LOGO VNBET
KINH VĂN-THÙ-SƯ-LỢI PHỔ SIÊU TAM-MUỘI
 
QUYỂN HẠ
 
 Phẩm 10: QUYẾT NGHI
 
Đến đây, vua A-xà-thế thấy các vị Bồ-tát và chúng Thanh văn ăn xong, rửa tay rồi, nhà vua lấy cái giường thấp, ngồi trước Bồ-tát Phổ Thủ để lắng nghe thuyết pháp. Nhà vua thưa:
 –Kính xin Bồ-tát Phổ Thủ giải cho tôi sự hồ nghi.
Bồ-tát Phổ Thủ đáp:
–Sự hồ nghi đại vương dù cho hằng hà sa số các Đức Phật Thế Tôn cũng chẳng có thể giải quyết được.
Khi nhà vua tự xét mình không cứu, không hộ được nên rơi từ giường xuống như cây đại thọ bị xô đổ xuống đất. Tôn giả Đại Ca-diếp nói:
  –Xin đại vương hãy tự yên ổn, chớ hốt hoảng, chớ lấy làm sợ hãi. Vì sao? Vì Bồ-tát Phổ Thủ mặc áo giáp đại đức, phương tiện thiện xảo mà thiết lập lên lời nói này. Nhà vua có thể từ từ mà hỏi.
Nhà vua liền bắt đầu hỏi Bồ-tát Phổ Thủ:
–Thưa Đại sĩ! Sao Đại sĩ nói sự hồ nghi của tôi dù cho số Đức Phật Thế Tôn nhiều như cát sông Hằng cũng không thể vì tôi giải quyết được?
Bồ-tát Phổ Thủ đáp:
–Ý nhà vua thế nào? Các Đức Phật Thế Tôn duyên theo tâm mà làm ư?
 Đáp:
 –Chẳng phải vậy.
Bồ-tát Phổ Thủ lại hỏi:

* Trang 144 *
device

–Các Đức Phật Thế Tôn phát tâm mà làm ư?
Đáp rằng:
 –Chẳng phải vậy.
Các Đức Phật Thế Tôn diệt tâm mà làm ư?
Đáp rằng:
 –Chẳng phải vậy.
Lại hỏi:
–Các Đức Phật Thế Tôn làm theo hữu vi ư?
Đáp rằng:
 –Chẳng phải vậy.
Lại hỏi:
–Các Đức Phật Thế Tôn đã dạy hành vô vi ư?
Đáp rằng:
 –Chẳng phải vậy.
Bồ-tát Phổ Thủ lại hỏi:
–Ý vua thế nào? Các pháp ấy mà không có pháp, không có người thực hành, không có chỗ hướng đến mà có thể có người giáo hóa đối với sự đoạn trừ pháp đó sao?
Đáp rằng:
–Chẳng phải vậy
Bồ-tát Phổ Thủ nói tiếp:
–Nhà vua nên biết, do vậy tôi mới nói lời này, sự hồ nghi của nhà vua dù cho các Đức Phật Thế Tôn nhiều như cát sông Hằng cũng chẳng thể giải quyết được.
Lại nữa, này đại vương! Giả sử có người tự nói rằng: “Ta lấy bụi đất, tro, khói, mây mù làm cho ô nhiễm hư không.” Người ấy đủ sức làm ư?
  Đáp rằng:
  –Chẳng thể làm ô nhiễm được!
  Bồ-tát Phổ Thủ lại hỏi:
  –Giả sử đại vương sai tôi lấy hư không này đem rửa sạch, tôi làm được ư?

* Trang 145 *
device

Đáp rằng:
–Không thể được!
Bồ-tát Phổ Thủ lại nói:
–Thưa đại vương! Như vậy bản thân Đức Như Lai hiểu rõ các pháp giống như hư không. Đã thành Tối chánh giác thì tự nhiên thanh tịnh, không chỗ nhiễm ô. Vì vậy, nên thấy có pháp nào bị ô nhiễm là thấy ngược ư? Đâu có thể thấy rõ là trừ sạch được? Đại vương hãy quán sát cái nhìn của pháp ấy. Vì vậy nên vừa rồi tôi nói rằng: “Các Đức Phật Thế Tôn nhiều như các sông Hằng cũng chẳng thể giải quyết được vậy.”
Lại nữa, này đại vương! Các Đức Phật Thế Tôn chẳng chứng đắc bên trong tâm mà có chỗ trụ, chẳng chứng đắc bên ngoài tâm mà có chỗ trụ. Vì sao? Vì tất cả các pháp tự nhiên thanh tịnh, không có xứ sở. Tự nhiên ấy là không có xứ sở, không có chí nguyện. Có chỗ trụ ấy là vì sao? Là vì được tự tại vậy!
Các pháp tự nhiên nên không tự nhiên vậy!
Các pháp không kiến lập nên không ngã đổ vậy!
Các pháp không thật có nên không thể nắm bắt vậy!
Các pháp rời khỏi hình dáng nên không hình dáng vậy!
Các pháp rỗng rang nên không ngăn ngại vậy!
Các pháp không có tướng giáo hóa nên không thể giáo hóa vậy!
Các pháp tự nhiên không vướng mắc nên lìa khỏi chấp trước vậy!
Các pháp bỏ nơi hướng đến nên không hướng đến vậy!
Các pháp không biệt ly nên không biệt ly vậy!
Các pháp không chỗ sinh nên không chỗ nương tựa vậy!
Các pháp tự nhiên thanh tịnh nên tâm tánh thanh tịnh vậy!
Các pháp không phân chia bình đẳng như hư không nên không gì so sánh vậy!
Các pháp không bè đảng nên không có bạn bè vậy!
Các pháp lìa khỏi hai nên không có hai vậy!
Các pháp rỗng lặng nên không lường vậy!

* Trang 146 *
device

Các pháp không chấm dứt nên không biên tế vậy!
Các pháp không bến bờ nên không chân thật vậy!
Các pháp từ điên đảo chẳng chân thật mà không có chỗ trụ nên không điên đảo vậy!
Các pháp thường thanh tịnh, được an ổn rồi nên yên ổn vậy!
Các pháp không nơi hướng đến nên thanh tịnh vậy!
Các pháp vốn thanh tịnh, do minh đạt nên đã tự nhiên vậy!
Các pháp vô ngã mà hiện sáng nên yên ổn vậy!
Các pháp không tưởng niệm nên không do dự vậy!
Các pháp bên trong tịch nhiên nên không lừa dối vậy!
Các pháp hoàn toàn không chân thật nên tịch mịch vậy!
Các pháp tướng rỗng rang nên không có ngã, ngã sở vậy!
Các pháp trừ tận ngã nên không xuyên thủng rơi rớt vậy!
Các pháp tướng giải thoát nên về với tịch diệt vậy!
Các pháp lìa nhớ nghĩ nên không sợ sệt vậy!
Các pháp lìa số lượng nên tạo ra “một bình đẳng” vậy!
Các pháp đều ngự thoát nên hoảng hốt vậy!
Các pháp chẳng tưởng, chẳng bờ cõi nên không có tưởng vậy!
Các pháp không hủy hoại cái duyên an nhàn tịch mặc nên thuận với lý không vậy!
Các pháp lìa các kiến chấp nên không có nguyện cầu vậy!
Các pháp lìa được ba đời nên đoạn dứt được ba đời vậy!
Các pháp không quá khứ, vị lai và hiện tại nên vô vi bình đẳng vậy!
Các pháp hoàn toàn vô sinh nên theo ý nhà vua thì thế nào? Pháp kia không sinh cũng không khởi, cũng không thật có, không chân đế, đâu ai có thể làm ô nhiễm nó được ư?
Nhà vua đáp:
 –Chẳng được vậy.
Bồ-tát Phổ Thủ nói:
–Pháp kia chắc có thể đoạn trừ được chăng?
Đáp rằng:

* Trang 147 *
device

 –Chẳng được vậy.
Bồ-tát Phổ Thủ lại nói:
–Tất cả các pháp bình đẳng với Nê-hoàn. Đức Như Lai hiểu được điều này nên đạt đến Tối chánh giác. Do điều này nên sự hồ nghi của nhà vua chẳng thể giải quyết được. Vậy nên, đại vương chẳng thể tu hành, có chỗ tạo lập cũng chỉ theo tâm điên đảo. Nhà vua phải tu hành tạo lập quán sát của chân đế, quán sát bản thể vô vi, thiết lập được khả năng quán sát ấy thì đối với các pháp không chỗ nắm bắt, cũng không chỗ hiểu, chẳng cùng chung ở. Nếu đại vương chẳng ở cùng với các pháp thì ấy mới là tin. Có niềm tin ấy mới là tịch mịch. Có sự tịch mịch ấy mới là tự nhiên tịnh. Có tự nhiên thanh tịnh mới là không chỗ tạo tác. Có sự không tạo tác thì tất cả các pháp không có chủ. Nhờ đó tạo ra Nhẫn, tất cả các pháp không có tác giả. Nhà vua nên biết điều này, không tạo tác là diệt độ. Xét các pháp kia cũng không tạo tác, không phá hoại, cũng không có tạo, cũng không chẳng tạo, đó là diệt độ. Giả sử đại vương thuận theo sự giải thoát là bình đẳng giải thoát. Đã bình đẳng giải thoát rồi thì đối với pháp ấy không nơi chốn, không đuổi kịp, chẳng tăng, chẳng giảm. Vì sao? Vì ở tất cả các pháp không lợi ích, cũng không mong cầu, các pháp không nguồn gốc. Các pháp không nguồn gốc thì không chỗ sinh. Không chỗ sinh thì không nguồn gốc. Bản thể vô vi ấy bình đẳng không sai khác, nên gọi là không nguồn gốc. Giả sử đại vương tin hiểu bản thể vô vi thì tất cả hồ nghi tự nhiên bị đoạn dứt. Lại nữa, nếu nhà vua mắt không nhiễm ô, cũng không sáng sạch, sự tự nhiên của mắt là không nguồn gốc vậy, không nguồn gốc tự nhiên thì gọi là mắt vậy. Tai, mũi, lưỡi, thân và tâm ý cũng lại như vậy.
Này đại vương! Tâm ấy không có nhiễm ô, cũng không thanh tịnh. Tự nhiên của tâm là không nguồn gốc. Không nguồn gốc thì gọi là tâm. Nhà vua nên biết, sắc không nhiễm ô cũng không thanh tịnh, sắc ấy tự nhiên là không nguồn gốc. Không nguồn gốc tự nhiên thì gọi là sắc vậy. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Thức không nhiễm ô, cũng không thanh tịnh. Sự tự nhiên của thức là không nguồn gốc. Không nguồn gốc tự nhiên thì gọi là thức vậy. Nhà vua

