LOGO VNBET
 SỐ 643

  PHẬT THUYẾT QUÁN PHẬT TAM-MUỘI HẢI KINH

 
Hán dịch: Đời Đông Tấn, người xứ Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Phật-đà Bạt-đà-la.

QUYỂN 1

Phẩm 1: SÁU VÍ DỤ
 Tôi nghe như vầy:
Một thuở Đức Phật ở tại tinh xá Ni-câu-lâu-đà trong thành Ca-tỳ-la. Bấy giờ, Thích Ma-nam thỉnh Đức Phật và chúng Tăng để cúng dường trong ba tháng. Ngày mười lăm tháng bảy, Tăng tự tứ xong. Khi đó phụ vương Duyệt-Đầu-đàn và dì Đức Phật, Kiều-đàm-di đi đến Tăng phòng cúng dường chư Tăng. Lễ bái xong, dâng lên tăm xỉa răng và bát nước rửa, nhà vua gọi ngài A-nan nói rằng:
–Tôi muốn đi đến chỗ Đức Thế Tôn, có nên vậy không?
Lúc ấy, A-nan liền thưa lời nói này lên Đức Thế Tôn. Đức Phật bảo A-nan:
–Phụ vương đến nhất định sẽ hỏi pháp vi diệu. Ông hãy đi bảo khắp các Tỳ-kheo tăng lập tức vào rừng, lệnh cho Đại Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ca-chiên-diên, A-na-luật… Bồ-tát Di-lặc, Bạt-đà-bà-la, mười sáu vị Hiền sĩ cùng lúc đến hội họp!
Âm thanh này như vang khắp đến các phương nên bấy giờ vua

* Trang 307 *
device

 
Trời, chúa Dạ-xoa, chúa Càn-thát-bà, chúa A-tu-la, chúa Ca-lâu-la, chúa Khẩn-na-la, chúa Ma-hầu-la-già, chúa Rồng… và các quyến thuộc của họ đều đã tụ tập. Lúc đó, phụ vương và Thích Ma-nam, ba ức người thuộc dòng họ Thích đi vào tinh xá của Đức Phật. Khi đang đi vào, thấy tinh xá của Đức Phật như núi Pha lê, họ cúi đầu đảnh lễ Đức Phật. Chưa kịp ngẩng đầu lên, họ liền thấy trước Đức Phật có hoa sen lớn do nhiều châu báu tạo thành. Ở trên hoa sen có đài ánh sáng lớn. Phụ vương nhìn thấy, lòng rất hoan hỷ, khen chưa từng có, rồi nhiễu quanh Đức Phật ba vòng, lui về ngồi một bên. Khi đó phụ vương liền đứng dậy bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn! Đức Phật là con của tôi, tôi là cha của Đức Phật. Hôm nay tôi ở đời nhìn thấy sắc thân của Đức Phật mà chỉ thấy bên ngoài, chẳng thấy bên trong thân ấy. Thái tử Tất-đạt-đa còn ở trong cung, thầy tướng thấy tất cả ba mươi hai tướng, hôm nay đã thành Phật ánh sáng càng thêm hiển hiện hơn hẳn ngày xưa trăm ngàn vạn lần. Đức Phật sau khi Niết-bàn, chúng sinh đời sau phải quan sát sắc tướng của thân Đức Phật như thế nào để biết được độ dài thường của ánh sáng Đức Phật? Kính xin Đấng Thế Tôn hôm nay sẽ vì tôi và chúng sinh đời sau mà phân biệt giảng nói!
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nhập vào Tam-muội Biến tịnh sắc thân. Rồi ra khỏi Tam-muội liền mỉm cười, pháp mỉm cười của chư Phật có năm ánh sáng màu, năm ánh sáng màu hóa thành năm trăm màu từ miệng Đức Phật phát ra chiếu đến đỉnh đầu phụ vương, từ đỉnh đầu phụ vương chiếu đến đài ánh sáng, rồi từ đài ánh sáng chiếu đến tinh xá… soi cùng khắp cõi Ta-bà, ánh sáng ấy trở về nhập vào đỉnh đầu Đức Phật. Lúc đó Đức Phật bảo với vua cha:
  –Xin Phụ vương hãy lắng nghe! Lắng nghe! Và suy nghĩ  cho kỹ! Như Lai sẽ nói pháp được thấy Phật của chúng sinh đời sau.
  Phụ vương bạch Phật rằng:
  –Thưa vâng! Thưa Đức Thế Tôn! Tôi xin lắng nghe!
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Phụ vương! Trong cõi Diêm-phù-đề có vua sư tử tên là Tỳ-ma-la. Phép của loài sư tử ấy là tròn bốn mươi năm con cái con

* Trang 308 *
device

đực mới gặp nhau. Một khi đã giao phối rồi, chúng chạy lanh quanh kêu rống nhưng uyển chuyển giữ gìn thân thể không làm tổn thương sư tử con, sư tử con khi còn ở trong thai, như vua thú cha không khác. Đại vương nên biết, muốn khiến cho ở trong thai mà có thể kêu rống, bay lên, đáp xuống, chạy đi, ẩn phục, việc ấy chưa có bao giờ.
Phụ vương bạch Đức Phật rằng:
–Khi con của vua thú ở trong thai mẹ thì đầu, mắt, răng, móng cùng cha giống nhau hay không?
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Đại vương! Nó cùng cha không khác, chỉ là sức của nó chẳng thể sánh kịp một phần trăm ngàn vạn lần sức của cha nó.
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Phụ vương! Đúng vậy! Đúng vậy! Trong đời vị lai, các thiện nam, thiện nữ… cùng tất cả, nên có thể chí tâm giữ niệm ở bên trong, ngồi ngay thẳng mà định tâm quán tưởng sắc thân của Phật, nên biết, tâm người đó như tâm của Phật, cùng với Phật không khác. Họ tuy ở trong phiền não mà chẳng bị sự ngăn che của các ác. Ở đời vị lai, họ sẽ mưa pháp lớn.
Lại nữa, thưa Phụ vương! Ví như Y-lan cùng với chiên-đàn sinh ra ở núi Mạt-lợi. Ngưu đầu chiên-đàn sinh ra trong bụi rậm Y-lan, lúc chưa kịp to lớn còn ở dưới đất thì mầm, thân, cành lá giống như măng tre của cõi Diêm-phù-đề. Mọi người vì chẳng biết nên nói rằng, trong núi này toàn là Y-lan, không có chiên-đàn. Nhưng mà Y-lan thì thối, thối như thây chết sình tỏa xa đến bốn mươi do-tuần. Hoa của Y-lan màu hồng rất đẹp, nhưng nếu người nào ăn phải thì phát điên mà chết. Ngưu đầu chiên-đàn tuy sinh ở rừng này nhưng vì chưa sinh trưởng đầy đủ nên chẳng thể tỏa ra hương thơm. Vào tiết trọng thu, trăng tròn, bỗng từ đất xuất hiện thành cây chiên-đàn. Mọi người đều nghe hương thơm thượng diệu của cây Ngưu đầu chiên-đàn, mãi mãi không còn mùi hôi thối của cây Y-lan.
Đức Phật nói:
–Thưa Phụ vương! Lòng niệm Phật cũng như vậy. Nhờ tâm đó

