LOGO VNBET
KINH HOẰNG ĐẠO QUẢNG HIỂN TAM-MUỘI
 
Quyển 3
 
 Phẩm 6: LÒNG TIN GẶP PHÁP
 
Bấy giờ, Long vương A-nậu-đạt trong lòng rất vui vẻ, cùng với năm trăm thái tử của Long vương, nhờ đời trước đã phát tâm đạo Vô thượng chánh chân; hôm nay nghe Đức Phật dạy như vậy, tất cả liền được pháp Nhẫn nhu nhuận, lòng mừng khôn xiết, đều muốn được cúng dường, liền vì Đức Như Lai trang hoàng các lọng báu, che trên Đức Thế Tôn, đồng thời thưa Đức Thế Tôn:
–Đức Thánh Sư Như Lai Chí Chân Chánh Giác đã vì chúng con mà xuất hiện ở đời.
Vì sao? Vì khiến cho chúng con được nghe đạo phẩm Phổ tín. Khi được nghe xong, ý không mệt mỏi, không còn biếng nhác thoái lui, cũng không còn hoảng sợ, nghe rồi, càng thêm chuyên tâm tập làm, thích nghe không chán tượng pháp như vậy.
Lại nữa, cúi mong Như Lai giải nói cho con: “Tại sao Bồ-tát được gặp Thế Tôn?”
Đức Như Lai đáp:
–Này các Hiền giả! Hãy siêng nhớ nghĩ, lắng nghe, ta sẽ nói cho.
Các Thái tử thưa:
–Thưa vâng! Chúng con xin được lắng nghe. Các Thượng sĩ ấy sẽ vâng theo lời dạy của Thế Tôn.
Đức Như Lai bảo:
–Này Hiền giả Thọ Tín! Ai gieo trồng đức tin sẽ được gặp Phật.

* Trang 500 *
device

–Sao gọi là tin? Tin là Chánh sĩ tu theo các pháp sáng, phụng thờ trước nhất.
–Sao gọi là pháp sáng? Đó là nương nơi pháp mà hành, không lìa gốc đức, ưa thích tập theo người hiền, hâm mộ tùy thuận Thánh chúng, siêng năng tâm thọ tín, chí không mệt mỏi, suy nghĩ và siêng năng nghe pháp để loại trừ sự ngăn che của ấm, tùy thuận tu tập với đạo được pháp lợi dưỡng bố thí cùng khắp, đem giới cho người không có giới; bình đẳng tế độ các người nóng nảy giận dữ, nhưng thường ưa thích siêng cầu Phổ trí, tâm không lười biếng, thoái lui, tin Phật mãi mãi, chưa từng loạn pháp, ưa thích Thánh chúng, chí đạo dù khó cũng siêng năng, vui thích chánh chân, xa lìa sự cao ngạo, tự hạ thấp mình trước mọi người, thường có tâm bình đẳng, không dính mắc vào các cảnh giới; trọn bỏ thân mạng, không làm điều ác, tu tập đức tin chân thật; lời nói và việc làm đi đôi nhau, vượt qua chỗ chìm đắm, tâm không nhơ bẩn, hành động của thân, miệng, ý thuận theo lời dạy của Hiền thánh, rõ biết mọi việc, được sự trong sạch, biết đủ không tham, việc làm trong sạch, hiển nhập trí huyễn, tập cầu tuệ căn, dựa vào và tùy thuận bảy Thánh tài, tu niệm thành tín; đã đầy đủ Căn, Lực mà hành chánh kiến; đã thọ giáo thầy bạn thì khiêm nhường, lễ kính, sống đời giản dị; thường đến pháp hội; tâm không nhàm chán thoái bước đối với tai họa sinh tử; hiện ra đức vô vi, siêng năng tinh tấn, cầu được Phổ trí, để hoằng hóa đạo. Đối với pháp của Như Lai, hết lòng ưa thích xuất gia, tu vô số các phạm hạnh thanh tịnh, tạo lập Từ bi, cứu độ chúng sinh, chí mong được báo đền. Đối với người có báo ân và không báo ân đều bình đẳng đón tiếp, che chở; tâm không thương, ghét, không nghĩ điều lợi cho mình, luôn cung kính kẻ khác, tu hạnh nhẫn nhục, đều cho là đầy đủ, tự thấy mình không có điều ác, không nói sau lưng người khác, nội tâm đã vắng lặng, ý chí thích ở chỗ an nhàn, tâm thích sự vắng vẻ, luôn nhớ nghĩ đến tập pháp, vốn không tranh tụng; thấy lỗi của người cũng là lỗi của mình, cầu giới đầy đủ, tập hợp định hạnh, siêng năng, kính cẩn đối với đạo. Đó gọi là Hiền giả đã hành động thích ứng tục tín thọ tín như vậy. Đó gọi là cùng gặp Phật xuất thế.
Lại nữa, này các Hiền giả! Nếu ở thế tục, tạo tín không quên.