* Trang 148 *
device

nên biết, tất cả các pháp không có nhiễm ô, cũng không thanh tịnh. Các pháp tự nhiên là không nguồn gốc, không nguồn gốc tự nhiên thì gọi là các pháp. Tâm không hình sắc, cũng không thể thấy không chỗ nguy hại, không có xứ sở, không có ngôn giáo.
Ví như huyễn, chẳng ở bên ngoài, chẳng ở bên trong. Tâm ấy vốn tịnh mà tự nhiên sáng. Giả sử tâm thanh tịnh thì không nhiễm ô, cũng không thanh tịnh. Nhà vua nên hiểu, đây, kia vốn thanh tịnh, tâm chẳng thể nhiễm ô, không có thanh tịnh, không có hư vọng, cũng không nhiễm trước, không chỗ nguy hại, do không có tưởng chân thật nên có tạo tác, không có chân thật nên thiết lập chỗ trụ. Phàm phu ngu si dựa vào ham muốn trần lao thì sao gọi là không có chân thật mà phát khởi tưởng không chân thật. Do không chân thật nên không thể khởi chân thật. Tất cả các pháp trụ đều chẳng chân thật. Do chấp ở đó nên không có tưởng chân thật.
Thưa đại vương! Ví dụ như hư không này không màu sắc, không thấy chẳng thể cầm nắm được, cũng không bỏ được, cũng không ngôn giáo. Giả sử có người nói rằng: “Nay hư không này không màu sắc, không thấy không cầm nắm được, cũng không thể bỏ, không có ngôn giáo. Ta nay muốn dùng bụi, khói, tro, mây mù để làm ô nhiễm hư không.”
Nhà vua đáp:
 –Chẳng thể được.
Bồ-tát Phổ Thủ nói:
–Như vậy, này đại vương! Tâm vốn thanh tịnh, tự nhiên hiển sáng thì chẳng có thể dùng bụi, khói, tro, mây, sương mù làm ngăn ngại, làm ô nhiễm. Ví như bụi khói mây mù trụ ở hư không, nhưng nhất định chẳng nhiễm vào hư không, làm nó dơ bẩn được.
Như vậy, thưa đại vương! Phát khởi tư tưởng ngã, ngã sở là do duyên kết sử là tham, sân, si chứ chẳng nhiễm ô tâm pháp, chẳng nhiễm ô cái thanh tịnh tự nhiên của tâm pháp. Vậy nên, đại vương đối với điều kia chớ ôm lấy hoài nghi. Nhà vua nên biết, tâm quá khứ và tâm vị lai kia thì không hình dáng. Tâm vị lai và tâm quá khứ cũng không hình mạo. Tâm hiện tại thì không chỗ nương tựa, cũng không thật có. Ý của tâm trước, chẳng ngăn ngại tâm sau. Ý niệm

* Trang 149 *
device

của tâm sau, chẳng ngăn ngại tâm trước. Tâm hiện tại ấy cũng lại như vậy. Bậc trí đối với việc kia mà tạo ra sự quan sát ấy. Tâm không thật có cũng chẳng phải không thật có. Tâm quá khứ đã diệt tận, tâm vị lai chưa đến, tâm hiện tại không trụ, nhìn thấy các pháp, tâm vị lai không trụ, tiêu trừ các kiến chấp không chỗ ngăn ngại thì đó là giải thoát. Tưởng thanh tịnh thì các pháp lìa khỏi dơ bẩn, bình đẳng, khắp thế gian sáng suốt bình đẳng khắp không chỗ sinh ra thì không có ngôn giáo, không có ngôn giáo thì không chỗ nào chẳng ở. Đức Thế Tôn đã nói cái ý nghĩa của tịch nhiên, tịch nhiên ấy đối với pháp kia thì không có chỗ. Giả sử có người tìm cầu nơi ngôn giáo, tìm tòi các pháp.
Thưa đại vương! Giả sử ở tại các pháp mà không ý niệm thì trừ được tất cả kết sử hồ nghi, mà đối với các pháp không chỗ đoạn trừ. Vì sao? Vì sự hồ nghi ấy cùng pháp vừa bình đẳng lại không sai khác. Vậy nên nói là các pháp ngự trị bình đẳng, tất cả các pháp và cả pháp giới, ở các pháp này sẽ ngự trị bình đẳng. Vì sao? Vì tất cả các pháp nhập vào trong pháp giới. Thiết lập pháp giới bình đẳng thì các pháp bình đẳng. Vậy nên nói rằng pháp giới bình đẳng với tất cả các pháp. Pháp giới ấy bình đẳng thống lãnh các pháp.
Khi Bồ-tát Phổ Thủ nói lời này, thì vua A-xà-thế đạt được pháp nhẫn Nhu thuận, vui mừng hớn hở, lòng được an lạc lớn. Nhà vua liền chắp tay khen rằng:
–Hay thay! Rất sung sướng được nghe lời diệt trừ sự hồ nghi của tôi.
Bồ-tát Phổ Thủ đáp:
–Nhà vua nên biết, đây là cái kết sử hồ nghi rất tối tăm vậy.
Nhà vua đã hoàn toàn xa lìa tất cả các pháp nên nói:
–Hay thay! Thưa Bồ-tát Phổ Thủ! Tôi rất sung sướng nghe lời đoạn trừ nghi hoặc ấy.
Nhà vua lại nói:
–Do vì diệt hết các sự ngăn che của các “ấm” “chấp ngã”, giả sử thân mạng tôi đến lúc chết thì sẽ được đến với đạo.
Bồ-tát Phổ Thủ đáp:
–Đó là sự nghi ngại rất lớn của đại vương. Diệt được nó mới

* Trang 150 *
device

đạt được cứu cánh tất cả các pháp đến với diệt độ, mới có thể mong cầu tưởng đến Nê-hoàn. Tất cả các pháp là Niết-bàn rốt ráo mà lại mong tưởng diệt độ ư? Nê-hoàn cứu cánh ấy là bản tánh thanh tịnh của các pháp mà không chỗ sinh.
Bấy giờ, vua A-xà-thế lấy áo mềm mại, đẹp đẽ trị giá hàng trăm ngàn, dâng lên Bồ-tát Phổ Thủ để đền đáp ân pháp mà Bồ-tát đã che chở cho mình. Bồ-tát Phổ Thủ bỗng nhiên biến mất, chẳng biết thân Bồ-tát đã đi về đâu, ở hư không có tiếng nói:
–Như hôm nay đại vương chẳng nhìn thấy thân của Bồ-tát Phổ Thủ thì quan sát sự hồ nghi ấy cũng sẽ như thế. Như thấy sự hồ nghi, thấy tất cả các pháp cũng lại như vậy. Như quan sát các pháp đã thấy như vậy, thấy không chỗ thấy.
Lại nói rằng:
–Này đại vương! Đại vương đã thấy thân nên dùng áo để cúng dường.
Ngồi tiếp theo Bồ-tát Phổ Thủ là Bồ-tát tên Tuệ Anh Tràng, vua A-xà-thế đem áo cúng dường cho vị ấy. Khi ấy, vị Bồ-tát chẳng chịu nhận áo, nói với vua:
–Tôi chẳng muốn thoát khỏi sở hữu, cũng chẳng sân hận, cũng chẳng diệt độ. Tôi cũng chẳng gần với pháp phàm phu mà nhận áo ấy. Tôi cũng chẳng theo hạnh cứu giúp phàm phu, chẳng theo học, cũng lại chẳng theo pháp thoát khỏi phiền não, chẳng theo ‘bất học’, chẳng theo vô học mà vượt qua pháp. Tôi chẳng theo Duyên giác, cũng chẳng theo pháp vượt qua Duyên giác mà nhận áo ấy. Tôi cũng chẳng theo sự thọ nhận của Như Lai, cũng chẳng theo pháp giải thoát của Như Lai mà nhận áo này. Giả sử đại vương cũng hành pháp này, chẳng xả pháp này thì tôi mới nhận. Người được nhận nếu có người ban cho, người nhận người cho đều bình đẳng, không sai khác. Người bố thí như thế này là đúng như Chúng Hựu thanh tịnh đã dạy.
Vua A-xà-thế lấy áo mặc vào thân ngài Tuệ Anh Tràng, ở trên tòa lập tức Bồ-tát biến mất. Rồi ở hư không lại nghe có tiếng nói:
–Thân hiện tiền kia, hãy lấy áo để cúng dường!

