LOGO VNBET
KINH VĂN-THÙ SƯ LỢI PHỔ SIÊU TAM-MUỘI
 
QUYỂN TRUNG
 
Phẩm 4: ĐỒNG ẤU
 
Bấy giờ, Thế Tôn bảo Xá-lợi-phất:
 –Giả sử có thiện nam, thiện nữ nào muốn được mau diệt độ thì phải nên phát khởi ý đạo Vô thượng chánh chân. Vì sao? Nay ta nhìn thấy họ sợ tai nạn từ vô thỉ đến nay mà chẳng chịu phát khởi ý đạo Vô thượng chánh chân, chí họ nguyện theo Thanh văn, muốn được mau diệt độ, do đó họ tiếp tục ở trong vòng sinh tử mà còn ưa thích nữa. Nhưng các Bồ-tát thì thông đạt, tinh tấn, trụ bình đẳng nơi pháp, thành tựu được các thông tuệ, tu Nhất thiết trí. Vì sao? Về thuở quá khứ xa xưa, số kiếp nhiều không kể xiết, không thể nghĩ bàn, có một vị Như Lai hiệu là Nhất Thiết Đạt Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Chúng Hựu ra đời.
Phật bảo Xá-lợi-phất:
–Đức Nhất Thiết Đạt Như Lai Chánh Giác có chúng hội Thanh văn có đến hàng trăm ức tuổi thọ, Đức Phật ấy trụ thế đến trăm ngàn năm. Đức Phật có vị đệ tử Thanh văn đứng đầu trí tuệ cao vời tên là Siêu Thù, có thần túc siêu tuyệt tên là Đại Đạt. Thuở đó, Đức Như Lai ra đời trong đời năm trược. Sáng sớm, Đức Phật đắp y chỉnh tề, mang bát cùng Thánh chúng quyến thuộc vây quanh đi vào thành của một nước lớn tên là Văn vật để khất thực. Vị đại Thanh văn trí tuệ tối tôn kia hầu bên phải Đức Phật. Những vị trí tuệ học rộng hiểu nhiều tối cao thù thắng thì làm tùy tùng sau Đức Phật. Tám ngàn vị Bồ-tát đi trước dẫn đường, hóa hiện hoặc thân như Đế Thích, hoặc

* Trang 113 *
device

thân như Phạm thiên, như Tứ Thiên vương, hoặc như hình dạng Thiên tử, nghiêm trang trên đường đi.
Phật bảo Xá-lợi-phất:
–Khi Đức Như Lai sắp vào thành thì thấy có ba đứa trẻ trang sức các loại báu và chuỗi ngọc. Chúng nô đùa tự nhiên giữa đường đi. Có một đứa trẻ trông thấy Đức Như Lai sáng rỡ, uy thần hiển hách, cao vời lồng lộng, đoan nghiêm không ai bằng, chí tánh Ngài thanh tịnh đạt được sự điều thuận tuyệt vời, tịch mịch đệ nhất, các căn đã hàng phục như là rồng, voi nhân từ, như việc lớn lắng trong, không chút bợn nhơ. Ngài có ba mươi hai tướng của bậc Đại nhân, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm thân thể như khi mặt trời mọc, ánh sáng chiếu ngời ngời. Ngài cùng đi với đại chúng giống như mặt trăng giữa ngàn vì sao. Một đứa trẻ bảo hai đứa kia: “Các ngươi không thấy Đức Như Lai đến ư? Đây đúng là Đấng Như Lai chí tôn vô thượng của tất cả, là ruộng phước của thế gian, ánh sáng rực rỡ, huy hoàng khó ai sánh nỗi. Chúng ta đây đều nên cúng dường Ngài sẽ được lợi ích rộng lớn.”
Rồi dùng kệ tụng khen:
Bậc ấy chúng sinh kính
Ruộng phước không ai trên
Chúng ta phải dâng cúng
Cúng Ngài phước không lường
Đứa trẻ thứ hai nói kệ:
Ta nay không có hoa
Cũng không có các hương
Thánh ấy không ai sánh
Lấy gì mà cúng dường.
Đến đây, một đứa trẻ liền cởi vòng ngọc đeo cổ trị giá hàng trăm ngàn rồi dùng kệ tụng khen:
Dùng vật này hiến cúng
Đấng Phước Điền vô thượng
Người trí sáng ở đâu
Thấy Ngài đều cung kính.
Lúc ấy, hai đứa trẻ còn lại theo đứa trẻ kia, đều cởi chuỗi

* Trang 114 *
device

ngọc đeo cổ, cầm ở tay mà ca tụng:
Cúng dường Bậc Chánh Giác
Qua sĩng nước sông sâu
Thoát vô lượng ý chí
Trụ trong pháp bình đẳng.
Bấy giờ, một đứa trẻ bảo hai đứa trẻ kia: “Các ngươi dùng cội gốc đức ấy, chí muốn cầu điều gì?”
Một đứa trẻ đáp:
Ở cạnh Đức Thế Tôn
Bên phải đại Thanh văn
Thần tốc tối siêu việt
Ta nguyện được như ông.
Khi ấy hai đứa trẻ nói với đứa trẻ kia: “Này ngươi dùng cội gốc đức ấy muốn được điều gì?”
Đáp rằng:
Muốn như Đức Như Lai
Chí Chân, Chánh Đẳng Giác
Thấy rõ khắp tất cả
Giống như sư tử bước
Soi Thánh chúng sáng rỡ
Ta nguyện được như thế
Bậc nhất ba cõi kính
Độ thoát cả mười phương.
Một đứa trẻ vừa nói lời này thì trong hư không, tám ngàn vị Thiên tử đều khen ngợi: “Hay thay! Hay thay! Chúng ta rất ưa thích lời nói này. Nay Nhân giả đã phát ý thì chư Thiên, thế gian đều được nhờ cứu giúp.”
  Phật bảo Xá-lợi-phất:
  –Bên cạnh Nhất Thiết Đạt Như Lai Chánh Giác có vị thị giả tên là Hải Ý học rộng hiểu nhiều bậc nhất. Ngài gọi mà bảo: “Ông có thấy ba đứa trẻ đều cầm chuỗi ngọc đi đến chăng?” Bồ-tát Hải Ý thưa: “Thưa Đấng Thiên Trung Thiên, con đã thấy.” Đức Thế Tôn bảo rằng: “Này Tỳ-kheo! Ông nên biết, đứa trẻ ở giữa đã kiến lập

* Trang 115 *
device

cái chí tánh cao vời khó lường kia, cứ trong mỗi một bước vượt qua được hoạn nạn cả trăm kiếp từ vô thỉ đến nay, một lần cất bước cội gốc công đức thì sẽ lại làm Chuyển luân thánh vương trăm lần, nhận địa vị Đế Thích cũng lại như thế… thăng lên cõi Phạm thiên là vua trời Phạm cũng sẽ như vậy, mỗi lần cất một bước cội gốc công đức lại gặp trăm Đức Phật.”
Ba đứa trẻ đến chỗ Đức Như Lai Nhất Thiết Đạt, cúi đầu dưới chân Ngài rồi tung chuỗi ngọc báu lên Đức Thế Tôn. Những đứa trẻ phát khởi ý nhỏ Thanh văn thì tung chuỗi ngọc lên ngang tầm mi mắt Đức Phật, còn đứa trẻ phát khởi tâm thông tuệ thì chuỗi ngọc ấy tung lên giữa hư không trên Đức Phật. Chúng biến thành đường sá, lầu đài, màn rủ, bốn bên che chắn trang nghiêm bằng phẳng. Ở trong đó hóa làm giường ngồi để Đức Như Lai dùng. Đến đây, Đức Nhất Thiết Đạt Như Lai liền vui cười. Vị thị giả hỏi Đức Phật: “Kính thưa Thế Tôn! Vì cớ gì Ngài cười? Ngài cười chắc có ý gì?” Như Lai bảo: “Này Hải Ý! Ông nhìn thấy hai đứa trẻ phát khởi ý Thanh văn, tay cầm chuỗi ngọc tung lên cúng dường Như Lai chứ?” Tỳ-kheo Hải Ý đáp: “Thưa Đại Thánh, con đã thấy.” Phật lại bảo: “Này Tỳ-kheo! Ông nên biết hai đứa trẻ đó sợ nạn sinh tử, phát khởi ý khiếp nhược, lòng mong cầu cứu giúp. Do vậy, chẳng phát ý đạo Vô thượng chánh chân mà muốn được Thanh văn làm đệ tử tôn quý. Về đời sau đều sẽ chứng đắc, một người thì trí tuệ tối tôn, người thứ hai thì thần túc vô song.”
Phật bảo Xá-lợi-phất:
–Ý ông nghi ngờ gì chăng? Vị đồng tử ở giữa phát khởi ý thông tuệ là bản thân ta đó. Vị đồng tử nguyện đứng bên phải chính là ông. Vị đồng tử nguyện đứng bên trái chính là Đại Mục-kiền-liên.
Này Xá-lợi-phất! Ta quán sát các ông khi ấy vốn sợ nạn sinh tử, tuy có trồng cội gốc đức mà không thể phát khởi ý đạo Vô thượng chánh chân, tâm chí khiếp nhược, muốn mau diệt độ thì chẳng thể mau chóng được. Ông nương nơi pháp của ta mà đạt được vô vi, nay ông nhìn thấy các thông tuệ của ta chăng? Bằng hữu của các ông làm đệ tử Đức Phật mới được giải thoát. Do nhân này nên ta mới quán sát như vậy. Giả sử có người muốn mau chóng diệt độ thì phải