* Trang 309 *
device

nên có thể được ba loại căn Bồ-đề.
Lại nữa, thưa Phụ vương! Trong cõi Diêm-phù-đề và bốn thiên hạ có chim cánh vàng tên là Chánh âm, vua của loài Ca-lâu-la, ở trong các loài chim rất tự tại. Nghiệp báo ứng của loài chim này là ưa ăn các loài rồng. Ở cõi Diêm-phù-đề, mỗi ngày nó ăn một vua rồng và năm trăm rồng nhỏ. Sáng ngày mai nó lại ở cõi Phất-bà-đề ăn một vua rồng và năm trăm rồng nhỏ. Ngày thứ ba lại ở cõi Cù-gia-ni, nó ăn một vua rồng và năm trăm rồng nhỏ. Ngày thứ tư lại ở cõi Uất-đan-việt, nó ăn một vua rồng và năm trăm rồng nhỏ. Cứ giáp vòng lại bắt đầu là trải qua tám ngàn năm. Bấy giờ, tướng chết đã hiện ra với chim ấy. Các rồng phun ra độc nên không thể ăn được. Chim đó bị đói bức ngặt, chạy khắp nơi tìm đồ ăn cũng chẳng thể được. Nó đi khắp các núi cũng chẳng được yên, đến núi Kim cương và ở tạm nơi đó. Từ núi Kim cương đi thẳng xuống đến giới hạn của thủy luân. Từ giới hạn của thủy luân đến hết phong luân, nó bị gió thổi trở về đến núi Kim cương. Nó bị như vậy bảy lần sau đó mới chết. Chim ấy chết rồi, chất độc của nó khiến cho mười ngọn núi báu đồng thời bốc cháy. Khi ấy vua rồng Nan-đà sợ lửa cháy thiêu rụi núi này liền tuôn xuống những giọt mưa lớn như trục bánh xe. Thịt chim tan rã hết chỉ còn lại trái tim. Trái tim chim ấy đi thẳng xuống như trước bảy lần, sau đó trở lại ở trên đỉnh núi Kim cương. Vua rồng Nan-đà lấy tim của con chim này làm minh châu. Vua Chuyển luân lấy được thì làm ngọc Như ý.
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Phụ vương! Các thiện nam, thiện nữ nào nếu niệm Phật thì tâm của họ cũng vậy. Lại nữa, thưa Đại vương! Ở núi Tuyết có loài cây tên là Ương-già-đà. Quả của nó rất lớn mà hạt thì rất nhỏ. Tìm nguồn gốc thì nó có từ Hương sơn, nhờ sức gió nên đến được Tuyết sơn. Vào đầu mùa đông, trời giá lạnh, La-sát, Dạ-xoa tìm chỗ khuất trong hẻm núi mà ở. Phân nhơ chẳng sạch chảy tràn ra đất. Gió mạnh thổi tuyết lấp lên phân ấy, dần dần trở thành cái hào năm mươi do-tuần. Nhờ sức của phân nên quả này được sinh ra. Rễ, thân, cành, lá, hoa, trái của cây ấy tươi tốt sum suê. Ánh mặt trời ba tháng mùa xuân, tám phương gió đồng thời đều khởi lên, làm tiêu tan băng

* Trang 310 *
device

 
tuyết chỉ quả cây ấy tồn tại. Hình sắc quả cây ấy không thể lấy quả gì của cõi Diêm-phù-đề làm ví dụ được. Hình nó rất tròn chiếm trọn nửa do-tuần, Bà-la-môn ăn liền được đạo Tiên, năm pháp thần thông đầy đủ, sống lâu một kiếp, chẳng già chẳng chết. Người phàm phu ăn nó thì hướng đến Tu-đà-hoàn, A-na-hàm ăn nó thành A-la-hán, ba minh, sáu Thông không gì không đầy đủ. Có người đem giống đến trồng ở đất phân hoại trong cõi Diêm-phù-đề. Sau đó cây mọc lên, cao bằng một cây Đa-la, đặt tên cây là Câu-luật-đà, tên quả là Đa-lặc, lớn như cái bình năm đấu. Người cõi Diêm-phù-đề ăn quả ấy thì có thể trừ bệnh sốt (nóng).
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Đại vương! Các thiện nam, thiện nữ chánh niệm tư duy về cảnh giới của chư Phật cũng vậy. Lại nữa, thưa Đại vương! Như cây sống trong vườn Hoan hỷ của Đế Thích tên là Ba-lợi-chất-đà-la. Thiên nữ nhìn thấy nó thì thân tâm vô cùng vui vẻ. Đế Thích thấy nó liền sinh ra dục tưởng, tám muôn bốn ngàn các thể nữ… liền được cảm giác vui vẻ. Khi cây này sinh ra gấp cong cành ở mặt đất, liền ở dưới đất, hoa phát triển thành trái. Trái ấy màu vàng ánh sáng rực rỡ. Vả lại hoa lá của cây ấy chẳng bao giờ héo rụng, đầy đủ mười màu sắc, tỏa ra ánh sáng, có nhiều âm thanh vui. Đến tháng tám mùa thu, cây từ dưới đất vọt ra, cao ba trăm bốn mươi lăm vạn do-tuần. Chư Thiên nhìn thấy nó vui mừng tột bậc.
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Đại vương! Tam-muội quán tưởng Phật ở tại đất phiền não cũng như vậy, như khi sinh ra, cây báu đó trang nghiêm đẹp đẽ rất ưa nhìn. Lại nữa, thưa Đại vương! Như khi kiếp bắt đầu thì lửa nổi lên một kiếp, mưa một kiếp, gió một kiếp và đất sinh khởi một kiếp. Khi kiếp đất thành rồi thì chư Thiên của trời Quang âm bay đến thế gian, xuống tắm gội trong nước. Do tắm gội nên tinh khí bốn đại liền vào trong thân. Thân chạm xúc vui sướng nên tinh khí trôi vào trong nước. Tám loại gió thổi tinh khí ấy chìm vào trong bùn ứ, rồi tự nhiên thành quả trứng. Trải qua tám ngàn năm, trứng ấy mới nở, sinh ra một người con gái. Thân hình người con gái ấy