* Trang 151 *
device

Thứ đến, có vị Bồ-tát tên là Tín Hỷ Tịch, vua A-xà-thế đem áo cúng cho vị ấy. Bồ-tát kia nói:
–Tôi cũng chẳng theo cái thấy có tự thân như có sự nhận cũng chẳng theo cái thấy có người khác, chẳng theo cái thấy có sắc trần mà có sự thọ nhận. Tôi chẳng theo sự lìa bỏ sắc trần, cũng không theo sự nương tựa vào tịch tĩnh mà có sự thọ nhận. Tôi chẳng theo sự không nương tựa, chẳng theo định ý, chẳng theo loạn chí, chẳng theo trí tuệ, chẳng theo vô tuệ mà có sự thọ nhận.
Nhà vua liền mặc áo lên người Bồ-tát thì Bồ-tát cũng biến mất, trên không trung như có tiếng nói:
–Vị nào đang có mặt thì đem áo để cúng dường.
Thứ đến, có vị Bồ-tát tên là Bất Xả Sở Niệm, vua A-xà-thế đem áo cúng cho vị ấy. Khi ấy, vị Bồ-tát cũng chẳng chịu nhận mà bảo rằng: Tôi không theo sự nương nhờ vào thân mà có sự thụ nhận, không theo sự nương nhờ vào lời nói, không theo sự nương nhờ vào tâm, không theo sự nương nhờ vào tuệ, không theo sự nương nhờ vào luận nghị, không theo sự nương nhờ vào các ấm, không theo sự nương nhờ vào chủng loại, không theo sự nương nhờ vào sự suy tàn, không theo sự nương nhờ vào thật lý, không theo sự nương nhờ vào âm thanh của Phật mà có sự thụ nhận. Vì sao? Vì tất cả các pháp đều không có chỗ nương nhờ cũng không có chỗ chấp trước, rốt ráo hằng an ổn không chấn động. Vua A-xà-thế đem áo cúng dường thì Bồ-tát cũng biến mất, ở hư không có tiếng nói với vua:
–Vị Bồ-tát kia hiện có mặt thì hãy đem áo để cúng dường!
Ngồi tiếp là vị Bồ-tát tên là Tôn Chí. Vua A-xà-thế đem áo cúng cho vị ấy. Khi đó vị Bồ-tát cũng chẳng chịu nhận nói:
Nhà vua nên biết, tôi chẳng theo sự giải thoát thấp hèn mà nhận. Giả sử đại vương phát tâm đạo Vô thượng chánh chân, tâm ấy bình đẳng thì ý đạo bình đẳng, ý tin đạo bình đẳng. Đạo đã bình đẳng thì tâm kia cũng bình đẳng. Ý đạo đã bình đẳng thì các pháp bình đẳng. Đã có thể bình đẳng tất cả các pháp thì mới nhận áo. Đối với tất cả pháp mà chẳng thọ, chẳng xả, cũng không bố thí, thoát khỏi các pháp mà không có ý cũng chẳng phải không có ý,

* Trang 152 *
device

nhìn tất cả pháp chẳng thấy ngã, ngã sở. Như vậy, hành giả mới nhận áo.
Vua A-xà-thế đem áo cúng dường cho vị Bồ-tát đó Bồ-tát liền biến mất. Rồi từ hư không như có tiếng nói:
–Vị Bồ-tát nào hiện có mặt thì hãy đem áo để cúng dường.
Kế tiếp có vị Bồ-tát tên là Định Hoa Vương, vua A-xà-thế đem áo cúng vị ấy. Khi ấy, vị Bồ-tát cũng chẳng chịu nhận nói rằng:
–Giả sử đại vương tu hành các Tam-muội, chẳng mong đạt định ý, tin hiểu các pháp vốn thanh tịnh, bình đẳng không có giải thoát thì tôi mới nhận áo ấy.
Vua A-xà-thế lấy áo mặc lên thân vị Bồ-tát ấy. Khi đó, vị Bồ-tát cũng liền biến mất, rồi ở không trung có tiếng:
–Vị nào hiện có mặt thì đem áo để cúng dường!
Vị Bồ-tát tiếp theo tên là Vô Đãi Đắc. Vua A-xà-thế đem áo cúng dường cho vị ấy. Vị Bồ-tát kia cũng chẳng chịu nhận, nói rằng:
–Thưa đại vương! Giả sử đối với tất cả “ấm” mà tin được giải thoát. Văn tự, âm thanh, tất cả bình đẳng mà chẳng thể nắm bắt được. Đã thấy các pháp không thể nắm bắt thì dẫn đường lợi ích không đạt được nghĩa lý, chẳng nắm giữ các vẻ đẹp, chẳng chỉ bày trang sức. Làm hạnh ấy thì tôi mới nhận lấy.
  Vua A-xà-thế đem áo trao cho vị ấy thì Bồ-tát kia bỗng nhiên biến mất. Rồi ở trong hư không có tiếng nói:
  –Vị nào hiện có ở đây thì đem áo để cúng dường!
Vị Bồ-tát kế tiếp tên là Tịnh Tam Cấu. Vua A-xà-thế đem áo cúng cho vị ấy, thì vị Bồ-tát kia cũng chẳng chịu nhận mà nói rằng:
–Giả sử đại vương chẳng tự chấp thân, cũng không thọ nhận. Người kia có ban cho thì cũng không vọng mong cầu. Nếu như thế thì tôi mới nhận áo.
Vua A-xà-thế đem áo trao cho thì vị ấy cũng biến mất. Rồi ở không trung có tiếng nói:
–Vị Bồ-tát hiện có mặt thì đem áo để cúng dường!

* Trang 153 *
device

Vị Bồ-tát ngồi tiếp tên là Hóa Chư Pháp Vương. Vua A-xà-thế đem áo cúng cho vị ấy. Khi ấy, vị Bồ-tát cũng chẳng chịu nhận mà nói rằng:
–Giả sử nhà vua thị hiện Thanh văn mà vào Nê-hoàn, cũng chẳng diệt độ, thị hiện Duyên giác mà vào Nê-hoàn cũng chẳng diệt độ, thị hiện Như Lai mà vào Nê-hoàn cũng chẳng diệt độ. Không có pháp đầu tiên, cuối cùng, không pháp diệt độ thì tôi mới nhận áo.
Vua A-xà-thế đem áo trao cho vị ấy thì vị ấy cũng biến mất. Trên không trung nói rằng:
–Vị Bồ-tát nào hiện có mặt thì đem áo để cúng dường!
Vua A-xà-thế lần lượt đem áo dâng lên, nhưng các vị Bồ-tát đều biến mất, từng người một đều nói:
–Vị nào hiện có ở đây thì đem áo để cúng dường!
 Giường, tòa, bàn ghế cũng biến mất.
Vua A-xà-thế nói với Hiền giả Đại Ca-diếp:
–Bây giờ, ai hiện còn ở đây, phải nhận áo này! Nhân giả đã được Đức Phật tối tôn khen ngợi nên phải nhận áo này.
Tôn giả Đại Ca-diếp nói:
–Tôi thì tham, sân, si không trừ hết vậy! Như tôi hôm nay chẳng nên nhận áo. Tôi chẳng xả vô minh, chẳng trừ ái dục, chẳng đoạn khổ não, chẳng diệt các tập, làm chẳng đến tận cùng, chứng cũng chẳng theo đường lối. Tôi chẳng thấy Phật, cũng chẳng nghe pháp, chẳng thống lãnh Thánh chúng, chẳng trừ phiền não, chẳng phát khởi tư tưởng, chẳng rời bỏ tư tưởng, chẳng kiến lập tuệ, cũng chẳng lìa khỏi tuệ. Mắt tôi chẳng tịnh, cũng chẳng tạo tuệ, cũng không chỗ diệt. Nếu nhà vua đem áo ấy ban cho tôi thì chẳng được phước lớn, cũng chẳng phải không phước. Tôi cũng chẳng ở với pháp sinh tử, không ở với pháp diệt độ, đại vương đem áo ấy ban cho tôi thì chẳng thể rốt ráo được phước đức của Bậc Chúng Hựu. Giả sử đại vương có thể làm như thế, hiểu hết các nghĩa lý thì tôi nhận áo này.
Nhà vua đem áo trao cho Tôn giả Ca-diếp thì Tôn giả bỗng nhiên biến mất, ở hư không nghe tiếng nói:

* Trang 154 *
device

–Vị nào hiện có ở đây thì đem áo cúng dường!
Vua A-xà-thế lần lượt đem áo dâng lên thì chư vị đều biến mất. Như thế, tất cả các vị đại đệ tử, từng người một biến mất đi hết cả năm trăm người. Rồi lại nghe tiếng nói:
–Nhà vua nhìn thấy thân ai thì đem áo ban cho người đó.
Nhà vua tự nghĩ rằng: “Bồ-tát Thanh văn đều biến mất hết. Ta sẽ đem áo về cho bà hậu phi thứ nhất.” Nhà vua vào cung quan sát khắp cả cũng chẳng nhìn thấy tất cả thể nữ. Vua A-xà-thế liền được thân cận định ý như thế. Mắt của nhà vua chẳng nhìn thấy các sắc, cũng chẳng thấy nam nữ, chẳng thấy đồng tử, chẳng thấy đồng nữ, chẳng thấy lớn nhỏ, chẳng thấy tường vách, chẳng thấy cây cối, chẳng thấy nhà cửa, chẳng thấy thành quách mà liên tục thấy thân tướng. Lại nghe tiếng ở trên không trung nói:
–Cứ thân nào hiện thì đem áo ban cho.
Nhà vua liền tự mặc vào thì chẳng thấy thân nữa. Liền trắng như tuyết, tiêu hết tất cả sắc tướng. Lại nghe tiếng nói:
–Giả sử đại vương chẳng thấy các màu sắc, hình tướng của mình, nhu nhuyến, yên ổn quan sát hồ nghi, cũng sẽ thấy hồ nghi như thế. Quan sát tất cả pháp cũng lại như vậy. Như không kiến chấp thì đó mới là “thấy” rời khỏi “các thấy”. Giả sử lìa “thấy” để có “sự thấy” thì “không thấy” chẳng lìa “các thấy”. Như vậy, “thấy” ấy là quán bình đẳng. Giả sử đối với các pháp chẳng có “chỗ thấy”, đã không “chỗ thấy” thì chính là quán bình đẳng. Lúc này vua A-xà-thế lìa khỏi tất cả những tưởng niệm mà mình đã có. Rồi vua ra khỏi Tam-muội, trở về với hiện thực. Nhà vua lại thấy chúng hội, các hậu phi, thể nữ, thành quách, cung điện, nhà cửa trở lại như cũ. Vua A-xà-thế bạch với Bồ-tát Phổ Thủ:
–Trước đó, chúng hội họp ở đâu? Ở trước mặt mà tôi chẳng thấy họ.
Bồ-tát Phổ Thủ đáp lại:
–Giống như những hồ nghi mà nhà vua đã nhóm họp. Chúng hội ấy trước vẫn ở chỗ đó.
Bồ-tát Phổ Thủ lại hỏi:
–Này đại vương! Đại vương thấy chúng hội ư?