* Trang 116 *
device

phát khởi ý đạo Vô thượng chánh chân. Vì sao? Đã nói là nhanh chóng, đã gọi là các thông tuệ thì không có gì có thể vượt qua, chắc thật mà không lừa dối. “Thừa” đó là bậc nhất, yên ổn khắp các chúng sinh thì đó là các thông tuệ vậy, là vi diệu tôn quý vô thượng, là không ai sánh bằng, là so sánh vô song, không ai có thể vượt qua, là “Thừa” vô quái ngại, tất cả thừa Thanh văn, Duyên giác đều chẳng bì kịp, đó gọi là các Thừa thông tuệ.
Khi Phật nói pháp điển Đại thừa ấy, một vạn người phát khởi đạo ý Vô thượng Chánh chân. Ngay khi ấy các vị đại Thanh văn như: Hiền giả Xá-lợi-phất, Đại Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, Ly Việt, A-nan, Luật Hòa Lợi, Phân-nậu-văn-đà-ni Tử, Tôn giả Tu-bồ-đề… tự gieo mình xuống đất, cúi đầu dưới chân Phật, bạch Thế Tôn:
–Kính thưa Đại Thánh! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào phát khởi ý chí lớn, nên cúng dường, sẽ được đạo giải thoát vi diệu ở hạnh chí chân. Vì sao? Vì giả sử trăm ngàn các Đức Phật Thế Tôn vì chúng con thuyết giảng các hạnh thông tuệ nhưng chúng con chẳng thể kham nhận vì không có thế lực. Nếu phát tâm thông tuệ đối với Nhất thiết tuệ ấy thì không chỗ ngăn ngại thù thắng khó bì kịp. Chúng con thà phạm tội ngũ nghịch đọa vào địa ngục vô gián mà chẳng dừng lại, chứ chẳng bỏ đi ý đạo Vô thượng chánh chân để làm Thanh văn. Vì sao? Vì giả sử phạm ngũ nghịch, tội đọa vào địa ngục, chịu các khổ độc, khi khổ đau kia hết rồi, từ địa ngục thoát ra mà chẳng xa lìa, tâm không chỗ ngăn ngại các thông tuệ. Xét như hôm nay phải làm gì để không kham chịu? Thiêu đốt chánh chân, bại hoại nguồn gốc đối với Phật tuệ, đối với trí vô quái ngại thì chẳng phải pháp khí của Phật, ví như người đã chết không còn lợi ích cho thân thuộc, chúng ta dùng thừa Thanh văn để lập chí giải thoát cũng giống như vậy. Như thế là bỏ tất cả, không lợi ích cho chúng sinh. Ví như đất này làm sung túc cho tất cả chúng sinh hai chân, bốn chân hoặc nhiều chân.
Bạch Thế Tôn! Cũng giống như thế những ai phát khởi ý đạo Vô thượng chánh chân thì chúng sinh ở trên chư Thiên, thế gian đều nhờ ân đức được độ cả.

* Trang 117 *
device



Phẩm 5: KHÔNG TÔI TA


 
Bấy giờ Thế Tôn nói đầu đuôi câu chuyện ấy sắp kết thúc thì vua A-xà-thế cỡi xe tứ mã đem theo bốn binh chủng: voi, xe, bộ, kî, đến chỗ Phật cúi đầu dưới chân, nhiễu phải ba vòng, lùi về ngồi một bên rồi bạch Thế Tôn:
–Thưa Đấng Thiên Trung Thiên! Chúng sinh nương vào nhân nào để an trụ? Trụ vào nhân duyên gì để mà hưng khởi? Do điều gì mà đắc tội?
Phật bảo nhà vua:
–Chúng sinh đã trụ vào nhân, ngã, thọ, mạng. Do đó chúng sinh tạo tội lỗi, nương vào thân tham mà khởi duyên điên đảo. Nhân đó mà khởi lên tai họa.
Vua lại hỏi:
–Thân tham ấy nguồn gốc ở đâu?
Thế Tôn đáp:
–Nguồn gốc thân tham ấy là không trí tuệ.
Vua lại hỏi:
–Căn bản của không trí tuệ ấy là cái gì?
Đáp rằng:
–Căn bản là nghĩ theo tà.
Lại hỏi:
–Nghĩ theo tà thì chỗ nào là căn bản?
Đáp rằng:
–Hư giả là căn bản.
Lại hỏi:
–Hư giả chỗ nào là căn bản?
Đáp rằng:
–Các tưởng không thật chính là căn bản.
Lại hỏi:
–Các tưởng không thật thì chỗ nào là căn bản?
Đáp rằng:

* Trang 118 *
device

–Nghĩa là vô sở hữu, vô giác là căn bản.
Lại hỏi:
–Sao gọi là vô hữu, vô giác?
Đáp rằng:
–Nghĩa là vô sinh, vô hữu gọi là vô giác.
Lại hỏi:
–Vô sinh, vô hữu thì lấy gì mà tính toán và ở chỗ nào?
Đáp rằng:
–Vô sinh, vô hữu nên không thể tính toán.
Lại hỏi:
–Sự hồ nghi do nhân duyên gì khởi lên?
 Đáp:
–Hồ nghi là từ do dự khởi lên.
Lại hỏi:
–Do dự là thế nào?
Đáp rằng:
–Nghe lời nói của Hiền thánh là chân lý mà còn hoài nghi, ấy gọi là do dự.
Lại hỏi:
–Sao gọi là Hiền thánh?
 Đáp:
–Hiền thánh là những người đã diệt trừ tất cả ái dục và các kiến chấp. Chân lý là biết tất cả pháp đều không thật có.
Vua A-xà-thế bạch Đức Thế Tôn:
–Đã gọi là Hiền thánh không có sở hữu thì thật là hư ngụy! Thế Tôn đã an trụ từ chốn trần lao mà tạo lập ra, nương vào sự nghe của thế gian. Các Hiền thánh đã giảng thuyết mà lòng còn do dự thì bị tội không thể kể xiết.
Bạch Thế Tôn! Cha lành của chúng con! Ngài không còn tội lỗi, không còn chỗ ràng buộc hay còn sợ nguy hiểm đến tính mạng. Con vì tham đất nước, mê hoặc của báu, mê theo vinh hoa phú quý, sản nghiệp, đắm lợi hại dân mà làm điều nghịch hại, luôn hồ nghi, kinh sợ, chẳng thể tự yên ổn, như tại cuộc vui mà đùa giỡn không

* Trang 119 *
device

chán, như ở trong cung cùng thể nữ du hý, hoặc nằm hoặc ngồi mà làm việc triều chính. Như ở riêng một mình nghe xét việc nước, xử sự bá quan, ngày đêm lo lắng không thể bỏ đi, uất kết trầm ngâm chẳng buồn ăn uống, tuy có bữa ăn thịnh soạn, chẳng thấy ngon, mắt kia mờ mờ, nhìn thấy mông lung, thân thể tiều tụy, tâm luôn run rẩy hồi hộp, ở chẳng được yên sợ sau khi chết phải đọa vào địa ngục. Con ngưỡng cầu Đức Như Lai ban cho những kẻ sợ hãi hết sợ, kẻ mù tối được mắt thấy, kẻ chìm đắm được cứu vớt, kẻ gặp khổ não được an lạc, kẻ không chỗ về được về, kẻ không được hộ trì được cứu tế, kẻ nghèo cùng được cho của cải, kẻ bệnh tật được trị liệu dứt bệnh, kẻ rơi vào đường tà được thấy nẻo chánh, kẻ đang ở nẻo chánh thì phát khởi lòng đại Bi, lòng chấp nhận lao khổ chẳng cho đó hoạn nạn, bình đẳng cứu giúp muôn loài, lòng Từ bi kiên cố, rốt ráo đầu đuôi chẳng vì khổ lạc mà lay động. Như Lai đã cứu độ chúng sinh thì không để sót một ai, không bỏ rơi một người nào.
Kính thưa Đức Thế Tôn! Người trông cậy của mọi người! Ngài ban ân an ủi trừ khử nỗi kinh sợ. Người cô đơn không ai cứu, xin Ngài ra tay cứu vớt, khiến cho kẻ đói khát được no đủ, kẻ thiếu thốn sắp quị xuống đất, xin nhờ Ngài nâng đỡ, kẻ không chỗ về, xin được trở về, kẻ chìm đắm xin gia ân cứu vớt. Bản thân con xin được không bị đọa vào địa ngục vô gián, được đến nơi không còn phân biệt.
Kính thưa Đức Đại Thánh! Đúng là cần phải thuyết giảng đạo pháp để giải quyết sự hồ nghi của con, đánh tan sự sầu kết, khiến cho con không còn do dự nữa, khiến cho trọng tội ấy được trở nên nhẹ nhàng.
Lúc này, Đức Thế Tôn nghĩ: “Vua A-xà-thế nói đã thông đạt mà còn rất vi diệu, đã vào được pháp rất thâm áo, những người khác không thể kham nhận được, muốn giải quyết được sự hồ nghi khiến vua không còn kết sử thì chỉ có ông Nhu Thủ kia mới có thể làm sạch được mọi chướng ngại.”
Bấy giờ Xá-lợi-phất vâng Thánh chỉ của Đức Phật, gọi vua A-xà-thế bảo:

* Trang 120 *
device

–Bệ hạ muốn biện luận sự nghi hoặc thì phải chuẩn bị một bữa trai soạn, rồi mời Bồ-tát Nhu Thủ đến thì sẽ giải quyết được những kết sử hư ngụy, trần lao, hồ nghi của nhà vua, trấn an được đất nước và để cho những người trong cung vua được cúng dường trai soạn. Nhờ đó, thể nữ và những người hầu trong cung được phước vô lượng, vô số chúng sinh trong thành La-duyệt, của nước Ma-kiệt đều hưởng được lợi ích.
  Vua A-xà-thế liền bạch với Bồ-tát Nhu Thủ:
  –Xin Bồ-tát rủ lòng thương xót, đi cùng với chúng tôi dự bữa tiểu thực.
Nhu Thủ đáp:
–Đại vương hãy thôi vì đã cúng dường đủ rồi, ở chánh pháp luật chưa có ghi điều này, nhận y phục hoặc thức ăn đầy đủ, chỉ tăng thêm lòng mong cầu.
Nhà vua lại nói:
–Phải bày tỏ thế nào để biểu lộ tấm lòng son của mình?
Nhu Thủ đáp:
–Giả sử đại vương nghe sâu xa, cái chân nghĩa đặc thù của diệu nghiệp mà không lo, không sợ, không kinh hãi, không run rẩy, thì mới là gia tăng lòng bi mẫn. Giả sử đại vương chẳng tưởng niệm pháp, cũng chẳng phải vô tưởng, không tưởng cái vô tưởng, như vậy hành giả mới gia tăng lòng thương xót. Giả sử đại vương bỏ tâm chẳng tưởng, cũng không phải chẳng tưởng, chẳng nghĩ đến tâm, cũng không có chẳng tưởng, đối với tâm hiện tại cũng không chỗ chấp thủ thì mới là gia tăng lòng ai mẫn. Giả sử đại vương cũng chẳng rơi vào tà kiến cũng chẳng diệt trừ, cũng không kiến chấp cũng chẳng phải không kiến chấp thì mới là gia tăng lòng ai mẫn.
Vua A-xà-thế lại bạch với Bồ-tát Nhu Thủ:
–Nay đã nói hết sự chuyển tải của pháp, xin Bồ-tát rủ lòng thương xót nhận lời mời ấy!
Bồ-tát Nhu Thủ đáp:
–Đại vương nên biết! Điều pháp luật ghi chép chẳng dùng ân