* Trang 311 *
device

 
xanh đen giống như bùn, có chín trăm chín mươi chín cái đầu, mỗi đầu có một ngàn con mắt, chín trăm chín mươi chín cái miệng, mỗi miệng có bốn cái răng, răng phát ra lửa giống như sét chớp, có hai mươi bốn tay, trong mỗi tay đều cầm tất cả các vũ khí. Thân người ấy cao lớn như núi Tu-di, vào trong biển lớn tát nước vui chơi. Có trận cuồng phong thổi nước biển lớn, tinh nước ngập vào thân thể, liền mang thai. Trải qua tám ngàn năm, sinh ra một đứa con trai. Thân đứa trẻ ấy cao lớn gấp bốn lần người mẹ. Đứa trẻ có chín đầu, mỗi đầu có một ngàn mắt, trong miệng phun ra lửa, có chín trăm chín mươi chín tay, tám chân. Trong biển phát ra âm thanh: Nó hiệu là Tỳ-ma-chất-đa, vua của A-tu-la. Phép ăn của quỷ này là chỉ nuốt bùn ứ và củ sen, ngó sen. Đứa trẻ ấy lớn lên thấy các Tiên nữ trời vây quanh, liền thưa mẹ rằng: “Mọi người đều có vợ có chồng, sao một mình con không có?” Người mẹ ấy bảo rằng: “Ở Hương sơn có loài thần tên là Càn-thát-bà. Thần ấy có con gái nhan sắc tuyệt đẹp hơn cả bạch ngọc, các lỗ chân lông trên thân phát ra âm thanh vi diệu, rất vừa ý ta. Nay ta cầu hôn cho con, con có đồng ý không?” A-tu-la thưa rằng: “Hay thay! Hay thay! Kính xin mẹ đi đến cầu hôn cho con!” Lúc đó, người mẹ ấy đi đến Hương sơn. Đến nơi, người mẹ thưa với thần âm nhạc kia rằng: “Tôi có một người con trai uy lực tự tại, ở bốn thiên hạ này không ai sánh bằng. Ngài có con gái rất xứng với con tôi.” Người con gái của thần ấy nghe rồi, xin vui lòng theo chàng A-tu-la. Chàng A-tu-la nhận người con gái đó làm vợ rồi, lòng dạ rất thoải mái cùng người con gái kết thành vợ chồng. Thời gian chưa lâu thì người con gái ấy liền mang thai, trải qua tám ngàn năm mới sinh ra một đứa con gái. Người con gái ấy dung nghi đoan chánh vượt trội hơn người, trên trời, dưới đất không ai sánh bằng, có sắc đẹp trên mọi sắc đẹp tự trang nghiêm. Trên mặt có tám muôn bốn ngàn vẻ kiều diễm, bên trái cũng có tám muôn bốn ngàn, bên phải cũng có tám muôn bốn ngàn, đàng trước cũng có tám muôn bốn ngàn, đàng sau cũng có tám muôn bốn ngàn. A-tu-la nhìn thấy lấy làm lạ lùng, nàng như vầng trăng ở giữa những vì sao rất đặc biệt kỳ lạ. Kiều-thi-ca nghe tiếng liền sai sứ xuống đến chỗ A-tu-la mà cầu hôn

* Trang 312 *
device

người con gái này. Vị A-tu-la nói rằng: “Với phước đức trời của ông, nếu ông có thể khiến cho ta ngồi trên cung điện bảy báu thì ta đem con gái gả cho ông!” Đế Thích nghe lời này, vô cùng vui mừng, liền cởi mũ báu đem làm cung điện trên biển, nhờ phước báo mười điều lành nên khiến cho A-tu-la ngồi trên cung điện thù thắng. A-tu-la rất vui mừng, đem con gái gả cho Kiều-thi-ca. Đế Thích liền dùng đài bằng sáu thứ báu đến nghênh hôn. Ở trong cung điện có hoa sen lớn tự nhiên hóa sinh tám muôn bốn ngàn người con gái tuyệt đẹp. Trong khoảng thời gian tráng sĩ co duỗi cánh tay, họ liền đến trên Thiện pháp đường của Đế Thích. Bấy giờ, cung trời vượt hơn trước trăm ngàn vạn lần, Thích Đề-hoàn Nhân đặt tự hiệu cho người con gái ấy là Duyệt Ý. Chư Thiên thấy nàng đều khen chưa từng có, nhìn Đông quên Tây, nhìn Nam quên Bắc. Ba mươi hai phụ thần thấy Duyệt Ý thì tâm ý cũng hoan hỷ, thậm chí trong từng sợi lông tóc cũng đều cảm thấy vui vẻ. Khi Đế Thích đến vườn Hoan hỷ, cùng vui vẻ với các Tiên nữ trong ao thì Duyệt Ý rất ghen ghét. Nàng sai năm Dạ-xoa đến bạch với vua cha, hôm nay Đế Thích này chẳng còn sủng ái nàng mà cùng với các Tiên nữ dạo chơi. Vua cha nghe lời nói này, lòng rất bực bội liền đem bốn binh chủng đến đánh Đế Thích. Vua A-tu-la đứng trên nước biển lớn, xoạc chân đạp lên đỉnh núi Tu-di, đồng thời chín trăm chín mươi chín cánh tay lay thành Hỷ kiến, lắc núi Tu-di, nước bốn biển lớn đồng thời dậy sóng. Thích Đề-hoàn Nhân kinh hoàng sợ sệt, không biết đi đường nào. Có vị thần trong cung thưa vua trời rằng: “Chớ kinh sợ lắm! Đức Phật đời quá khứ nói Bát-nhã ba-la-mật, nhà vua hãy trì tụng thì binh quỷ sẽ tự tan nát.” Lúc đó, Đế Thích ngồi ở Thiện pháp đường, đốt nhiều loại hương thơm quý, phát thệ nguyện lớn rằng: “Bát-nhã ba-la-mật là chú đại minh, là chú vô thượng, là chú không gì sánh bằng chân thật chẳng hư dối, con trì pháp này sẽ thành Phật đạo, khiến cho A-tu-la tự nhiên lui tan.” Khi nói lời nói này, ở trong hư không có bốn bánh xe đao, do công đức của Đế Thích nên tự nhiên đi xuống, chống giữ các A-tu-la. Tức thời tai, mũi, chân, tay của A-tu-la rơi hết xuống cùng một lúc khiến cho nước biển lớn đỏ như nước màu đỏ. A-tu-la liền kinh

* Trang 313 *
device

 
sợ, không chỗ chạy trốn nên vào ẩn trong lỗ tơ. Huyễn lực của quỷ kia do tham dục, sân nhuế, ngu si mà còn có thể như vậy huống gì là Phật pháp chẳng thể nghĩ  bàn.
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Đại vương! Các thiện nam và thiện nữ giữ tâm chánh niệm tư duy cảnh giới của chư Phật cũng có thể ở trong biển các Tam-muội. Công đức người ấy chẳng thể xưng kể, cũng như chư Phật bình đẳng không khác.