* Trang 155 *
device

Đáp rằng:
–Thấy rồi!
Bồ-tát Phổ Thủ hỏi:
–Sao gọi là thấy.
Đáp rằng:
–Giống như hồ nghi, nhìn thấy chúng hội cũng lại như vậy.
Lại hỏi:
–Thấy những gì ở hồ nghi ư?
Đáp rằng:
–Như nhìn chúng hội, đã thấy các hình sắc trước mắt. Hồ nghi cũng vậy, chẳng thấy trong ngoài.
Lại hỏi:
–Này đại vương! Đức Thế Tôn nói rằng: “Kẻ phạm ngũ nghịch thì tội không được dừng nửa chừng, không có gián đoạn.” Nhà vua tự biết phải đến địa ngục ư?
Nhà vua liền đáp:
–Sao gọi là Phổ Thủ? Khi Đức Như Lai Chí Chân thành Chánh giác phải chăng thấy có pháp về nhà tù ư? Chỗ ấy về là tam đồ ư? Chỗ ấy về là trên trời ư? Chỗ ấy về là Nê-hoàn ư?
Đáp rằng:
–Thưa đại vương! Chẳng phải vậy.
Nhà vua nói:
–Này Đại sĩ Phổ Thủ quan sát thấy nay tôi đã hiểu rõ tất cả các pháp thì đối với các kinh pháp cũng không có sở đắc, rơi vào địa ngục cũng như sinh lên trời hay vào Nê- hoàn. Tất cả các pháp đều là chân như thì chẳng khác nào phân biệt chỗ quy thú của hư không, ngắm nhìn hư không, không vào địa ngục, chẳng lên trên trời, chẳng vào Nê-hoàn. Tất cả các pháp không thể phá hoại. Tất cả các pháp đều trở về pháp giới. Pháp giới ấy chẳng về đường ác, chẳng lên trên trời, chẳng vào Nê-hoàn thì tội nghịch vô gián kia gọi là pháp giới. Các nguồn gốc của các tội nghịch thì gọi là pháp giới. Do đó nguồn gốc thanh tịnh ấy chính là tội nghịch. Các tội nghịch ấy chính là nguồn gốc thanh tịnh.

* Trang 156 *
device

Vậy nên nói rằng: Các pháp vốn thanh tịnh.
Này Bồ-tát Phổ Thủ! Vậy nên, tất cả các pháp đạt đến vô sinh, từ đó tự biết chẳng rơi vào đường ác, cũng chẳng lên trời, chẳng vào Nê-hoàn.
Bồ-tát Phổ Thủ nói:
–Tại sao nhà vua làm rối loạn giáo pháp của Phật?
Nhà vua đáp:
–Tôi cũng chẳng trái giáo pháp của Đức Thế Tôn, chẳng trái Phật pháp. Vì sao? Vì Đức Thế Tôn phân biệt diễn giảng nguồn gốc vô ngã, nói nguồn gốc chân đế, đã không có ngã thì không có nhân, nhân không thật có. Chúng sinh hư vô không có thật. Như vậy, rõ ràng những cái ấy không chỗ tạo ra, cũng không tạo tác, cũng không thọ lãnh.
  Bồ-tát Phổ Thủ lại hỏi:
  –Thưa đại vương! Đại vương đã đoạn dứt hồ nghi rồi ư?
  Đáp rằng:
  –Đã tiêu trừ rốt ráo.
  Bồ-tát Phổ Thủ hỏi rằng:
  –Đại vương thế nào? Do dự đã dứt tuyệt rồi ư?
Đáp rằng:
–Đã dứt tuyệt vĩnh viễn.
Bồ-tát Phổ Thủ lại hỏi:
–Hôm nay ở trong chúng hội, mọi người biết nhà vua có tội nghịch mà tại sao nhà vua nói không tội nghịch?
Đáp rằng:
 –Chẳng phải vậy.
Lại hỏi:
–Tại sao?
Đáp rằng:
–Đó đã là nghịch thì giải thoát đối với không kết sử mà chứng đắc. Các nghịch đó tách rời khỏi “hội nghịch” thì các nghịch ấy là pháp Nhẫn nhu thuận của Bồ-tát, mà muốn khiến mọi người được vào cái nhẫn ấy thì chẳng nên đối với họ nắm giữ các “nghịch”. Này

* Trang 157 *
device

Bồ-tát Phổ Thủ, sở dĩ gọi là “nghịch” vì từ đó đến đây không có các “nghịch”. Do vậy chẳng nên đối với họ nắm giữ các ‘nghịch’.
Khi ấy, Bồ-tát Tuệ Anh Tràng khen rằng:
–Vì con đường của đại vương trang nghiêm sạch sẽ nên mới có thể thành tựu được pháp nhẫn như thế.
Nhà vua đáp:
–Gốc ngọn của tất cả các pháp đều thanh tịnh. Lại nữa tất cả các pháp là hoàn toàn rỗng không, tịch mặc không chỗ nhiễm ô. Do đó, nên chẳng thể nhiễm ô mà làm dơ bẩn đạo Vô sở trước. Đó gọi là đạo. Lại nữa, đạo ấy chẳng hướng đến sinh tử, chẳng đến với Nê-hoàn. Đạo của các Thánh hiền là đạo không nắm giữ, không chỗ khởi đạo. Đó gọi là đạo, là đạo không có đạo
Khi vua A-xà-thế nói lời ấy, là đã thành tựu được pháp nhẫn Minh đạt nhu thuận. Khi ấy trong cung bốn mươi hai thể nữ thấy uy thần biến hóa của Bồ-tát Phổ Thủ nên đều phát đạo ý Vô thượng Chánh chân, năm trăm dân chúng xa lìa phiền não chứng đắc Pháp nhãn thanh tịnh. Khi ấy, vô số trăm ngàn người đều đến tụ tập ở dưới cửa vương cung, muốn được nghe pháp, phụng sự cúng dường. Bồ-tát Phổ Thủ dùng ngón chân ấn xuống đất thì cả thành Vương xá đều trở thành lưu ly trong suốt, nên tất cả dân cư ở trong thành đều nhìn thấy Bồ-tát Phổ Thủ, các vị Bồ-tát và các vị Thanh văn, ví như tự thấy bóng mình khi soi vào gương sáng.
Bồ-tát Phổ Thủ vì những người tề tựu lại đây mà ứng thời nói pháp. Tám vạn bốn ngàn người nghe pháp đều đạt được Pháp nhãn thanh tịnh, năm trăm người đều phát ý đạo Vô thượng chánh chân.
 

Phẩm 11: TÂM BẢN TỊNH


 
Bấy giờ, Bồ-tát Phổ Thủ vì vua A-xà-thế và quyến thuộc cùng vô số người đến trong hội, khai hóa nói pháp. Bồ-tát liền đứng dậy cùng với chúng Tỳ-kheo, vua A-xà-thế, quần thần, quan lại và vô số người ra khỏi cửa cung lên đường.
Trên đường đi, họ thấy một người con trai làm hại mẹ mình ở

* Trang 158 *
device

dưới gốc cây, tiếng khóc than áo não vang vọng. Làm thế nào để cuối cùng người ấy được độ ngay trong hiện tại? Làm sao cho nó hối hận, tự trách việc đã làm của mình, vì đã hại mẹ, tạo tội đại nghịch phải đọa địa ngục? Rồi đây người ấy sẽ tu theo hạnh luật.
Lúc ấy, Bồ-tát Phổ Thủ ở trước chúng Tỳ-kheo hóa làm một gia đình hóa nhân, đi đến chỗ người hại mẹ. Họ đứng ở giữa đường, cách chỗ ấy không xa. Người hại mẹ kia trông thấy một nhóm người gồm cha mẹ và đứa con trai. Cha mẹ bảo người con trai:
–Đây là đường chính.
Đứa con kia đáp:
–Đó không phải là đường chính.
Họ tranh cãi nhau. Rồi người con hóa ra ấy hiện bày tham, sân, si giết hại cả cha mẹ hóa thân. Đứa con tội nghịch kia trông thấy người con hóa thân giết hại phụ mẫu hóa thân liền kêu khóc, đau xót không kềm chế được. Người con hóa thân liền tìm đến chỗ người giết hại mẹ mà nói rằng:
–Tội giết cha mẹ sẽ bị đọa địa ngục, kêu khóc làm gì! Phải mau tìm kế sách gì đi!
Người hại mẹ ấy tự nghĩ: “Này người mới đến này giết hại cả song thân, ta chỉ hại mẹ thôi, kẻ ngu si tối tăm kia tội chẳng lớn lắm sao! Tội nghịch của ta còn thua nó. Nếu như nó chịu tội thì tội ta còn nhẹ hơn!” Người con hóa thân buồn khổ, chua chát lắm, đồng thời nói:
–Ta sẽ đến chỗ Đức Phật Năng Nhân. Tội kia không cứu được thì Đức Phật sẽ vì ta mà bày ra cách cứu độ. Tội kia đáng sợ thì Đức Phật an ủi, diệt trừ khổ đau cho ta. Như Đức Phật có điều dạy bảo thì ta sẽ tuân theo, phụng hành.
Khi ấy, người con hóa thân, kêu khóc lên đường tiến về phía trước. Người hại mẹ liền theo sau người này thầm nghĩ: “Như người kia biết hối lỗi thì ta đây cũng phải vậy thôi. Tội ta nhẹ, tội người kia rất nặng.” Người con hóa thân đến chỗ Đức Phật cúi đầu xuống đất mà bạch rằng:
–Kính thưa Đức Thế Tôn! Con làm điều đại nghịch, sát hại song thân, phạm tội ấy rất lớn!

