LOGO VNBET
KINH TĂNG NHẤT A-HÀM
QUYỂN 9

Phẩm 18: TÀM QUÝ


KINH SỐ 1 1
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Có hai pháp tinh diệu2 thủ hộ thế gian. Thế nào là hai pháp? Có tàm, có quý3.Này các Tỳ-kheo! Nếu không có hai pháp này, thì thế gian sẽ không phân biệt có cha, có mẹ, có anh, có em, vợ con, tri thức, tôn trưởng, lớn nhỏ; sẽ cùng với lục súc heo, gà, chó, ngựa, dê… cùng một loại. Vì thế gian có hai pháp này thủ hộ, nên thế gian phân biệt có cha mẹ, anh em, vợ con, tôn trưởng, lớn nhỏ và cũng không cùng đồng loại với lục súc.
Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy học tập có tàm, có quý. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
__________________
1. Tương đương Pàli, A. ii. 1.9 Hirottapa (R i. 51 ).
2. Hán: Diệu pháp. Pàli, ibid.: Dhammà sukkà, hai pháp tinh trắng.
3. Hữu tàm hữu quý有慚有愧. Pàli: Hirì ca ottapañca.

* Trang 212 *
device

KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Thế gian có hai hạng người vì không biết chán, đủ, nên nhận lấy cái chết. Hai hạng người ấy là gì? Người được tài vật luôn cất giấu và người có được tài vật lại thích cho người. Đó gọi là hai hạng người không biết chán đủ, nên nhận lấy cái chết4.
Bấy giờ, có Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
–Bạch Thế Tôn! Chúng con không hiểu nghĩa tóm lược này. Thế nào là được vật luôn cất giấu? Thế nào là được vật thích cho người? Nguyện xin Thế Tôn giảng rộng nghĩa này.
Thế Tôn bảo:
–Hãy lắng nghe, lắng nghe, suy nghĩ kỹ! Ta sẽ phân biệt nghĩa này cho các ông.
Thưa:
–Kính vâng.
Bấy giờ Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Ở đây có người thiện gia nam tử học các kỹ thuật, hoặc tập làm ruộng, hoặc tập thư sớ, hoặc tập kế toán, hoặc tập thiên văn, hoặc tập địa lý, hoặc tập bói tướng, hoặc học làm sứ giả phương xa, hoặc làm thần tá vua, không tránh nóng lạnh, đói rét, cần khổ mà tự mưu sống cho mình. Người ấy làm mọi công sức như vậy mà được tài vật, nhưng người kia không thể dám ăn tiêu, cũng không cấp cho vợ con, cũng không cho nô tỳ, hay những bà con quyến thuộc; tất cả đều không cho. Những tài vật có được ấy, hoặc bị vua tước đoạt, hoặc bị giặc trộm, hoặc bị lửa thiêu, nước cuốn, phân tán chỗ khác, lợi kia không được hưởng; hoặc ngay trong nhà có người phân tán vật này,
__________________
4. Có sự nhầm lẫn trong Hán dịch.

* Trang 213 *
device

không cho để yên một chỗ. Này Tỳ-kheo, đó gọi là được tài luôn cất giấu. Kia, sao gọi là được tài vật đem phân cho? Có người thiện gia nam tử học các kỹ thuật, hoặc tập làm ruộng, hoặc tập thư sớ, hoặc tập kế toán, hoặc tập thiên văn, hoặc tập địa lý, hoặc tập bói tướng, hoặc học sứ phương xa, hoặc làm thần tá vua, không tránh nóng lạnh, đói rét, cần khổ mà tự mưu sống cho mình. Người ấy làm mọi công sức như vậy mà được tài vật, nhưng người kia đem bố thí cho chúng sinh, phụng dưỡng cho cha mẹ, nô tỳ, vợ con, cũng chu cấp rộng rãi cho Sa-môn, Bà-la-môn, tạo ra các thứ công đức, gieo trồng phước cõi trời. Này Tỳ-kheo, đó gọi là được tài mà đem bố thí.
Này Tỳ-kheo, đó gọi là hai hạng người không biết chán đủ. Như người thứ nhất, có được tài vật mà cất giấu, các ông nên nghĩ tưởng tránh xa. Người thứ hai, có được mà đem bố thí rộng rãi, hãy học nghiệp này. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 35
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Hãy thường xuyên tập thí pháp, chớ nên tập thí thực6.Vì sao?
____________________
5. Pàli tương đương, M 3 Dhammadàyàda (R i. 12); Hán: Trung 22 (T1n26, tr. 569c23).
6. Pháp thí法施, thực thí食施. Hán dịch không chỉnh ý. Xem nội dung dưới đây sẽ rõ. Pàli, ibid.: Dhammadàyàdà me, bhikkhave, bhavatha, mà àmisadàyàdà, này các Tỳ-kheo, hãy là kẻ thừa tự pháp của ta, chứ đừng là kẻ thừa tự tài vật của ta.