Phẩm 2: TRÌNH BÀY QUÁN ĐỊA


 
Thế nào là cảnh giới quán tưởng chư Phật? Các Đức Phật Như Lai xuất hiện ở đời, có hai pháp để tự trang nghiêm. Những gì là hai?
1.Trước tiên nói mười hai bộ kinh, khiến cho chúng sinh đọc tụng thông suốt. Như vậy gọi là pháp thí.
2.Dùng sắc thân vi diệu thị hiện ở cõi Diêm-phù-đề và các thế giới khắp mười phương, khiến cho các chúng sinh thấy sắc thân của Phật đầy đủ trang nghiêm, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp phụ, không có tướng khuyết giảm, nên tâm sinh hoan hỷ.
Quán các tướng như vậy do đâu mà được? Đều do trăm ngàn khổ hạnh đời trước, do tu các Ba-la-mật và những pháp trợ đạo mà sinh ra tướng này.
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Phụ vương! Như có chúng sinh muốn niệm Phật, muốn quán tưởng Phật, muốn thấy Phật, phân biệt tướng tốt, hiểu ánh sáng của Phật, biết bên trong thân Phật, học quán tưởng tâm Phật, học quán sát đỉnh đầu của Phật, học quán sát tướng bánh xe ngàn nan hoa dưới lòng bàn chân Đức Phật, muốn biết tướng khi sinh ra của Phật, muốn biết khi Đức Phật cưới Thái tử phi, muốn biết khi Đức Phật xuất gia, muốn biết khi Đức Phật tu khổ hạnh, muốn biết khi Đức Phật thu phục các ma, muốn biết khi Đức Phật chứng Vô

* Trang 314 *
device

thượng Chánh đẳng Chánh giác, muốn biết tướng Đức Như Lai khi chuyển pháp luân, muốn biết tướng mã âm tàng báu của Đức Như Lai, muốn biết tướng Đức Như Lai khi lên cõi trời Đao-lợi vì mẹ là hoàng hậu Ma-gia mà nói pháp, muốn biết tướng Đức Như Lai khi rời cõi trời Đao-lợi, muốn biết tướng ánh sáng trong bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm của Đức Như Lai, muốn biết tướng của Đức Như Lai lúc đi đến thành Câu-thi-na điều phục hóa độ Lực Sĩ, muốn biết tướng ánh sáng của lỗ chân lông lúc Đức Như Lai thu phục quỷ thần nơi đồng trống…
Đức Phật nói tiếp:
–Thưa Phụ vương! Sau khi Phật vào Niết-bàn, nếu bốn bộ chúng và Trời, Rồng, Dạ-xoa… muốn giữ chánh niệm, muốn tư duy, muốn thực hành thiền, muốn được Tam-muội chánh thọ…
Đức Phật bảo:
–Thưa Phụ vương! Thế nào là ràng buộc ý niệm?
Có chúng sinh ưa quán thân tướng đầy đủ của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán một tướng tốt trong những tướng tốt của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán thuận theo tướng tốt của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán ngược lại tướng tốt của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán ánh sáng của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán sự đi của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán sự đứng của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán sự ngồi của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán sự nằm của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán sự khất thực của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán sự đản sinh Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán khi Như Lai cưới Thái tử phi.
Có chúng sinh ưa quán khi Như Lai xuất gia.
Có chúng sinh ưa quán khi Như Lai tu khổ hạnh.
Có chúng sinh ưa quán khi Như Lai thu phục các ma.
Có chúng sinh ưa quán khi Như Lai thành Phật.

* Trang 315 *
device

Có chúng sinh ưa quán khi Như Lai chuyển bánh xe pháp.
Có chúng sinh ưa quán khi Như Lai lên trời Đao-lợi vì mẹ nói pháp.
Có chúng sinh ưa quán Như Lai thu phục quỷ thần nơi đồng trống.
Có chúng sinh ưa quán khi Như Lai ở Na-càn-ha-la điều phục các rồng để lại hình.
Có chúng sinh ưa quán Như Lai ở tại thành Câu-thi-na thu phục Lục sư ngoại đạo những người thấp hèn và những người ác luật nghi, nặng nề tà kiến…
Như vậy, thưa Phụ vương! Sau khi Như Lai vào Niết-bàn, các chúng sinh có bao nhiêu hạnh nghiệp, có bao nhiêu ý tưởng, sự hiểu biết của họ chẳng đồng. Tùy theo sự nhận thức của tâm tưởng của các chúng sinh đó, nên theo thứ lớp dạy họ giữ chánh niệm. Như tôi còn ở đời thì chẳng cần giữ chánh niệm. Ví như mặt trời mọc thì những gì tối đều được sáng, chỉ có người không có mắt là không thấy gì. Trong đời vị lai, các đệ tử đều nên tu ba pháp. Những gì là ba? 
1.Tụng kinh điển Tu-đa-la sâu xa. 
2.Giữ gìn thanh tịnh các cấm giới, không phạm oai nghi.
3.Giữ chánh niệm tư duy, tâm không tán loạn.
Thế nào là giữ chánh niệm?
Hoặc có người giữ tâm quán sát trên đỉnh đầu của Phật.
Hoặc có người muốn giữ tâm quán sát lông tóc của Phật.
Hoặc có người giữ tâm quán sát viền tóc của Phật.
Hoặc có người muốn giữ tâm quán sát tướng trán rộng bằng phẳng của Phật.
Hoặc có người muốn giữ tâm quán tướng lông trắng giữa hai chân mày của Phật.
Hoặc có người muốn giữ tâm quán chân mày của Phật.
Hoặc có người muốn giữ tâm quán tướng mắt như trâu chúa của Phật.
Hoặc có người muốn giữ tâm quán tướng mũi thẳng của Phật.

* Trang 316 *
device

 
Hoặc có người muốn giữ tâm quán tướng nhìn như chim ưng chúa của Phật.
Có chúng sinh ưa quán râu mép Như Lai như hình con nòng nọc tỏa ra ánh sáng.
Có chúng sinh ưa quán vành môi của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán màu môi đỏ đẹp như trái tần-bà của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán môi dưới của Như Lai như cành hoa Bát-đầu-ma, trên màu hồng đỏ của môi cũng như màu quả Tần-bà.
Có chúng sinh ưa quán tướng có bốn mươi chiếc răng của miệng Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán tướng hàm răng trắng đều và kín của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán tướng hoa văn in trên răng của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán vạch giới hạn răng của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán tướng vòm miệng trên của Như Lai với tám muôn bốn ngàn họa tiết tỏ rõ phân minh.
Có chúng sinh ưa quán phần dưới của Như Lai như màu cành hoa Ưu-đàm-bát.
Có chúng sinh ưa quán yết hầu của Như Lai như ống lưu ly hình dáng như hoa sen.
Có chúng sinh ưa quán tướng lưỡi rộng dài như hình cánh hoa sen của Như Lai với năm đường nét đủ năm màu rõ ràng, dưới lưỡi mười mạch máu có nhiều ánh sáng tỏa ra, tướng lưỡi rộng dài che khắp mặt Phật.
  Có chúng sinh ưa quán ba ngấn trong yết hầu của Như Lai. 
Có chúng sinh ưa quán tướng ngực của Như Lai giống như mắt của chim cánh vàng.
Có chúng sinh ưa quán tướng đầu của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán tướng có tám muôn bốn ngàn sợi tóc của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán lông xoắn về bên phải của Như Lai.

