LOGO VNBET
KINH TĂNG NHẤT A-HÀM
QUYỂN 21

Phẩm 29: KHỔ LẠC


KINH SỐ 1
Nghe như vậy:
Một thời Đức Phật ở tại vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Nay có bốn hạng người xuất hiện ở đời. Thế nào là bốn?
1.Hoặc có người trước khổ, sau vui.
2.Hoặc có người trước vui sau khổ.
3.Hoặc có người trước khổ sau khổ.
4.Hoặc có người trước vui, sau vui.
Thế nào là người trước khổ sau vui? Hoặc có một người sinh nhà ti tiện, hoặc dòng sát nhân1, hoặc giới thợ thuyền, hoặc sinh nhà tà đạo, cùng các giới bần khổ khác, áo cơm không đủ. Tuy họ sinh vào những nhà đó, nhưng người kia lại không có tà kiến, thấy rằng: “Có bố thí, có người nhận, có đời này, có đời sau, có Sa-môn, Bà-la-môn, có cha, có mẹ, đời có A-la-hán, người lãnh thọ giáo pháp, cũng có quả báo thiện ác.” Nếu thấy có nhà nào rất giàu, thì họ biết đó nhờ báo đức bố thí, báo không phóng dật ngày xưa. Hoặc họ lại thấy nhà không áo cơm, biết những người này không tạo đức bố thí thường gặp bần tiện. “Nay ta lại gặp bần tiện, không có áo cơm, đều do ngày xưa không tạo phước, mê hoặc người đời, hành pháp phóng dật. Duyên báo ác hạnh này, nay gặp nghèo hèn áo cơm không đủ.”
________________
1. Sát nhân chủng殺人種; đây chỉ lớp tiện dân Chiên-đà-la (Pàli, Skt. Caịđàla), phần lớn làm nghề giết chó, được xem là hung dữ.

* Trang 533 *
device

Khi thấy Sa-môn, Bà-la-môn tu pháp thiện, người ấy liền hướng về sám hối, sửa đổi những việc làm xưa. Nếu có của dư, đem chia cho người. Người này sau khi qua đời sinh về xứ thiện, lên trời. Nếu sinh cõi người thì lắm tiền nhiều của báu, không thiếu hụt. Hạng người này gọi là trước khổ sau vui.
Hạng người nào trước vui sau khổ? Ở đây, hoặc có một người sinh vào nhà hào tộc, hoặc dòng Sát-lợi, hoặc dòng trưởng giả, hoặc nhà dòng họ lớn; hoặc sinh vào các nhà giàu sang, áo cơm đầy đủ. Nhưng người đó thường ôm lòng tà kiến tương ưng cùng biên kiến. Họ thấy như vầy: “Không có bố thí, không có người nhận, cũng không có báo đời này đời sau, cũng không có cha mẹ, đời không có A-la-hán, cũng không có người tác chứng, lại cũng không có báo thiện ác.” Người đó có những tà kiến như vậy. Khi thấy nhà giàu sang, họ nghĩ: “Người này lâu nay vẫn có của báu này; người nam đã lâu vẫn là người nam, người nữ đã lâu vẫn là người nữ, súc sinh đã lâu vẫn là súc sinh.” Người ấy không thích bố thí, không giữ giới luật. Khi thấy Sa-môn, Bà-la-môn vâng giữ giới, người này nổi sân nhuế nghĩ: “Người ấy hư ngụy, nơi nào sẽ có phước báo ứng?” Người này sau khi qua đời sinh vào trong địa ngục. Nếu được làm người thì sinh vào nhà bần cùng, không có áo cơm, thân thể lõa lồ, cơm áo thiếu thốn. Hạng người này gọi là trước vui sau khổ.
Hạng người nào trước khổ sau khổ? Ở đây, có người sinh vào gia đình bần tiện, hoặc dòng sát nhân*, hoặc giới thọ thuyền; hoặc sinh vào những gia đình hạ liệt, không có áo cơm. Nhưng người này thân ôm tà kiến, cùng tương ưng với biên kiến, nên họ thấy như vầy, “Không bố thí, không có người nhận, cũng không có báo thiện ác đời này đời sau, cũng không có cha mẹ, đời không A-la-hán.” Người ấy không thích bố thí, không vâng giữ giới. Khi thấy Sa-môn, Bà-la-môn, người ấy liền nổi sân nhuế đối với các bậc Hiền thánh. Người này thấy người nghèo thì cho rằng đã vậy từ lâu; thấy người giàu thì cho rằng đã vậy từ lâu; thấy cha, xưa đã là cha; thấy mẹ, xưa đã là mẹ. Người này sau khi qua đời sinh vào trong địa ngục. Nếu sinh cõi người thì rất là nghèo hèn, áo cơm không đủ.