* Trang 159 *
device

Đức Phật bảo người con hóa thân rằng:
–Lành thay! Này thiện nam! Ông vì chí thành không gian dối, lời nói, hành động tương xứng, đến trước Như Lai nói lời thành thật, chẳng nói hai lưỡi, cũng chẳng tự bức bách. Ông phải tự tư duy, quan sát pháp tâm: Vì sao tâm mình làm hại song thân? Do tâm quá khứ ư? Do tâm vị lai ư? Hay do tâm hiện tại chăng? Tâm quá khứ kia đã diệt hết, tâm hiện tại kia đã đi mất, không có xứ sở, cũng không phương hướng, chẳng biết ở đâu? Còn tâm vị lai thì cũng chưa đến, không chỗ tụ tập, chưa thấy quay về, cũng không quay lại. Này ông, phải biết tâm cũng không tồn tại ở bên trong thân, cũng chẳng ở ngoài thân, cũng không cảnh giới, chẳng ở hai nơi, chẳng được dừng nửa chừng. Quan sát tâm ấy cũng không có năm màu: Xanh vàng, trắng, đỏ, đen.
Này ông nên biết, tâm ấy không màu sắc cũng chẳng có thể nhìn thấy được, cũng không chỗ trụ, cũng chẳng thoái chuyển, không có ngôn giáo, chẳng thể cầm nắm, giống như huyễn hóa. Ông muốn quan sát tâm, chẳng thể phân biệt chẳng thể hiểu rõ, chẳng thể gọi là tham, chẳng thể cho là sân, chẳng thể biết là si. Không tham, sân, si. Ông nên biết, tâm không hành động sinh tử, cũng không tạo tác, cũng không hiển hiện, cũng chẳng hiện tại. Tâm ấy thanh tịnh, cũng không cấu nhiễm, cũng không thanh tịnh. Tâm chẳng ở đây, cũng chẳng ở kia chẳng ở chỗ khác. Tâm giống như hư không, cũng không có gì sánh bằng, cũng không màu sắc, hình dạng, cũng không ngôn giáo. Bậc trí chẳng nên nương cậy, chớ nên nói rằng: Ta chính là ngã sở, không nên tạo xứ sở, không nên dấy tưởng, chớ tạo sự rốt cùng, chớ có chỗ làm, không nói về thân mình, chớ cho rằng ngã, ngã sở, chớ nghĩ đến quá khứ. Vì sao? Ông nên biết, tất cả các pháp đều không chỗ trụ, giống như hư không.
Ông hãy lắng nghe, hiểu được như vậy đó. Đức Phật chẳng cho rằng, người đối với pháp có sự giải thoát, hoặc có nhiễm ô đều chẳng về đường ác. Thiết lập tâm thanh tịnh mà không cấu nhiễm thì không có các đường để hướng về.
Khi ấy, người con hóa thân liền tán thán:
–Con được nghe điều chưa từng có. Thưa Đấng Thiên Trung

* Trang 160 *
device

Thiên Như Lai nhân đó thành Tối chánh giác, biết rõ pháp giới, không có tạo tác, cũng không thọ nhận, không có sinh ra, không diệt độ, không chỗ nương cậy. Con nguyện được xuất gia, theo Phật Thế Tôn làm Sa-môn thọ giới Cụ túc.
Đức Phật nói:
–Lành thay! Này Tỳ-kheo, hãy đến đây!
Khi ấy người con hóa thân được làm Sa-môn, liền bạch Đức Phật:
–Kính thưa Đức Thế Tôn! Con đã được thần thông. Nay con muốn diệt độ.
Nhờ uy thần của Đức Phật, người con hóa thân kia bay lên giữa hư không, cách mặt đất bốn trượng chín thước mà diệt độ. Thân người ấy bốc cháy, tự thiêu thân thể. Đến đây người tội nghịch thấy người hóa thân kia được làm Sa-môn, nghe nhận kinh pháp, được nghe điều Đức Phật đã nói, ông tự nghĩ: “Trước đây người ấy tự hại song thân, ở trước Thế Tôn được làm Sa-môn, rồi được diệt độ. Nay ta cớ sao chẳng được như người ấy, được làm Sa-môn, cũng sẽ diệt độ?”
Nghĩ như thế rồi, ông đi đến chỗ Đức Phật, cúi đầu dưới chân Đấng Đại Thánh, bạch trước Đức Phật:
–Con cũng tạo tội nghịch tự hại mạng mẹ mình.
Đức Phật nói:
–Lành thay! Này Thiện nam! Ông vì chí thành không gian dối, lời nói, hành động tương xứng, đến trước Như Lai nói lời thành thật, chẳng nói hai lưỡi, cũng chẳng tự bức bách. Ông phải tự tư duy quán sát pháp tâm: Vì sao tâm mình giết hại mẫu thân? Do tâm quá khứ ư? Do tâm vị lai ư? Hay là do tâm hiện tại chăng? Tâm quá khứ kia đã diệt tận rồi. Tâm hiện tại kia liền đi mất ngay. Nó không có xứ sở, cũng không phương hướng, chẳng biết an trụ ở đâu. Còn tâm vị lai thì cũng chưa đến, không chỗ tụ tập, chưa thấy quay trở lại, cũng không qua lại. Ông nên biết, tâm cũng chẳng ở bên trong thân, cũng chẳng ở ngoài thân, cũng không cảnh giới, chẳng ở hai nơi, chẳng được dừng nửa chừng. Quán sát tâm ấy thì cũng không có năm sắc: xanh, đỏ vàng, trắng, đen.

* Trang 161 *
device

Ông nên biết, tâm ấy không màu sắc, cũng chẳng thể thấy, cũng không chỗ trụ, cũng chẳng thoái chuyển, không có ngôn giáo, chẳng thể cầm nắm, giống như huyễn hóa. Ông muốn quan sát tâm, chẳng thể phân biệt, chẳng thể hiểu rõ, chẳng nên gọi là tham, chẳng nên gọi là sân, chẳng nên biết là si, không tham, sân, si. Ông nên biết, tâm không hành động sinh tử, cũng không chỗ tạo tác, cũng không chỗ hiển hiện, cũng chẳng hiện tại, tâm ấy thanh tịnh, cũng không cấu nhiễm, cũng không thanh tịnh. Tâm chẳng ở đây, cũng chẳng ở đó, chẳng ở chỗ khác, giống như hư không, tâm không có gì sánh bằng, cũng không màu sắc, hình dáng, cũng không ngôn giáo. Bậc trí chẳng nương cậy. Chớ nên nói rằng: ta chính là ngã sở, chớ nên tạo xứ sở, không được dấy khởi tưởng, chớ tạo rốt cùng, chớ có chỗ làm, không nói thân mình, chớ cho rằng ngã, ngã sở, chớ nghĩ về quá khứ. Vì sao? Ông nên biết, tất cả pháp đều không chỗ trụ, giống như hư không.
Này ông, hãy lắng nghe, hiểu rõ như vậy đó. Như Lai chẳng cho rằng người đối với pháp có giải thoát hoặc nhiễm ô đều chẳng quy trở về đường ác. Thiết lập tâm thanh tịnh mà không cấu mhiễm thì không có các đường.
Lúc ấy người con bị tội nghịch bị lửa địa ngục từ trong lỗ chân lông phát ra, đau đớn khủng khiếp mà không ai cứu giúp nên bạch trước Đức Phật:
–Con nay bị thiêu đốt, xin Đấng Thiên Trung Thiên cứu tế cho. Con xin quy mạng Đức Đại Thánh.
Đến đây Đức Thế Tôn đưa cánh tay sắc vàng đặt lên đỉnh đầu người ấy, tức thời lửa tắt ngay, lại không còn đau khổ. Người ấy nhìn Đức Như Lai có nhiều tướng tốt thì bản thân hết đau khổ mà được yên ổn. Người ấy lại bạch trước Đức Phật xin được làm Sa-môn, Đức Phật liền cho phép vì cái chí tịch tĩnh đó. Bấy giờ Đức Thế Tôn vì người ấy thuyết giảng Tứ đế. Người ấy nghe pháp này thì xa trần cấu đạt được Pháp nhãn thanh tịnh. Vị ấy tu hành theo lời Phật dạy thành tựu Tư-đà-hàm, A-na-hàm, chứng đến La-hán. Vị ấy lại bạch Đức Phật rằng:
–Con muốn nhập Nê-hoàn.

* Trang 162 *
device

Đức Thế Tôn bảo:
–Tùy theo ý của con!
Đến đây vị Tỳ-kheo nhảy vọt lên hư không, cách mặt đất bốn trượng, chín thước, trong thân phát ra lửa tự đốt thân mình. Hàng trăm ngàn người, trời ở trong hư không kéo đến cúng dường. Tôn giả Xá-lợi-phất thấy người kia thọ trì luật giáo ấy mà được diệt độ thì rất lấy làm lạ nên bạch Đức Phật:
–Thật khó bì kịp vậy. Thưa Đấng Thiên Trung Thiên! Đức Như Lai đã ban ân thuyết giảng pháp luật, mới khiến cho kẻ tội nghịch được nhận giáo pháp. Nhưng như vậy hạnh ấy có chỗ sai khác. Người đủ sức cứu tế hạng người ấy chỉ có Đức Như Lai mà thôi. Bồ-tát Phổ Thủ mặc áo giáp đại đức sánh cùng Bồ-tát, có thể nhìn thấy căn nguyên của tất cả quần sinh mà độ họ, chẳng phải cảnh giới của Thanh văn, Duyên giác.
Đức Phật nói:
–Như vậy, này Xá-lợi-phất! Đúng như điều đã nói. Đó chính là pháp nhẫn của Phật Đại sĩ, là cảnh giới của Bồ-tát.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Các ông đã nhìn thấy một người tưởng như đã đọa địa ngục rồi mà Đức Phật nhìn thấy đã đưa đến pháp diệt độ. Các ông nhìn thấy người đáng được diệt độ thì Đức Thế Tôn xét biết họ bị rơi vào đường ác. Hoặc căn cứ vào người có đức, tri túc, ở nơi chỗ vắng, giữ giới, đạt định Tam-muội thì các ông cho là đã đạt đến pháp diệt độ, nhưng Như Lai thấy ngược trở lại là bị rơi vào địa ngục. Vì sao? Vì hạng người như các ông lìa khỏi sự vận hành của tâm, chẳng thể quan sát khắp được các căn nguyên tấm lòng của chúng sinh. Hành động cửa chúng sinh nhiều không thể nghĩ bàn.
Này Xá-lợi-phất! Ông có thấy người giết mẹ này không? Nhờ được nghe pháp thậm thâm mà ông ta đạt đến cõi Vô dư Bát-nê-hoàn.
Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:
–Dạ thấy, thưa Đấng Thiên Trung Thiên!
Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
–Người giết mẹ ấy đã gieo trồng cội gốc đức với năm trăm