* Trang 317 *
device

Có chúng sinh ưa quán mỗi một lỗ chân lông của Như Lai có một sợi lông xoắn sinh ra.
Có chúng sinh ưa quán da đầu của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán tướng nhục kế của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán bộ não của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán tai dài của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán vòng vành tai của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán tướng xoắn tai của Như Lai sinh ra bảy sợi lông.
Có chúng sinh ưa quán tướng bảy chỗ đầy đặn của Như Lai, ở trong tướng đó sinh ra đài ánh sáng.
Có chúng sinh ưa quán tướng đầy đặn dưới nách của Như Lai, ở trong tướng ấy có năm viên ngọc như ngọc Ma-ni trong nách Phật.
Có chúng sinh ưa quán cánh tay tròn lẳng như vòi voi chúa của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán xương khuỷu tay của Như Lai như tướng tóc uyển chuyển của Long vương, hoa văn năm màu không hư hoại, khúc đầu rồng cuộn lại, biến mất dấu vết, ngón tay so le đúng chỗ, ở đốt đầu ngón tay hiện mười hai vòng.
Có chúng sinh ưa quán móng tay chân màu đồng đỏ của Như Lai. Các móng ấy có tám màu tỏ rõ phân minh.
Có chúng sinh ưa quán tướng Hợp mạn chưởng của Như Lai, khi xòe ra thì thấy, lúc nắm lại thì biến mất như màn lưới trân châu tỏ rõ phân minh hơn cả vàng Diêm-phù-đàn hàng trăm ngàn vạn lần, màu sắc của chúng trong sáng thanh tịnh vượt qua phạm vi nhận thức của mắt, ở mười đầu ngón tay đều có chữ vạn (卐); điểm xen với chữ vạn có bánh xe với hàng ngàn nan hoa; các tướng đầy đủ như hòa hợp hàng trăm ngàn hoa sen.
Có chúng sinh ưa quán hoa văn bàn tay của Như Lai thành tựu như cung trời Tự tại; bàn tay ấy bằng phẳng mà trời người không loài nào có; ở trong bàn tay có tướng bánh xe với ngàn nan hoa, ở mười mặt đều tỏa ra ánh sáng ngọc Ma-ni; dưới những bánh xe ấy có mười hình vẽ, mỗi hình đều như mắt trời Tự tại xanh trắng phân

* Trang 318 *
device

minh, sau đó nhập vào trong tướng bàn tay.
  Có chúng sinh ưa quán theo chiều ngã rạp trên lông và đàng sau lông giống như lưu ly xanh biếc của Như Lai, tỏa ra ánh sáng năm màu, nhập vào trong màn lưới.
Có chúng sinh ưa quán tay chân mềm mại của Như Lai như lá bối ngàn kiếp.
Có chúng sinh ưa quán nắm tay bên trong bên ngoài của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán tướng ngực Như Lai in chữ vạn phước đức, tướng ánh sáng “ba lần ngọc Ma-ni”.
Có chúng sinh ưa quán rốn của Như Lai như ngọc báu Tỳ-lăng-già.
Có chúng sinh ưa quán hông của Như Lai, lớn nhỏ bằng phẳng uyển chuyển đều nhau.
Có chúng sinh ưa quán các chi tiết xương của Như Lai như rồng cuộn kết nối nhau kín mít.
Có chúng sinh ưa quán xương Như Lai móc nối liền nhau, co lại, duỗi ra tự tại, chẳng cản trở nhau.
Có chúng sinh ưa quán màu xương Như Lai trắng đến nỗi pha lê núi tuyết chẳng làm ví dụ được, bên trên có ánh sáng hồng xen lẫn hoa văn, nước đọng lại như mỡ.
Có chúng sinh ưa quán tướng đùi của Như Lai như nai chúa Y-ni.
Có chúng sinh ưa quán tướng gót chân của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán tướng mu bàn chân bằng phẳng của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán màu trên bàn chân của Như Lai, như vàng Diêm-phù-đàn, lông bên trên nằm rạp về một phía, lưới ngón chân như lưới hoa văn rực rỡ, chỗ hoa văn ấy xen lẫn nhiều tia sáng, đất trời chẳng thể kể hết tên.
Có chúng sinh ưa quán tướng móng màu đồng đỏ của Như Lai, trên đầu móng ấy có năm con sư tử.
Có chúng sinh ưa quán tướng hoa văn ở đầu ngón chân như bức

* Trang 319 *
device

 
ấn họa của trời Tỳ-nựu-yết-ma của Đức Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán dưới bàn chân của Đức Như Lai bằng phẳng đầy đặn không hề dính một sợi lông, tướng bánh xe có ngàn nan hoa dưới bàn chân, tướng vành trục bánh xe đầy đủ vẩy cá, tiếp theo tướng chày Kim cang, gót chân cũng có tướng đỉnh đầu của Phạm vương với các hình chẳng khác…. Như vậy gọi là người ưa quán thuận.
Có chúng sinh ưa quán ngược từ tướng bánh xe ngàn nan hoa ở dưới chân. Từ dưới quán lên đến ngón chân, mỗi một tướng, mỗi một vẻ đẹp, mỗi một màu sắc… từ dưới lên trên quán ngược rất rõ ràng. Đó gọi là phép quán nghịch.
Có chúng sinh ưa quán sắc tướng vàng ròng của Như Lai. Phật sinh ra ở cõi Diêm-phù-đề nên có sắc tối thượng trong các màu sắc, như trăm ngàn mặt trời chiếu sáng núi vàng ròng, chẳng thể được thấy đủ.
Có chúng sinh ưa quán thân cao lớn một trượng sáu của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán vầng hào quang tròn rộng một tầm của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán ánh sáng toàn thân của Như Lai.
Có chúng sinh ưa quán tướng điềm ứng khi Như Lai nói pháp.
Có chúng sinh ưa quán tướng hướng lên, tướng hướng xuống của rốn Như Lai.



Phẩm 3: QUÁN TƯỚNG (Phần 1)
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Phụ vương! Sao gọi là quán đỉnh đầu của Như Lai? Xương đỉnh Như Lai tròn giống như cái nắm tay. Màu sắc chính của đỉnh là trắng, nhưng nếu da mỏng đi nhìn thấy thành màu hồng, hoặc da dày thì nhìn thấy thành màu Kim cương, mép tóc màu vàng, não màu pha lê có mười bốn mạch máu với những vạch đầy