* Trang 534 *
device

Hạng người này gọi là trước khổ sau khổ.
Thế nào là hạng người trước vui sau vui? Ở đây, hoặc có một người sinh vào nhà giàu sang, hoặc dòng Sát-lợi, hoặc dòng Phạm chí, hoặc sinh vào dòng quốc vương, hoặc sinh dòng trưởng giả, cùng sinh vào gia đình lắm tiền nhiều của. Nơi sinh ra không bị thiếu hụt. Người này sinh vào những nhà như vậy, nhưng người này lại có chánh kiến không có tà kiến. Họ có cái thấy này: “Có bố thí, có người nhận, có đời này đời sau, đời có Sa-môn, Bà-la-môn, cũng có báo thiện ác, có cha có mẹ, đời có A-la-hán.” Người này khi thấy gia đình giàu sang lắm tiền nhiều của, liền tự nghĩ: “Người này có được là nhờ ngày xưa bố thí.” Hoặc lại thấy nhà nghèo hèn thì nghĩ: “Người này trước kia do không bố thí. Nay ta nên tùy thời bố thí, chớ để sau này sinh nhà nghèo hèn.” Vì vậy nên người này thường thích bố thí cho người. Người này nếu thấy Sa-môn đạo SĨ thì tùy thời thăm hỏi sức khỏe, cung cấp y phục, đồ ăn thức uống, giường nằm, thuốc men trị bệnh; thảy đều bố thí hết. Nếu sau khi mạng chung tất sinh xứ thiện lên trời. Nếu cõi người tất sinh vào nhà giàu sang, lắm tiền nhiều của. Hạng người này gọi là trước vui sau vui.
Bấy giờ, có một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
–Con thấy chúng sinh đời này trước khổ sau vui; hoặc ở đời này có chúng sinh trước vui sau khổ; hoặc ở đời này có chúng sinh trước khổ sau khổ; hoặc có chúng sinh trước vui sau vui.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo kia:
–Có nhân duyên này, khiến loài chúng sinh trước khổ sau vui; lại cũng có chúng sinh này trước vui sau khổ; lại cũng có chúng sinh này trước khổ sau khổ; lại cũng có chúng sinh này trước vui sau vui.
Tỳ-kheo bạch Phật:
–Lại vì nhân duyên gì trước vui sau khổ? Lại vì nhân duyên gì trước khổ sau vui? Lại vì nhân duyên gì trước khổ sau khổ? Lại vì nhân duyên gì trước vui sau vui?
Thế Tôn bảo:

* Trang 535 *
device

–Tỳ-kheo nên biết, nếu người sống trăm tuổi. Giả sử đúng mười lần mười như vậy, người ấy sống thọ hết Đông, Hạ, Xuân, Thu. Này Tỳ-kheo, người ấy trong một trăm năm tạo các công đức, rồi một trăm năm tạo các ác nghiệp, tạo các tà kiến. Một thời gian sau, người ấy mùa đông được vui, mùa hạ chịu khổ. Nếu trăm năm công đức đầy đủ chưa từng bị thiếu; rồi ở trong vòng trăm năm nữa, người ấy tạo các tà kiến, tạo hạnh bất thiện; nó trước chịu tội kia, sau thọ phước nọ.
Nếu lúc nhỏ làm phước, lúc lớn gây tội, thì đời sau lúc nhỏ hưởng phức, lúc lớn chịu tội.
Nếu lúc nhỏ tạo tội, lớn lên cũng tạo tội, thì người ấy khi đời sau trước khổ sau cũng khổ.
Nếu lại lúc nhỏ tạo các công đức, bố thí phân-đàn2, (lớn lên cũng tạo các công đức cũng bố thí phân đàn)3, thì đời sau người ấy trước vui sau cũng vui.
Này chư Tỳ-kheo, đó gọi là vì nhân duyên này trước khổ mà sau vui, cũng do nhân duyên này trước vui mà sau khổ, cũng do nhân duyên này trước khổ sau cũng khổ, cũng do nhân duyên này trước vui sau cũng vui.
Tỳ-kheo bạch Phật:
–Quả vậy,4 bạch Thế Tôn, nếu có chúng sinh nào muốn trước vui mà sau cũng vui thì, nên hành bố thí để cầu trước vui sau cũng vui.
Thế Tôn bảo:
–Đúng vậy, Tỳ-kheo, như những lời ông nói. Nếu có chúng sinh nào muốn thành tựu Niết-bàn và đạo A-la-hán cho đến Phật quả thì ở trong đó phải hành bố thí, tạo công đức.
Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.
_________________
2. Phân-đàn bố thí分檀布施; có lẽ phiên âm, Pàli: Piṇḍa-dàyaka, người bố thí vật thực. Đoạn tiếp, TNM: Bố thí phần đoạn, cùng ý nghĩa.
3. Trong ngoặc, câu này để bản nhảy sót. Đây y theo TNM thêm vào.
4. Để bản: Duy nguyện唯願. TNM: Duy nhiên唯然.

* Trang 536 *
device

Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Có bốn hạng người xuất hiện ở đời. Sao gọi là bốn?
1.Hoặc có người thân vui tâm không vui.
2.Hoặc có người tâm vui thân không vui.
3.Hoặc có người tâm cũng không vui, thân cũng không vui.
4.Hoặc có người thân cũng vui tâm cũng vui.
Những người nào thân vui tâm không vui? Ở đây, người phàm phu tạo phước, đối với bốn sự cúng dường như y phục, đồ ăn thức uống, giường nằm, thuốc men trị bệnh, không gì thiếu thốn; nhưng không thoát các đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, cũng lại không thoát khỏi trong ác thú. Đây gọi là người thân vui tâm không vui.
Những người nào tâm vui thân không vui? Chỉ những vị A-la-hán không tạo công đức. Ở đây, đối trong bốn sự cúng dường, tự mình không thể tự lo xong, không bao giờ có được. Chỉ thoát khỏi các đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Giống như Tỳ-kheo La-hán Duy Dụ5.Đó gọi là người này tâm vui thân không vui.
Những người nào thân cũng không vui, tâm cũng không vui? Là người phàm phu không tạo công đức, không thể có được bốn sự cúng dường như y phục, đồ ăn thức uống, giường nằm, thuốc men trị bệnh, lại không thoát khỏi các đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Đó gọi là người này thân cũng không vui, tâm cũng không vui.
_____________
5. La-hán Duy Dụ羅漢唯喻; chưa rõ.

