chí tuệ, ở giữa không trụ tuệ; đối với thân là hình tượng tuệ.
Nói tuệ là tiếng vang, pháp tâm tuệ huyễn. Đó là Bồ-tát rõ biết trí tuệ.
Lại nữa, sao gọi là thuận đạo nghĩa kinh?
Nhờ nhân duyên này phát sinh mà hành giả diệt được ngu si, diệt được lão tử, vô ngã. Nhưng đối với vô ngã, nhân và thọ mạng thì phải hiểu rõ về các vật. Nếu Như Lai có ngã, đều chẳng phải là chân pháp. Song đối với ba môn giải thoát, bình đẳng với ba đời, cầu ba vô trước. Đó là các pháp, thấy nó hoàn toàn vô sinh. Người quán rõ và hiểu biết, sẽ dứt lìa hết tình cảm thế tục.
Bồ-tát đạt đến trí tuệ không cùng, nên đối với các ý niệm, không còn nghi hoặc, nhập vào được hạnh này gọi là thuận nghĩa. Nó không đi về đâu, cũng chẳng từ đâu đến. Niết-bàn vô vi cũng không có từ đâu đến. Đó gọi là Thuận nghĩa.
  –Sao gọi là như pháp?
  Nếu các Đức Như Lai xuất hiện hay không xuất hiện, thì Pháp thân vẫn thường trụ. Đó gọi là Như Lai. Như như vốn không, không

* Trang 486 *
device

tăng giảm, chẳng hai, không hai, chân tế pháp tánh, gọi đó là Như pháp. Không hủy pháp hành báo, hay không hành báo, gọi đó là Như pháp.
Người tu Đại thừa, nhờ Lục độ mà được Vô cực. Duyên giác một thừa, theo nhân duyên mà giải thoát. Thừa Thanh văn nương âm thanh mà giải thoát. Đó gọi là Như pháp. Bố thí thì được phước lớn; giữ giới được sinh lên cõi trời; rộng nghe được trí nhiều; nhớ nghĩ thiền định thì được giải thoát. Đó gọi là Như pháp.
Vì không tu hạnh đó nên có sinh tử, tu hành thuần thục thì đạt được sự vô vi. Như pháp là vậy.
Kẻ ngu dùng sức mạnh của dục; kẻ trí dùng sức mạnh của tuệ. Đó gọi là Như pháp.
Tất cả pháp ấy đều nương pháp tánh. Như vậy, này Long vương! Chúng nương dựa nhân duyên mà sinh khởi. Cho nên, cần phải có được sự nhớ nghĩ về bốn thứ để dựa vào.
Vì dựa vào nhân duyên, nên mới không dựa vào sự đoạn chấp có không. Đó gọi là: Người nào thấy nhân duyên khởi là người ấy thấy các pháp; ai thấy pháp, người ấy thấy Như Lai.
–Sao gọi là nhân duyên?
Này Long vương! Bình đẳng phát khởi, hay không phát khởi đối với pháp và phi pháp. Bình đẳng mà không chấp vào. Vả lại, Như Lai thì không chấp vào pháp duyên khởi cũng không có pháp khởi, không thể được. Người biết được pháp ấy tức là Như Lai.
Với nhân duyên khởi, dùng Tuệ nhãn thấy được; Tuệ nhãn thấy được tức là thấy các pháp. Người thấy các pháp, tức là Như Lai. Đó gọi là: Ai thấy được nhân duyên khởi thì thấy pháp, ai thấy pháp thì thấy Như Lai.
Lại nữa, Như Lai nhờ pháp mà thấy pháp.
Như vậy, này Long vương! Nếu dùng pháp này tu hành tương ứng để giải thoát, người đó, được gọi là Bồ-tát không có hạnh dục.
Này Long vương, Bồ-tát vô dục, không làm theo thói quen của dục, vui thích việc Hiền thánh, bỏ điều không phải Hiền thánh, siêng năng, ưa thích được ở vào dòng Hiền thánh, rộng rãi sai khiến các tuệ, vì pháp mà tạo sự giữ gìn; tu sự nghe nhiều, chí nhớ không quên,