* Trang 320 *
device

đủ và cũng có mười bốn ánh sáng. Những ánh sáng ấy như mạch máu phân minh rõ ràng. Ở trong những mạch máu của não lại sinh ra các ánh sáng ánh lên xương đầu. Rồi từ xương đầu phát ra cho đến mép tóc có mười bốn màu quanh những sợi tóc. Màu vàng dưới tóc cũng phát ra những ánh sáng hòa vào trong mười bốn màu. Đó gọi là Nhục kế trên đỉnh đầu của Như Lai khi Ngài mới sinh ra trong hoàng cung. Chỉ trên đỉnh ấy thì năm tướng Đại phạm mới sinh ra, mẹ Ma-gia và dì của Phật đều chẳng thấy. Năm tướng Đại phạm ấy hiện bày thì ánh sáng lên đến trời Phạm thế, lại qua vô lượng thế giới ở phương trên, hóa thành cung điện, đền đài, cảnh giới của chư Phật, Bồ-tát trụ Địa thứ mười chẳng thấy được. Hôm nay, Như Lai sẽ vì Phụ vương nói về tướng sinh đỉnh. Nếu có người nghe thì phải suy nghĩ  tướng đỉnh thù thắng của Phật. Ánh sáng của tướng ấy, cho đến bụi trần của đại địa ba ngàn cõi cũng chẳng thể nói đủ. Chúng sinh đời sau nếu nghe lời nói này, nghĩ  đến tướng mà lòng không hối hận thì như nhìn thấy ánh sáng tướng đỉnh thù thắng của Thế Tôn. Nhắm mắt là được thấy, do sức tưởng của tâm mà thấy rõ ràng như khi nhìn thấy Phật ở đời. Tuy chỉ quán một tướng ấy chẳng được nhiều, nhưng từ một việc khởi lên lại tưởng một việc, tưởng một việc rồi lại tưởng một việc. Thuận, nghịch, quay đi, trở lại trải qua mười sáu lần như vậy tâm tưởng cuối cùng trở nên sáng suốt thông lợi. Sau đó, giữ tâm chánh niệm, tưởng một chỗ như vậy dần dần đưa lưỡi hướng lên vòm miệng, khiến cho lưỡi đứng thẳng, trải qua hai mươi bảy ngày, sau đó thân tâm có thể được yên ổn. Rồi lại giữ tâm chánh niệm trở lại quán đảnh Phật. Phép quán đảnh Phật là trước hết, quán từ lỗ chân lông.
Đức Phật bảo với Phụ vương và A-nan rằng:
–Hãy lắng nghe! Lắng nghe! Suy nghĩ  cho kỹ! Hiện nay trên đầu Như Lai có tám muôn bốn ngàn sợi tóc đều mọc xoắn về bên phải, chia đều phân minh, bốn góc rõ ràng. Mỗi một lỗ chân lông lại có năm ánh sáng hòa nhập vào mười bốn ánh sáng màu ở trước. Ngày xưa, ta còn ở hoàng cung, nhũ mẫu gội đầu cho ta. Di mẫu Đại Ái Đạo đi đến chỗ của ta, người biết khi Tất-đạt-đa sinh ra có nhiều điều kỳ lạ đặc biệt nên hỏi ta rằng: “Tóc của con dài bao

* Trang 321 *
device

nhiêu?” Ta làm sao đáp, nay phải đo tóc để biết độ dài của chúng. Người liền bảo ta buông tóc ra, dùng thước đo độ dài được một trượng hai thước năm tấc. Buông xong, tóc xoắn về bên phải trở lại như trước. Lúc sắp nạp phi (cưới vợ) lại gội đầu nữa, di mẫu lại bảo rằng, tóc đo lần trước dài một trượng hai thước năm tấc, nay phải đo lại. Ta liền buông tóc ra đo thì dài một trượng ba thước năm tấc. Lúc ta xuất gia Thiên thần bưng tóc của ta đi, tóc cũng dài một trượng ba thước năm tấc. Hôm nay Phụ vương có muốn xem tướng tóc không?
Phụ vương bạch rằng:
–Thưa vâng! Thưa Đấng Thiên Tôn! Tôi rất muốn thấy tóc Phật!
Đức Như Lai liền đưa tay lên thả tóc của mình ra, tóc dài từ tinh xá Ni-câu-lâu-đà đến cung của phụ vương, tóc Phật như lưu ly xanh biếc, còn quấn quanh thành bảy vòng. Ở trong tóc Phật, đại chúng đều thấy biết bao là ánh sáng màu, chẳng thể tả xiết. Mỗi ánh sáng đó soi khắp tất cả tạo thành màu lưu ly xanh biếc. Trong màu lưu ly có các Đức Phật biến hóa nhiều chẳng thể tính kể. Thị hiện tướng đó rồi, Đức Phật thu ánh sáng và cuốn tóc lại. Tóc xoắn về bên phải uyển chuyển trở lại trụ trên đỉnh Đức Phật, thành nhục kế như cũ. Đức Phật nói:
–Đó gọi là tướng tóc chân thật của Như Lai. Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di… nào muốn quán tóc Phật thì phải quán sát như vậy, chẳng được quán khác. Nếu quán khác thì gọi là tà quán, gọi là cuồng quán, gọi là thất tâm, gọi là tà kiến, gọi là tâm điên đảo… Giả sử người đó được định, điều này không thể có. Như vậy, thưa Phụ vương! Tướng tóc chân thật của Phật quả thật như vậy. Quán tướng tóc rồi, tiếp theo là quán mép tóc như màu trân châu đỏ uyển chuyển buông xuống, có năm ngàn ánh sáng xen lẫn mà rõ ràng, đều hướng lên trên vây quanh các sợi tóc, rồi từ trên đỉnh đầu phát ra, vòng quanh đỉnh năm vòng như của họa sĩ cõi trời vẽ ra, tròn lẳng, phẳng đều, nhỏ như một sợi tơ. Ở khoảng tơ ấy sinh ra các hóa Phật với các hóa Bồ-tát làm quyến thuộc, chư Thiên, tám bộ chúng, tất cả các hình tượng đều hiện ra bên trong.

* Trang 322 *
device

Màu sắc như vầng mặt trời chẳng thể thấy đủ hết. Đó gọi là quán mép tóc của Phật. Người quán như vậy gọi là chánh quán, nếu quán khác thì gọi là tà quán.
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Phụ vương! Đây gọi là pháp quán chân thật về mép tóc Như Lai!
Thế nào là quán tướng trán rộng bằng phẳng của Như Lai?
Trong tướng trán rộng bằng phẳng có ba tướng:
Một là tướng lông trắng. Khi Phật mới sinh, vua cùng hoàng hậu đem Thái tử đến chỗ tiên A-tư-đà, ra lệnh xem tướng Thái tử. Tiên nhân vạch lớp lông, đầu tiên thấy ở giữa hai chân mày của Thái tử có sợi lông trắng xoắn lại. Ở bên sợi lông trắng có các vòng ngăn theo sợi lông trắng xoắn lại, thầy tướng kéo thẳng sợi lông ra, thấy sợi lông dài và lớn, liền lấy thước đo xem dài hay ngắn thì thấy đúng năm thước như cái ống bằng lưu ly. Buông tay ra thì lông xoắn lại về bên phải như viên ngọc pha lê, hiển hiện vô lượng trăm ngàn ánh sáng màu. Đó gọi là ánh sáng của tướng Bạch hào khi Bồ-tát mới sinh.
Đến năm lên tám tuổi, di mẫu lại quan sát theo tuổi của Tất-đạt-đa thì thấy lông ở khoảng mày ấy cũng theo năm tháng lớn lên. Nay bà muốn xem thử, liền kéo thẳng sợi lông trắng thì thấy nó ngay thẳng như ống lưu ly trắng. Ở đầu lông ấy phát ra ánh sáng năm màu sắc, rồi trở lại vào trong lỗ chân lông. Di mẫu thương mến vô cùng tận, bảo với mọi người rằng: “Tướng lông của con ta đến như thế này.” Mọi người thấy rồi, lông xoắn lại như trước rất khả ái. Đó gọi là tướng Bạch hào lúc Bồ-tát làm đồng tử.
Thế nào là tướng Bạch hào lúc Bồ-tát cưới vợ?
Cha của Da-du-đà-la cho thầy tướng đến xem tướng Thái tử. Thầy tướng thấy ba mươi hai tướng rõ ràng như bức họa, chỉ đối với tướng Bạch hào thì chẳng rõ. Thầy tướng liền nói rằng: “Thưa Thái tử, mọi tướng khác của ngài đồng với tướng của vua Kim luân, chỉ có tướng Bạch hào tỏa ra vô số ánh sáng này là ngoài tầm hiểu biết của tôi. Nay tôi muốn kéo thẳng ra để xem có thể được không?” Thái tử bảo rằng: “Hãy theo ý muốn của ông.” Bấy giờ,