* Trang 537 *
device

Những người nào thân cũng vui, tâm cũng vui? Chỉ cho các A-la-hán tạo công đức, bốn sự cúng dường không gì thiếu thốn như y phục, đồ ăn thức uống, giường chiếu, thuốc men trị bệnh. Lại thoát khỏi các đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Đó chính là Tỳ-kheo Thi-ba-la6.
Này Tỳ-kheo, đó gọi là thế gian có bốn hạng người này. Cho nên Tỳ-kheo nên cầu phương tiện, như Tỳ-kheo Hộ-bà-la.
Các Tỳ-kheo hãy học những điều này như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Nay Ta sẽ nói về bốn phước của Phạm thiên7.Sao gọi là bốn?
1.Nếu có thiện nam, thiện nữ nào nơi chưa dựng tháp8, ở nơi đó mà xây tháp. Đó gọi là phước thứ nhất của Phạm thiên.
2.Lại nữa, thiện nam, thiện nữ nào tu sửa chùa cũ. Đó gọi là phước thứ hai của Phạm thiên.
3.Lại nữa, thiện nam, thiện nữ nào tạo sự hòa hợp Thánh chúng. Đó gọi là phước thứ ba của Phạm thiên.
____________
6. Thi-ba-la尸波羅. Đồng nhất với Pàli, Sīvalī, được Phật tuyên bố là đệ nhất lợi đắc cúng dường (aggaṃ lābhīnaṃ), cf. A.i. 24.
7. Tứ phạm chi phước四梵之福; đoạn dưới có khi nói: Phạm thiên chi phước梵天之福, có khi nói thọ phạm chi phước受梵之福. Có thể tương đương Pàli, brahmadeyya, tặng vật của Phạm thiên, được hiểu là tặng vật cao thượng nhất.
8. Nguyên Hán dịch: Thâu-bà偷婆, Skt. Stūpa (Pāli: Thūpa).

* Trang 538 *
device

4.Lại nữa, khi Như Lai9 sắp chuyển pháp luân, chư Thiên, người đời khuyến thỉnh chuyển pháp luân. Đó gọi là phước thứ tư của Phạm thiên.
Đó gọi là bốn phước của Phạm thiên.
Lúc bấy giờ, có một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:
–Phước của Phạm thiên rốt ráo là nhiều hay ít?
Thế Tôn bảo:
–Lắng nghe, lắng nghe, hãy suy nghĩ kỹ, nay Ta sẽ nói.
Các Tỳ-kheo đáp:
–Kính vâng.
Thế Tôn bảo:
–Cõi Diêm-phù-đề10 từ Đông Tây, bảy ngàn do-tuần, Nam Bắc hai vạn một ngàn do-tuần, địa hình giống như chiếc xe. Ở trong đó, công đức có được của chúng sinh cũng bằng công đức của một vị Chuyển luân thánh vương.
Lại có cõi tên Cù-da-ni dọc ngang ba mươi hai vạn dặm, địa hình như nửa mặt trăng. Các Tỳ-kheo nên biết, công đức của nhân dân trong cõi Diêm-phù-đề và một Chuyển luân thánh vương so với người ở đó thì chỉ bằng phước của một người thôi.
Lại nữa, Tỳ-kheo! Phất-vu-đãi dọc ngang ba mươi sáu vạn dặm, địa hình vuông vức. Nếu tính phước của hai cõi Diêm-phù-đề và Cù-da-ni thì không bằng phước của một người cõi Phất-vu-đãi này.
Tỳ-kheo nên biết, Uất-đơn-viết, dọc ngang bốn mươi vạn dặm, địa hình giống như mặt trăng tròn. Nếu tính phước của nhân dân trong ba cõi trên thì cũng không bằng phước của một người ở cõi Uất-đơn-viết.
Tỳ-kheo nên biết, nếu tính phước của nhân dân bốn thiên hạ, không bằng đức của Tứ Thiên vương. Nếu tính phước nhân dân bốn
_______________
9. Để bản: Nhã-đa-tát-a-yết.
10. Nguyên Hán dịch: Diêm-phù-lý-địa閻浮里地, phiên âm Skt. Jambudvīpa (Jambudīpa).