* Trang 214 *
device

Các ông đã có được phước báo, nên khiến đệ tử của ta cung kính pháp, không tham lợi dưỡng. Nếu người nào tham lợi dưỡng, người đó có lỗi lớn đối Như Lai. Vì sao? Vì chúng sinh không phân biệt được pháp, nên hủy báng lời dạy Thế Tôn7.Đã hủy báng lời dạy Thế Tôn, sau đó không còn đến được đạo Niết-bàn. Ta rất lấy làm xấu hổ. Vì sao? Vì đệ tử của Như Lai tham đắm lợi dưỡng, không thực hành nơi pháp, không phân biệt pháp, hủy báng lời dạy Thế Tôn, không thuận chánh pháp. Đã hủy báng lời dạy Thế Tôn, sẽ không còn đến được đạo Niết-bàn.
Này Tỳ-kheo, các ông nên nghĩ đến thí pháp, đừng tư duy đến thí dục8, rồi các ông được danh thơm vang khắp bốn phương. Cung kính pháp, không tham tài vật, Ta sẽ không lấy làm xấu hổ. Vì sao? Vì đệ tử của Như Lai chỉ thích thí pháp, không ham nghĩ thí dục.
Cho nên các Tỳ-kheo, nên nghĩ thí pháp, chớ học thí tài. Tỳ-kheo các ông, Ta nói nghĩa này, vì nhân nghĩa gì mà nói duyên này?
Bấy giờ các Tỳ-kheo, bạch Thế Tôn:
–Nguyện xin Thế Tôn, phân biệt chi tiết.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Xưa kia, có một người thỉnh Ta cúng dường. Rồi bấy giờ Ta có thức ăn dư tàn 9, có thể vất bỏ. Có hai Tỳ-kheo từ phương xa lại, thân thể mệt mỏi, nhan sắc biến đổi. Bấy giờ Ta bảo hai Tỳ-kheo kia những lời như vầy: “Có thức ăn dư tàn có thể vất bỏ, nếu các ông thấy cần thì có thể lấy mà dùng.”
Lúc ấy, một Tỳ-kheo liền tự nghĩ: “Hôm nay Thế Tôn có thức ăn dư tàn có thể vất bỏ. Ai thấy cần thì có thể lấy. Nếu chúng ta không lấy ăn, thì thức ăn này sẽ đem bỏ nơi đất sạch hay trút vào trong nước. Vậy, nay chúng ta nên lấy thức ăn này để lấp đầy vào
_________________
7. Tham chiếu Pàli, ibid., bị chỉ trích: Thầy trò chỉ là những kẻ thừa tự tài vật (àmisadàyàdà satthusàvakà viharanti).
8. Hán: Dục thí; được hiểu là bố thí vật dục tức vật chất.
9. Hán: Di dư pháp遺餘法; đây chỉ đồ ăn còn dư thừa. Pàli, ibid.: (piṇḍapàto) atirekadhammo, đồ ăn khất thực (thuộc loại, pháp) còn dư tàn.