* Trang 163 *
device

Đức Phật, nghe pháp thâm diệu hiểu rõ thông suốt, tâm vốn thanh tịnh sáng ngời, lại nhập vào kinh điển này, nhận tất cả pháp mà được giải thoát.
Đức Phật dạy:
–Này Xá-lợi-phất! Do đó nếu có thiện nam, thiện nữ, sau khi ta diệt độ được nghe ý nghĩa pháp này thì liền tín nhận. Lại có người mê hoặc tâm chống trái, theo bạn xấu, phạm tội mà chẳng mất pháp nhẫn thì mới đến Vô dư mà được giải thoát. Ta chẳng cho là những người ấy phải rơi vào đường ác vậy. Có kẻ tin ưa pháp thâm diệu như thế thì đạt được quả như vậy. Do cớ ấy, nếu có thêm nhiều chúng sinh ở nơi đường chánh chân, nghe được pháp điển này liền tin ưa, thuyết giảng bình đẳng, khen ngợi chương cú, vì người khác phân biệt diễn giảng rộng rãi thì công đức đều như thế cả. Huống gì những người vâng theo lời đã dạy mà phụng sự tu hành.
Bồ-tát Phổ Thủ cùng các vị Bồ-tát Đại sĩ, Tôn giả Đại Ca-diếp, vua A-xà-thế và vô số người kéo đến chỗ Đức Phật cúi đầu làm lễ dưới chân Đức Phật rồi lui về ngồi một phía.
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất thấy Bồ-tát Phổ Thủ cùng các vị trong chúng hội đều đã an tọa rồi, liền nói với vua A-xà-thế:
–Thưa đại vương! Sự hồ nghi của đại vương đã dứt rồi ư?
Đáp rằng:
–Vâng, thưa Tôn giả đã đoạn dứt rồi vậy.
Lại hỏi:
–Thế nào gọi là đoạn?
Đáp rằng:
–Chẳng thọ lãnh, chẳng bỏ đi thì gọi là đoạn. Cũng không đạt được gốc ngọn, vĩnh viễn hiểu ra không có cấu nhiễm thì gọi là đoạn vậy.
Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Đức Thế Tôn:
–Vua A-xà-thế đã dứt hết được bao nhiêu? Còn lại bao nhiêu?
Đức Thế Tôn bảo:

* Trang 164 *
device

–Tai ương của vua còn lại nhỏ như hạt cải, tội đã diệt được của vua lới như núi Tu-di. Vua đã vào đến pháp thâm diệu, đã nói được nghĩa lý của kinh điển, đã đạt đến pháp Vô sinh.
Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Đức Phật:
–Vua A-xà-thế lại sẽ đi về đường ác ư?
Đáp rằng:
–Như Thiên tử ở cõi trời Đao-lợi ở lầu gác bảy báu rỡ ràng, xuống cõi Diêm-phù-đề, trở về bản xứ. Này Xá-lợi-phất! Như vậy vua A-xà-thế đã vào địa ngục tên là Tân-trạch-la (Tấn gọi là Tập dục), vừa vào liền ra khỏi. Bản thân vua chẳng gặp hoạn nạn, khổ não.
Tôn giả Xá-lợi-phất nói:
–Thưa Thế Tôn thật khó bì kịp. Các căn của vua A-xà-thế minh đạt mới được như thế ư? Lại có thể tiêu trừ bao nhiêu tội như sự độc hại của tai ương nặng trong địa ngục ấy.
Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
–Vua A-xà-thế trước đã cúng dường bảy mươi hai ức các Đức Phật Thế Tôn, trồng các cội gốc đức, nhận lãnh kinh điển, khuyến hóa đạo Vô thượng chánh chân cho người đã nghe pháp. Ông không thấy Bồ-tát Phổ Thủ ư?
 Đáp:
 –Thưa đã thấy.
Đức Thế Tôn bảo:
–Bồ-tát Phổ Thủ khuyên vua A-xà-thế phát ý đạo Vô thượng chánh chân vào kiếp xa xưa khó mà kể được vào thời Đức Ly Cấu Tạng Như Lai, trải vô số chư Phật, ở trong kiếp kia có ba ức Đấng Bình Đẳng Chánh Giác đều là do Bồ-tát Phổ Thủ khuyến dụ, khiến chuyển pháp luân, sống mãi ở đời. Có đến hàng trăm ngàn Đức Thế Tôn chẳng thể vì vua A-xà-thế thuyết pháp để giải quyết sự hồ nghi của vua. Chỉ có Bồ-tát Phổ Thủ mới có thể vì vị vua ấy giải quyết trừ được lưới hồ nghi. Vì sao? Bồ-tát Phổ Thủ đã nhiều lần theo chư Phật nghe được pháp thâm diệu này. Do vậy, nên phát khởi tư tưởng: “Chỗ kia có vị Bồ-tát đáng được độ, thì ngay khi phát khởi ý tưởng

* Trang 165 *
device

là được làm bổn sư của người ấy.” Rồi Bồ-tát vì họ thuyết pháp nên mới có thể giải quyết được vậy.
Vua A-xà-thế từ địa ngục Tập dục khinh ra, sinh lên phương trên, nơi đó cách đây năm trăm cõi Phật, thế giới ấy tên là Trang nghiêm. Đức Phật ở đó hiệu là Bảo Anh Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, hiện đang thuyết pháp sẽ gặp trở lại lần nữa. Bồ-tát Phổ Thủ theo nghe kinh thâm diệu tại cõi ấy liền thành tựu được Bất khởi pháp nhẫn.
Khi Bồ-tát Di-lặc thành Chánh giác, Bồ-tát sẽ lại trở xuống cõi Nhẫn này, hiệu là Bồ-tát Đại sĩ Bất Động. Đức Như Lai Di-lặc sẽ vì chúng hội tuyên dương, ca ngợi những việc làm trước đây của Bồ-tát Bất Động. Đức Di-lặc lại phân biệt kinh điển này, trình bày hết nghĩa lý: Bồ-tát Bất Động Đại sĩ vào thời Đức Phật Năng Nhân làm vua một nước lớn tên là A-xà-thế, theo bạn xấu tự sát hại cha mình, rồi theo Bồ-tát Phổ Thủ nghe kinh điển này, chứng được Nhu thuận pháp nhẫn, nhân đó tiêu trừ hết tội, không còn nữa.
Đức Di-lặc Như Lai vì Bồ-tát Bất Động mà thuyết giảng kinh pháp này, tám ngàn vị Bồ-tát đạt được pháp Nhẫn bất khởi. Tám mươi bốn ngàn vị Bồ-tát diệt trừ vô số không thể kể xiết những tội lỗi tích tụ lâu đời.
Này Xá-lợi-phất! Như vậy vua A-xà-thế từ hôm nay đến tám trăm, khó kể xiết kiếp tu hạnh Bồ-tát, khai hóa chúng sinh, trang nghiêm cõi Phật.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Vua A-xà-thế đã hóa độ chúng sinh, làm bậc Thanh văn hoặc bậc Duyên giác, hoặc tu hành Đại thừa. Các chúng sinh ấy, hoặc có tội hoặc không trần cấu, hoặc hồ nghi… đều tiêu trừ hết, không có do dự. Qua tám ngàn không thể kể xiết kiếp sẽ đạt được đạo Vô thượng chánh chân, làm Tối chánh giác, kiếp tên là Hỷ kiến trong thế giới tên là Vô tạo ấm, Đức Phật hiệu là Tịnh Giới Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, thọ được mười bốn kiếp, các chúng Thanh văn có đến bảy mươi vạn người, làm thành đại hội. Tất cả những vị ấy trí tuệ thông suốt, ý chí luôn đặt ở tám cửa giải thoát. Các chúng Bồ-tát có đến mười hai ức người. Các vị ấy đều được Trí độ vô cực, phương tiện thiện xảo. Sau khi Đức

* Trang 166 *
device

Phật ấy diệt độ, chánh pháp sẽ trụ thế một ức năm, nhân dân của thế giới Vô tạo ấm từ khi sinh đến khi chết không có hồ nghi. Sau khi họ chết chẳng rơi vào ba đường ác. Đức Như Lai Tịnh Giới vì chúng sinh thuyết giảng kinh pháp, nên họ đều bỏ các dơ bẩn, không có trần lao đều được thanh tịnh.
Này Xá-lợi-phất! Vậy nên mọi người nhìn nhau chẳng thấy bình đẳng. Sở dĩ chẳng bình đẳng vì căn người khó thấy, chỉ riêng Đức Như Lai mới có thể thấy tướng người bình đẳng. Làm đúng như Đức Phật thì bình đẳng với người vậy.
Hiền giả Xá-lợi-phất và chúng hội kinh ngạc, rất vui mừng thưa:
–Kể từ ngày hôm nay đến khi chết, chẳng quan sát người khác, chẳng dám nói người này về địa ngục, người kia sẽ diệt độ. Vì sao? Vì hành động của chúng sinh chẳng thể nghĩ bàn.
Khi Đức Phật thuyết giảng ví dụ về vua A-xà-thế đoạn trừ nghi này, ba vạn hai ngàn Thiên tử phát ý đạo Vô thượng chánh chân. Họ đều thệ nguyện: “Khi Đức Thế Tôn Tịnh Giới thành Chánh giác chúng tôi sẽ sinh ra ở cõi Phật ấy, chẳng tạo ra thế giới tham dục.” Đức Phật liền thọ ký cho họ sẽ sinh vào cõi kia.