* Trang 539 *
device

thiên hạ cùng cõi Tứ Thiên vương thì cũng không bằng phước của cõi Tam thập tam thiên. Nếu tính phước của bốn thiên hạ, Tứ Thiên vương, cùng Tam thập tam thiên, cũng không bằng phước của một vị Thích Đề-hoàn Nhân. Nếu tính phước của bốn thiên hạ, Tứ Thiên vương, Tam thập tam cùng Thích Đề-hoàn Nhân, cũng không bằng phước một Diễm thiên. Nếu tính phước bốn thiên hạ, Tứ thiên Vương, Tam thập tam, Thích Đề-hoàn Nhân cùng Diễm thiên thì cũng không bằng phước trời Đâu-thuật. Nếu tính phước bốn thiên hạ… cho đến phước trời Đâu-thuật thì cũng không bằng phước trời Hóa tự tại. Nếu tính phước bốn thiên hạ, cho đến trời Hóa tự tại cũng chẳng bằng phước trời Tha hóa tự tại. Nếu tính phước từ bốn thiên hạ cho đến cõi trời Tha hóa tự tại cũng chẳng bằng phước đức của Phạm thiên vương.
Tỳ-kheo nên biết, phước của Phạm thiên như vậy. Nếu có thiện nam, thiện nữ nào cầu phước đó, theo đây mà suy lường. Cho nên, này Tỳ-kheo, muốn cầu phước Phạm thiên, nên tìm cầu phương tiện để thành tựu công đức này. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Chúng sinh có bốn loại thức ăn nuôi lớn chúng sinh11.Những
_______________
11. Xem Trường 8, kinh Chúng tập (T1n1, tr. 50c2): Bốn loại thức ăn四種食: đoàn thực摶食, xúc thực觸食, niệm thực念食, thức thực識食. Tập Dị 8 (tr. 400b2): Tứ thực四食者: Đoạn thực hoặc thô hoặc tế段食或<gaiji cb='CB0715' des='[色-巴+鹿]' uni='9E81' >麁</gaiji>或細; xúc thực觸食; ý tư thực意思食; thức thực識食. Pàli, D 33 Saṅgīti (R. iii. 228): Cattāro āhārā– kabaḷṅkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṃ catutthaṃ.

* Trang 540 *
device

gì là bốn? Đó là đoàn thực, hoặc lớn hay nhỏ; xúc thực12, niệm thực và thức thực. Đây là bốn loại thức ăn.
Sao gọi là đoàn thực? Đoàn thực là như những thức ăn của người hiện nay, vật để đưa vào miệng có thể ăn. Đó gọi là đoàn thực.
Sao gọi là xúc thực*? Xúc thực là chỉ cho y phục, lọng dù, hương hoa, sưởi lửa, dầu thơm hay sự tụ hội với phụ nữ và những thứ khác được xúc chạm13 bởi thân thể. Đó gọi là xúc thực.
Sao gọi là niệm thực? Tất cả những niệm tưởng, những gì được niệm tưởng, được tư duy trong ý, những gì được nói bởi miệng, hoặc được xúc bởi thân, cùng những pháp được ghi nhớ. Đó gọi là niệm thực.
Sao gọi là thức thực? Những gì được niệm tưởng bởi thức, được nhận biết bởi ý, từ Phạm thiên làm đầu cho đến trời Hữu tưởng, Vô tưởng, dùng thức làm thức ăn. Đó gọi là thức thực.
Này Tỳ-kheo, đó gọi là có bốn loại thức ăn này. Chúng sinh do bốn loại thức ăn này mà lưu chuyển trong sinh tử, từ đời này sang đời khác. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy xả ly bốn loại thức ăn này.
Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ.
______________
12. Nguyên Hán dịch: Cánh lạc thực更樂食. Được hiểu là những thứ tạo ra sự thoải mái cho xúc giác.
13. Nguyên Hán dịch: Cánh lạc更樂.

* Trang 541 *
device

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Có bốn loại biện tài14.Sao gọi là bốn? Đó là nghĩa biện, pháp biện, từ biện và ứng biện.
Sao gọi là nghĩa biện? Nghĩa biện là những điều nói ra của người này hay người kia, hoặc những điều nói ra từ trời, rồng, quỷ thần, đều có thể phân biệt ý nghĩa của chúng. Đó gọi là nghĩa biện.
Sao gọi là pháp biện? Mười hai bộ kinh mà Như Lai nói ra bao gồm: Khế kinh, Kỳ-dạ, Phúng tụng, Nhân duyên, Thọ ký, Thí dụ, Bổn sinh, Bổn sự, Tự thuyết, Phương đẳng, Hiệp tập, Vị tằng hữu, cùng các pháp hữu vi, pháp vô vi, pháp hữu lậu, pháp vô lậu, các pháp ấy thật không thể biến hoại, được tổng trì. Đó gọi là pháp biện.
Sao gọi là từ biện15? Như ở trước chúng sinh, lời nói dài hay ngắn16, lời nói nam hay nữ17, lời Phật, lời Phạm chí, Thiên long, Quỷ thần; nhừng lời được nói bởi A-tu-luân, Ca-lưu-la, Chân-đà-la nói cho họ18; tùy theo căn nguyên của họ mà vì họ thuyết pháp. Đó gọi là từ biện.
Sao gọi là ứng biện? Trong lúc thuyết pháp không có khiếp nhược, không có sợ hãi, hay khiến cho chúng bốn bộ hòa vui. Đó gọi là ứng biện.
_____________
14. Tứ biện四辯. Xem trên, kinh số 9 phẩm 26: Bốn Biện tài. Cf. Câu-xá 27 (T29n1558, tr. 142a22): bốn Vô ngại giải (Skt. Catasra# pratisaṃvida#), 1. Pháp vô ngại giải法無礙解(dharma-pratisaṃvid); 2. Nghĩa vô ngại giải義無礙解 (artha-p.); 3. Từ vô ngại giải詞無礙解 (nirukti-p.); 4. Biện vô ngại giải辯無礙解 (pratibhàna-p.).
15. Từ biện: Từ nguyên luận hay ngữ pháp luận. Cf. Pàli, Vin. ii. 139: có hai Tỳ-kheo, Yameơu và Tekula, chê nhiều Tỳ-kheo thuộc giai cấp thấp, đọc sai lời Phật về mặt ngữ pháp (te sakāya niruttiyā buddha-vacanaṃ dūsenti), họ không phân biệt đọc âm dài, âm ngắn, giống đực, giống cái, nên muốn chuẩn hóa lời Phật theo đúng ngữ pháp cho các Tỳ-kheo. Nhưng Phật không cho phép.
16. Hán: Trường đoản chi ngữ長短之語; các từ ngữ có âm dài, âm ngắn.
17. Nam ngữ, nữ nữ男語女語: Danh từ giống đực, giống cái.
18. Chỉ ngữ pháp khác nhau giữa các chủng loại, các địa phương, và giai cấp.