* Trang 215 *
device

chỗ đói thiếu, tăng thêm khí lực.”
Bấy giờ, Tỳ-kheo kia lại học điều này: “Phật cũng đã từng dạy: ‘Nên hành thí pháp, chớ nghĩ đến thí dục. Vì sao? Vì cao nhất trong bố thí không gì hơn thí tài, nhưng thí pháp ở trong đó được tôn trọng nhất.’ Nay ta cam chịu suốt ngày không ăn, ngõ hầu để được tự cứu, không cần nhận phước tín thí kia.” Lúc ấy Tỳ-kheo kia liền tự dừng ý nghĩ và không lấy vật thí kia, thân thể mệt mỏi, không cần để ý đến mạng sống.
Trong khi ấy, Tỳ-kheo thứ hai lại tự nghĩ: “Thế Tôn có thức ăn dư tàn đáng bị vất bỏ. Nếu chúng ta không lấy ăn, sẽ mệt mỏi. Nay nên lấy thức ăn này để lấp đầy vào chỗ đói thiếu, tăng them khí lực, ngày đêm an ổn.” Bấy giờ, Tỳ-kheo kia liền lấy ăn, khí lực sung mãn, ngày đêm an ổn.
Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Tuy Tỳ-kheo kia đã nhận lấy đồ cúng dường kia, đã trừ bỏ được cái thiếu đói, khí lực sung mãn, nhưng không như Tỳ-kheo trước là đáng kính, đáng quý, rất đáng được tôn trọng. Tỳ-kheo ấy lâu dài tiếng khen được đồn xa, đối y theo luật mà biết đủ, dễ thỏa mãn. Này các Tỳ-kheo, hãy học thí pháp, chớ học nghĩ đến thí dục. Những điều được Ta nói trước đó là do nhân duyên này.
Sau khi Thế Tôn nói những lời này xong, rời chỗ ngồi đứng dậy ra về. Lúc ấy, các Tỳ-kheo lại tự nghĩ: “Thế Tôn vừa rồi chỉ nói tóm lược điều cốt yếu, chứ không nói rộng rãi, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, im lặng vào thất. Hiện tại trong chúng này, ai có khả năng kham nhậm đối với nghĩa sơ lược này mà diễn giải rộng nghĩa của chúng?”
Bấy giờ, số đông các Tỳ-kheo lại nghĩ: “Hiện nay Tôn giả Xá-lợi-phất được Thế Tôn khen ngợi. Chúng ta hãy cùng nhau đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất.” Rồi các Tỳ-kheo liền đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, vái chào nhau, ngồi qua một bên. Sau khi ngồi qua một bên rồi, các Tỳ-kheo đem những điều đã nghe được từ Thế Tôn trình lại hết cho Tôn giả Xá-lợi-phất.
Lúc ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất bảo các Tỳ-kheo:
–Thế nào là đệ tử Thế Tôn tham đắm lợi dưỡng không tu hành

* Trang 216 *
device

pháp? Thế nào là đệ tử Thế Tôn ham tu hành pháp không tham lợi dưỡng?
Lúc đó, các Tỳ-kheo thưa Xá-lợi-phất:
–Chúng tôi là những người từ xa đến, xin hỏi nghĩa này để tu hành. Tôn giả Xá-lợi-phất có khả năng xin diễn rộng nghĩa này cho chúng tôi.
Tôn giả Xá-lợi-phất bảo:
–Hãy lắng nghe, lắng nghe, suy nghĩ kỹ, tôi sẽ diễn rộng nghĩa này cho các vị.
Lúc ấy các Tỳ-kheo thưa:
–Xin vâng.
Xá-lợi-phất bảo:
–Cái học của đệ tử Thế Tôn là tịch tĩnh, niệm an tĩnh, nhưng đệ tử Thanh văn không học như vậy10.Thế Tôn tuôn ra giáo pháp, những điều phải diệt, mà các Tỳ-kheo đối với các pháp đó lười biếng không chịu diệt, lại khởi lên các loạn tưởng; những điều đáng làm mà không chịu làm, những điều không nên làm, thì liền tu hành.
Bấy giờ, này chư Hiền, Tỳ-kheo trưởng lão liền có ba trường hợp đáng hổ thẹn. Thế nào là ba? Thế Tôn thường ưa nơi tịch tĩnh11 nhưng các Thanh văn không học điều này, nên Tỳ-kheo trưởng lão liền có sự hổ thẹn. Thế Tôn dạy, các vị hãy diệt pháp này, nhưng Tỳ-kheo lại không diệt pháp này, nên Tỳ-kheo trưởng lão liền có sự hổ thẹn. Ở trong đó khởi lên niệm tưởng loạn, ý không chuyên nhất12, nên Tỳ-kheo trưởng lão liền có sự hổ thẹn.
Chư Hiền giả nên biết, Tỳ-kheo trung tọa có ba trường hợp đáng hổ thẹn. Thế nào là ba? Thế Tôn thường ưa nơi tịch tĩnh nhưng
___________________
10. Tham chiếu Pàli: Satthu pavivittassa viharato sàvakà vivekaṃ nànusikkhanti, Tôn sư sống viễn ly, nhưng các đệ tử không học theo hành viễn ly.
11. Tịch tĩnh xứ寂靜之處. Pàli: Viveka, viễn ly, đời sống ẩn dật.
12. Pàli: Họ sống sung túc (bahulikà), lười nhác (sàthlikà), dẫn đầu đọa lạc (okkame pubbaṅgamà), quăng bỏ hạnh viễn ly (paviveke nikkhittadhurà).