* Trang 501 *
device

Đó gọi là khởi tín tâm, gặp Phật xuất thế.
 Lại nữa, này các Hiền giả! Sao gọi là tục tín?
–Người có tín tâm, tin các pháp là Không, để lìa vọng kiến. Tin biết các pháp, chính là Vô tướng, để lìa niệm tương ưng. Tin biết các pháp thảy đều Vô nguyện, không có đến, đi. Tin biết các pháp vô thức, vô niệm, yên lặng thân miệng ý, vắng bặt hữu thức. Tin biết các pháp, để lìa dục. Không có ngã, nhân, thọ mạng. Tin biết các pháp. Tin biết vốn không có, đến đi tự nhiên. Tin biết các pháp là chân tế, không dấu vết, vốn như không có dấu vết. Tin biết các pháp rồi, thảy đều tự nhiên, bình đẳng như hư không. Tin biết các pháp để dựa vào pháp tánh. Tin biết các pháp bình đẳng ba đời. Tin biết các pháp, dục xứ, tà kiến, thảy đều diệt tận. Tin pháp không chìm đắm để lìa gốc si mê, vốn không trong sạch. Tin biết các pháp, tâm luôn trong sạch, cũng không làm hưng khởi các nhơ của sự ham muốn khác. Tin biết các pháp không có chỗ quán kiến. Tin các pháp là sự giúp đỡ v.v… dứt lìa các hành. Tin pháp là vô ngã, để vượt qua vui mừng hờn giận. Tin các pháp vô tâm, vô hình tướng, nên không thể bắt được. Tin các pháp là giả dối, như nắm tay không, đem dụ trẻ con. Tin pháp không dối, không có trên dưới, không chỗ lấy, bỏ. Tin các pháp trống không, giống như cây chuối. Tin pháp tự do, như thường vắng lặng. Tin pháp không thẩm xét, không trụ ba nơi. Tin pháp hoàn toàn không, không có chỗ sinh ra. Tin pháp như hư không vì bình đẳng vô số. Tin biết các pháp giống như Niết-bàn, mình luôn vắng lặng.
Như vậy, này Hiền giả! Với người thế tục, hưng khởi lòng tin này. Đó gọi là tạo niềm tin để gặp Phật pháp.
Lại nữa, này Hiền giả! Người có niềm tin, gặp được tên gọi Phật pháp. Đó được gọi là các pháp hoàn toàn không khởi.
Vì sao? Vì không phải do sắc sinh ra, không sắc, không sinh, do tập hóa chuyển. Không phải thống, tưởng, hành, thức; không phải thức khởi; không phải do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Không khởi chuyển tập; không phải do thân khởi chuyển, không si mê có không; không sinh, lão, tử. Vì khởi có không, như vậy gọi là gặp Phật xuất thế; không khởi có sinh, cũng không khởi có diệt.

* Trang 502 *
device

Lại nữa, không khởi tập đối với không, diệt. Không nhờ chánh ý, không có tập chí ý mà gặp Phật xuất thế.
Nói tóm lại, cũng không nhờ ba mươi bảy Đạo phẩm pháp, khởi hay không khởi tập; cũng không dùng tập vô sinh của đạo; không nhờ khởi tuệ, cũng không diệt tuệ. Chẳng tuệ, không tuệ, tập không có hai mà gặp Phật xuất thế.
Khi Đức Phật đang nói về phẩm, nhờ đức tin mà gặp Phật xuất thế, Long vương Vô Nhiệt và năm trăm thái tử đều được pháp Nhẫn nhu thuận. Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại nói bài tụng:
Tín tâm, được gặp Phật
Mà tập nơi bất sinh
Ai không phát tín tâm
Không gặp Phật ở đời.
Tu tín là cao tột
Đạt đến pháp thanh tịnh
Hành nghiệp có báo ứng
Không chống trái việc tu.
Tin tập các Hiền thánh
Siêng tu, thường lễ kính
Tâm không có biếng lười
Do tín này làm ra.
Siêng đi nghe thuyết pháp
Ấm cái, không thể động
Từ tín đến được đạo
Thực hành hạnh Nhu thuận.
Nhờ pháp được tiền của
Chuyển ban cho khắp nơi
Giữ giới và phá giới
Hành tín nên cho đều.
Vui với người giận dữ
Đạo tâm không lười biếng
Siêng cầu pháp Đại thừa
Tín, vui đến mọi người.
Lìa hẳn mọi cao ngạo

* Trang 503 *
device

Chí luôn tự khiêm nhường
Chỗ ở không đắm chìm
Lập tướng tín, như vậy.
Chí tín, không tiếc thân
Trọn không tạo ác hạnh
Giữ lành, không nói dối
Nói, làm thường hợp nhau.
Tín vui không giới hạn
Thích hành nơi vô tâm
Thân, miệng, ý trong sạch
Tập theo Thánh, che chở.
Có hạnh tín tâm sạch
Thường được tuệ dẫn dắt
Biết căn bản của thân
Cầu hỏi, và nói ra.
Đẳng niệm nơi bảy tài
Được lực, căn đầy đủ
Lìa hẳn các tà kiến
Chí thường tập Đẳng hạnh.
Lễ bái, có tâm vui
Kính thờ như thầy mình
Tâm chứa tốt, khiêm cung
Tri túc, không thay đổi.
Trong tâm thường vô niệm
Chí nguyện nơi đạo pháp
Có người chán sinh tử
Dẫn, chỉ, đức vô vi.
Giải thoát việc đang làm
Thường cầu tâm vui vẻ
Mau lìa khỏi đời này
Tu phạm hạnh không mỏi.
Nhớ nghĩ các chúng sinh
Cứu họ không mong lợi
Báo đáp ân đã thọ

* Trang 504 *
device

Vui tín nên cần cầu.
Không vui vì lợi mình
Không ghét người được cúng
Tâm nhân, nhẫn đầy đủ
Không nịnh, sống chất trực.
Hành tín tự mình thấy
Không nói xấu lỗi người
Căn lặng, tánh an nhiên
Chí ưa ở cảnh nhàn,
Trong tâm không huyên náo
Cố gắng lo làm ân
Nghịch ý cũng không cãi
Chỉ biết, sửa lỗi mình.
Cần cầu đủ giới hạnh
Chuyên tập nơi đạo định
Thích tín, ưa hạnh vui
Tướng người tín như vậy.
Ai vượt qua tục tín?
Thực hành và hiểu nó
Cùng pháp không tranh cãi
Điều Phật dạy sâu xa.
Thành tín, tin nơi không
Họ không có các kiến
Các pháp không có tướng
Không ý, lìa nhớ nghĩ,
Sẽ dứt lìa các niệm
Hiểu rõ việc đi đến
Pháp vốn không người tạo
Không có nơi thân tâm.
Tín là pháp vô dục
Lìa ngã, nhân, thọ mạng
Người tin, hiểu vốn không
Được đến chỗ không hai.
Nó vốn không chứa nhóm