* Trang 542 *
device

Nay Ta sẽ bảo các ông, phải như ông Ma-ha Câu-hy-la19.Vì sao? Vì Câu-hy-la có đủ bốn biện tài này, hay vì bốn bộ chúng mà rộng phân biệt giảng nói. Như hôm nay, Ta thấy trong các chúng, được bốn biện tài không có ai hơn được Câu-hy-la, như Như Lai có được bốn biện tài này. Này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện thành tự bốn biện tài này.
Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 6
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ.
Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Có bốn sự trọn không thể nghĩ bàn. Sao gọi là bốn?
1.Chúng sinh không thể nghĩ bàn.
2.Thế giới không thể nghĩ bàn.
3.Quốc độ của loài rồng không thể nghĩ bàn.
4.Cảnh giới Phật không thể nghĩ bàn.20 Vì sao? Vì không do nơi này đưa đến tận diệt Niết-bàn.
_____________
19. Ma-ha Câu-hy-la摩訶拘絺羅. Pàli: Mahà-Koṭṭhika, được Phật khen là đệ nhất vô ngại giải (paṭisambhidāpattānaṃ, A.i. 24). Xem trên, kinh số 3 phẩm4.
20. Cf. A IV 77 Acinteyyasutta (R. ii. 80), bốn điều không thể nghĩ bàn (acinteyyāni):
1. Cảnh giới Phật của chư Phật (Buddhānaṃ buddhavisayo).
2. Cảnh giới thiền của những người tu thiền (Jhāyissa jhānavisayo).
3. Dị thục của nghiệp (Kammavipāko).
4.Tư duy về thế giới (Lokacintā).

* Trang 543 *
device

Vì sao chúng sinh không thể nghĩ bàn? Các chúng sinh này từ đâu đến? Đi về đâu? Lại từ đâu sinh khởi? Chết ở đây đây sẽ sinh về đâu? Chúng sinh không thể nghĩ bàn là như vậy.
Vì sao thế giới không thể nghĩ bàn? Những người có tà kiến hoặc cho rằng thế giới đoạn diệt, thế giới chẳng đoạn diệt; thế giới hữu biên, thế giới vô biên; mạng tức là thân, mạng chẳng phải là thân; thế giới này do Phạm thiên tạo ra, hay các đại quỷ thần tạo ra?
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Phạm thiên tạo nhân dân
Quỷ thần tạo thế gian
Hay thế gian tạo ra quỷ
Lời này ai sẽ định?
Bị dục sân trói buộc
Cả ba đều đồng đẳng
Tâm không được tự tại
Thế tục có tai biến.
Này Tỳ-kheo, thế gian không thể nghĩ bàn là như vậy.
Vì sao cảnh giới rồng không thể nghĩ bàn? Mưa này là từ miệng rồng phun ra hay sao? Vì sao? Vì những hạt nước mưa chẳng phải từ miệng rồng phun ra vậy. Vậy thì từ mắt, tai, mũi của rồng mà ra chăng? Điều này cũng không thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì hạt nước mưa không phải là từ mắt, tai, mũi của rồng phun ra mà chỉ là những gì được niệm tưởng trong ý rồng. Nếu niệm ác, cũng mưa; hay niệm thiện, cũng mưa. Do bản hành mà tạo mưa này. Sở dĩ như vậy, nay trong bụng núi Tu-di lại có trời tên là Đại Lực, biết được những ý nghĩ của tâm chúng sinh, cũng có thể tạo mưa. Nhưng mưa không ra từ miệng trời kia, hay ra từ mắt, tai, mũi mà đều do trời kia có thần lực nên có thể làm mưa. Cũng vậy, Tỳ-kheo, cảnh giới rồng không thể nghĩ bàn.
Vì sao cảnh giới Phật quốc không thể nghĩ bàn? Thân Như Lai là do cha mẹ tạo ra chăng? Điều này cũng không thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì thân Như Lai hấp thụ các khí trời, thanh tịnh không cấu uế.