* Trang 217 *
device

các Thanh văn không học điều này, nên Tỳ-kheo trung tọa liền có sự hổ thẹn. Thế Tôn dạy, các vị hãy diệt pháp này, nhưng Tỳ-kheo lại không diệt pháp này, nên Tỳ-kheo trung tọa liền có sự hổ thẹn. Ở trong đó khởi lên niệm tưởng loạn, ý không chuyên nhất, nên Tỳ-kheo trung tọa liền có sự hổ thẹn.
Chư Hiền giả nên biết, Tỳ-kheo niên thiếu liền có ba trường hợp đáng hổ thẹn. Thế nào là ba? Đệ tử13 Thế Tôn thường ưa nơi tịch tĩnh nhưng các Thanh văn không học điều này, nên Tỳ-kheo niên thiếu liền có sự hổ thẹn. Thế Tôn dạy, các vị hãy diệt pháp này, nhưng Tỳ-kheo lại không diệt pháp này, nên Tỳ-kheo niên thiếu liền có sự hổ thẹn. Ở trong đó khởi lên niệm tưởng loạn, ý không chuyên nhất, nên Tỳ-kheo niên thiếu liền có sự hổ thẹn.
Này chư Hiền giả, đó gọi là tham đắm tài, không đắm pháp.
Các Tỳ-kheo thưa Xá-lợi-phất:
–Thế nào là Tỳ-kheo tham đắm pháp, không đắm tài?
Xá-lợi-phất nói:
–Này Tỳ-kheo, ở đây Như Lai ưa nơi tịch tĩnh, Thanh văn cũng học theo Như Lai mà ưa nơi tịch tĩnh. Thế Tôn dạy, các ông hãy nên diệt pháp này; các Tỳ-kheo liền diệt pháp này. Không lười biếng, không loạn, những điều đáng làm liền tu hành, những điều không đáng làm liền không làm.
Chư Hiền giả nên biết, Tỳ-kheo trưởng lão liền có ba trường hợp được tiếng khen. Thế nào là ba?
Thế Tôn ưa nơi tịch tĩnh, Thanh văn cũng thích nơi tịch tĩnh, nên Tỳ-kheo trưởng lão liền được tiếng khen. Thế Tôn dạy, các ông hãy diệt pháp này, bấy giờ Tỳ-kheo liền diệt pháp này, nên Tỳ-kheo trưởng lão liền được tiếng khen. Ở trong đó không khởi lên niệm tưởng loạn, ý thường chuyên nhất, nên Tỳ-kheo trưởng lão liền được tiếng khen.
Chư Hiền giả nên biết, Tỳ-kheo trung tọa liền có ba trường hợp được tiếng khen. Thế nào là ba?
________________
13. Đệ tử, nghi dư. Xem văn mạch các đoạn trên.

* Trang 218 *
device

Thế Tôn ưa nơi tịch tĩnh, Thanh văn cũng thích nơi tịch tĩnh, nên Tỳ-kheo trung tọa liền được tiếng khen. Thế Tôn dạy, các ông hãy diệt pháp này, bấy giờ Tỳ-kheo liền diệt pháp này, nên Tỳ-kheo trung tọa liền được tiếng khen. Ở trong đó không khởi lên niệm tưởng loạn, ý thường chuyên nhất, nên Tỳ-kheo trung tọa liền được tiếng khen.
Chư Hiền giả nên biết, Tỳ-kheo niên thiếu nên liền có ba trường hợp được tiếng khen. Thế nào là ba?
Ở đây, này Tỳ-kheo, Thế Tôn ưa nơi tịch tĩnh, Thanh văn cũng thích nơi tịch tĩnh, nên Tỳ-kheo niên thiếu liền được tiếng khen. Thế Tôn dạy, các ông hãy diệt pháp này, bấy giờ Tỳ-kheo liền diệt pháp này, nên Tỳ-kheo niên thiếu liền được tiếng khen. Ở trong đó không khởi lên niệm tưởng loạn, ý thường chuyên nhất, nên Tỳ-kheo niên thiếu liền được tiếng khen.
Chư Hiền giả nên biết, tham là bệnh, rất là đại tai hoạn. Sân nhuế cũng vậy. Ai diệt được tham dâm, sân nhuế, liền được trung đạo14, sinh nhãn, sinh trí, các trói buộc được dứt trừ, đến được Niết-bàn. Xan tham, tật đố là bệnh, cũng lại rất nặng, bị phiền não nấu nung. Kiêu mạn cũng sâu. Huyễn ngụy không chân thật, không tàm, không quý, không thể lìa bỏ dâm dục, bại hoại chánh chân; mạn, tăng thượng mạn cũng không bỏ. Nếu hai mạn này diệt, liền được ở vào trung đạo, sinh nhãn, sinh trí, các trói buộc được dứt trừ, đến được Niết-bàn.
Tỳ-kheo thưa:
–Tôn giả Xá-lợi-phất! Thế nào là ở trung đạo, sinh nhãn, sinh trí, các trói buộc được dứt trừ, đến được Niết-bàn?
Xá-lợi-phất nói:
–Chư Hiền giả nên biết, đó là tám đạo phẩm của Hiền thánh: Chánh kiến, chánh trị, chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh Tam-muội. Đó gọi là ở trung đạo, sinh nhãn, sinh trí, các trói buộc được dứt trừ, đến được Niết-bàn.
__________________
14. Đắc xứ trung chi đạo. Pàli: Atthi majjhimà paṭipadà.