* Trang 121 *
device

để ban và cúng dường người khất thực quần áo thức ăn uống, nên đại vương chẳng chấp có ngã chẳng chấp có nhân, chẳng chấp có thọ, chẳng kể có mạng thì mới là gia tăng lòng ai mẫn, mới là nhân của cúng dường. Giả sử nhà vua chẳng tự yêu thân, chẳng yêu thân người khác, tất cả đều không chấp thì mới là gia tăng lòng ai mẫn. Giả sử đại vương chẳng hộ trì tâm mình, chẳng chấp nhân duyên, chẳng ở tại các ấm, các nhập, không có pháp, bên trong không có pháp bên ngoại, chẳng ở trong ba cõi, chẳng vượt qua ba cõi, không thiện, không bất thiện, không đức, không bất đức, chẳng ở với thế gian, cũng chẳng vượt qua thế gian, không tội không phước, cũng không hữu lậu, cũng chẳng vô lậu, cũng chẳng hữu vi cũng chẳng vô vi, chẳng bỏ sinh tử, chẳng nhận diệt độ. Ấy là gia tăng lòng ai mẫn.
Nhà vua đáp:
–Đúng thế, thưa Bồ-tát Nhu Thủ! Tôi sẽ nhận lãnh đúng như lời pháp ấy. Do đó, xin Bồ-tát sẽ nhận lời mời của tôi, rủ lòng thương xót xuống những người hạ liệt chúng tôi.
Bồ-tát Nhu Thủ đáp:
–Nhà vua nên biết! Giả sử các pháp có chỗ nương tựa, có chỗ thọ lãnh, có chỗ đạt được, có chỗ cứu hộ thì chẳng cần lòng ai mẫn, chẳng cần được đến chỗ yên ổn. Giả như đối các pháp có chỗ nương tựa mà khởi lên tưởng niệm, có chỗ kiến lập mà khởi lên buông lung, đó đều là nương chấp vào tưởng niệm có chỗ ủng hộ buông lung. Giả sử đại vương mong đến cứu cánh cùng cực yên ổn vĩnh viễn mới không có khổ đau. Giả như nhà vua lại có chỗ tạo tác thì chẳng có được lòng ai mẫn, chẳng đến được sự yên ổn.
Vua A-xà-thế lại hỏi Bồ-tát Nhu Thủ:
–Thọ trì pháp gì mà không có khổ đau, đạt đến giải thoát?
Bồ-tát Nhu Thủ đáp:
–Nếu rõ được lý Không mà không tạo tác, cũng không có chỗ chẳng tạo tác. Vô tưởng, Vô nguyện, cũng không có tạo tác, cũng không chẳng tạo tác. Giả như đại vương có tạo lập mà hành động ấy là hành động của thân, miệng, ý. Đó chính là tạo tác. Giả sử chẳng có tạo tác, cũng không hành, do thân, miệng, ý. Đó chính là tạo tác. Giả sử chẳng có tạo tác, cũng không vận hành, do thân, miệng, ý

* Trang 122 *
device

không tạo nghiệp nên không tạo tác. Này đại vương! Vậy nên tất các các pháp đều không có tướng. Không vận hành ấy đã không thật có thì chính là tướng đó.
Nhà vua lại hỏi Bồ-tát Nhu Thủ:
–Sao gọi là vận hành mà không vận hành, chẳng có tạo tác cũng không chẳng tạo tác, chẳng tăng, chẳng giảm?
Bồ-tát Nhu Thủ đáp:
–Giả sử chẳng nghĩ đến quá khứ đã qua, chẳng nghĩ đến tương lai chưa tới, chẳng nghĩ đến hiện tại mà không khởi lên, chẳng tưởng thường còn hay vô thường. Đó là hành cũng không chẳng hành, điều này có thể bình đẳng với sắc, đối với các nhân duyên mà làm các duyên chẳng tăng chẳng giảm.
Nhà vua lại hỏi Bồ-tát Nhu Thủ:
–Các dục của trần lao chính là đạo ư? Thế nào là cùng hòa hợp?
Bồ-tát Nhu Thủ đáp:
–Ý nhà vua thế nào? Ánh sáng mặt trời cùng với bóng tối hòa hợp ư?
Nhà vua đáp:
–Chẳng được vậy. Ánh sáng mặt trời vừa xuất hiện thì bóng tối bị tiêu diệt.
Bồ-tát Nhu Thủ nói:
–Nhà vua có biết bóng tối đi về đâu không? Ở phương nào? Tích tụ ở đâu không?
Nhà vua đáp rằng:
–Chẳng biết được.
Bồ-tát Nhu Thủ nói:
–Như vậy, nếu đại vương phát khởi đạo tuệ thì phiền não bị tiêu diệt mà chẳng biết chỗ tụ họp lại của phiền não cũng không có xứ sở, không có phương hướng. Vậy nên, bệ hạ phải biết rằng: Đạo cùng phiền não chẳng hòa hợp, lại bình đẳng với phiền não thì gọi là đạo, bình đẳng với đạo thì phiền não cũng bình đẳng. Phiền não cùng với đạo bình đẳng không sai khác. Tất cả các pháp cũng lại

* Trang 123 *
device

bình đẳng. Giả sử phân biệt như sự bàn bạc ấy thì phiền não là đạo. Vì sao? Vì có nhiều phiền não nên phải thị hiện có đạo vậy. phiền não vô hình, không thể nắm bắt. Cầu phiền não chính là cầu đạo vậy.
Nhà vua lại hỏi:
–Sao lại gọi là cầu phiền não mà là cầu đạo ư?
Ngài Nhu Thủ nói rằng:
–Giả sử có mong cầu chẳng vượt khỏi tâm người cũng chẳng nghĩ rằng đó là phiền não thì đó là tà đạo vậy. Vì thế nên phiền não là đạo. Phiền não ấy cũng nhập vào đạo.
Nhà vua lại hỏi:
–Sao gọi là phiền não mà nhập vào với đạo? Sao gọi là hành?
Bồ-tát Nhu Thủ nói:
–Đối với tất cả pháp mà không vận hành thì mới là hành đạo. Đối với tất cả pháp cũng không chẳng hành thì đó hành đạo.
Nhà vua lại hỏi:
–Hành đạo như thế thì đi về đâu?
Bồ-tát Nhu Thủ đáp:
–Hành như vậy là không chỗ hướng đến.
Nhà vua lại hỏi:
–Đạo lẽ nào chẳng phải đến Nê-hoàn ư?
Bồ-tát Nhu Thủ hỏi:
–Có phải các pháp đến diệt độ không?
Nhà vua đáp:
 –Chẳng phải vậy.
Bồ-tát Nhu Thủ nói:
–Thưa đại vương! Như vật đạt đến không có chỗ đến là đạo của Thánh hiền.
Nhà vua lại hỏi:
–Hiền thánh ấy ở đâu?
Bồ-tát Nhu Thủ nói:
–Đạo Hiền thánh ấy thì không chỗ trụ.

* Trang 124 *
device

Nhà vua lại hỏi:
–Đạo Hiền thánh ấy chẳng thực hành cấm giới, học rộng hiểu nhiều, định, tuệ ư?
Bồ-tát Nhu Thủ đáp:
–Cấm giới của Hiền thánh là không có hành tướng, không có tướng buông lung, là định ý bậc Thánh. Tướng không chấp trước là định ý bậc Thánh, tướng không chỗ niệm là trí tuệ Thánh. Ý vua thế nào? Vì không có chỗ sở hành ấy không có buông lung lại có nơi chốn ư?
Nhà vua đáp:
 –Chẳng phải vậy.
Bồ-tát Nhu Thủ nói:
–Vì thế nhà vua nên biết, không chỗ trụ thì chính là đạo Hiền thánh.
Nhà vua lại hỏi:
–Thiện nam, thiện nữ, sao gọi là hướng đạo?
Bồ-tát Nhu Thủ nói:
–Giả sử đã chẳng cầu thì chẳng nhìn thấy pháp thường, vô thường, cũng không sở đắc, chẳng chấp các pháp có tịnh không tịnh, có rỗng không, không rỗng không, hoặc ngã, hoặc vô ngã, hoặc khổ, hoặc vui. Đối với các pháp cũng không thể nắm bắt, chẳng thấy các pháp ở đầu tiên hay cuối cùng, ai muốn diệt độ thì thực hành như thế, là hướng về với đạo.
Vua A-xà-thế bạch với Bồ-tát Nhu Thủ:
–Do vậy, xin Bồ-tát hãy nhận lời mời của tôi. Nhân đây khiến cho tôi lìa khỏi các điên đảo, khiến được giải thoát phân biệt tịnh hạnh. Xin hãy cùng các quyến thuộc cùng về cung để thọ thực.
Bồ-tát Nhu Thủ nói:
–Như vừa rồi đã nói, tất cả đều không thật có, không có sinh ra, không có “lành thay” với “chẳng lành thay”. Vô sở hữu kia không có giải thoát thì giải thoát ấy vô sở hữu, cũng không giải thoát. Cũng không giải thoát là vì sao? Vì tất cả các pháp đều tự nhiên thanh tịnh.