* Trang 544 *
device

Là do người tạo ra chăng? Điều này cũng không thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì vượt qua hành động con người. Thân Như Lai là thân trời21 chăng? Điều này cũng không thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì thân Như Lai không thể tạo tác, chẳng phải chỗ chư Thiên với tới. Thọ mạng Như Lai là ngắn chăng? Điều này cũng không thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì Như Lai có bốn Thần túc. Như Lai là trường thọ chăng? Điều này cũng không thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì Như Lai xoay vần cùng khắp thế gian, cùng tương ưng với các phương tiện thiện xảo, nên thân của Như Lai không thể suy lường, không thể nói cao nói thấp, âm thanh cũng không thể định chuẩn Phạm âm Như Lai. Trí tuệ biện tài của Như Lai không thể nghĩ bàn, chẳng phải là chỗ nhân dân sánh bằng. Cảnh giới của Phật không thể nghĩ bàn như vậy.
Như vậy, Tỳ-kheo, có bốn trường hợp này không thể nghĩ bàn, chẳng phải là chỗ người thường nghĩ bàn. Nhưng bốn sự này không có gốc rễ thiện, cũng chẳng do đây mà được tu phạm hạnh, không đưa đến được chốn nghỉ ngơi22, cho đến không đạt đến chỗ Niết-bàn. Chỉ khiến người tâm cuồng mê, ý thác loạn, khởi các nghi kết. Vì sao?
Các Tỳ-kheo nên biết, thuở quá khứ lâu xa, trong thành Xá-vệ này có một người bình thường suy nghĩ như vầy: “Nay ta phải tư duy về thế giới.” Rồi người kia ra khỏi thành Xá-vệ, ở cạnh một hồ sen, ngồi kiết già tư duy về thế giới: “Thế giới này thành thế nào? Hoại thế nào? Ai tạo thế giới này? Chúng sinh này từ đâu đến? Từ đâu xuất hiện? Sinh lúc nào?’ Khi người kia đang trầm tư, ngay lúc đó thấy trong ao nước có bốn binh chủng ra vào, nó tự nghĩ: “Nay ta tâm cuồng mê, ý thác loạn, thế gian là không mà nay ta thấy nó.” Người kia bèn trở vào thành Xá-vệ, ở trong một ngõ tắt nói rằng: “Các Hiền giả nên biết, thế giới là không mà nay tôi thấy nó.”
________________
21. Để bản: Đại thân大身.
22. Hưu tức xứ休息處, đoạn sau, Hán dịch là phục tức休息(xem kinh số 9 phẩm 31); cũng dịch là tô tức xứ tô tức蘇息, sự phục hồi hơi thở bình thường; chỉ trạng thái an ổn của A-la-hán. Pàli: Assānīya-dhamma.

* Trang 545 *
device

Bấy giờ số đông người hỏi người kia: “Thế giới là không, nay ông thấy nó, là thế nào?” Người kia trả lời mọi người: “Vừa qua, để tư duy rằng thế giới sinh từ đâu, tôi ra khỏi thành Xá-vệ, ở bên ao sen, trầm tư rằng thế giới từ đâu đến? Ai tạo ra thế giới này? Các loài chúng sinh này từ đâu đến? Do ai đã sinh ra? Khi mệnh chung, sẽ sinh về chỗ nào? Lúc tôi đang suy nghĩ, ngay lúc đó tôi thấy trong ao nước có bốn binh chủng ra vào. Thế giới là không mà nay ta thấy nó.”
Khi ấy, mọi người bảo người kia: “Như ông thì thật cuồng ngu. Trong ao nước nào có được bốn binh chủng. Những người cuồng mê trong thế gian, ông là tối thượng.”
Cho nên, này các Tỳ-kheo, Ta đã từng quán sát nghĩa này rồi cho nên bảo các ông vậy. Vì sao? Vì đây chẳng là công đức của gốc thiện, không khiến tu phạm hạnh được, cũng lại dẫn đến được Niết-bàn xứ. Nhưng suy gẫm điều này, thời khiến con người tâm cuồng, ý thác loạn. Song, các Tỳ-kheo nên biết, người kia thật đã thấy bốn binh chủng. Vì sao? Vì xưa kia chư Thiên và A-tu-la đánh nhau. Lúc đang đánh nhau, chư Thiên đắc thắng, A-tu-la thua trận. Khi ấy A-tu-la cảm thấy lo sợ, nên hóa thân cực nhỏ chui vào lỗ ngó sen, mắt Phật mới thấy được, ngoài ra chẳng có ai khác thấy đến.
Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tư duy về bốn Đế. Vì sao? Vì bốn Đế này có nghĩa, có lý, khiến tu phạm hạnh được, hành pháp Sa-môn, đến được Niết-bàn. Vì vậy, các Tỳ-kheo, hãy xả ly các pháp của thế gian này, nên tìm cầu phương tiện tư duy bốn Đế.
Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.
Sau khi các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