* Trang 219 *
device

Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Tôn giả Xá-lợi-phất nói, hoan hỷ phụng hành.
 ***
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở tại vườn trúc Ca-lan-đà, thành La-duyệt, cùng với năm trăm vị đại Tỳ-kheo.
Bấy giờ đã đến giờ Thế Tôn đắp y cầm bát vào thành La-duyệt khất thực tại một ngõ hẻm. Lúc ấy tại ngõ hẻm kia có vợ một Phạm chí muốn đãi cơm Bà-la-môn, bèn ra ngoài cửa. Từ xa, bà trông thấy Thế Tôn, liền đến chỗ Thế Tôn, hỏi Thế Tôn rằng:
–Ngài có thấy Bà-la-môn không?
Bấy giờ Tôn giả Đại Ca-diếp đã có mặt trước nơi đó. Thế Tôn liền đưa tay chỉ, bảo rằng:
–Đó là Bà-la-môn.
Lúc ấy vợ Bà-la-môn nhìn chăm chăm vào mặt Như Lai, im lặng không nói.
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Người không dục, không nhuế
Xả ngu, không có si
Lậu tận A-la-hán
Đó gọi là Phạm chí.
Người không dục không nhuế
Bỏ ngu, không có si
Do bỏ tụ kết sử
Đó gọi là Phạm chí.
Người không dục, không nhuế
Xả ngu, không có si
Do đoạn mạn tôi, ta
Đó gọi là Phạm chí.

* Trang 220 *
device

Nếu ai muốn biết pháp
Những gì Tam-phật15 nói
Chí thành tự quy y
Tối tôn không gì hơn.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo Tôn giả Đại Ca-diếp:
–Ông có thể đến vợ Phạm chí, khiến thân hiện tại của bà thoát được tội cũ.
Ca-diếp vâng theo lời Phật, đi đến nhà vợ Phạm chí, ngồi vào chỗ ngồi. Lúc ấy vợ Bà-la-môn kia liền bày biện các thứ đồ ăn thức uống ngon bổ để cúng dường Ca-diếp.
Bấy giờ, Ca-diếp nhận đồ ăn thức uống, vì muốn độ người cho nên nói cho bà nghe bài kệ này:
Tế tự, lửa trên hết
Các thư, tụng hơn hết
Vua tôn quý giữa người
Các dòng, biển là nhất.
Các sao, trăng đứng đầu
Chiếu sáng, mặt trời trước
Bốn bên, trên và dưới
Ở các phương, cảnh vức,
Trời cùng người thế gian
Phật là bậc tối thượng
Ai muốn cầu phước kia
Nên quy y Tam-phật*.
Vợ Phạm chí sau khi nghe những lời dạy, vui mừng hớn hở không tự làm chủ được, đến trước Đại Ca-diếp bạch:
–Nguyện xin Phạm chí thường xuyên nhận lời mời của tôi đến thọ thực tại nhà này.
Lúc ấy, Đại Ca-diếp liền nhận lời mời thọ thực tại nơi đó. Vợ Bà-la-môn thấy Ca-diếp thọ thực xong, liền lấy một chiếc ghế thấp
__________________
15. Tam-phật-(đà)三佛. Tức Pàli: Sambuddha, Phật chánh giác.