* Trang 125 *
device

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Nhu Thủ:
  –Ông nên nhận lời mời của vua A-xà-thế. Nhờ duyên này khiến cho vô số người thành tựu được lợi ích đạt đến sự yên ổn.
Bồ-tát Nhu Thủ được Đức Thế Tôn khuyên, liền nói:
–Thưa vâng, con sẽ nhận lời mời ấy. Con chẳng dám trái lời dạy của Như Lai.
Vua A-xà-thế rất vui mừng được nhận lời mời rồi, vua phát sinh tâm thiện, cúi đầu dưới chân Đức Phật và Bồ-tát Nhu Thủ. Tất cả Thánh chúng đều lui ra. Nhà vua hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
–Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Quyến thuộc của Bồ-tát Nhu Thủ có bao nhiêu vị?
Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:
–Sẽ có năm trăm người cùng đến.
Nhà vua vào thành, trở về cung. Ngay đêm ấy, vua cho dọn ra hàng trăm món thức ăn, bày ra năm trăm tòa ngồi trải nhiều tọa cụ lên trên, rồi cho treo lụa năm màu, phướn, lọng để trang hoàng cung điện, cho đốt các loại hương thơm, tung các loại hoa và ở các đường phố, ngã tư trong ngoài thành đều được quét dọn sạch sẽ, rảy nước thơm cả. Vua ra lệnh cho dân chúng trai gái, lớn nhỏ trang sức đẹp đẽ, mang theo hương hoa để cùng nghênh đón Bồ-tát Nhu Thủ.
Phẩm 6: TỔNG TRÌ
Bấy giờ vào lúc đầu đêm, Bồ-tát Nhu Thủ ra khỏi tịnh thất, tự nghĩ: “Bản thân ta chẳng nên cùng một số ít quyến thuộc đến chỗ nhà vua mời. Nay ta nên đến các cõi Phật khác để mời thêm các vị Bồ-tát cho họ được nghe thuyết giảng kinh pháp, đoạn trừ các hồ nghi và đến cung vua A-xà-thế thọ thực.”
Bồ-tát Nhu Thủ trong thời gian co duỗi cánh tay của lực sĩ, bỗng nhiên biến mất. Trong giây lát, Bồ-tát đã vượt qua tám muôn cõi Phật, đến tận cõi Thường danh văn ở phương Đông, Đức Phật ở

* Trang 126 *
device

đó hiệu là Ly Văn Thủ Như Lai Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, hiện đang thuyết pháp. Ngài vì các vị Bồ-tát nói pháp điển thanh tịnh. Ở cõi pháp ấy, Đức Như Lai cùng một lúc chuyển pháp sáu độ vô cực, tự nhiên thông đạt đầy đủ, tuyên thuyết rộng rãi pháp không thoái chuyển. Ở cõi pháp ấy, tất cả các cây trổ không biết bao nhiêu loại hoa, quả trái sum suê. Từ những cây ấy đều tự nhiên phát ra tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng chúng Bồ-tát không thoái chuyển. Vậy nên, danh hiệu thế giới ấy là Thường danh văn.
Bồ-tát Nhu Thủ đến chỗ Đức Phật Ly Văn Thủ, cúi đầu dưới chân bạch Đức Như Lai:
–Kính thưa Thế Tôn! Xin Thế Tôn sai các vị Bồ-tát cùng với con đi đến cõi Nhẫn, tề tựu về cung của vua A-xà-thế, theo lời mời của vua.
Đức Như Lai Ly Văn Thủ bảo các vị Bồ-tát:
–Này các Thiện nam! Các ông hãy cùng với Bồ-tát Nhu Thủ đến thế giới Nhẫn cho ông ấy vui lòng.
Hai vạn hai ngàn vị Bồ-tát Đại sĩ đang ở trong hội cùng lúc lên tiếng đáp:
  –Kính thưa Thế Tôn! Chúng con nguyện cùng với Bồ-tát Nhu Thủ đến cõi Nhẫn.
  Lúc ấy, từ nước Thường danh văn, Bồ-tát Nhu Thủ cùng hai vạn hai ngàn vị Bồ-tát bỗng nhiên biến mất. Tất cả hiện đến trong thất của Bồ-tát Nhu Thủ. Bồ-tát Nhu Thủ nhóm họp các vị Bồ-tát Đại sĩ vào đầu đêm thuyết giảng pháp Tổng trì. Thế nào gọi là Tổng trì? Sở dĩ gọi Tổng trì vì bao gồm: Các pháp  (1). Tâm chưa từng quên  (2). Chí nguyện không loạn  (3). Tâm ấy chưa từng bỏ phế  (4). Học nghiệp trí tuệ  (5). Xét tinh túy các pháp, quán sát kỹ càng nghĩa lý  (6). Phân biệt chánh tuệ  (7). Chứng được quả chỉ là văn tự vậy  (8). Đạt đến tịch nhiên  (9). Sắp đặt tất cả các pháp theo chương cú  (10).
Nắm tất cả cốt yếu của Hiền thánh  (1). Chẳng đoạn dứt lời Phật dạy  (2). Chẳng trái với Phật  (3). Bao gồm tất cả chúng Hiền thánh  (4). Đối với kinh pháp, chia điển tịch  (5). Nhập vào tất cả trí tuệ tuyệt vời  (6). Chẳng dựa vào chúng hội, cũng không khiếp nhược 

* Trang 127 *
device

(7). Đi khắp các chúng hội tuyên dương kinh điển không sợ hãi  (8). Phát xuất các thiện nam, đắn đo, kén chọn minh trí  (9). Với trời, rồng, thần, A-tu-luân, Ca-lưu-la, Chân-đà-la, Ma-hưu-lặc thông suốt các ngôn ngữ ấy mà vì họ nói pháp (12).
Phát ra tiếng Thích, Phạm  (1). Hiểu thấu bình đẳng chân chánh, biết rõ các nguồn cội  (2). Biết kén chọn tà kiến các chỗ kiến lập  (3). Tổng trì quan sát tất cả nguồn gốc hướng đến của chúng sinh  (4). Đã trụ tâm bình đẳng  (5). Đối với tám pháp thế tục chẳng chuyển động  (6). Đầy đủ tất cả pháp chân chánh  (7). Tùy theo tội phước, báo ứng, quả chứng của họ mà vì họ thuyết pháp  (8). Khơi dậy cho chúng sinh tạo ra ý chí  (9). Kiến lập cho chúng sinh sống với giới cấm  (13).
Trí tuệ ấy nhập vào khắp cả  (1). Vì các chúng sinh gánh vác trách nhiệm năng nề  (2). Chẳng do khổ cực mà nhàm chán  (3). Hiểu rõ các pháp vốn tánh thanh tịnh (4). Do bản tánh thanh tịnh ấy mà vì người diễn nói (5). Do hiểu bản tánh tuệ thanh tịnh nên thiết lập đạo nghĩa  (6). Trí tuệ không ngăn ngại   (7). Tu tập thiết lập pháp khí  (8). Tâm ấy kiên cố, chưa từng biếng nhác, mệt mỏi  (9). Đã giảng nói thì không có nghi kết  (14).
Chẳng tham tất cả lợi ích cúng dường  (1). Chẳng quên bỏ các tâm thông tuệ  (2). Gắng sức chứa nhóm nhiều các hạnh, ưa thích vắng lặng  (3). Bố thí không biết nhàm chán đều khuyến giữ gìn các thông tuệ  (4). Giữ cấm giới không nhàm chán, do đó khuyến hóa được tất cả chúng sinh  (5). Nhẫn nhục không nhàm chán, cầu giống như sắc thân Đức Phật  (6). Tinh tấn không nhàm chán, tích tụ được các gốc đức  (7). Nhất tâm không nhàm chán, tu hành tinh chuyên khiến không còn các tối tăm  (8). Trí tuệ không nhàm chán nhập vào tất cả hạnh  (9). Đem sự nghiệp đạo pháp đến với tất cả mà không chỗ sinh ra  (15).()
Này các Thiện nam! Gọi là Tổng trì là bao gồm tất cả, không thể nghĩ bàn, yếu nghĩa các pháp, nắm giữ các pháp, không có sự tạo tác cũng chẳng phải có sự tạo tác nên gọi Tổng trì.
__________________________________________
() Thứ tự số đếm giữ nguyên bản

* Trang 128 *
device

Lại nữa, này các Thiện nam! Tổng trì ấy là bao gồm các pháp. Sao gọi Tổng trì các pháp? Là nắm lấy tất cả các pháp, tất cả đều rỗng không, nắm lấy các pháp, tất cả không tưởng, nắm lấy các pháp, tất cả không nguyện, lìa các hành, tịch mịch không hình tướng đều không thật có, cũng không thể hiểu, cũng không thể hành, không có xứ sở, cũng không chỗ sinh, cũng không chỗ khởi, cũng không nơi đến, cũng chẳng diệt hết, không lại không qua, cũng không hoại, cũng không vượt qua, cũng không chỗ tan rã, cũng không chỗ tịnh, cũng không bất tịnh, cũng không nghiêm, cũng không chẳng nghiêm cũng không chấp trước, cũng không thật có, cũng không kiến, chấp cũng không nghe, cũng không đến, cũng không giáo hóa, cũng không hữu lậu, cũng không tưởng niệm, cũng chẳng rời tưởng niệm, không ứng, chẳng ứng, cũng không điên đảo, cũng không đầy đủ, không ta, không người, không thọ, không mạng, cũng không buông lung, cũng không giữ lấy, cũng không chấp thủ, cũng không đặc thù, giống như hư không không có tiếng khen, cũng không đạt được, không chỗ phá hoại, cũng không có hai, quả nhiên an trụ nơi bản tế. Tất cả pháp giới, tất cả các pháp đều an trụ nơi bản thể vô vi. Đó gọi là Tổng trì.
Lại nữa, này các Thiện nam! Tất cả các pháp ví như huyễn mà đều tự nhiên. Nắm giữ tự nhiên như mộng, tự nhiên như sĩng nắng, tự nhiên như bóng, tự nhiên như tiếng vang, tự nhiên như hóa hiện, tự nhiên như bọt nước, tự nhiên như bong bóng, tự nhiên như hư không… phân biệt các pháp như thế thì chính là Tổng trì.
Bồ-tát Nhu Thủ nói:
–Này các Thiện nam! Ví như sự nâng đỡ của đất không chỗ nào chẳng giống nhau, chẳng thêm, chẳng bớt, cũng không chỗ đặt để, chẳng cho là nhàm chán. Giả sử Bồ-tát đạt được Tổng trì thì có thể lợi ích tất cả chúng sinh, ban ân, cứu tế vô số kiếp, từ cội gốc đến cả các thông tuệ mà tâm Tổng trì cũng không chỗ đặt để, chẳng nhàm chán.
Này các Thiện nam! Ví như ở trên đất này, tất cả chúng sinh nhờ vào đó mà sinh sống, loài hai chân, loài bốn chân, không loài nào mà chẳng nhờ. Bồ-tát Đại sĩ đạt được Tổng trì cũng lại như