* Trang 487 *
device

không bỏ giới thân, trí thân không nghiêng ngã, định thân không dao động; đối với tuệ, thân khéo trụ vững vàng; giải thoát tuệ kiến, thân vững vàng khó chuyển. Nhờ đó, giải thoát tuệ kiến vậy.
Lại nữa, này Long vương! Bồ-tát vô dục, được vô số chánh pháp độ nghĩa của Phật, cũng có đầy đủ vô số yếu tuệ của chư Phật, lại được quả biện tài vô tận của chư Phật, được thông vô lượng thần túc của chư Phật. Nhân đó, đưa đến vô số hiểu biết quyền xảo của chư Phật vào khắp vô lượng hạnh của chúng sinh, vượt qua vô số cõi nước của chư Phật; nhờ đó thấy rõ vô số trăm ngàn Đức Như Lai, có duyên nghe được vô số các pháp, đạt được vô số nghĩa, vô số tuệ, hiểu vô số hạnh và độ vô số chúng.
Như vậy, này Long vương! Bồ-tát vô dục, thường nên trong sạch, tiêu trừ hết các ô uế để công đức vô lượng; tự do, không có chỗ dính mắc đối với ba cõi. Vì sao? Vì vô dục ấy, từ tâm sinh ra. Có ba việc từ tâm sinh ra.
Những gì là ba? Đó là từ tâm dục sinh; từ tâm ái sinh; do tâm sinh khởi.
Lại có ba thứ sinh quán nơi sinh khởi. Lại quán sự sinh khởi. Lại quán sở hành, quán tâm vô xứ.
Lại có ba sinh: Diệt tịch chuyên nhất, hiểu rõ nơi quán như pháp tùy hành.
Lại có ba sinh: Đức đủ nhân điều, dùng làm tịch tĩnh, từ hạnh chuyên cần sinh.
Lại có ba việc: Từ nơi hạnh ngay thẳng, không có dua nịnh, nhân từ điều nhẫn.
Lại có ba việc: Không đắùm chìm nghi ngờ; thuận theo thiện, không thô tháo; chí đủ, sống đơn giản.
Lại có ba việc: Từ không sinh, lại từ vô tướng, cũng từ vô nguyện.
Lại có ba việc: Từ tâm sinh ra các pháp vô thường; các pháp đều khổ cũng do tâm sinh; các pháp vô ngã cũng từ tâm sinh.
Lại có ba việc từ tâm sinh ra: các pháp vô thường, các pháp vô ngã, diệt tận vô vi; tất cả đều từ tâm sinh ra.

* Trang 488 *
device

Như vậy, này Long vương! Bồ-tát đẳng diệt cũng do tâm sinh. Đó là các vị ấy không xả bỏ trí tâm rộng khắp, thức hành bình đẳng với tất cả. Vì lòng đại Từ, nên không bỏ chúng sinh. Vì lòng đại Bi, nên không nhàm chán sinh tử. Vì lòng đại Hỷ, nên bình đẳng xa lìa sự mừng, giận. Vì quyết bảo vệ, nên có tuệ thí, mà không mong báo đáp. Vì các giới, học, hạnh, đức, nghĩa đầy đủ; nên bên trong tránh được lỗi của mình, không nói chuyện xấu của kẻ khác. Hay nhẫn chịu các hạnh không tốt của chúng sinh. Muốn làm cho người khác tâm vững chắc như kim cương, hợp tập các điều lành làm gốc của các đức hạnh, không tiếc thân mạng, đạt được đến tất cả định chánh thọ, tâm không mệt mỏi; không vì chánh thọ mà có chỗ sinh, hiểu trí, dùng quyền xảo tùy thuận chúng sinh, dùng tuệ chân thật, độ thoát các chí.
Người muốn đạt được Thanh văn thừa. Duyên giác thừa thì hiển hiện sự nhớ nghĩ Phật pháp, cầu các Phật pháp. Vì hay nhẫn chịu các khổ, nên rộng nói pháp; đừng vì lợi dưỡng mà cung kính, nên coi thường vứt bỏ; chí đủ, không nhàm chán các tướng đức hạnh; đầy đủ trí tuệ, học rộng nghe nhiều. Học tập theo bạn lành, nên gặp Thiện tri thức; vì khiêm nhường, cung kính, nên được hạnh khiêm cung; vì hàng phục tâm tự đại, nên chế ngự được tâm tự đại. Vì chí hạnh đầy đủ, nên ý hạnh đầy đủ; vì không có dua nịnh nên xa lìa dua nịnh. Vì nói và làm phù hợp nhau, nên không bị khinh khi. Vì tu hành thành tín, nên nói lời chân thật. Vì lìa các sự lừa dối, nên diệt trừ lời nói dối; vì để sinh tâm thành tín, nên tâm luôn thành tín.
Như vậy, này Long vương! Nếu có Bồ-tát nào sinh tâm này, gọi đó là vô dục.
Lại nữa, này Long vương! Bồ-tát vô dục thì ma không thể tự tiện hạn chế. Vì sao? Vì Bồ-tát ấy, tương ưng với sự vô hạn, cũng không hành pháp có hạn.
  Sao gọi là pháp hạn?
 Dục, dâm, tức giận, si là pháp hữu hạn. Bồ-tát đối với chúng, không có chỗ dính mắc. Vì vậy, mà gọi Bồ-tát ấy, là vô hạn. Thanh văn thừa, Duyên giác thừa đều là hữu hạn. Bồ-tát trụ nơi phổ trí tâm rộng khắp, nên ma hoàn toàn không thể tự tiện hạn chế.