* Trang 323 *
device

 
thầy tướng lấy tay kéo sợi lông ra. Lông ấy tuôn ra như sữa trâu chúa bắn vào mắt thầy tướng. Mắt thầy tướng ấy trở nên sáng suốt thanh tịnh, liền thấy ở trong sợi lông có hàng trăm ngàn Thánh vương Chuyển luân với bảy món báu cùng với ngàn đứa con…. Thầy tướng kinh ngạc thưa: “Thưa Thái tử! Tôi kéo sợi lông trắng ra là muốn xem dài ngắn. Chẳng biết vì ý gì mà như sữa trâu chúa lại bắn vào mắt tôi? Đây là sự thấy thật hay là sự thấy trong mộng hay là cuồng loạn! Nay tôi quên hết tướng tốt của Thái tử, tất cả đều hết, chỉ còn thấy trăm ngàn vua Chuyển luân thánh với bảy thứ báu, ngàn đứa con và bốn bộ binh từ bốn phía nổi lên. Lòng tôi vui mừng như Bà-la-môn được niềm vui cõi trời Phạm thế.” Nói rồi buông sợi lông. Nó xoắn về bên phải uyển chuyển trở lại chỗ cũ. Bấy giờ, thầy tướng tên là Lao-độ-bạt-đa, thấy việc này rồi, năm vóc sát đất đảnh lễ Thái tử, thưa rằng: “Mọi tướng của Thái tử chẳng thể thấy đủ hết. Như phép xem tướng của tôi, thấy được cả tướng vua bốn châu thiên hạ một cách nhanh chóng tự tại. Nay tướng của Thái tử như Ma-hê-thủ-la, thần lực tự tại chẳng thể ghi chép thì phải nhận biết ra sao?” Thái tử bảo rằng: “Ta không hiểu điều này! Ông hãy trở về mà tâu lên vua của ông!” Lúc ấy, thầy tướng liền trở về nước của mình, đem việc như trên tâu đầy đủ lên vua. Nhà vua nghe lời đó, nói với người đánh xe cho vua tên là Tượng Đạo đem theo hàng trăm ngàn người, đi đến thành Ca-tỳ-la. Đến cung vua Tịnh Phạn, nhà vua dùng nước rửa tay Thái tử, đem con gái trao lên Ngài, nhân đó làm lễ nói rằng: “Thưa Thái tử! Xin Ngài nhận con gái của tôi, nó có thể trông nom gia đình! Thầy tướng đã thấy tướng lông thượng diệu của Ngài. Tôi nay muốn thấy có thể được không?” Thái tử bảo rằng: “Tùy ý Ngài xem đi!” Bấy giờ, cha của Da-du-đà-la dùng tay kéo thẳng sợi lông trắng của Thái tử, thấy lông ấy như ống pha lê, từng đốt từng đốt như nhau. Ở trong các đốt ấy, thấy có vô lượng Phạm vương, Thích Đề-hoàn Nhân, các Thiên tử cùng với cung điện, nhìn thấy rõ ràng như soi trước gương sáng tự quan sát nét mặt của mình. Thấy rồi rất vui mừng, nhà vua liền buông sợi lông ra, nó xoắn lại về bên phải rồi trở lại trụ ở giữa hai chân mày. Ánh sáng rực rỡ tỏa ra khắp bốn

* Trang 324 *
device

 
phía, rồi nhập vào trong vòng vách ngăn, chẳng thể nói hết. Đó gọi là tướng Bạch hào khi Bồ-tát cưới vợ.
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Phụ vương! Sau khi Phật vào Niết-bàn, bốn bộ chúng muốn quán tướng Bạch hào của Bồ-tát khi còn thiếu niên và khi cưới vợ thì phải quán tưởng như vậy. Người quán tưởng như thế gọi là Chánh quán, nếu quán khác thì gọi là tà quán.
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Phụ vương! Sao gọi là tướng Bạch hào khi Như Lai xuất gia? Khi tôi muốn xuất gia, phụ vương và di mẫu sai các thể nữ luôn theo hộ vệ, cửa đặt then khóa, mở đóng có tiếng vang như sư tử hống. Ở cửa các cửa sổ đóng kín, treo các chuông nhỏ, khóa vàng móc nối nhau, rồng, quỷ, Dạ-xoa không vào được. Bấy giờ, Tứ Thiên vương ở trong hư không, từ xa phát ra âm thanh rằng: “Thưa Thái tử! Ngày giờ đã đến, Ngài hãy đi học đạo! Tôi nay muốn đến cúng dường Thái tử, nhưng sợ vào cung điện có tiếng động nên không thể vào được.” Khi ấy Thái tử dùng tay kéo thẳng sợi lông ra đến tận chỗ Tứ Thiên vương, màu sắc như lụa năm màu của cõi trời mềm mại đáng yêu. Tứ Thiên vương nhìn thấy lòng rất kính yêu. Do yêu kính nên liền thấy ở trong sợi lông có hóa Bồ-tát ngồi kiết già, hình dạng như Thái tử. Mỗi vị Bồ-tát lại có vô lượng Đại Bồ-tát xung quanh. Khi hiện tướng này thì vô lượng Trời, Rồng, Dạ-xoa… cùng lúc đều được vào cung. Thái tử ra lệnh cho Xa-nặc rằng: “Ngươi đi ra sau chuồng ngựa, thắng con Kiền-trắc lại đây!” Xa-nặc bạch rằng: “Nay trong đất này, nếu khi nhấc chân lên thì đất chấn động tiếng rống lên như tiếng con voi lớn, làm sao đến được?” Bấy giờ, Thái tử lại duỗi sợi lông trắng ra khiến cho Xa-nặc thấy giống như hoa sen, từng cánh từng cánh xếp lớp lên nhau, trắng như tuyết. Xa-nặc thấy rồi, mắt tâm liền mở ra, nhìn thấy nơi những cánh sen có các hóa Bồ-tát ngồi kiết già nhiều giống như bụi trần cũng chẳng thể nói lên số lượng. Những hóa Bồ-tát đó cũng có lông trắng giữa hai chân mày như Thái tử. Khi ấy, Xa-nặc thấy trong cung, đất như màu pha lê, bên trong thật cứng giống như Kim cương, chân bước nhẹ không có tiếng động, mau