* Trang 129 *
device

vậy, nhiều loài chúng sinh được nhiều lợi ích.
Này các Thiện nam! Ví như dược thảo, cây cối, trăm giống lúa, các loại trái cây đều nhờ đất sinh ra, giả sử Bồ-tát thành tựu được Tổng trì cũng cũng lại như vậy, liền có thể mở được tất cả cội gốc đức và pháp của chư Phật.
Này các Thiện nam! Ví như sự nâng đỡ của đất cũng không chỗ đặt để, cũng chẳng lo lắng, chẳng động, chẳng lay, chẳng tăng, chẳng giảm. Bồ-tát cũng như vậy, không chỗ đặt để, chẳng lo lắng, chẳng tăng chẳng giảm, cũng chẳng lay động.
Này các Thiện nam! Ví như ở trên đất này nhận nước trời mưa chẳng nhàm chán. Như thế, Bồ-tát thành tựu được Tổng trì đều nhận tất cả kinh điển của chư Phật và pháp của các Bồ-tát. Tất cả Duyên giác, Thanh văn, kể cả người chánh kiến, người hành bình đẳng, Sa-môn, Phạm chí khác, tất cả chúng sinh ở trên trời, ở thế gian nghe nói pháp ấy chẳng nhàm chán, nghe nói kinh chẳng mệt mỏi.
Này các Thiện nam! Ví như việc gieo trồng trên đất đều theo thời tiết mọc lên, chẳng mất thời vụ, cũng chẳng lẫn lộn trái thời tiết, hợp thời vụ thì càng phát triển. Như thế, Bồ-tát đạt Tổng trì thì bao gồm tất cả các pháp công đức, chẳng xâm phạm lừa dối người, cũng chẳng trái thời, đầy đủ các hạnh ngồi ở gốc cây Phật, nơi đạo tràng, đạt đến các thông tuệ.
Này các Thiện nam! Ví như kẻ cao sĩ dũng mãnh ở các nước thành vào cuộc chiến đấu, hàng phục kẻ địch thì không ai mà chẳng theo về. Như thế, Bồ-tát đạt được Tổng trì thì ngồi ở gốc cây Phật nơi đạo tràng, hàng phục chúng ma.
Này các Thiện nam! Ví như xét tất cả pháp là thường, vô thường, nếu vi diệu thì an ổn, phi ngã và chấp cũng là vô thường cùng các lầm lỗi và khổ, cũng phi ngã. Này các Thiện nam! Vì rời hai phía nên gọi là Tổng trì.
Này các Thiện nam! Ví như hư không, không gì chẳng nắm giữ, cũng chẳng phải nắm giữ, cũng chẳng phải không nắm giữ. Như thế Bồ-tát đạt được tổng trì thì nắm tất cả yếu nghĩa các pháp.
Này các Thiện nam! Ví như tất cả các pháp và các tà kiến đều

* Trang 130 *
device

là “không”, đều nắm lấy tất cả. Như vậy, Tổng trì là bao gồm nghĩa lý của tất cả các pháp.
Này các Thiện nam! Nếu nói về Tổng trì thì không có khi nào hết được. Do không cùng tận thì không buông lung, do không buông lung thì không ở trung gian, đã bình đẳng thì không có thân, như cõi hư không, đã như hư không thì hư không và đất đều không có hai.
Bồ-tát Nhu Thủ vừa nói xong, năm trăm vị Bồ-tát cũng chứng đắc Tổng trì này.
Phẩm 7: TAM TẠNG
Vào giữa đêm, Bồ-tát Nhu Thủ vì các Bồ-tát Đại sĩ giảng thuyết ba tạng bí mật của Bồ-tát. Sao gọi là yếu nghĩa của tạng bí mật của Bồ-tát? Vì các kinh pháp không điều nào chẳng quy nhập vào tạng này. Như pháp thế tục, pháp xuất thế, pháp hữu vi, pháp vô vi hoặc pháp thiện, hoặc pháp bất thiện, pháp hữu tội, pháp vô tội, pháp hữu lậu, pháp vô lậu… đều quy nhập vào tạng Bồ-tát. Vì sao? Vì hiểu yếu nghĩa kinh điển của tạng Bồ-tát thì hiểu rõ tất cả nghĩa các pháp.
Này các Thiện nam! Ví như tam thiên đại thiên thế giới này, hàng trăm ức đất đai bốn thiên hạ, hàng trăm ức mặt trời, mặt trăng, hàng trăm núi chúa Tu-di, hàng trăm ức biển lớn đều quyện hợp vào tam thiên đại thiên thế giới làm một cõi Phật.
Này các Thiện nam! Như thế pháp phàm phu và các pháp học khác như: pháp Thanh văn, pháp Duyên giác, hoặc pháp Bồ-tát và cả pháp Phật đều đến quy vào tạng Bồ-tát. Vì sao? Vì tạng Bồ-tát bao gồm tất cả Thanh văn, Duyên giác đem nuôi dưỡng Đại thừa.
Này các Thiện nam! Ví như gốc rễ của cây kia có kiên cố thì cành lá, hoa trái mới thêm sum suê. Lại nữa, này các Thiện nam! Giả như có đạt được tạng Bồ-tát thì Bồ-tát Đại sĩ mới đạt được tất cả các thừa để đem nuôi dưỡng tất cả các pháp của phước đức. Tạng Bồ-tát tên là Vô lượng khí. Gọi Vô lượng khí là ví như biển cả, chứa được nước nhiều vô lượng. Đó là vật chứa đựng bao hàm nên các

* Trang 131 *
device

Rồng, Quỷ, Thần, Kiền-đạp-hòa, A-tu-luân, Ca lưu la, Chân-đà-la, Ma-hưu-lặc và các loại chúng sinh cầm thú đều lấy từ đó, nên còn gọi là Vô hạn khí. Kinh điển bí mật cốt yếu của tạng Bồ-tát cũng lại như vậy. Đó là sự bố thí vô hạn về văn, giới, định, tuệ, giải thoát, tri kiến. Do vậy, nên gọi là tạng Bồ-tát. Ví như loài có máu sinh ở biển cả, vì sinh ra ở đó nên chẳng uống nước nào mà chỉ uống nước biển. Như vậy, nếu Bồ-tát đã hành tạng Bồ-tát thì không tu hành các pháp khác, mà chỉ thường tu hành các pháp nghĩa thông tuệ. Do vậy nên gọi là tạng Bồ-tát.
Lại nữa, này các Thiện nam! Bồ-tát có ba tạng cốt yếu. Sao gọi là ba?
1.Tạng Thanh văn.
2.Tạng Duyên giác.
3.Tạng Bồ-tát.
Tạng Thanh văn là nương theo âm hưởng người khác mà được giải thoát.
Tạng Duyên giác là hiểu rõ duyên khởi của mười hai nhân duyên, phân biệt báo ứng, chấm dứt nhân sinh khởi.
Tạng Bồ-tát là nắm giữ nghĩa lý vô lượng của các chánh pháp, tự phân biệt giác ngộ.
Lại nữa, này các Thiện nam! Thừa Thanh văn ấy không có ba tạng, Duyên giác ấy cũng không có ba tạng, chỉ có pháp Bồ-tát mới nghiên cứu, rèn luyện ba tạng mật yếu. Nhờ pháp Bồ-tát mà phát sinh ba tạng là Thanh văn, Duyên giác và đạo Vô thượng chánh chân. Vậy nên gọi là ba tạng. Bồ-tát thuyết pháp khuyến hóa chúng sinh khiến họ ở nơi ba thừa: Thanh văn, Duyên giác và Vô thượng chánh giác. Vậy nên Bồ-tát tên là Tam tạng. Có ba tạng này thì không học tạng khác. Những gì gọi là ba? Đó là Thanh văn học, Duyên giác học và Bồ-tát học.
Sao gọi là Thanh văn học? Sự học này chỉ làm sáng tỏ bản thân mình.
Duyên giác học thì gọi là Trung học.
Hành đại Bi thì gọi là Bồ-tát học. Sự học này đạt đến vô lượng trí tuệ, bao gồm cả đại Bi.