* Trang 489 *
device

Hữu niệm, vô niệm tưởng niệm là hữu hạn. Bồ-tát nhờ lìa các tương ưng của niệm, nên ma không thể tự tiện hạn chế.
Như vậy, này Long vương! Có hai việc ma, mà Bồ-tát cần phải biết rõ, cần phải xa lìa.
–Hai việc đó là gì?
Đối với thầy bạn, đã không có tâm kính trọng mà còn tự đại, cống cao, khinh người. Đó là hai việc.
Lại có hai việc của ma: Đó là bỏ kho tàng sáu pháp Ba-la-mật của Bồ-tát; tâm trở lại ưa thích thực hành các pháp của Thanh văn và Duyên giác.
Lại có hai việc. Những gì gọi là hai? Đó là: Không có trí tuệ mà muốn làm việc quyền xảo; ưa thích sống gần cùng các chúng sinh đạo lạc, vọng kiến.
Lại có hai việc: Nghe ít, trí kém mà tự cho là đạt được trí tuệ. Tuy có thông hiểu rộng rãi nhưng lại tự đại.
Lại có hai việc: Đức độ ít ỏi, mà mong được tôn quý. Hoặc tu đức hạnh mà lại thích Tiểu thừa.
Lại có hai việc: Không bảo vệ chánh pháp, không cứu giúp chúng sinh.
Lại có hai việc: Chí không thích học tập theo các Bồ-tát và tụ hội với chúng có trí sáng thông đạt. Chuyên làm việc bài bác, chê bai các Bồ-tát thanh cao, nhiều lần chủ tâm khởi sự ngăn che, làm trở ngại Pháp sư, làm chướng ngại sự giáo huấn của thầy, lại còn nhiều dua nịnh.
Lại có hai việc của ma: Bỏ các gốc đức, tâm còn lại toàn điều vô đức.
Lại có hai việc: Tuy ở chỗ an nhàn, nhưng vẫn mong tưởng đến tham sân si; ý thường náo loạn; nếu du hành trong các thôn ấp, tâm sinh tham lợi.
Lại có hai việc: Với loại phi nhân, lại nói pháp căn bản sâu xa, với người cần nói pháp thì lại không nói.
Lại có hai việc: Không hiểu việc của ma, xa lìa trí rộng khắp, ý thường thác loạn.