* Trang 325 *
device

chóng đến sau chuồng ngựa, thắng yên vàng vào ngựa dắt đến trước điện. Xa-nặc thưa Thái tử rằng: “Chư Thiên nghiêm chỉnh chắp tay, vòng tay đứng trong hư không, đang đồng thanh khen ngợi công đức xuất gia. Đã đến lúc, Thái tử hãy mau chóng lên ngựa!” Bấy giờ, Thái tử lại duỗi sợi lông trắng ra phỏng theo hình dạng các cô gái khiến cho các thị nữ, thân tâm vui vẻ giống như Tỳ-kheo chứng đệ tam thiền. Lúc ấy sợi lông này uyển chuyển xoắn về bên phải vào trở lại giữa hai chân mày. Chư Thiên lại thấy giữa hai chân mày của Thái tử có trăm ngàn ánh sáng như dòng sông sữa chảy ra khắp nơi. Trong dòng sông sữa có hóa Bồ-tát ngồi trên hoa sen, đều cùng khen ngợi công đức xuất gia. Mỗi vị hóa Bồ-tát trên dòng sông sữa, giữa hai chân mày của chư vị đều tỏa ra ánh sáng như Thái tử.
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Phụ vương, đó gọi là các điềm lành của tướng Bạch hào khi Bồ-tát xuất gia. Nếu sau khi Phật diệt độ, bốn bộ chúng muốn quán tướng Bạch hào lúc Như Lai xuất gia thì phải quán tưởng như thế, nếu quán khác đi thì đó gọi là tà quán.
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Phụ vương, sao gọi là tướng Bạch hào khi Bồ-tát tu khổ hạnh? Khi ta vượt ra khỏi thành hoàng cung rồi, cách thành Dà-gia chẳng xa, đi đến cây A-luân-đà, Thiên tử Cát An cùng trăm ngàn Thiên tử đều nghĩ  rằng: “Nếu Bồ-tát ngồi ở đây thì nhất định cần có tọa cụ. Ta nay phải dâng cho Ngài cỏ của cõi trời.” Các Thiên tử liền mang đến cỏ cõi trời thanh tịnh mềm mại tên là Cát Tường. Bồ-tát nhận rồi trải ra đất ngồi. Lúc đó, chư Thiên quan sát kỹ thân tướng khả ái của Bồ-tát lại thấy sợi lông trắng ba tấc xoắn về bên phải uyển chuyển, có trăm ngàn màu sắc tỏa vào các tướng. Khi các Thiên tử quan sát tướng Bạch hào đều nghĩ  rằng: “Hôm nay Bồ-tát chỉ nhận cỏ của ta, chẳng nhận cỏ của ngươi.” Tức thời, ở trong sợi lông trắng, có vạn ức Bồ-tát ngồi kiết già, đều lấy số cỏ ấy trải ngồi dưới gốc cây này. Mỗi Thiên tử đều thấy trong lông trắng có tướng như thế. Lúc đó, Thiên tử Cát An khen ngợi rằng: “Hay thay! Đấng Thắng Sĩ tu hạnh đại Từ bi! Nhờ sức từ bi nên

* Trang 326 *
device

được tướng Đại Nhân. Ở trong tướng ấy biến hiện không lường, có thể làm thỏa mãn tất cả các nguyện lành của chư Thiên, làm cho họ không có tranh cãi, khởi tâm Bồ-đề. Đế Thích, Phạm vương và chư Thiên thấy Bồ-tát ngồi dưới cây này đều mang cam lồ đến dâng cúng dường. Lúc đó Bồ-tát vì muốn hàng phục Lục sư ngoại đạo kia nên không nhận các thứ cúng dường đó. Trời khiến cho bên trái, bên phải tự sinh ra mè, gạo nhưng Bồ-tát chẳng ăn. Chư Thiên đều nói rằng: “Vị thiện nam này chẳng ăn nhiều ngày, khí lực mệt mỏi, mạng sống không còn bao lâu thì làm sao có thể thành tựu Bồ-đề được?” Lúc đó Bồ-tát vào Tam-muội Diệt Ý. Cảnh giới của Tam-muội gọi là các căn tịch tĩnh . Chư Thiên kêu khóc, nước mắt rơi xuống như mưa, khuyến thỉnh Bồ-tát phải dậy mà ăn uống. Khi chư Thiên nói lên lời thỉnh này thì tiếng vang khắp tam thiên đại thiên thế giới mà Bồ-tát chẳng hay biết. Có một Thiên tử tên là Duyệt Ý thấy đất mọc cỏ xuyên qua thịt của Bồ-tát lên đến khuỷu tay nên bảo với chư Thiên rằng: “Lạ thay! Đấng nam tử tu khổ hạnh đến vậy! Chẳng ăn đã lâu lắm, tiếng kêu chẳng nghe, cỏ mọc chẳng hay biết!” Vị Thiên tử đó liền lấy tay phải kéo duỗi sợi lông trắng của Bồ-tát, sợi lông ấy thẳng ra, dài đúng một trượng bốn thước năm tấc, như ngọc báu trắng của cõi trời, trong ngoài đều rỗng không. Vị trời thấy bên trong sợi lông có hàng trăm ức ánh sáng. Ánh sáng ấy vi diệu chẳng thể tả xiết. Trong ánh sáng ấy hiện ra các hóa Bồ-tát đều tu khổ hạnh như Bồ-tát này không khác. Bồ-tát chẳng nhỏ mà lông cũng chẳng lớn. Chư Thiên thấy rồi khen chưa từng có, liền thả sợi lông trắng xoắn về bên phải, uyển chuyển cùng với ánh sáng đều trở lại chỗ cũ. Lúc bấy giờ, chư Thiên quan sát kỹ sợi lông trắng, mắt chẳng tạm rời. Họ nhìn thấy trong sợi lông trắng, bên dưới có năm cái ống nhập vào nơi khuôn mặt, rót cam lồ từng giọt từng giọt chẳng dứt, từ trên lưỡi chảy vào đến thân, phơi bày trong suốt như núi lưu ly. Có trăm ngàn vạn ức các Đại Bồ-tát hiện ra ở bên trong thân ấy. Chư Thiên thấy rồi, chắp tay vui mừng cho lời nói trước đây là ngu si, vì nói bậc Đại nhân này, mạng sống chẳng còn bao lâu. Hôm nay thấy tướng đó thì nhất định sẽ thành Phật, rõ ràng không nghi ngờ! Mặt trời tuệ

* Trang 327 *
device

Vô thượng chẳng bao lâu nữa sẽ soi chiếu thế gian! Họ nói lên lời đó rồi đi nhiễu quanh Bồ-tát trăm ngàn vòng, đều trở lại cung điện. Âm thanh này nghe vang đến sáu tầng trời cõi Dục.
Đức Phật bảo rằng:
–Thưa Phụ vương! Sau khi Phật diệt độ, nếu bốn bộ chúng muốn quán tướng Bạch hào khi Như Lai tu khổ hạnh thì phải quán tưởng đúng như vậy, đó gọi là chánh quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

* Trang 328 *
device

Đại Tập 61 - Bộ Kinh Tập VIII - Số 639tt->655