* Trang 132 *
device

Thừa Thanh văn kia chẳng học theo sự học của thừa Duyên giác, cũng chẳng hiểu thấu Duyên giác. Còn Duyên giác kia chẳng học theo sự học của Bồ-tát, cũng chẳng hiểu được sự học của Bồ-tát. Nhưng Bồ-tát thì học hết sự học của Thanh văn đều hiểu rõ mà chẳng theo cái học đó, cũng chẳng khuyến khích tu theo hạnh ấy. Bồ-tát học sự học của Duyên giác, hiểu rõ hết nhưng chẳng ưa theo sự học ấy, cũng chẳng khuyến hóa tu theo cái thừa đó. Nhưng Bồ-tát lại còn học theo sự học của Bồ-tát, hiểu rõ hết cả và ưa thích khuyến hóa tu theo hạnh của thừa đó. Bồ-tát khuyến hóa bằng hạnh của mình rồi thuyết giảng hạnh giải thoát của Thanh văn. Bồ-tát cũng thuyết giảng hạnh giải thoát của Duyên giác, Bồ-tát phân biệt sự tu tập giải thoát của Bồ-tát.
Như vậy, này các Thiện nam! Bồ-tát hiểu rõ sự học này gọi là tạng Bồ-tát, giống như đồ vật đựng trong vật bằng lưu ly tức thời tự nhiên tánh chúng hiện bày như sắc lưu ly.
Như vậy, này các Thiện nam! Giả sử Bồ-tát đã được thể nhập trong tạng Bồ-tát thì đối với các pháp, Bồ-tát nhìn thấy tất cả pháp đều là Phật pháp. Giả sử Bồ-tát đã vào tạng Bồ-tát thì chẳng nhìn thấy các pháp có xứ sở. Giả sử Bồ-tát hiểu rõ các Phật thừa thì chẳng thấy hình tượng các pháp. Những ai chẳng học đến Bồ-tát học thì thấy các pháp có xứ sở. Giả sử Bồ-tát học theo sự học của Bồ-tát thì chẳng thấy các pháp có xứ sở. Giả sử Bồ-tát học theo sự học của Bồ-tát thì chẳng thấy các pháp có trụ xứ. Những ai chẳng tu hành thì chấp tất cả đều là tự nhiên. Như vậy, này các Thiện nam! Giả sử Bồ-tát vào tạng Bồ-tát thì nơi mọi hành động của các pháp, tất cả đều thấy là pháp của chư Phật. Giả sử, Bồ-tát vào tạng Bồ-tát thì chẳng thấy các pháp có các hình tượng. Giả sử Bồ-tát hiểu rõ các Phật pháp thì cũng chẳng nhìn thấy xứ sở các pháp. Học Bồ-tát học thì chẳng thấy chỗ quy thú của các pháp. Những ai không tu tập quán sát thì họ nhìn thấy tất cả chúng sinh nhìn thấy chẳng thuận thì Bồ-tát đều thấy các pháp thuận chính. Bồ-tát nhìn đến các pháp thì không có một pháp nào là chẳng phải Phật pháp cả. Vậy nên, gọi là tạng Bồ-tát.
Lại nữa, này các Thiện nam! Tạng Bồ-tát đã nói thì không bờ

* Trang 133 *
device

không đáy, dùng văn tự để diễn đạt thuận mà đúng lúc thì chẳng thể kể xiết, chỗ kiến lập của nó chẳng thể nghĩ bàn, tỏa ánh sáng xuống thì không đâu chẳng thông đạt. Ánh sáng không bờ cõi, không chỗ nào chẳng soi tới, rất nhiều ích lợi, khiến chúng sinh đều quay về các thông tuệ, lại còn khiến cho chúng sinh đều ưa thích bản thể vô vi. Giả sử có người học đến sự học kia, vừa mới học thì tất cả đều sẽ nhập vào tạng Bồ-tát. Vào được Đại thừa rồi, muốn học thì sẽ đạt được tất cả. Nếu họ chẳng đạt được Đại thừa thì cũng khiến họ đến với Đại thừa, khiến vào khắp cả. Như vậy, Bồ-tát Nhu Thủ vì các chúng Bồ-tát nhóm họp ở đây, ngay lúc nửa đêm thuyết giảng bí mật cốt yếu của kinh điển tạng Bồ-tát, phân biệt diễn giảng rộng rãi ý nghĩa mục đích hướng đến.
 


Phẩm 8: BẤT THOÁI CHUYỂN LUÂN


 
Vào cuối đêm, Bồ-tát Nhu Thủ lại vì các Bồ-tát Đại sĩ tuyên giảng rộng rãi về Bất thoái chuyển luân Kim cang cú tích.
Sao gọi là Bất thoái chuyển luân?
Lại nữa, này các Thiện nam! Sở dĩ gọi Bất thoái chuyển luân là như khi nghe Bồ-tát thuyết giảng kinh pháp nếu có người đến nghe thì đều hiểu được nghĩa lý rồi quay về luôn, chẳng quay trở lại, do thuyết giảng về Bất thoái chuyển luân khiến cho họ ưa thích, tin tưởng. Hạnh Bất thoái chuyển luân của Bồ-tát là chẳng vì chúng sinh tạo ra một số hạnh, chẳng vì các pháp tu một số hạnh, chẳng ở trong đất nước sinh khởi một số hạnh, chẳng đối với chư Phật khởi lên một số hạnh, chẳng ở các thừa tu hành một số hạnh, tất cả chỗ đến đều nhìn thấy khắp, chuyển bánh xe pháp mà chẳng hủy hoại pháp giới. Đó mới gọi là Chuyển pháp luân. Vậy nên, có tên là Bất thoái chuyển luân, do đã chuyển bánh xe mà không đoạn dứt. Bánh xe ấy đúng lý thì không có hai. Như vậy, bánh xe ấy đúng là bánh xe Từ bi. Ý nghĩa nẻo về tự nhiên của bánh xe ấy là ở chỗ mình đã đến. Chỗ hướng về của bánh xe ấy là bánh xe đạo tràng pháp giới.

* Trang 134 *
device

Lại nữa, này các Thiện nam! Giả sử Bồ-tát tin tưởng, ưa thích hạnh Bất thoái chuyển luân ấy giải thoát được khổ đau của bản thân mình, tin tưởng, ưa thích tất cả những điều đã tin, tất cả tư tưởng mà Như Lai đã dấy khởi cũng đều tin cả. Do tin nên được giải thoát đối với Như Lai thì không có hai giải thoát, cũng chẳng nói có hai, như tướng tốt giải thoát của Như Lai ấy là tướng các pháp, là tất cả pháp tướng. Tin Như Lai giải thoát thì không có tướng, đã lìa tướng giải thoát thì tự nhiên tế độ được bản thân mình. Hạnh như thế thì đâu có thể hơn được, cũng đâu có thể vượt qua tuệ ấy được. Vậy nên gọi là Bất thoái chuyển luân.
Lại nữa, này các Thiện nam! Bất thoái chuyển luân chẳng quay trở lại sắc. Sắc là tự nhiên vậy. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Thức chẳng thoái chuyển, thức cũng tự nhiên. Vì sao? Vì thức chẳng thoái chuyển đối với tất cả các pháp, giống như bản thể vô vi chính là pháp luân. Vậy nên, gọi là Bất thoái chuyển luân. Pháp luân ấy không có bờ cõi, hạn định, không ràng buộc, không góc cạnh, không có đoạn dứt, không thường hằng vậy. Pháp luân ấy không có pháp môn, không có hai nên chính là cửa pháp luân. Pháp luân ấy không thể chuyển, không chuyển được nên pháp luân ấy cũng không thể nói. Pháp luân ấy không thể nói nên pháp luân ấy cũng không có danh xưng, không chỗ hiển hiện chiếu sáng, pháp luân ấy không đạt được vậy.
Lại nữa, xét về Bất thoái chuyển luân này vào hư không thì không có tướng trụ vào cửa thanh tịnh thì không có tướng đến nhưng đến khắp nơi vì tướng rỗng không. Tất cả đều an trú ở cội gốc thanh tịnh vô tướng. Vậy nên gọi là Bất thoái chuyển luân.
Lại nữa, này các Thiện nam! Bất thoái chuyển luân có chỗ đi mà có chỗ đến. Vậy nên gọi là Bất thoái chuyển luân. Có chỗ buông bỏ có chỗ đi đến cho nên gọi là Bất thoái chuyển luân.
Như thế, Bồ-tát Nhu Thủ nói với các vị Bồ-tát:
–Này các Thiện nam! Sở dĩ gọi là Kim cương cú tích vì tất cả các pháp đều tịch diệt. Sao gọi là tất cả các pháp đều tịch diệt? Này các Thiện nam! Đã thấu rõ lý không, chính là Kim cương cú tích. Tiêu trừ sáu mươi hai tà nghi nên vô tướng ấy là Kim cương cú tích.

* Trang 135 *
device

Đoạn trừ tất cả các tưởng niệm nên vô nguyện ấy là Kim cương cú tích. Vượt hết tất cả năm đường hữu vi, khiến được tịch diệt nên pháp giới ấy là Kim cương cú tích. Siêu việt bao nhiêu bờ cõi nên bản thể vô vi ấy là Kim cương cú tích. Đạt đến vô ngã tịch diệt nên lìa khỏi sắc dục ấy là Kim cương cú tích. Diệt trừ tham dục, sự chấp trước nên duyên khởi hành ấy là Kim cương cú tích. Chẳng hoại bản tánh, xét rõ vô vi ấy là Kim cương cú tích, thấy các pháp tự nhiên….
Bồ-tát Nhu Thủ vì các vị Bồ-tát phân biệt khắp các pháp trọn ba đêm liền, các vị Bồ-tát kia đều được thân cận với Tam-muội Quang Minh. Bồ-tát đạt đến định này thì mỗi một lỗ chân lông phóng ra trăm ngàn ánh hào quang, mỗi một ánh hào quang hóa hiện trăm ngàn các Đức Phật. Nghi dung các Đức Phật ấy lại giống Đức Phật Thiên Trung Thiên của cõi Phật hiện tại, đang làm Phật sự, khai đường dẫn lối cho chúng sinh. Các Đức Phật ấy được tất cả chúng sinh nghênh đón, nghe nhận giáo pháp.


Phẩm 9: BIẾN ĐỘNG


 
Rạng ngày hôm sau, bấy giờ vua A-xà-thế dậy sớm, đến chỗ Bồ-tát Nhu Thủ cúi đầu thưa:
–Vật phẩm cúng dường đã bày biện rồi, đã đến lúc xin Bồ-tát khởi hành.
Hiền giả Đại Ca-diếp sáng nay dậy sớm, đắp y, mang bình bát cùng với năm trăm vị Tỳ-kheo sắp vào đại thành Xá-vệ khất thực. Đến giữa đường Tôn giả Ca-diếp nghĩ: “Ta đi khất thực quá sớm như vậy mới có thể gặp được Bồ-tát Nhu Thủ”, nghĩ xong liền đi đến. Tôn giả cùng với Bồ-tát bàn luận giải bày rộng rãi, những điều cốt yếu.
Bồ-tát Nhu Thủ nói với Tôn giả Đại Ca-diếp:
–Thưa Tôn giả Đại Ca-diếp! Còn sớm, sao đã đến?
Tôn giả Đại Ca-diếp đáp:
  –Muốn đi khất thực sớm để học hỏi Đại sĩ.