* Trang 490 *
device

Như vậy, này Long vương! Sắc tướng các việc của ma là như vậy. Bồ-tát vô dục vĩnh viễn không có các việc ấy.
Lại nữa, này Long vương! Nếu có Bồ-tát, tu hành trong sạch thì phải vô dục; phải đạt đến mười sáu đại lực của Bồ-tát. Nhờ các lực này nên hàng phục, chế ngự ý chí mình mà hóa độ chúng sinh.
Những gì là mười sáu đại lực của Bồ-tát?
–Đó là: Chí lực, ý lực, hành lực, tàm lực, cường lực, trì lực, tuệ lực, đức lực, biện lực, sắc lực, thân lực, tài lực, tâm lực, thần lực, hoằng pháp lực, hàng phục chư ma lực. Bồ-tát vô dục được mười sáu lực lớn này.
Sao gọi Bồ-tát là Chí lực?
–Này Long vương! Bồ-tát chí lực có thể ngắm xem tất cả Tổng trì, do chư Phật nói ra. Đó gọi là Chí lực.
Ý của Bồ-tát này tương ưng với hạnh của chư Phật; đối với chúng sinh, không bị đoạn trừ chướng ngại. Đó là Ý lực.
Có thể đạt được tất cả âm thanh nói ra, hiểu rõ các nghĩa. Đó là Hành lực.
Lìa các việc ác, hưng khởi các pháp đức. Đó gọi là Tàm lực.
Gặp tất cả những tai nạn, vẫn không làm điều phi pháp. Đó gọi là Cường lực.
Dù có ức ngàn ma binh, vẫn không dám làm trái lại. Đó là Trí lực.
Thông đạt giữ gìn pháp, bình đẳng chỉ bày cùng học, không làm cho quên. Đó là Trì lực.
Không chấp, không quên, đối với trăm ngàn kiếp; những điều nói ra không ngại, không đoạn, tùy ý mà hiểu các pháp. Đó là Biện lực.
Nếu có các Thích, Phạm và Tứ Thiên vương đi đến, Bồ-tát vẫn im lặng, không đổi sắc. Đó là Đoạn chánh lực.
Nếu có mong ước được vật báu trên đầu, mới nghĩ đã liền có. Đó là Tài lực.
Hơn các ngoại đạo, độc tôn giữa mọi người. Đó là Thân lực.
Với tâm chúng sinh, có thể được nhất tâm. Biết tâm chúng sinh

* Trang 491 *
device

mà thuận hành hóa độ. Đó là Tâm lực.
Nếu chúng sinh, cần dùng thần túc để hóa độ, thì hiện thần biến để cho chúng thấy. Đó là Thần túc lực.
Nếu có thuyết pháp, để mọi người nghe, thì không nói nửa chừng. Họ nghe và làm theo, nên trừ hết các khổ. Đó là Hoằng pháp lực.
Nếu khi thiền định, chánh thọ, thì vâng theo chỉ giáo của Phật, được pháp hạnh Hiền thánh. Đó là Hàng ma lực.
Đó gọi là mười sáu đại lực của Bồ-tát.
Nếu có người tu hành, tâm chí mong ước mười sáu lực này, mà muốn thành tựu thì phải tu vô dục.
Này Long vương! Ví như tất cả dòng nước đều chảy về biển cả. Các hạnh của đạo pháp, ba mươi bảy phẩm đều trở về vô dục.
Lại nữa, này Long vương! Các cây cỏ thuốc, đều sống trên đất. Các pháp thiện hạnh đều nhờ vô dục.
Này Long vương! Ví như chúng sinh yêu thích Chuyển luân thánh vương; nếu có Bồ-tát vô dục, thì các trời, loài rồng, quỷ, người ở thế gian đều ưa thích.
  Bấy giờ Đức Thế Tôn vì A-nậu-đạt và các thái tử nói bài kệ tụng:
Dục là tuệ Bồ-tát
Chí mong cầu Phật đạo
Phải nên lìa pháp uế
Thường siêng hành vô dục.
Tuệ giải pháp nhân duyên
Không dựa vào cái thấy
Thấy pháp do nhân duyên
Không duyên, không có pháp.
Duyên sinh đó không sinh
Nên chẳng phải tự nhiên
Duyên lành ấy cũng không
Biết không, nên vô dục.
Chấp duyên mà vô tướng

* Trang 492 *
device

Thoát nguyện, tịch lại tịch
Đạm bạc như ngu dại
Nơi ấy ma không hại.
Thấy pháp, không chấp duyên
Với mình, không tôi, ta
Nếu không ta, không người
Biết đó là vô dục.
Không chủ, không gìn giữ
Không lấy, cũng không bỏ
Giải thoát không giữ, bỏ
Lìa dục, thường hiểu pháp.
Quán nghĩa, không trang sức
Tuệ hành thoát khỏi thức
Hiểu rõ thuận nghĩa kinh
Nương pháp không vì người.
nghĩa không là pháp Phật
Giải thoát, không tướng nguyện
Không dựa vào thấy, nghĩ
Ấy nghĩa là vô dục.
Với pháp không có hai
Âm thanh không thể được
Dùng pháp khó lay động
Không nhập nghĩa, vô dục
nghĩa pháp, nghĩa vô dục.
Mắt, tai, không sắc, thanh
Mũi, miệng, lìa hương vị
Thân tâm không cánh (xúc) pháp,
Không sắc sinh oai nghi
Cũng không lìa thống, tưởng
Cũng không nghĩa thức trụ
Được vậy, hợp nghĩa pháp.
Không trụ nghĩa ba cõi
Cũng không nghĩa tôi, ta
Thế Tôn không sắc thân