* Trang 505 *
device

Thể không như hư không
Chư pháp, tín cũng vậy
Liền đồng với pháp tánh.
Bình đẳng với ba đời
Các pháp không có lậu
Dục xứ cùng với tham
Ưa tin không thọ kiến.
Các pháp không có đắm
Nó vốn sáng, trong sạch
Khách dục không thể che
Tâm không có chỗ trụ.
Các pháp không thể thấy
Nhân duyên mà không khởi
Thường quán nơi hạnh cao
Không trụ thọ chỗ dở,
Không hợp cũng không lìa
Giải thoát, đồng không hợp
Tin thích nơi pháp không
Kẻ ngu bị mê hoặc.
Đạm bạc, ý không khởi
Dối trá như cây chuối
Miệng nói, vẫn tự nhiên
Không bỏ, cũng không lấy.
Các pháp không chỗ có
Cái thấy cũng không cần
Pháp thấy như hư không
Đẳng duyên nhiều vô số.
Các pháp như Niết-bàn
Vốn không, không thể thấy
Tin thích mà thực hành
Hiểu rõ thân hư không.
Ai có tín như vậy
Bồ-tát và người phàm
Đều sẽ được gặp Phật

* Trang 506 *
device

Việc làm không có ác.
Không vì tạo sắc hạnh
Được gặp Phật ra đời
Không sắc, không có chỗ
Không đến, cũng không đi,
Với sắc, không có sinh
Không diệt, cũng không trụ
Đương lai không chỗ đến
Gặp Phật rộng nói pháp.
Năm ấm cũng như vậy
Hóa, tập, chuyển, vô sinh
Gặp Phật đang thuyết pháp
Tuệ đạt, các Bồ-tát,
Thân họ và hữu tình
Cũng tập, nhờ vô sinh
Phật hưng nhờ vô sinh
Thường cứu kẻ đạo lạc.
Si vốn không có sinh
Sinh tử, cũng như thế
Duyên này như vốn không
Từ pháp mà có Phật,
Không khởi, không có sinh
Không diệt, không có trụ
Nhờ đó, biết vô xứ
Xứ cũng không thể thấy.
Nó cũng không tự sinh
Cùng Phật mà rộng nói
Vô chí, không có trụ
Đó cũng do Phật chuyển.
Các loài cũng như vậy
Phật chủng thuận như pháp
Loại ấy cũng khởi không
Như Phật mà xuất hiện.
Nếu ai làm như vậy

* Trang 507 *
device

Phật hiện vì người ấy
Ưa tin đại chúng này
Thật không có hạn lượng.

Phẩm 7: CHUYỂN BÁNH XE PHÁP
Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo các thái tử…
–Lại nữa, này các Hiền giả! Sao gọi là Bồ-tát được chuyển xe pháp, đó là nói theo ý nghĩa tượng pháp như vậy để thọ trì không quean mà tu hành. Các hữu tình không phát khởi ý đại Bi, nhưng vì hưng khởi Phổ trí, tùy thuận mong ước của mọi người, nên mới thuyết pháp rộng rãi tuyên bố, mở bày chí không mệt mỏi, vứt bỏ lợi dưỡng, khuyên nên nhớ nghĩ thuận thời, thọ trì gìn giữ tu hạnh. Đó gọi là Bồ-tát chuyển pháp luân.
Lại nữa, nếu Như Lai đã chuyển xe pháp, nhưng xe pháp của Như Lai là hành tượng nhập đức, nên phân tích trình bày; không dùng khởi pháp, cũng không diệt pháp, không dùng hành pháp của kẻ phàm phu thấp hèn, lại cũng không dùng pháp của Hiền thánh để chuyển bánh xe pháp.
Lại nữa, bánh xe pháp ấy, không cắt đứt nửa chừng, bình đẳng dứt hết tốt xấu. Vị ấy nhờ vậy, nên xe pháp không bị cắt đứt.
Lại nữa, bánh xe pháp ấy, khởi lên do nhân duyên; chẳng khởi, không khởi, nhưng có sự chuyển vận. Vì lý do ấy, nên bánh xe pháp không khởi chuyển.
Lại nữa, bánh xe pháp ấy, không dùng mắt, sắc, tai, âm thanh, mũi, hương, lưỡi, vị, thân, cánh, tâm pháp, các tình mà chuyển; nó tùy theo hữu duyên chuyển; vì lý do ấy không có hai loại bánh xe pháp. Nếu có hai thì chẳng phải bánh xe pháp.
Lại nữa, bánh xe pháp ấy, cũng không dính mắc vào quá khứ, đương lai, hiện tại mà chuyển. Đó là bánh xe không chấp trước.
Lại nữa, bánh xe pháp ấy, không do ngã kiến chuyển, chẳng phải do nhân, mạng thọ, chỗ trụ mà chuyển. Đó gọi là bánh xe Không.

* Trang 508 *
device

Lại nữa, bánh xe pháp ấy, không do thức, hành, tướng, diệt niệm mà chuyển. Đó là bánh xe Vô tướng.
Lại nữa, bánh xe pháp ấy, không phải mong ước đối với Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới mà chuyển. Đó là bánh xe Vô nguyện.
Lại nữa, bánh xe pháp ấy, không tính toán chúng sinh có sai khác mà chuyển. Không ở nơi hai pháp; đó là pháp của người phàm; là pháp Thánh giới; là pháp Thanh văn; là pháp Duyên giác; là pháp Bồ-tát; là pháp của Phật. Vì vậy gọi vị ấy là bánh xe không đổi khác.
Lại nữa, bánh xe pháp ấy, không dùng bánh xe pháp có trụ mà chuyển. Vì vậy, nên gọi là bánh xe không trụ vậy.
Tên của bánh xe pháp thế nào?
–Này chư Hiền! Vì bánh xe pháp chánh chân, chắc thật, thường không hủy hoại vậy. nghĩa cơ bản của chữ bánh xe là bình đẳng ba đời, vì bánh xe không nơi chốn. Vì các tập kiến xứ, nhờ bình đẳng vượt qua, bánh xe trong sáng, hiu quạnh; thân tâm không đắm trước, không thể thấy bánh xe. Vì ý thức xa lìa, nên không có khe hở của bánh xe, không ở nơi năm đường. Xét kỹ về bánh xe. Không có chân đế hiển hiện. Bánh xe của sự thực hành tín tâm, bình đẳng giáo hóa chúng sinh, vì không lừa dối vậy. Bánh xe là không thể tận, vì chữ, không chữ vậy. Bánh xe của pháp tánh, bởi vì các pháp đều nương nhờ pháp tánh vậy. Bánh xe vốn chứa chân đế, vốn không chứa vậy. Bánh xe hoàn toàn không, như vốn không vậy. Không chỗ tạo ra bánh xe, vì không nhớ nghĩ đến các lậu. Bánh xe vô số, dẫn đến chí Thánh. Bánh xe như hư không, vì thấy rõ bên trong. Bánh xe không tướng, vì không nhớ nghĩ bên ngoài. Bánh xe vô nguyện, vì không có trong va ngoài. Bánh xe không thể được, tu để vượt qua.
Lại nữa, này các Hiền giả! Đức Như Lai dùng bánh xe pháp này, chuyển vận các ý hành của chúng sinh. Chuyển mà không chuyển. Nó không thể nắm bắt, vì pháp không có chỗ để xả.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn, khi giảng nói phẩm Chuyển bánh xe pháp này; thì trời, rồng, quỷ, người và các loại thần, trong lòng vô