* Trang 136 *
device

  Bồ-tát Nhu Thủ nói:
  –Nay Tôn giả nên cùng quyến thuộc tề tựu về chỗ trai soạn cúng cho tôi thì tôi sẽ cúng cho Tôn giả thực phẩm.
Tôn giả Ca-diếp đáp:
–Vật phẩm cúng dường đã có được rồi. Tôi vì pháp nên đến đây, chẳng vì ăn uống!
Bồ-tát Nhu Thủ lại nói với Tôn giả Ca-diếp:
–Tôn giả nhận lời mời là nhận cả hai việc: Cúng dường đại pháp và đồ ăn thức uống, cũng chẳng chọn đạo pháp cũng chẳng bỏ việc ăn uống
Tôn giả Ca-diếp đáp:
–Chúng tôi chỉ trân trọng đạo pháp, tuyệt đối chẳng vì ăn uống. Chúng tôi đem hết thân mạng, ý chí suốt đời bảo tồn đạo pháp. Vì sao? Vì chúng tôi chẳng theo người khác mới có thể đạt đến được. Chẳng hạn như pháp môn này, nghĩa chân chánh mà Bồ-tát đã nói.
Rồi lại hỏi:
–Thưa Bồ-tát Nhu Thủ! Hôm nay Bồ-tát và các Bồ-tát vì sao thọ thực?
Bồ-tát Nhu Thủ đáp lại:
–Chúng ta thọ thực và bố thí cho họ, việc này cũng chẳng lợi ích lâu dài, cũng chẳng hao tổn, chẳng động đến sinh tử, chẳng gần với Nê-hoàn, cũng chẳng vượt qua cõi phàm phu, cũng chẳng chứng minh pháp của Hiền thánh, chẳng vượt Thanh văn chẳng bỏ Duyên giác. Chúng ta sẽ nói việc thỉnh mời kia, việc bố thí ấy cũng chẳng trừ sạch tuệ thanh tịnh cùng sự hiểu biết chẳng tồn tại mà ích lợi, chẳng đến được giải thoát; đối với kinh pháp cũng không chỗ dấy khởi, cũng chẳng đắc pháp, cũng không chỗ cởi bỏ.
Tôn giả Ca-diếp đáp:
–Đúng là đại thí, bố thí vô cực, đã vào đến chỗ bản thể vô vi vậy.
Bấy giờ Bồ-tát Nhu Thủ tự nghĩ: “Hôm nay vào thành chắc được Đức Phật cảm động biến hóa.” Ngay lúc ấy Bồ-tát dùng thần

* Trang 137 *
device

túc Tam-muội biến động để nhập định. Khi vừa dùng định này để nhập định tức thời tất cả tam thiên đại thiên thế giới, khắp nơi đều bằng phẳng như bàn tay. Ở khắp cõi Phật này được ánh đại hào quang kia soi khắp, không đâu chẳng tới. Ánh sáng ấy đến địa ngục thì mọi khổ đau tức thời ngưng nghỉ, đến với loài súc sinh, ngạ quỷ thì các bất an tức thời được yên ổn, tâm tưởng của các loài chúng sinh đều được khai mở, không còn tham giận, không xan tham ganh ghét, cũng không dua nịnh, không có các kết sử, sân hận kiêu mạn, không chỗ dấy khởi, cũng không phiền não.
Bấy giờ, chúng sinh nhìn thấy nhau như cha mẹ, thấy tam thiên đại thiên thế giới này chấn động. Thiên tử Dục Hành, Thiên tử Sắc Hành đều đến chúng hội để cúng dường Bồ-tát Nhu Thủ. Họ tấu nhạc, đờn ca, diễn xướng hàng trăm ngàn thứ, mưa hoa trời xuống trang nghiêm đường đi. Bồ-tát Nhu Thủ vừa khởi các định ấy, thì từ thất Bồ-tát đến cửa thành, tự nhiên đường cái bằng phẳng, vừa rộng vừa dài đều được trang hoàng bằng vô số bảy báu trân quý, có bao nhiêu vật dụng trang trí tự nhiên xuất hiện, báu vật nhiều không kể xiết hóa làm hào báu. Trong hào ấy mọc lên hoa sen, cành hoa chen đầy đỏ hồng rực rỡ. Trên hào hóa ra chuỗi ngọc giăng, màn phủ dựng lên cờ, phướn, lọng, hoa bằng lụa là năm sắc. Giáp vòng hào ấy đều có lan can. Bên trái, bên phải lan can đều có cây báu rất cao to. Các cây báu được nối kết lại với nhau bằng những sợi dây báu. Bên cạnh mỗi một cây báu đều có giá báu, trên đặt lư hương đốt các loại hương thơm quý giá. Mỗi một lư hương đốt các loại hưong thơm xa đến bốn mươi dặm. Khoảng giữa các cây hóa ra ao tắm báu, trong các ao ấy tràn đầy nước tám vị. Đáy ao toàn là cát bằng vàng, lan can quanh khắp ao bằng các thứ báu. Bờ ao bằng lưu ly. Dưới ao mọc toàn hoa sen xanh. Đất dưới những cây báu cũng bằng các thứ báu. Trên tất cả đất báu đặt các lư hương báu, đốt các loại hương quý. Nơi mỗi một cây báu có năm trăm ngọc nữ đứng thẳng hàng. Họ đều kiến lập công đức bố thí.
Bồ-tát Nhu Thủ vừa dùng định Tam-muội chánh thọ này, ngay khi ấy có thầy ngoại đạo kia thị hiện biến hóa, lồng lộng không lường, không đâu chẳng phô bày.

* Trang 138 *
device

Bồ-tát Nhu Thủ liền đứng dậy, đắp y, mang bát, chuẩn bị ra đi. Bồ-tát nói với Tôn giả Ca-diếp rằng:
–Thưa Tôn giả Đại Ca-diếp! Tiện thể xin đi lên trước, tôi xin đi theo sau. Vì sao? Vì Tôn giả niên kỷ đã cao, thuộc hàng kỳ túc, vốn tu phạm hạnh, làm Sa-môn đã lâu, chưa gặp Đức Như Lai mà đã xuất gia tu học. Kể ra thế gian đã có nhiều La-hán theo Tôn giả tu học. Do vậy, nên Tôn giả phải đi trước, tôi nay xin theo sau.
Tôn giả Ca-diếp đáp:
–Xét theo pháp luật thì chẳng lấy tuổi tác làm tôn trưởng. Theo pháp luật thì lấy trí tuệ làm tôn trưởng. Thần trí bậc thánh mới là đáng tôn kính, học nhiều hiểu rộng, có biện tài thì mới gọi là tôn trưởng, các căn minh triệt mới gọi là tôn trưởng, thông hiểu pháp luật mới là tôn trưởng. Do những điều kể trên, Bồ-tát Nhu Thủ trí tuệ lồng lộng, học rộng hiểu nhiều, thông đạt hết các biện tài vô ngại, hiểu rõ nguồn gốc chúng sinh nên Bồ-tát rất to lớn, rộng rãi, cao xa. Bồ-tát quả là một bậc Đại tôn trưởng. Vậy nên, Đại sĩ phải đi trước, tôi xin đi sau.
Nay muốn ví dụ để phân biệt ý nghĩa này, Tôn giả Ca-diếp nói tiếp:
–Ví như con của sư tử vừa sinh chưa lâu, tuy là còn nhỏ, khí lực chưa thành, nhưng bước đi của sử tử con ấy còn lưu lại cái hơi của nó khiến nai rừng, các thú vật đánh được cái hơi mạnh ấy đều trốn chạy hết. Như có con voi lớn sáu ngà, sáu mươi năm tuổi, thân cao lớn, nếu dùng dây da buộc con voi ấy ba lớp mà nó đánh được hơi uy mãnh của sư tử con thì sợ hãi, kinh hoàng, khích động hết sức, vùng đứt ba lớp dây trói, vội vàng chạy trốn mất vào nơi hang hốc, khe suối, rừng rậm, hốc cây… Nếu vào sông lớn thì tự lặn mất. Chim làm tổ trên cây, cố che khuất. Thú chạy dưới đất náu mình ẩn trốn. Loài dưới nước như cá, ba ba, lặn sâu xuống vực cho đến các loài chim bay lượn giữa hư không, Bồ-tát phát tâm cũng lại như vậy. Giả sử người phát tâm, trí tuệ đạo lực chưa được thành tựu, lòng còn khát ngưỡng, học tập bước sư tử, đi qua con đường của các bậc Thanh văn, Duyên giác thì tất cả chúng ma ở cung điện Tự tại đều sợ hãi, chẳng được tự yên ổn. Giả sử sư tử con thấy các sư tử khác thế lực uy