* Trang 493 *
device

Không chữ, nghĩa nói pháp,
Chấp số nghĩa phi pháp
Thứ yếu, không nên làm
Chẳng giới, nhẫn, tấn, định
Tuệ, vô ngã, Thế Tôn.
Các pháp, hiểu vô nghĩa
Trí, gọi là pháp yếu 
Với nghĩa, khác phi nghĩa 
Vô dục là Phật pháp. 
Vô sinh biết trí tuệ
Không khởi diệt có, không
Không sinh cũng không diệt
Như vậy cần phải tập.
Biết tiếng ta, như huyễn
Biết nó như pháp tánh
Hiểu bên trong, như không
Rõ vậy là vô dục.
Biết pháp đi về đâu
Biết rõ tâm chúng sinh
Dứt niệm để chánh ý
Vô dục, được tuệ này.
Ý đoạn, không có hai
Thần túc, tâm bay cao
Nhờ lực, nên không ngạo
Biết ngăn chận các căn,
Giác định hiểu nhờ trí
Biết rõ tám đường thẳng
Tuệ quán nơi diệt, hành
Biết chỗ pháp đi về.
Pháp, vốn không có sinh
Tương lai thì chưa đến
Pháp hiện tại, không dừng
Vô dục, biết như vậy.
Thân vốn không kiên cố

* Trang 494 *
device

Nói không, như tiếng vang
Tâm huyễn, giống như gió
Vô dục, hiểu như vậy.
Biết nói thuận nghĩa kinh
Hiểu rõ nơi nhân duyên
Diệt gốc si sinh tử
Vô dục, là nghĩa tuệ.
Không ngã, nhân, thọ mạng
Hiểu rõ pháp, phi pháp
Nhờ thoát khỏi ba môn
Đã nói không, đừng chấp.
Vô sinh thấy Diệt, Đạo
Tập tuệ như hạnh tục
Không theo tâm ý sinh
Vô dục, biết hạnh này.
Pháp tánh luôn trụ vậy
Phật hưng và diệt độ
Không hai; hiểu, không hiểu
Vô dục, biết pháp này
Tích chứa như bản tế
Nó chứa đủ các pháp
Chứa không và nhân tế
Vô dục, được trí này.
Pháp tánh thường an trụ
Biết khởi, như diệt độ
Không biết, cho là hai
Pháp vô dục, như vậy.
Không hai, tốt, không tốt
Biết pháp không tội báo
Phật pháp không từ ngoài
Từ hạnh vượt vô cực (rốt ráo).
Nhờ lìa nhân Duyên giác
Tiếng giải thoát Thanh văn
Tuệ trí được giàu lớn

* Trang 495 *
device

Giữ giới được sinh Thiên.
Nghe nhiều được trí tuệ
Giữ ý, độ chúng sinh
Đến Thánh cũng giữ ý
Pháp vô dục, như vậy.
Lực, thường chuyển các dục
Trí tuệ, đến pháp tồn
Bình đẳng nghĩ các pháp
Pháp tánh thường không được.
Biết rõ nhân duyên khởi
Nên đạt bốn đức hạnh
Biết nghĩa cùng với pháp
Thuận nghĩa, biết vô dục.
Quán duyên, nên thấy pháp
Nhờ pháp, thấy Thế Tôn
Bình đẳng pháp khởi, diệt
Vô dục, hiểu tôn pháp.
Dấu nhân duyên không có
Pháp âm thanh không chữ
Pháp ấy, thấy gốc không
Thánh gọi là Như Lai.
Dùng tuệ thấy nhân duyên
Không thấy, chẳng thấy pháp
Tuệ sáng, rõ nhân duyên
Gọi là thấy Thế Tôn.
Nếu cầu hạnh vô dục
Yêu thích các Hiền thánh.
Pháp tánh hoại, không bỏ
Vẫn giữ giống Hiền thánh
Thường hộ chánh pháp Phật
Vô dục, nghe không quên
Không lìa bỏ căn giới
Với định được bất động.
Biết thân, tuệ không động