* Trang 509 *
device

cùng hân hoan sung sướng, phát ra ánh sáng, ca tụng pháp ấy của Đức Như Lai. Đồng thanh ngợi khen:
–Lành thay Thế Tôn! Thật là khó gặp! Như Lai đã chỉ bày, chuyển nói bánh xe pháp này.
Người nghe phụng hành phải phù hợp với bánh xe pháp. Pháp này tên gọi là bánh xe chuyển hư không. Các Đức Phật quá khứ và đương lai, cùng Phật hiện tại đều thờ pháp này mà thành. Nếu ai có lòng tin, thì sẽ được độ thoát. Những người thực hành pháp này, ta nói là đã ngang bằng với Thế Tôn. Ta sẽ thay họ khuyên giúp cho các chúng sinh, để họ hưng khởi tâm này. Còn ai muốn nghe phẩm bánh xe pháp này; nghe rồi nên cầu đạo hạnh cơ bản này, họ cũng không lâu sẽ được chuyển bánh xe pháp.
Bấy giờ, trong chúng nghe Đức Phật thuyết như vậy; có một vạn Thiên tử đều phát đạo ý Vô thượng Chánh chân; năm ngàn Bồ-tát mau được pháp Nhẫn.
Lúc này Đức Thế Tôn bảo các vị Hiền giả:
–Này các Chánh sĩ! Ai gìn giữ chánh pháp, thọ trì chánh pháp, làm chánh pháp lớn mạnh, đó gọi là bảo vệ pháp.
Vì sao? Vì đối với vị hành giả ấy, vĩnh viễn không bị hủy diệt, dù trời hay người đời, trọn không thể địch nổi vị ấy.
Bấy giờ, Vô Ưu đến trước Đức Phật, bạch:
–Lại nữa, thưa Thế Tôn! Nếu vị Chánh sĩ ấy, dùng pháp như vậy, mà được Tối giác; vậy vị ấy vốn có sự mê hoặc? Vả lại, hình tượng các Chánh sĩ như vậy, nên phải cùng nhau ủng hộ. Sở dĩ ủng hộ, là khiến cho các vị Chánh sĩ ấy mau phù hợp với pháp Đại thừa này; các vị ấy đều đã hành như vậy sẽ được chuyển bánh xe pháp. Lại có thể hiểu biết được pháp đại minh.
Thưa Thế Tôn! Cho nên, Thế Tôn mới vì những người ấy, mà dạy pháp cơ bản chính là ủng hộ họ, khiến họ phát Đại thừa. Và cũng để bảo vệ cho Pháp sư an lạc, kính lễ, thuận nghe giới cấm.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn khen ngợi con của Long vương là Vô Ưu rằng:
–Lành thay! Lành thay! Này Chánh sĩ Vô Ưu! Các người phát Đại thừa, vì các Pháp sư cho nên an tâm ủng hộ. Đó gọi là bảo vệ

* Trang 510 *
device

pháp. Vì các Pháp sư làm chánh pháp lớn mạnh nên phải bảo vệ gìn giữ chánh pháp.
Lại nữa, này Vô Ưu! Người bảo vệ chánh pháp có mười công đức. Những gì là mười?
 –Đó là:
1.Không có tánh tự đại, hàng phục sự cao ngạo.
2.Thực hành cung kính.
3.Không có hạnh dối trá.
4.Siêng suy nghĩ, yêu thích pháp.
5.Chí ưa tập theo pháp.
6.Ý thường xuyên tùy pháp.
7.Hành quán nơi pháp.
8.Ưa thích nói pháp.
9.Thích tu hành pháp.
10.Đến nơi nào cũng tùy thuận thuyết pháp.
Đó là mười hạnh nhờ bảo vệ chánh pháp.
Lại nữa, này Vô Ưu! Cũng có mười việc hầu hạ, để bảo vệ chánh pháp. Những gì là mười?
1.Tộc tánh nam và tộc tánh nữ nghe Pháp sư đến, đã từ xa lễ bái.
2.Suy nghĩ ưa thích được hầu hạ.
3.Pháp sư đến, liền kính yêu.
4.Cung cấp những nhu cầu về y phục, ẩm thực.
5.Hộ trợ các việc.
6.Đi đến đâu cũng khiêm nhường cung kính.
7.Nghe theo lời Pháp sư dạy, để nói cho người đồng học.
8.Ngăn chặn người nói xấu.
9.Thường Thích-ca tụng khen ngợi.
10.Làm cho tiếng tốt của Pháp sư được lan xa.
Đó là mười việc hầu hạ để bảo vệ chánh pháp.
Lại nữa, này Vô Ưu! Có bốn điều cần ban cho, để bảo vệ chánh pháp. Những gì là bốn?