* Trang 546 *
device

KINH SỐ 7
Nghe như vầy,
Một thời, Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Có bốn thứ thần túc23.Sao gọi là bốn? Đó là:
1.Tự tại Tam-muội hành tận thần túc.
2.Tâm Tam-muội hành tận thần túc.
3.Tinh tấn Tam-muội hành tận thần túc.
4.Giới Tam-muội hạnh tận thần túc.
Sao gọi là Tự tại Tam-muội hành tận thần túc24? Nghĩa là những ai có Tam-muội mà tự tại đối với những gì ý muốn, tâm ưa thích, khiến thân thể nhẹ nhàng, có thể ẩn thân cực nhỏ. Đó gọi là Thần túc thứ nhất.
Sao gọi là Tâm Tam-muội hành tận thần túc25? Nghĩa là tâm biết pháp phổ biến khắp mười phương, vách đá đều vượt qua không gì trở ngại. Đó gọi là Tâm Tam-muội hành tận thần túc.
Sao gọi là Tinh tấn Tam-muội hành tận thần túc26? Nghĩa là Tam-muội này không có lười mỏi, cũng không sợ hãi, có ý dũng mãnh. Đó gọi là Tinh tấn Tam-muội hành tận thần túc.
______________
23. Bốn thần túc四神足. Cf. Trường 8 (T1n1, tr. 50c17): Tư duy dục định diệt hành thành tựu思惟欲定滅行成就; tinh tấn định精進定; ý định意定; tư duy định思惟定. Pháp uẩn 4 (T26n1537, tr. 471c13).
24. Tự tại Tam-muội hành tận thần túc自在三昧行盡神足. Pháp Uẩn, ibid.: Dục Tam-ma-địa thắng hành thành tựu thần túc欲三摩地勝行成就神足. Pàli, D 33 Saṅgīti (R. iii. 221): Chandasamādhipadhāna.
25. Tâm Tam-muội hành tận thần túc心三昧行盡神足. Pháp Uẩn, ibid.: Tâm Tam-ma-địa thắng hành thành tựu thần túc心三摩地勝行成就神足. Pàli, ibid., Cittasamādhipadhānasaṅkhārasamannā-gataṃ iddhi-pādaṃ bhāveti.
26. Tinh tấn Tam-muội hành tận thần túc精進三昧行盡神足. Pháp Uẩn, ibid.: Cần Tam-ma-địa thắng hành thành tựu thần túc勤三摩地勝行成就神足. Pàli, ibid., 3.Vīriyasamādhi-padhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti.

* Trang 547 *
device

Sao gọi là Giới Tam-muội hành tận thần túc27? Những ai có Tam-muội này biết những ý nghĩ trong tâm chúng sinh, lúc sinh lúc diệt, thảy đều biết cả; có tâm dục hay không có tâm dục, có tâm sân nhuế hay không có tâm sân nhuế, có tâm ngu si hay không có tâm ngu si, có tâm ganh ghét hay không có tâm ganh ghét, có tâm loạn hay không tâm loạn, có tâm hẹp hòi hay không có tâm hẹp hòi, có tâm rộng lớn hay không có tâm rộng lớn, có tâm hạn lượng hay không tâm hạn lượng, có tâm định hay không tâm định, có tâm giải thoát hay không tâm giải thoát, tất cả đều biết rõ. Đó gọi là Giới Tam-muội hạnh tận thần túc.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, có bốn loại thần túc, nếu muốn biết những ý nghĩ trong tâm của tất cả chúng sinh, hãy tu hành bốn Thần túc này.
Các Tỳ-kheo hãy học những điều này như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 8
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Có bốn pháp sinh khởi ái28.Khi Tỳ-kheo sinh khởi ái, nó liền khởi. Sao gọi là bốn?
1.Tỳ-kheo do duyên y phục nên có ái sinh khởi.
_________________
27. Giới Tam-muội hành tận thần túc誡三昧行盡神足. Pháp Uẩn, ibid.: Quán Tam-ma-địa thắng hành thành tựu thần túc觀三摩地勝行成就神足. Pàli, ibid., Vīmaṃsāsamādhipadhāna-saṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti.
28. Bốn pháp ái khởi四起愛之法. Cf. Pàli, A IV Taṇhuppādasutta (R. ii. 10).

* Trang 548 *
device

2.Do khất thực nên có ái sinh khởi.
3.Do chỗ nằm ngồi nên có ái sinh khởi.
4.Do thuốc men nên có ái sinh khởi.
Này Tỳ-kheo, đó gọi là có bốn pháp này sinh khởi ái, có chỗ nhiễm đắm.
Nếu trong đây có Tỳ-kheo nào đắm trước y phục, Ta không nói người này. Vì sao? Vì khi chưa được y, người ấy liền khởi sân nhuế, khởi tưởng niệm đắm trước.
Ở đó có Tỳ-kheo nào đắm trước thức ăn, Ta cũng không nói người này. Vì sao? Vì khi chưa khất thực được, người ấy liền khởi sân nhuế, khởi tưởng niệm đắm trước.
Ở đó có Tỳ-kheo nào đắm trước chỗ nằm ngồi, Ta cũng không nói người này. Vì sao? Vì khi chưa được giường chiếu, người ấy liền khởi sân nhuế, khởi tưởng niệm đắm trước.
Ở đó có Tỳ-kheo nào đắm trước thuốc men, Ta cũng không người này. Vì sao? Vì khi chưa được thuốc men, người ấy liền khởi sân nhuế, khởi tưởng niệm đắm trước.
Tỳ-kheo nên biết, nay Ta sẽ nói hai việc về y phục: Đáng thân cận và không nên thân cận.
Sao gọi là đáng thân cận? Sao gọi là không nên thân? Nếu khi được y phục, vì quá ái trước y phục nên khởi pháp bất thiện; đây không nên thân cận. Nếu khi được y phục mà khởi thiện pháp, tâm không ái trước; đây nên thân cận. Nếu khi khất thực mà khởi pháp bất thiện; đây không nên thân cận. Nếu lúc khất thực khởi pháp thiện; đây nên thân cận. Nếu được giường nằm, chỗ ngồi, mà khởi pháp bất thiện; đây không nên thân cận. Nếu được giường nằm, chỗ ngồi, mà khởi pháp thiện; đây cũng nên thân cận. Đối với thuốc men cũng như vậy. Cho nên, này các Tỳ-kheo, nên thân cận pháp thiện, trừ bỏ pháp ác.
Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy, để cho muốn khiến đàn-việt thí chủ kia được công đức, hưởng phước vô cùng, được cam lồ tịch diệt.
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:

* Trang 549 *
device

Y phục để bố thí
Thức ăn, chỗ nằm ngồi
Trong đó chớ khởi ái
Chẳng sinh các thế giới.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 9
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Nay có bốn con sông lớn nước từ suối A-nậu-đạt chảy ra29.Những gì là bốn? Đó là:
Hằng-già30, Tân-đầu31, Bà-xoa32 và Tư-đà33.
Nước Hằng-già kia phát nguyên từ cửa khẩu Ngưu đầu34, chảy về hướng Đông.
Sông Tân-đầu phát nguyên từ cửa khẩu Sư tử35, chảy về hướng Nam.
Sông Tư-đà phát nguyên từ cửa Tượng khẩu36, chảy về hướng Tây.
______________
29. Xem Trường 18, kinh Thế Ký, phẩm Diêm-phù-đề.
30. Hằng-già恒伽. Skt. Gaṅgā.
31. Tân-đầu新頭. Skt. Shintu (Pāli: Shindu).
32. Bà-xoa婆叉. Skt. Vakwu.
33. Tư-đà私陀. Skt. Sitā.
34. Ngưu đầu khẩu牛頭口. Pàli: Usabhamukha.
35. Sư tử khẩu師子口. Pàli: Sīhamukha.
36. Tượng khẩu象口. Pàli: Hatthimukha.

* Trang 550 *
device

Sông Bà-xoa phát nguyên từ cửa Mã khẩu37, chảy về hướng Bắc.
Bấy giờ nước của bốn con sông lớn sau khi chảy quanh suối A-nậu-đạt, rồi sông Hằng-già chảy vào biển Đông, sông Tần-đầu chảy vào biển Nam, sông Bà-xoa chảy vào biển Tây, sông Tư-đà chảy vào biển Bắc. Sau khi bốn con sông lớn này chảy vào biển rồi, không còn tên gọi trước nữa mà chỉ gọi chung là biển.
Ở đây cũng vậy, có bốn chủng tánh. Bốn chủng tánh ấy là gì? Đó là Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Trưởng giả và Cư SĨ. Ở chỗ Như Lai, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia học đạo thì không còn dòng họ cũ nữa mà chỉ gọi là Sa-môn đệ tử Thích-ca. Vì sao? Vì chúng Như Lai cũng như biển lớn, bốn Đế cũng như bốn sông lớn, diệt trừ kết sử khiến vào thành Niết-bàn vô úy. Cho nên, này các Tỳ-kheo, những ai trong bốn chủng tộc, cạo bỏ râu tóc, với lòng tin kiên cố, xuất gia học đạo, họ sẽ diệt tên họ trước kia, tự gọi là đệ tử Thích-ca. Vì sao? Vì nay Ta chính là con của họ Thích-ca, từ dòng họ Thích xuất gia, học đạo.
Các Tỳ-kheo nên biết, muốn nói về ý nghĩa của con đẻ, phải gọi là Sa-môn con nhà họ Thích. Vì sao? Vì sinh đều từ Ta sinh ra, từ pháp mà khởi, từ pháp mà thành. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện để được làm con nhà họ Thích.
Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 10
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-
______________
37. Mã khẩu馬口. Pàli: Asamukha.

* Trang 551 *
device

vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Có bốn loại tâm. Sao gọi là bốn? Đó là Từ, Bi, Hỷ, Xả38.Vì sao được gọi là Phạm đường39?
Các Tỳ-kheo nên biết, có Phạm, Đại phạm tên là Thiên40, không ai ngang bằng, không có ai trên hơn, thống lãnh ngàn quốc giới, cung điện nơi đây gọi là Phạm đường.
Tỳ-kheo, thế lực mà bốn Phạm đường này có được, là có thể quan sát hàng ngàn quốc giới này, cho nên được gọi là Phạm đường. Cho nên, này các Tỳ-kheo, nếu có Tỳ-kheo nào muốn vượt qua các trời Dục giới mà lên địa vị vô dục, bốn bộ chúng kia nên tìm cầu phương tiện thành tựu bốn Phạm đường này.
Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
_________________
38. Để bản: Hộ.
39. Phạm đường梵堂.  Thường nói là Phạm trú. Pàli: Brahmavihàra.
40. Thiên千. Pàli: Sahampati (Skt. Sahàmpati), Chúa của thế giới Saha (Skt. Sahà-loka: Thế giới Ta-bà hay Sa-bà); cũng thường gọi là thế giới chủ, ở đây, Hán dịch hiểu Sahà (Skt.) là sahazra (Pàli: Sahasa): Số một ngàn.

* Trang 552 *
device

 
Đại Tập 8 - Bộ A-Hàm VIII - Kinh Tạp A-Hàm Số 125 (Q1->30)