* Trang 496 *
device

Thường trụ thân giải thoát
Tuệ giải thoát sở kiến
Vô dục thường an trụ.
Người hiểu các Phật pháp
Vô lượng các Thánh đạo
Được đủ thần túc Phật
Hiểu đạt tất cả hạnh.
Biết hạnh tình ý chúng
Bỗng nhiên dạo các cõi
Được thấy các Như Lai
Nghe chư Phật thuyết pháp.
Nghe rồi hiểu rõ nghĩa
Bày cho vô lượng người
Biết được ức số hạnh
Chí được hướng vô số.
Vô dục thường tự tại
Hàng tâm nhập công đức
Phục ý kiến vô dục
Trọn chẳng đổi đời này.
Tâm đã thoát các ấm
Biết rõ chỗ khởi diệt
Quán diệt không chỗ có
Sở tập cũng là không.
Tánh nghe, chỗ tâm hành
Không dối, thường ngay thẳng
Không nịnh điều nhân thiện
Đức vô dục như thế.
Giải thoát, Không, Tướng, Nguyện
Hiểu khổ, biết sinh tử
Pháp vô ngã luôn vắng
Vô dục từ tâm hạnh.
Phổ trí tâm đẳng Từ
Dùng Bi độ chúng sinh
Vui không chán sinh tử

* Trang 497 *
device

Giữ hạnh thật vô biên.
Đã cho không mong trả
Tự xét, lập các hạnh
Nhẫn nại, tốt, không tốt
Mong cứu thoát chúng sinh.
Siêng năng cần tu đức
Không tính đến thân mạng
Tiếp theo biết các định.
Cũng không tùy theo định
Tuệ định, đại tinh tấn
Với số, không rối rắm
Bốn Đế độ Thanh văn
Trí không chí diệt độ.
Vô dục đời gặp Phật
Họ có các pháp này
Ma không biết họ hành
Pháp an trụ biết vậy.
Vô dục thật không cùng
Hiểu là gốc tham cấu
Lìa dục đó không tưởng
Ma không biết nơi nào.
Nếu có tưởng, tôi, ta
Họ tự khởi việc ma
Như vậy vượt các hành
Các ma không thể biết.
Vô dục, chí không quên
Việc làm thường thanh tịnh
Vô dục, không ý chí
Hạnh hổ thẹn không hoại.
Nhờ nghe hạnh vô dục
Đẹp tuệ kính Như Lai
Họ trụ, như pháp trụ
Đó nên như Thế Tôn.
Chư Phật, Bậc mười lực

* Trang 498 *
device

Bồ-tát muốn phụng thờ
Nghe hạnh vô dục này
Ý siêng, thường thọ trì.
Người nghe vô dục này
Tin, thích rộng phụng hành
Họ thường được vô dục
Được quả Phật không lâu.
Thánh nhờ vô dục này
Được vô cùng trong sạch
Vô dục được thành Phật
Hóa độ vô biên chúng.
Phật: Khứ, lai, hiện tại
Đã được các tướng đẹp
Cũng từ vô dục này
Và cũng hành pháp này.
Khi ấy Đức Thế Tôn thuyết pháp về phẩm Vô Dục này, có bốn vạn hai ngàn trời, rồng, quỷ thần và Nhân phi nhân ở trong hội đều phát đạo ý Vô thượng chánh chân. Có một vạn hai ngàn người được Nhẫn bất khởi; lại có tám ngàn người được Nhẫn nhu thuận; ba vạn hai ngàn trời, người, quỷ thần và rồng được xa lìa trần cấu đều sinh Pháp nhãn. Lại có tám ngàn người được hạnh lìa dục. Tám ngàn Tỳ-kheo dứt sạch hết lậu. Ngay lúc ấy, tam thiên đại thiên thế giới chấn động sáu cách, cùng khắp mười phương bỗng nhiên rực sáng. Trong ao Vô nhiệt, dưới núi Tuyết, khắp chung quanh đều hiện những điều chưa từng nghe thấy. Diệu hoa đẹp rực sáng đến tận đầu gối. Ở trong nước ao sinh ra nhiều việc khác thường, hoa sen tươi đẹp, lớn như bánh xe, ở trong hoa ấy, có nhiều hương thơm, có vô số sắc hoa, với trăm ngàn các loại. Tất cả đều do oai thần của Phật hiện ra; vì pháp này mà khởi tâm cúng dường để làm vui lòng Long vương Vô Nhiệt vậy.

* Trang 499 *
device

Đại Tập 60 - Bộ Kinh Tập VII - Số 626->639