Phẩm 12: NGUYỆT THỦ THỌ QUYẾT


 
Vua A-xà-thế có một vị Thái tử tên là Nguyệt Thủ, tuổi vừa lên tám. Thái tử cởi chuỗi ngọc đeo trên cổ, đem tung lên Đức Phật, mà thưa rằng:
–Con dùng công đức này nguyện cầu đạo Vô thượng chánh chân. Con dùng gốc thiện ấy để khi Đức Như Lai Tịnh Giới thành Chánh giác, nguyện được ở cõi ấy làm chủ bốn châu thiên hạ, Chuyển luân thánh vương để được trọn đời cúng dường Đức Như Lai và chúng Tỳ-kheo. Sau khi Đức Phật diệt độ, con phụng trì Xá-lợi, thọ nhận kinh điển. Về sau, con mới được thành đạo Vô thượng chánh chân, làm Tối chánh giác.
Thái tử vừa tung chuỗi ngọc lên hư không, liền trở thành lầu

* Trang 167 *
device

các bảy báu sáng rỡ, bốn phương, bốn góc trên dưới ngang bằng, nghiêm chính vi diệu. Ở bên trong lầu đài ấy đặt bốn chiếc giường báu trải toàn lụa là năm sắc của cõi trời. Đức Như Lai ngồi lên đó, tướng tốt trang nghiêm. Khi ấy, Đức Phật liền cười. Đức Thế Tôn cười thì có vô số không thể giới hạn trăm ngàn sắc hào quang từ trong miệng ngài phát ra, chiếu soi không thể nghĩ bàn, không có bờ cõi, thấu đến các cõi Phật, lên tận cõi Phạm thiên. Cung điện của ma, ánh sáng mặt trời, mặt trăng tự nhiên mờ khuất. Ánh sáng ấy trở lại soi sáng quanh thân Ngài vô số vòng, rồi theo đỉnh đầu vào trở lại. Hiền giả A-nan liền đứng dậy, sửa áo bày vai phải, qùy gối, chắp tay dùng kệ khen:
Vượt tất cả trí tuệ
Siêu việt mọi cản ngăn
Hiểu rõ hết quần sinh
Tâm, hành mọi căn nguyên
Để phân biệt gốc ngọn
Mà ứng thời nói kinh
Soi khắp đời xin nói
Vì sao cười lặng thinh?
Mười phương bao chúng sinh
Tất cả ở trước Ngài
Người nhiều vô số ức
Từng người khó hỏi han
Đấng Thánh sư Năng Nhân
Mới kham giải nghi hoặc
Lành thay, nguyện giảng nói
Xót thương cớ gì cười?
Chư Phật đời quá khứ
Trụ lập chỗ tối thắng
Thế Tôn đời vị lai
Nhiều như cát sông Hằng
Phân biệt biết sáu đường
Đấng Tuệ độ vô cực
Vì sao hiện mỉm cười?

* Trang 168 *
device

Xin Ly Cấu giải nghi
Ánh sáng hơn trời trăng
Che lấp cung Phạm ma
Thông suốt đến Thiết vi
Chiếu vượt các đỉnh núi
Yên ổn khắp chúng sinh
Khô kiệt, các lao nhọc
Khéo nói trừ phiền não
Cớ gì lại mỉm cười?
Đến đây, Đức Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:
–Ông thấy Thái tử Nguyệt Thủ không?
Tôn giả A-nan đáp:
–Thưa vâng, con đã thấy.
Đức Phật nói:
–Hôm nay, Nguyệt Thủ ở trước Đức Phật trồng các cội công đức, dùng để khuyến cầu đạo Vô thượng chánh chân. Thái tử tu hạnh Bồ-tát, từng chút một sẽ thấm dần dần. Đến khi Đức Như Lai Tịnh Giới thành Phật thì vị thái tử này sinh vào cõi Phật kia làm Chuyển luân vương. Ông cúng dường, phụng sự Đức Tịnh Giới Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, trọn đời luôn lấy bố thí làm chỗ an trụ. Sau khi Đức Phật diệt độ thì ông cúng dường xá-lợi, thống lãnh chánh pháp. Sau khi chánh pháp diệt tận thì ông mất, để sinh lên cõi trời Đâu-suất. Rồi ở chính kiếp ấy, ông được thành đạo Vô thượng chánh chân, thành Tối chánh giác, hiệu là Nguyệt Anh Như Lai Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành Vi Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư Vi Phật Chúng Hựu, cõi nước, thọ mạng của Đức Phật, các chúng Tỳ-kheo cũng giống như thế giới của Đức Tịnh Giới Thế Tôn không sai khác vậy.
Bấy giờ, những người đến trong hội, các vị Bồ-tát Đại sĩ ở các thế giới phương khác cùng với Bồ-tát Phổ Thủ đều đến cõi Nhẫn này nghe nói lời ấy. Họ bạch Đức Phật:
–Bồ-tát Phổ Thủ có thể đi đến thì sẽ quan sát thấy xứ sở đó. Xứ sở ấy đều là các Đức Như Lai không có khiếm khuyết, các Đức

* Trang 169 *
device

Phật Thế Tôn lại chẳng nhọc sức lo nghĩ. Vì sao? Thưa Đức Thế Tôn! Bồ-tát Phổ Thủ đã giáo hóa không có đường ác, chẳng đau khổ, chẳng nhàn nhã và không có việc ma, tội lỗi, trần uế. Chỗ ấy có khu vực, quận, nước, huyện ấp, gò đống, xóm làng, thành quách. Ở chỗ ấy chánh điển được lưu bố khắp nơi. Nhìn thấy xứ sở ấy, Đức Như Lai du hóa, cư trú không có hư không.
Đức Thế Tôn bảo:
–Đúng vậy! Đúng vậy! Này các Thiện nam! Đúng như điều đã nói. Nay kinh điển này đã tuyên bố khắp nơi, thì đó chính là sự an trú của Đức Như Lai.
Lại nữa, này các Thiện nam! Thuở xa xưa thời Đức Phật Định Quang, ta đã được thọ ký vào đời ấy. Ta trải tóc lên đất, Đức Định Quang Như Lai đạp lên tóc ấy mà đi. Ta dùng hoa sen tung lên cúng dường nên đạt được pháp nhẫn. Đức Phật thọ ký cho ta: “Sau vô số kiếp ông sẽ được làm Phật hiệu là Năng Nhân Như Lai.”
Như vậy, này các Thiện nam! Khi ấy Đức Phật Định Quang bảo các Tỳ-kheo: “Các ông chẳng nên đạp trên đất ấy đi qua. Vì sao? Vì đây chính là chỗ đất thần thánh tháp Phật của trên trời và thế gian. Vị Bồ-tát trải tóc lên nơi ấy mà thành tựu được pháp nhẫn. Ai muốn dựng lên tháp ở đây?” Các vị Thiên tử kia có đến hàng tám mươi ức người, cùng lúc thưa: “Chúng con sẽ dựng lên”. Bấy giờ, trong chúng hội có một vị trưởng giả tên là Hiền Thiện, bạch với Đức Thế Tôn: “Con sẽ dựng chùa, tháp ở chỗ đất ấy.” Đức Phật nói: “Được đấy”.
 Này các Thiện nam! Ông trưởng giả Hiền Thiện ngay ở chỗ ấy, cho xây dựng ngôi tháp bảy báu trang nghiêm đầy đủ. Làm xong, ông lại đến chỗ Đức Phật hỏi Ngài: “Ở tại đất ấy, con đã dựng lên tháp bảy báu thì phước đi về đâu?”
Đức Như Lai Định Quang đáp: “Trưởng giả nên biết! Bồ-tát Đại sĩ đạt được Nhẫn bất khởi, chỗ đất ấy giống như bánh xe, xuống tận bờ mé đất, tất cả chúng sinh nhận lấy bụi đất đều như là Xá-lợi nên cúng dường, rồi mới bay lên trời tam thập tam, trong ấy đất đầy cả bảy báu, đem bố thí chư Phật. Nếu muốn đem công đức đó so với phước đức xây dựng chùa tháp thì chẳng bì kịp nhau. Phước xây

* Trang 170 *
device

dựng chùa tháp rất nhiều, khó kể xiết. Trưởng giả ở đây đã trồng cội gốc các công đức, như nay ta thọ ký cho vị Bồ-tát đó sẽ làm đạo Vô thượng chánh chân. Nếu ông ấy làm Phật cũng sẽ lập đại đạo cho ngươi.”
Này các Thiện nam! Ý các ông nghĩ sao? Bấy giờ trưởng giả tên Hiền Thiện đó phải chăng là ai khác ư? Chớ có nghĩ thế. Vì sao? Vì trong hội chúng đây có một trưởng giả tên là Thọ Hạnh nay được ta thọ ký cho: vào đời vị lai, ông sẽ thành Phật đạo, hiệu là Thiện Kiến Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Vi Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Vi Phật Chúng Hựu. Vì vậy, nên các thiện nam, thiện nữ, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cư sĩ, nữ cư sĩ, hoặc đứng hoặc ngồi chép kinh điển này, thọ trì, đọc tụng, vì người khác thuyết giảng thì ở chỗ đất ấy xuống tận bờ cõi đất, tất cả các hạt bụi đều là chúng sinh, thêm nữa đất này đều như Xá-lợi. Vì sao? Vì Bồ-tát đạt được nhẫn thành tựu được các đức cũng lại như vậy.
Thế nên, Đức Phật ân cần phó chúc bảo các ông rằng: “Nếu có thiện nam, thiện nữ đem bảy báu chứa trong tam thiên đại thiên thế giới này ra bố thí cho Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác ngày đêm đều ba lần mà chẳng biếng nhác, bố thí như thế cho đến một kiếp hoặc hơn một kiếp, chẳng bằng thọ trì kinh điển này. Vua A-xà-thế trừ các hồ nghi không có do dự, sạch các “ấm”’, “cái”, phân biệt tất cả các pháp bình đẳng. Hoặc chép, hoặc đọc, thọ trì phúng tụng, nghe kinh tin ưa, ghi chép vào tre, lụa, xếp đặt kinh quyển giữ gìn trang nghiêm, thọ trì thành thạo, khiến cho chánh pháp này trụ được lâu dài thì phước công đức này hơn sự bố thí kia rất nhiều, chẳng thể kể xiết.”
Đức Phật nói:
–Này các Thiện nam! Nếu có người ở trăm kiếp phụng trì cấm giới, biết dừng biết đủ mới được ở nơi thanh vắng, chí ưa chẳng xả. Nếu người ấy nghe kinh này, tin ưa theo thì phước công đức này hơn cả việc giữ cấm giới kia. Nếu có người ở trong trăm kiếp tu hành nhẫn nhục, dù cho tất cả chúng sinh mắng nhiếc, đánh đập, cho đến đánh bằng gậy đau đớn mà đều nhịn nhục. Nếu có