* Trang 511 *
device

1.Dùng bút mực, lụa trắng cung cấp cho Pháp sư.
2.Dùng y phục, ẩm thực, giường nằm, thuốc men để cúng dường.
3.Nếu theo Pháp sư để nghe thuyết pháp, thì dùng tâm không dối trá để khen ngợi.
4.Nghe rồi thì nhận lãnh gìn giữ, rộng nói cho người khác.
Đó là bốn việc cần ban cho để bảo vệ chánh pháp.
Lại nữa, này Vô Ưu! Có bốn việc sáng suốt tiến tới để giữ gìn chánh pháp. Những gì là bốn?
 –Đó là:
1.Sáng suốt tiến tới sự cầu pháp.
2.Siêng năng rộng rãi giảng nói pháp.
3.Cung kính và đủ lễ Pháp sư.
4.Nếu có người pháp bỏ chánh pháp, dùng chánh pháp và sự tinh tấn để hàng phục họ.
Đó là bốn sự tinh tấn, để giữ gìn chánh pháp.
Bấy giờ, năm trăm thái tử của A-nậu-đạt, nghe Đức Phật dạy như vậy, lòng vui mừng sung sướng, ưa thích vô lượng, cùng nhau thưa:
–Những điều Đức Như Lai đã dạy, thật là hay không gì bằng, đã giải trừ các hồ nghi của chúng con. Chúng con dùng cung điện và các quan cùng quyến thuộc của mình, dâng lên Đức Phật và cung cấp những vật cần dùng, dùng tâm kính thuận để thưa lại: Từ nay, Đức Thế Tôn ân cần thọ hóa, mãi không mệt mỏi, cho đến lúc Đức Như Lai đã nhập Niết-bàn. Điều Đức Phật đã dạy, là biểu tượng của pháp báu. Chúng con phải cùng nhau kính thọ phẩm kinh quan trọng này, cầu mong thông đạt, khuyên nhau cố gắng tu hành. Vì vậy, thưa Thế Tôn! Chúng con xin hết lòng phát nguyện.
Lại nữa, nếu sau khi Đức Như Lai đã nhập Niết-bàn, chúng con, đối với Đức Thánh Tôn, ở tại đất nước mình, cùng nhau đồng tâm cúng dường xá-lợi, hộ trì phụng thờ, lễ kính cho đến lúc không còn hiện hữu.
Bấy giờ Hiền giả Ca-diếp, bậc kỳ túc bảo các thái tử:

* Trang 512 *
device

–Này các Hiền giả! Chư vị nói là chỉ riêng một mình các vị được cúng dường thân thần xá-lợi của Đức Như Lai. Những lời nói của quý vị, làm mất hết các gốc đức của chúng sinh, ngăn che sự thanh tịnh sáng suốt, làm mờ đạo chí hóa nên mới nói như vậy.
Vì sao? Vì Đức Như Lai vốn đã phát nguyện sẽ làm cho xá-lợi được ban cho khắp, giống như hạt cải, vì các chúng sinh rủ lòng đại Bi; sao các vị lại muốn cúng dường một mình?
Các Chánh sĩ ấy, liền trả lời Hiền giả Đại Ca-diếp:
–Thưa Tôn giả Ca-diếp! Tôn giả đừng dùng trí hữu hạn của Thanh văn mà hạn chế trí tuệ minh đạt vô cùng sâu xa của Đức Như Lai!
Vì sao? Vì Đức Như Lai có Phổ trí tâm thấy tất cả nơi; Như Lai dùng thần túc, cảm động biến hóa. Nếu Như Lai khởi niệm, có thể khiến cho các cung điện của trời, rồng, quỷ thần, ở tam thiên đại thiên thế giới đều có thể hoàn toàn là chỗ đặt để xá-lợi của Phật; khiến cho ai nấy cũng đều nghĩ rằng: “Riêng ta mới là người cúng dường xá-lợi của Đức Như Lai, người khác thì không được.”
Lại nữa, này Tôn giả Ca-diếp! Đức Thế Tôn sau khi nhập Niết-bàn, tùy tâm chúng sinh mà có sự đặt để, phụng thờ xá-lợi.
Lại nữa, thưa Tôn giả Ca-diếp! Nếu Đức Như Lai, ở nơi trời Sắc cứu cánh, tạo chỗ đặt để xá-lợi, giống như hạt cải thì cũng có thể làm cho ánh sáng chiếu khắp trong cõi trời đất ấy. Đó là sức cảm động, oai thần biến hóa của Đức Phật Thế Tôn vậy.

 
 

Phẩm 8: GIẢI QUYẾT CÁC NGHI NẠN
 

 
Bấy giờ, Hiền giả Tu-bồ-đề bảo:
–Này các Tộc tánh tử! Vả lại, Đức Như Lai có diệt độ chăng?
–Thưa Tôn giả Tu-bồ-đề! Ngay lúc khởi sinh đã có sự diệt độ.
Tôn giả Tu-bồ-đề hỏi:
–Này các Tộc tánh tử! Vậy Đức Như Lai có sinh chăng?
Thưa rằng:
 

* Trang 513 *
device

–Đức Như Lai vốn không sinh, không sinh mà sinh.
Tôn giả Tu-bồ-đề hỏi:
–Như như vốn không, không sinh, chẳng sinh, hoàn toàn không sinh chăng?
–Đúng vậy, thưa Tu-bồ-đề! Sự sinh của Đức Phật, đúng là vốn không, nên không có sinh.
Tôn giả Tu-bồ-đề hỏi:
–Sự sinh của Đức Phật như vậy, thì sự diệt thế nào?
Thưa rằng:
–Sự diệt cũng lại như vậy, như như vốn không; sinh nơi vô sinh, Niết-bàn diệt độ, cũng là vốn không.
–Thưa Tôn giả Tu-bồ-đề! Không khởi mà sinh, thì diệt độ cũng vậy. Sự diệt như vậy, cũng là vốn không.
Khi nói lời ấy, ở nơi vực sâu trong ao Vô nhiệt, hiện ra một bông sen lớn, giống như bánh xe, với vô số vô lượng, những màu sắc khác nhau; dùng các báu và ngọc danh tiếng để trang sức thành ánh sáng. Ở giữa các hoa, có một bông sen lớn, màu sắc rực rỡ, hiện sự tốt đẹp lạ thường, bay vút lên cao.
Hiền giả A-nan ở trong ao lớn Vô nhiệt, thấy sự biến hóa lạ lùng như vậy, liền thưa hỏi Đức Thế Tôn:
–Nay có sự biến hóa này, là ứng hiện điềm lành gì, mà khởi lên sự cảm động như vậy?
Đức Như Lai đáp:
–Này A-nan! Hãy thong thả, rồi sẽ tự thấy.
Đức Phật mới nói xong, bỗng từ phương dưới, cho đến cõi Bảo sức thế giới của Đức Như Lai Bảo Anh, sáu vạn Bồ-tát cùng Bồ-tát Nhuyến Thủ, bỗng nhiên nhảy lên, di chuyển khỏi cõi Năng nhân, bay đến ao lớn Vô nhiệt; tất cả đều hiện trên tòa sen lớn thật đẹp đó.
Đồng tử Nhuyến Thủ liện ngồi ở tòa sen cao rộng.
Bấy giờ, chúng hội thảy đều thấy rõ, ngạc nhiên và kinh hoàng! Khi ấy, A-nậu-đạt và các Bồ-tát, Thích, Phạm, Trì Thế đều đến nhóm họp; các chúng thảy đều chắp tay cúi đầu đảnh lễ. Đồng