* Trang 139 *
device

mãnh, nếu con sư tử này gầm lên, sư tử con nghe âm thanh ấy chẳng kinh, chẳng sợ cũng chẳng sợ hãi, không sợ hoạn nạn mà càng thêm vui mừng, hớn hở. Nương theo thế lực ấy, sư tử con cũng sẽ gầm lên. Như vậy, Đại sĩ Nhu Thủ khi nghe Đức Phật gầm tiếng sư tử thì chẳng lo lắng, cũng chẳng sợ hãi, không sợ hoạn nạn mà còn vui mừng hớn hở, tâm yên ổn vậy. Tôi cũng sẽ tập tiếng gầm sư tử của Phật như hôm nay. Giả sử có nói về sự bình đẳng của bậc Chánh chân, bậc Duyên giác, bậc Thanh văn là Đức Như Lai vì tôn trọng sự phát tâm Bồ-tát, điều ấy chính là căn bản. Lời nói ấy chí thành, bình đẳng, không tà vạy. Vì sao? Vì chính do điều ấy sinh ra tất cả các pháp mà hiển hiện khắp nơi. Do vậy nên tôi biết rõ Đại sĩ Nhu Thủ là bậc đáng tôn kính. Tuổi Đại sĩ tuy nhỏ mà đã là bậc Thánh tôn trưởng nên phải đi trước, tôi nên theo sau.
Bồ-tát Nhu Thủ liền đi trước, rồi đến các Bồ-tát, các chúng Thanh văn mới theo sau. Bồ-tát Nhu Thủ vừa hướng về con đường báu trang nghiêm thì trời đổ mưa hoa, vô số nhạc cụ chẳng tấu mà tự vang lên. Ngay lúc ấy, đất đai chấn động, ánh hào quang lớn không đâu mà chẳng soi thấu. Khi ấy, Bồ-tát Nhu Thủ đã thị hiện biến hóa, uy thần cảm động, phóng ánh hào quang lớn, mưa hoa, xông hương các tiếng âm nhạc hòa nhau tấu lên mà tiến vào thành Vương xá. Vua A-xà-thế suy nghĩ: “Bồ-tát Nhu Thủ cùng với hai mươi ba ngàn chúng Bồ-tát và các quyến thuộc Thanh văn làm tùy tùng đang trên đường đi đến, vua liền lo sợ. Hôm nay, ta chuẩn bị vật phẩm cúng dường cho năm trăm người mà người đến thì nhiều quá, đâu có thể cúng dường đều khắp được! Chư vị đã ngồi vào rồi, lấy gì để dùng đây?” Rồi vua lại nghĩ: “Bồ-tát Nhu Thủ quả nghi ngờ nhau mới phát khởi tâm này.”
Ngay khi ấy, Bồ-tát Nhu Thủ đã kiến lập thần oai thánh đức, vua trời Tức Ý liền tự hóa thân làm quỷ thần Kim Tỷ, biến hiện thân thể vi diệu, gọi vua A-xà-thế bảo:
–Đại vương hãy yên tâm, chớ lo nghĩ khiến mệt long thể. Bồ-tát Nhu Thủ phương tiện, quyền xảo khéo léo, trí Tuệ vô cực, thị hiện công đức lớn, uy linh hiển hách, thần lực sáng rực rỡ. Bồ-tát lên đường đến đây thì phần ăn của một người có thể dùng cho khắp cả

* Trang 140 *
device

tam thiên đại thiên thế giới chúng sinh đều được no đủ, huống gì ở đây chỉ có hai mươi ba ngàn quyến thuộc đến mà thôi. Vậy nên, chẳng đủ khiến đại vương lo nghĩ khó nhọc. Đại vương hãy an tâm, chớ lo thêm vật phẩm cúng dường. Tất cả những người đến đây đều sẽ được no đủ hết. Vì sao? Vì Bồ-tát Nhu Thủ được sự hộ giúp rộng lớn không cùng tận, khó lường được.
Khi ấy vua A-xà-thế vui mừng không tự kềm chế được phát ý nghĩ rộng lớn về Bồ-tát Nhu Thủ như Phật Thế Tôn. Vua A-xà-thế cùng các quần thần, quan lại trong cung mang theo hương hoa, các thứ bột thơm, quần áo, cờ, phướn, lọng bằng lụa năm màu, nhạc cụ, đàn cầm, đàn sắt, không hầu… đến phụng nghênh Bồ-tát Nhu Thủ. Họ cúi đầu làm lễ xong, theo hầu Bồ-tát Nhu Thủ vào thành về cung.
Khi Bồ-tát Nhu Thủ cùng các quyến thuộc mới vào thành, nhân dân nội thành đều mang của cải đến để cúng dường. Ở trong hội có một vị Bồ-tát tên là Phổ Quán, Bồ-tát Nhu Thủ bảo vị ấy:
–Này Thiện nam! Hãy khiến cho cung điện, nhà cửa kia che chở hết chúng hội.
Vị ấy liền nhận lời, quan sát trái phải, thấy được khắp cung điện của vua A-xà-thế. Tự nhiên cung điện rộng lớn, lọng hoa bằng lụa năm sắc treo giăng, cờ phướn dựng đầy. Đất ở cung vua bằng phẳng, rộng rãi, tung đầy hương hoa. Lại có vị Bồ-tát tên là Pháp Siêu, Bồ-tát Nhu Thủ bảo vị ấy:
–Này Thiện nam! Hãy bày biện trang nghiêm các tòa ngồi.
Vị ấy liền nhận lời ngay. Chỉ trong khoảnh khắc, ở cung điện kia tự nhiên đầy đủ giường ngồi cho hai mươi ba ngàn người với ngần ấy loại trang hoàng vi diệu trang nghiêm, vô số tọa cụ trải trên đó. Bồ-tát Nhu Thủ và các vị Bồ-tát đều đến ngồi vào chỗ, tiếp theo là hàng Thanh văn.
Nhà vua thấy Bồ-tát Nhu Thủ, các vị Bồ-tát và các vị Thanh văn ngồi xong, tự đến trước thưa rằng:
–Xin quý Ngài hãy đợi trong giây lát, để tôi bày biện thêm vật phẩm cúng dường.
Bồ-tát Nhu Thủ đáp:

* Trang 141 *
device

–Đại vương hãy an tâm, tự khắc sẽ đầy đủ, chớ lấy làm nhọc sức.
Khi ấy, Tứ Thiên vương cùng với quyến thuộc đều đến hầu cúng Bồ-tát Nhu Thủ. Lại có Thiên đế Thích, phu nhân Lương Thiện và hàng ngàn ngọc nữ mang đến nào là chiên-đàn của trời, đủ loại hương nào là hương mật, hương bột dùng để tung lên cúng dường tất cả các vị Bồ-tát, các vị Thanh văn. Khi các vị Bồ-tát thấy các hoa hương và các ngọc nữ thì họ không tưởng đến ngọc nữ, không tưởng đến hoa hương. Trời Phạm Nhẫn Tích hóa làm thân hình của Phạm chí Ma-nạp, tay cầm quạt đứng hầu bên trái Bồ-tát Nhu Thủ, dùng quạt để quạt. Các Thiên tử cõi Phạm đều cầm quạt hầu các vị Bồ-tát, đều đứng quạt. Vua rồng Vô Nhiệt ẩn mình trên hư không thả rủ xuống một chuỗi trân châu. Từ trong chuỗi trân chân ấy tuôn ra nước tám vị, vừa trong mát vừa ngọt lành, cung cấp đủ dùng cho các vị Bồ-tát ấy. Trước các vị Thanh văn đều có rủ chuỗi ngọc xuống cũng tuôn ra nước ngon lành để cung cấp cho các vị ấy dùng. Vua A-xà-thế tự nghĩ: “Các vị Bồ-tát này chẳng mang theo bát, họ sẽ dùng thế nào?”
Bồ-tát Nhu Thủ biết tâm vua nghĩ nên bảo:
–Các vị Chánh sĩ ấy đi đến đây chẳng mang bát đi theo. Họ có thể đi qua các cõi Phật, vừa ngồi xuống muốn ăn là bát tự nhiên hiện ra do các vị Bồ-tát ấy đã kiến lập được. Hơn nữa, Đức Như Lai ở chỗ các vị Bồ-tát ấy xưa đã từng tạo nguyện như thế.
Bát từ hư không hiện đến trong bàn tay các vị Bồ-tát. Vua A-xà-thế hỏi Bồ-tát Nhu Thủ:
–Các vị Bồ-tát này từ cõi Phật nào đến? Thế giới đó tên gì? Đức Như Lai Chánh Giác hiệu là gì?
Bồ-tát Nhu Thủ đáp:
–Thế giới tên là Thường danh văn, Đức Như Lai hiệu là Ly Văn Thủ, nay đang thuyết pháp. Các vị Bồ-tát này từ đó đến tham dự buổi cúng dường của nhà vua là muốn được thức tỉnh sự hồ nghi của nhà vua vốn ôm ấp hư vọng.
Khi chí nguyện của các vị Bồ-tát đã kiến lập được bản nguyện của Đức Như Lai thì bát từ hư không tự nhiên bay đến, rơi vào ao

* Trang 142 *
device

nước tám vị của rồng Vô Nhiệt, tẩy rửa sạch sẽ rồi đến chỗ các vị Đại sĩ. Hai vạn ba ngàn thể nữ rồng mang hương thơm đặt vào tay các vị Bồ-tát. Thấy thế nhà vua càng thêm hớn hở, liền cúi đầu trước Bồ-tát Nhu Thủ. Bồ-tát Nhu Thủ bảo nhà vua:
–Hãy bày biện phẩm vật cúng dường, nên biết đã đúng thời.
Nhà vua nhận lời chỉ giáo, liền cho bày thức ăn lên bao nhiêu là món ăn ngon lành trân quý. Tất cả đều dùng mà thực phẩm chẳng giảm bớt. Như vậy, thức ăn của vua A-xà-thế vốn chỉ cúng dường cho năm trăm vị, thì bây giờ đủ cho hai mươi ba ngàn vị đều đủ mà thức ăn vẫn như cũ. Vua A-xà-thế bạch Bồ-tát Nhu Thủ:
–Thức ăn hiện vẫn như cũ, sao chẳng giảm bớt?
Bồ-tát Nhu Thủ đáp:
–Giống như nhà vua hôm nay, hồ nghi chưa hết, nghi ngờ chưa hết nên giống như thức ăn ấy, dùng mà chẳng tiêu mất.
Các vị Bồ-tát dùng cơm xong liền lấy bát ấy ném lên không trung, bát ở giữa hư không, không chỗ nương tựa mà chẳng rơi rớt. Vua A-xà-thế hỏi Bồ-tát Nhu Thủ:
–Hôm nay, các bát ấy sao dừng được vậy?
Bồ-tát Nhu Thủ đáp:
–Giống như sự hồ nghi của đại vương còn tồn tại, nay các bát ấy đang ở nơi kia.
Nhà vua đáp:
–Bát không có chỗ đứng.
Bồ-tát Nhu Thủ đáp:
–Giống như nhà vua đã có hồ nghi thì cũng không có chỗ đứng. Nay các bát này không chỗ y cứ mà chẳng rơi rớt. Như vậy các pháp đều không thật có, cũng không có chỗ trụ. Do đó, các pháp cũng không đọa lạc.

* Trang 143 *
device

Đại Tập 60 - Bộ Kinh Tập VII - Số 626->639