* Trang 171 *
device

người lại được nghe kinh này mà tin ưa theo thì phước công đức ấy siêu việt hơn cả người tu nhẫn nhục kia. Nếu có người trăm kiếp tu hành tinh tấn, cúng dường tất cả loài chúng sinh, chẳng yêu quý thân mình cùng tuổi thọ, cũng chẳng bằng nghe được kinh này mà hoan hỷ tin nhận. Nếu có người ở trăm kiếp tu hành thiền định, có kẻ gây nhiễu loạn mà chẳng bị mê hoặc, cũng chẳng bằng nghe kinh này hoan hỷ tin nhận. Nếu có người ở trăm kiếp tu hành trí tuệ, học rộng, hiểu thông, không chỗ nào không đạt, giả sử họ được nghe phẩm “Cứu cánh bản tịnh tâm sướng tự nhiên” của kinh điển này mà hoan hỷ tin theo, thọ trì, phúng tụng thì phước công đức ấy siêu việt hơn sự tu tuệ kia, có thể nhanh chóng kiến lập các thông tuệ vậy.
Khi ấy, các vị Bồ-tát đều bạch Đức Phật:
–Kính thưa Đức Thế Tôn! Chúng con đã thọ nhận kinh điển ấy rồi, ở tại các cõi Phật chúng con đi qua, ở trụ xứ nào chúng con cũng sẽ tuyên bố. Vì sao? Vì tuyên bố các kinh điển này là làm Phật sự.
Lúc ấy các vị Bồ-tát lại tung hoa lên khắp tam thiên đại thiên thế giới, đồng thời cũng khen ngợi:
–Giả sử kinh điển này được lưu truyền khắp cõi Diêm-phù-đề, lại ở đời lâu dài thì chánh pháp của Đức Như Lai Năng Nhân thành tựu Bồ-tát Phổ Thủ sẽ khiến cho còn mãi. Chúng con chưa từng xem xét, nghe được kinh này như vầy, giả sử có nghe được thì chúng con chẳng thể báo đáp ân của Đức Phật cùng Bồ-tát Phổ Thủ. Chúng con sẽ dùng vật gì để lập sự cúng dường lớn. Thiện nam nào theo người nghe kinh điển ấy thì ân kia khó mà báo đáp. Giả sử có người muốn gặp Đức Như Lai để nghe kinh này thì xem như người ấy đã gặp Thế Tôn. Giả sử muốn cúng dường Đức Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác thì phải cúng dường vị thiện nam ấy. Nếu nhìn thấy thiện nam, thiện nữ ấy thì phải chiêm ngưỡng họ như Đức Phật Thế Tôn.
Các vị Bồ-tát bàn bạc như vậy rồi, mỗi vị đều trở về nước của mình. Mỗi người đều tự ở trước Đức Như Lai của họ, vì mọi người thuyết giảng lại giáo pháp mà họ vừa thọ lãnh. Ở trước Đức Phật

* Trang 172 *
device

của mỗi đất nước kia, họ mở đường dẫn lối, khai hóa vô số quần sinh, khiến họ phát ý đạo Vô thượng chánh chân.



Phẩm 13: CHÚC LỤY

 
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Di-lặc:
 –Ông nên nhận lấy chánh pháp Minh điển này để vì vô số người mà phân biệt thuyết giảng, đem lại cho họ nhiều yên ổn, nhiều Từ bi. Chư Thiên người đời đều được nhờ ân.
Bồ-tát Di-lặc bạch Đức Phật:
–Kính thưa Đức Thế Tôn! Con nhận lời dạy của kinh điển ấy rồi thì cũng theo các Bậc Đẳng Chánh Giác trong quá khứ đã nhận kinh này. Hôm nay, con được gặp Đức Thế Tôn, được nghe pháp này. Kính thưa Đức Đại Thánh Như Lai! Hiện tại con đem kinh này diễn giảng khiến cho lưu truyền khắp nơi. Sau khi Đức Phật diệt độ, ở tại cung trời Đâu-suất con sẽ vì quần sinh thuyết giảng sự phát triển các cội gốc công đức này. Nếu thiện nam, thiện nữ ở đời sau nhưng tai được nghe kinh ấy, chí nguyện ở Đại thừa thì nên biết đó là sự kiến lập của Bồ-tát Di-lặc. Người phụng trì kinh này, nếu có ác ma theo rình tìm sơ hở thì chúng con sẽ nương Thánh chỉ của Đức Thế Tôn mà đến hộ trì họ, khiến cho họ không lầm lỗi.
Đức Phật bảo trời Đế Thích:
–Ông nên thọ lãnh phẩm “A-xà-thế đoạn nhất thiết kết” của kinh này. Vì sao? Vì giả sử trời và A-tu-luân hận thù mà chiến đấu, nếu trời nghĩ đến kinh ấy thì chư Thiên thắng lợi, còn A-tu-luân bị hàng phục.
Đức Phật nói:
–Này Câu-dực! Nay ta phó chúc cho ông, nếu kinh điển này ở tại châu vực, quận, nước, huyện, ấp, thành quách, gò đống, xóm làng nào thì ông sẽ ủng hộ cho đất ấy, làm cho các oán hận thù địch chẳng làm gì được. Hoặc đến vua quan, hoặc rơi vào đám giặc, hoặc gặp cầm thú, hoặc gặp quỷ thần, hoặc gặp dâm tặc, hoặc gặp nạn khủng bố nước lửa thì liền phải nhớ đến kinh điển này mà thuyết

* Trang 173 *
device

giảng ca tụng. Hoặc có oan gia, giặc giã nghịch ác cũng chẳng làm gì được.
Bấy giờ Đức Phật liền bảo A-nan:
–Ông hãy nhận kinh điển này giữ gìn đọc tụng. Vì sao? Giả sử có người theo ông cầu học ý nghĩa của kinh này thì thiện nam, thiện nữ ấy đoạn trừ tất cả các hồ nghi, không có do dự, rửa sạch các kết sử, trừ khử vĩnh viễn. Các ma tội ác chẳng thể che trùm được, những tai ương đời trước, tà hại ngăn ngại thì tự nhiên tiêu diệt. Vì sao? Vì nghe kinh này thì không còn hồ nghi.
Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:
–Ta phó chúc cho ông, ân cần răn bảo. Như có kẻ phạm nghịch tội mà hiểu rõ yếu nghĩa của kinh này, hoan hỷ vui mừng thì không có tội nghịch nữa, cũng không nguy hại, cũng không tội lỗi.
Trưởng lão Ca-diếp bạch Đức Thế Tôn:
–Kính thưa Đấng Đại Thánh! Con đã chứng kiến rõ sự vi diệu của kinh điển này. Trước đây, khi tề tựu ở cung vua A-xà-thế phân biệt việc nghịch thì vua A-xà-thế liền thành tựu được pháp Nhẫn bất khởi, lưới nghi hoặc bị tiêu trừ. Con nghĩ rằng: “Vua A-xà-thế vốn chẳng hiểu rõ các pháp, cũng chẳng phân biệt được các việc nghịch.”
Kính thưa Đức Thế Tôn! Tánh các pháp tự nhiên vốn tịnh, mà trái lại tư tưởng con người chấp là ngã, ngã sở nên hình thành các kiến chấp không thể sửa đổi, rèn luyện bản tánh thanh tịnh của tất cả các nghịch tội vậy. Như việc vua A-xà-thế chứa nhóm sự điên đảo, các tư tưởng hư ngụy nên trở thành tai họa khổ đau. Nếu thông suốt điều này thì không có các tai nạn. Con nói từ trước đến nay các chúng sinh không có tội, không có pháp đường ác. Họ hiểu được điều này thì trở nên siêu tuyệt, không có đầu mối, kết thúc.
Đức Phật nói:
–Hay thay! Hay thay! Này Ca-diếp! Đúng như điều đã nói, sự chân chánh về đạo nghĩa của các Đức Phật Thế Tôn là không có trần cấu.
Hiền giả A-nan bạch Đức Phật:
–Kính thưa Đức Thế Tôn! Ngài kiến lập kinh điển này khiến

* Trang 174 *
device

cho về sau, đời mạt thế được lưu hành ở cõi Diêm-phù-đề.
Bấy giờ, từ hai bên hông của Đức Thế Tôn phóng ra hào quang rất sáng, chiếu soi khắp tam thiên đại thiên thế giới. Cây cối, tường vách đều tự nhiên phát ra âm hưởng như vầy: Đức Như Lai đã kiến lập kinh điển này, giả sử được kinh điển này ở trong biển cả hoặc nơi kiếp thiêu, khi đang nghe kinh này thì không được dứt nửa chừng mà không nghe vậy.
Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:
–Tất cả cây cối, tường vách đã phát ra âm thanh đúng như điều ông đã nói, các Chánh sĩ ấy gieo trồng các cội gốc công đức. Vào đời sau cùng, họ thọ nhận kinh này nhất định chẳng đoạn dứt nửa chừng.
Khi Đức Phật thuyết giảng kinh này, chín mươi sáu ngàn người, trời xa lìa trần cấu, đạt được Pháp nhãn tịnh, sáu mươi tám ngàn người, trời đều phát ý đạo Vô thượng chánh chân, hai mươi hai ngàn vị Bồ-tát được pháp Nhẫn bất khởi, tám ngàn người lìa khỏi các tham dục, tam thiên đại thiên thế giới chấn động. Ngay khi ấy, âm thanh lớn phát ra tuyên cáo khắp trên trời, thế gian đều hãy đến cúng dường kinh điển này. Nhạc cụ của chư Thiên chẳng tấu mà tự vang lên, tuyên cáo khắp cả trên trời, thế gian đều đến để tung hoa, đốt hương đủ các loại hương thơm, bột thơm, hương xoa thắm đượm. Họ đều hướng về nơi chuyển pháp luân. Đức Như Lai ở chỗ này thuyết giảng kinh đều là vì hàng phục các tà đạo khác, trừ bỏ hạnh tà ức chế các ma. “Ấn Như Lai này là tinh tấn tu hành pháp của Như Lai, các thiện nam cần phải phân biệt cầu chánh kiến cứu cánh của pháp ấn này.”
Đức Phật thuyết giảng như vậy, vua A-xà-thế, Bồ-tát Phổ Thủ, Đại sĩ Di-lặc, tất cả vị Bồ-tát, các vị đại Thanh văn, Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Tu-bồ-đề, Tôn giả A-nan… chư Thiên, người trong thế gian, A-tu-luân, nghe điều Phật đã nói, không ai không vui mừng.

* Trang 175 *
device

* Trang 176 *
device

Đại Tập 60 - Bộ Kinh Tập VII - Số 626->639