* Trang 514 *
device

tử Nhuyến Thủ lui ra, đứng trong hư không, cùng cầm lọng giao lộ bằng ngọc báu.
Cùng với Đồng tử Nhuyến Thủ, các Bồ-tát đang ngồi trên tòa sen, cũng đồng thời vọt lên hư không, cách mặt đất rất xa. Ở trên hư không ấy, làm mưa những hoa sen thật đẹp chưa từng thấy, để cúng dường Đức Như Lai. Từ trong các hoa, lại có tiếng phát ra:
–Đức Như Lai Bảo Anh thăm hỏi Đức Thế Tôn, sự đi lại có được vô lượng tốt đẹp, cơ thể có được khỏe mạnh, thần lực có được an hòa chăng?
Tiếng ấy lại nói tiếp:
–Đồng tử Nhuyến Thủ và các Bồ-tát, gồm sáu vạn người, cùng đến cõi Nhẫn, đi đến ao sâu của Long vương Vô Nhiệt để xem sự biến hóa cảm ứng ấy. Lại có ý thích muốn được nghe Long vương, hỏi về Đạo phẩm trang sức nhập vào trong pháp căn bản để nói; xin Đức Thế Tôn rộng khuyến pháp ngôn khiến cho mọi người có sự mừng vui.
Bấy giờ, Đồng tử Nhuyến Thủ và các Bồ-tát, từ hư không đi xuống, đến chỗ Bậc Chánh Giác, cúi đầu lạy Đức Như Lai, lòng mừng rõ cung kính, đứng trước Đức Thế Tôn.
Khi ấy, Bậc Thiên Sư mới bảo Nhuyến Thủ:
–Đồng tử đến đấy à? Vì mong ước điều gì mà cùng các Bồ-tát đến đây?
Nhuyến Thủ bạch Đức Phật:
–Thưa Thế Tôn! Chúng con ở tại thế giới Bảo sức, cõi của Phật Như Lai Bảo Anh, được nghe Đức Như Lai Năng Nhân Chí Chân rủ lòng thương xót đến mười phương chúng sinh, diễn nói pháp yếu này. Vì nghe pháp ấy, nên từ cõi kia, mới đi đến đây hầu hạ, lễ bái Đức Thiên Sư, nhờ đó mà được nghe Đức Như Lai giảng pháp.
Tôn giả Ca-diếp bạch Đức Phật:
–Có phải các Đại sĩ này, ở gần cõi Phật Thế Tôn Bảo Anh, thuộc thế giới Bảo sức, rồi bỗng nhiên đi đến đây chăng?
Nhuyến Thủ đáp:

* Trang 515 *
device

–Thưa vâng! Như Tôn giả Ca-diếp khi nhập định, với năng lực thần túc và phi hành cao tột; dù cho đến lúc mạng chung, rồi diệt độ ở trong đó, vẫn không thể đến cõi ấy được. Vì cảnh giới của nước ấy rất xa vậy.
Đức Phật bảo Tôn giả Ca-diếp:
–Cõi ấy, cách nơi đây, trải qua sáu mươi hằng sa cõi Phật, mới đến cõi Phật Như Lai Bảo Anh.
Tôn giả nói tiếp:
–Qúy vị, từ cõi ấy đến đây, thời gian bao lâu?
Đáp rằng:
–Thật lâu! Như tuổi cao, lậu tận, ý được giải thoát của Tôn giả vậy.
Tôn giả Đại Ca-diếp nói:
–Thật chưa từng có. Quả vậy, thì này Nhuyến Thủ! Thần túc của các Chánh sĩ này là như vậy sao?
Nhuyến Thủ lại nói:
–Tôn giả tuổi cao, lậu tận, ý giải thoát; thời gian lâu bao nhiêu?
Đáp rằng:
–Như trong khoảng khắc của sự chuyển ý.
Lại nói:
–Tôn giả tuổi cao đã giải thoát chăng?
Đáp rằng:
 –Đã giải thoát.
Nhuyến Thủ lại hỏi:
–Ai buộc tâm mình mà có sự giải thoát?
Đáp rằng:
–Này Nhuyến Thủ! Vì tâm có cột, mở; chẳng phải sự giải thoát là có mở, để đạt tuệ kiến.
Hỏi rằng:
–Thưa Tôn giả Ca-diếp! Nếu tâm không cột, cần gì phải mở?
Tôn giả Ca-diếp đáp:

* Trang 516 *
device

–Biết tâm không cột, thì đó là mở.
 Hỏi:
–Thưa Tôn giả Ca-diếp! Dùng những tâm gì, mà gọi là biết tâm? Dùng tâm quá khứ chăng? Dùng đương lai hay hiện tại? Tâm quá khứ đã diệt mất, tâm đương lai chưa đến, tâm hiện tại thì không dừng. Vậy dùng những tâm gì, mà biết tâm mình?
Đáp rằng:
–Tâm đã diệt ấy! Này Nhuyến Thủ! Tức không có sự toan tính của thân tâm.
–Này Hiền giả! Tâm biết diệt chăng?
–Tâm diệt rồi, thì không thể biết được.
–Khi đạt đến đó hoàn toàn diệt hết tâm. Nó vĩnh viễn không có thân thức để được.
–Thật là bậc Đại Biện Tài. Này Đồng tử Nhuyến Thủ! Chúng tôi thấp kém, đâu có thể ứng đáp được những lời biện luận cao tột.
Nhuyến Thủ lại nói:
–Vì sao? Này Tôn giả Ca-diếp! Tiếng vang lẽ nào có ngôn từ chăng?
–Không, này Đồng tử! Là nhân duyên khởi vậy.
–Không nói chăng? Thưa Đại Ca-diếp! Tất cả âm thanh giống như tiếng vang chăng?
 –Đúng vậy.
Nhuyến Thủ lại nói:
–Âm vang lời nói có thể đạt đến chăng?
–Không thể đạt đến.
Lại nói:
–Đúng vậy, thưa Đại Ca-diếp! Bồ-tát sử dụng biện tài quyền xảo, không thể nghĩ bàn, cũng không cắt đứt. Nếu Trưởng lão hỏi, từ kiếp này đến kiếp khác về cơ biện của Bồ-tát thì khó mà cùng tận.
  Bấy giờ, Tôn giả Ca-diếp bạch Đức Phật:
–Cúi mong Đức Thế Tôn, gia khuyến cho Nhuyến Thủ, hãy vì đại chúng này mà rộng giảng thuyết pháp, khiến cho các chúng hội

* Trang 517 *
device

mãi mãi được an ổn, khiến cho tất cả được pháp yếu rực sáng.
Khi ấy, ở trong chúng, có một Đại Bồ-tát, tên là Trí Tích hỏi Đồng tử Nhuyến Thủ:
–Này Đồng tử! Vì sao Trưởng lão Ca-diếp tuổi cao, kỳ cựu mà lời nói khiếp nhược, thấp kém như vậy? Sao vẫn gọi Trưởng lão là tuổi cao?
Đồng tử Nhuyến Thủ đáp:
–Vì Trưởng lão là Thanh văn, cho nên mới biện luận không quả quyết.
Trí Tích lại hỏi:
–Có phải Trưởng lão không biết phát tâm Đại thừa chăng?
–Hoàn toàn không phải vậy. Vì Trưởng lão chỉ dùng sự giải thoát của Thanh văn thừa.
 Hỏi:
–Lại nữa, này Nhuyến Thủ! Vì sao gọi là Thanh văn thừa?
Nhuyến Thủ đáp:
–Này Tộc tánh tử! Đức Thế Tôn là Bậc Năng Nhân, tùy theo các chúng sinh mà lập ra ba thừa giáo, phô diễn sự nói pháp. Có hạnh Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Đại thừa. Vì sao? Vì chúng sinh ý mang nhiều tham, chí khí thì thấp kém, nên mới nói ba hạnh.
Trí Tích lại hỏi:
–Này Nhuyến Thủ! Vì sao Không, Vô tướng, Vô nguyện, hoàn toàn không có hạn lượng? Sao lại giới hạn chỉ có ba thừa?
Đáp rằng:
–Này Tộc tánh tử! Đó là các Đức Như Lai sử dụng quyền xảo, cho Không, Vô tướng, Vô nguyện, không có hạn lượng. Vì các chúng sinh hay dính mắc vào giới hạn, nên nói có hạn lượng; nhưng hoàn toàn không có giới hạn đối với người không giới hạn.
 Hỏi:
–Lại nữa, này Nhuyến Thủ! Chúng tôi có thể thoái lui, để vĩnh viễn không cùng chúng sinh tâm chí thấp hèn hội hợp.
Nhuyến Thủ đáp:

* Trang 518 *
device

–Này các Tộc tánh tử! Hãy kiên nhẫn, nên theo Long vương Vô Nhiệt, để nghe trí tuệ biện tài và vô lượng pháp.
  Kỳ lão Ca-diếp hỏi Trí Tích:
  –Thế nào, thưa Chánh sĩ! Như cõi Phật Như Lai Bảo Anh, Ngài sẽ nói pháp thế nào?
Trí Tích đáp:
–Chỉ có một pháp vị. Từ một pháp, tiếng nói sẽ diễn xuất vô lượng pháp nghĩa; chỉ luận về pháp không thoái chuyển của Bồ-tát, luận về yếu hạnh thâm sâu mầu nhiệm của chư Phật. Từ đó, giữ lấy giải thoát, không do các chúng xen tạp, nương nơi Phổ trí, hoàn toàn không có sự giải thoát nào khác, mãi mãi giảng về lời bàn thanh tịnh, thuần thục của Bồ-tát. Những vị ấy hoàn toàn không có hạnh khiếp nhược.
Bấy giờ, A-nậu-đạt hỏi Nhuyến Thủ:
–Nhân tôn Nhuyến Thủ đến đây để hầu hạ Như Lai. Vậy có bao nhiêu hình tượng để quán Đức Như Lai? Dùng sắc để quán chăng? Hay dùng thống (thọ), tưởng, hành, thức để quán Đức Như Lai?
Đáp rằng:
 –Chẳng phải vậy.
Lại hỏi:
–Nói một cách tóm lược, đó là dùng sắc khổ để quán chăng? Hay thống, tưởng, hành, thức khổ để quán chăng? Diệt sắc, thống, tưởng, hành, thức để quán chăng? Dùng hạnh Không, Vô tướng, Vô nguyện quán Như Lai chăng?
Trả lời:
 –Chẳng phải vậy.
Lại hỏi:
–Có phải là dùng quá khứ, vị lai, hiện tại, tướng tốt, mắt thịt, mắt thánh, mặt tuệ để quán Như Lai chăng?
Đáp rằng:
–Chẳng phải vậy!
 Hỏi:

* Trang 519 *
device

–Thế nào Nhuyến Thủ! Dùng những tướng gì để quán Như Lai?
 Đáp:
–Này Long vương! Quán Đức Như Lai, phải như Đức Như Lai.
Lại hỏi:
–Này Nhuyến Thủ! Như Lai là thế nào?
 Đáp:
–Như Lai là Vô đẳng chi đẳng, sự bình đẳng không thể thấy, vì Như Lai là vô song, nên rất tươi đẹp.
Này Long vương! Như Lai là Bậc tôn quý, không cùng, không phải ngẫu nhiên Ngài vô song, không thể so sánh hay ví dụ, không trù lượng, không ai bằng, không thể so sánh, cũng không sắc tướng, Ngài không có hình tượng, không hình, không ảnh, không danh, không tự, không nói, không thọ. Này Long vương! Như Lai là như vậy. Nên xem xét như vậy để quán Như Lai. Cũng không dùng mắt thịt, mắt thánh, mắt tuệ để quán Như Lai.
Vì sao? Vì dùng mắt thịt để thấy cho rõ; nhưng Như Lai thì không tối, không sáng, cho nên không thể dùng mắt thịt để quán.
Lại nữa, mắt Thánh thì có tướng tạo ra, mà Như Lai thì bình đẳng, vượt qua tất cả, không đứng yên; cho nên không thể dùng mắt Thánh để quán.
Lại nữa, mắt Tuệ thì vốn biết là vô tướng, nhưng Như Lai thì đối với chúng, hoàn toàn không có; cho nên không thể dùng mắt Tuệ để quán.
Này Nhuyến Thủ! Thế nào là quán Đức Như Lai để được thanh tịnh?
 Đáp:
–Này Long vương! Ai biết nhãn, thức, tâm không có khởi; lại biết sắc, thức, tâm không khởi diệt. Ai quán như vậy là quán Như Lai và sẽ được thanh tịnh.
Bấy giờ, các Bồ-tát ở cõi Bảo sức của Như Lai Bảo Anh đến dự, đạt được điều chưa từng có, nên thảy đều vui vẻ và nói:
–Thật là sự nhiệm mầu, sung sướng! Các chúng sinh này khéo

* Trang 520 *
device

gặp Đức Như Lai, nghe được Long vương hỏi về phẩm Giải quyết hồ nghi như vậy. Nghe rồi vui mừng, tin, thọ, không sợ, không hãi, không còn lo ngại gì, lại thêm thọ trì, đọc tụng, chỉ bày, ban cho. Chánh sĩ như vậy, nên ở trong nhà tuệ. Chúng tôi từ Đức Thế Tôn Bất Không đến đây, được nghe về tượng pháp cơ bản vô cực này.
Lại nữa, bạch Thế Tôn! Pháp này nếu được lan đến làng xóm, quốc gia nào thì nên biết nơi đó, Đức Như Lai mãi còn, trọn không diệt độ, chánh pháp không hủy hoại, việc đạo hóa sẽ thịnh vượng.
Vì sao vậy?
–Vì pháp phẩm này, có thể hành phục ma quân, chế ngự các ngoại đạo.
Bấy giờ, A-nậu-đạt bảo Nhuyến Thủ:
–Đồng tử Nhuyến Thủ là người khéo tu hành. Bồ-tát này được nghe pháp ấy, được thành Phật không khó, tự mình tiến bộ, khuyên hóa người khác, chuyên cần với đạo không mệt mỏi.
–Sao gọi là Bồ-tát cần tu hạnh lành?
Nhuyến Thủ đáp:
–Này Long vương! Như hạnh tham lam không có, hạnh ban cho cũng không, hiểu được như vậy, gọi là hạnh lành. Nói tóm lại, không có giới cùng với giới; ôm lòng sân hận với nhẫn nhục; lười biếng thoái lui với tinh tấn; loạn ý với nhất tâm, Như sự ngu là không thì trí tuệ cũng không. Đối với những việc ấy bình đẳng, gọi là hạnh lành.
Lại nữa, này Long vương! Như sự dâm dục, giận tức, ngu si là không; sự không dâm dục, giận tức, ngu si, cũng không. Như hạnh tham dự vào sự việc là không, sự không tạp loạn cũng không. Đối với những hạnh ấy, gọi là hạnh lành.
Lại nữa, này Long vương! Như hành tám vạn bốn ngàn là không, sự chánh chân giải thoát của Hiền thánh cũng là không. Đối với những hạnh ấy, gọi là hạnh lành.
Lại nữa, này Long vương! Nếu có các bậc Minh hiền tu Bồ-tát hạnh; không hành, không chẳng hành, cũng không thấy hành, không có mê hoặc hành, cũng không có niệm hành, lại không biết hành. Những hạnh như vậy, gọi là hạnh lành.

* Trang 521 *
device

Long vương Vô Nhiệt hỏi Nhuyến Thủ:
–Đồøng tử! Bồ-tát hành thế nào đối với vô sở hành?
Đáp rằng:
–Này Long vương! Từ lúc mới phát tâm hành Bồ-tát đạo đến lúc thành Phật, công đức đã làm đều do việc làm đầu tiên, chứ hành không sinh, hành không nơi nhận lãnh, hành không bỏ hay giữ, không có hành hiềm khích; hành lại không dính mắc, cũng không hành chân thật, không hành có hạn, cũng hành không mê hoặc, lại không hành dâm, hành không chỗ tạo ra, cũng không gìn giữ hành, hành không suy xét kỹ, cũng không hành tận đáy. Đó gọi là Bồ-tát hành mà không hành.
Nếu Bồ-tát dùng hành không sinh, không hành, chẳng hành, được ba mươi bảy phẩm, không có chỗ tạo tác, dùng trí tuệ để giải thoát, vĩnh viễn giải thoát đối với sự giải thoát, không vượt qua hai bên, rõ biết bản tế mà vẫn không giữ sự chứng đắc. Bồ-tát làm như vậy, gọi là Bồ-tát được nhẫn bất khởi. Hành như vậy gọi là hạnh lành. Khi nói lời ấy, có ba vạn bốn ngàn trời, rồng, quỷ thần, Bồ-tát là những người tu hành đều được Nhẫn vô tùng sinh pháp lạc.

* Trang 522 *
device

Đại Tập 60 - Bộ Kinh Tập VII - Số 626->639