* Trang 221 *
device

đặt ngồi trước Ca-diếp. Sau đó, Ca-diếp nói pháp vi diệu cho bà như luận về bố thí, trì giới, sinh Thiên, dục là bất tịnh, đoạn tận lậu là trên hết, xuất gia là thiết yếu.
Lúc này Tôn giả Đại Ca-diếp đã biết tâm ý của vợ Phạm chí kia đã được khai mở, lòng rất vui mừng. Khi Tôn giả Đại Ca-diếp nói cho vợ Phạm chí nghe pháp mà chư Phật thường nói là Khổ, Tập, Tận, Đạo, vợ Phạm chí liền ngay trên chỗ ngồi mà các trần cấu đều sạch hết, được Pháp nhãn tịnh. Giống như tấm lụa mới trắng tinh, không có bụi dơ, dễ bị nhuộm màu; vợ Phạm chí cũng như vậy, ngay ở trên chỗ ngồi mà được Pháp nhãn tịnh. Bà đã đắc pháp, thấy pháp, phân biệt pháp kia không còn hồ nghi, đã đắc vô úy, tự quy y ba ngôi Phật, Pháp, Thánh chúng và thọ trì năm giới. Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-diếp vì vợ Phạm chí thuyết pháp vi diệu lại lần nữa, rồi rời chỗ ngồi đứng dậy mà ra về.
Sau khi Ca-diếp đi chưa bao lâu, người chồng trở về đến nhà. Ông Bà-la-môn thấy nhan sắc vợ rất vui tươi, không còn như người thường. Bà-la-môn liền hỏi vợ mình. Người vợ đem nhân duyên này thuật lại đầy đủ cho chồng. Sau khi Bà-la-môn nghe những lời này xong, liền dẫn vợ mình cùng đến tinh xá, đến chỗ Thế Tôn. Bà-la-môn cùng Thế Tôn chào hỏi rồi ngồi qua một bên. Vợ Bà-la-môn đảnh lễ sát chân Thế Tôn rồi, cũng ngồi qua một bên. Bà-la-môn bạch Thế Tôn rằng:
–Vừa rồi có Bà-la-môn đã đến nhà tôi, hiện ở đâu?
Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-diếp hiện đang ngồi kiết già cách Thế Tôn không xa, chánh thân, chánh ý, đang tư duy pháp vi diệu.
Thế Tôn từ xa chỉ Đại Ca-diếp bảo:
–Đó là Tôn trưởng Bà-la-môn.
Bà-la-môn nói:
–Thế nào Cù-đàm! Sa-môn tức Bà-la-môn chăng? Sa-môn cùng Bà-la-môn há không khác chăng?
Thế Tôn bảo:
–Muốn nói Sa-môn thì chính thân Ta. Vì sao? Ta tức là Bà-la-môn. Những giới luật gì mà các Sa-môn phụng trì, Ta đều đã đắc.

* Trang 222 *
device

Vậy nay muốn luận về Bà-la-môn, thì cũng chính là thân Ta. Vì sao? Ta tức là Bà-la-môn. Các Bà-la-môn quá khứ, đã trì những pháp hạnh nào, Ta cũng đã biết hết.
Muốn luận về Sa-môn, thì chính là Đại Ca-diếp. Vì sao? Có những luật gì của các Sa-môn, Tỳ-kheo Ca-diếp đều bao gồm cả. Muốn luận về Bà-la-môn, thì cũng chính là Tỳ-kheo Ca-diếp. Vì sao? Có những cấm giới gì mà các Bà-la-môn phụng trì, Tỳ-kheo Ca-diếp đều biết rõ hết.
Bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ này:
Ta không nói Phạm chí
Người rành biết chú thuật
Nói rằng sinh Phạm thiên
Đây vẫn chưa lìa trói.
Không trói, không đường sinh
Hay thoát tất cả kết
Không còn nói phước trời
Tức Sa-môn Phạm chí.
Bấy giờ, Bà-la-môn bạch Thế Tôn:
–Nói kết phược, những gì gọi là kết?
Thế Tôn bảo:
–Dục ái là kết. Sân nhuế là kết. Ngu si là kết. Như Lai không dục ái này, vĩnh viễn đã diệt tận không còn. Sân nhuế, ngu si cũng lại như vậy. Như Lai không còn kết này.
Bà-la-môn thưa:
–Nguyện xin Thế Tôn thuyết pháp thâm diệu về sự không còn các kết phược này.
Bấy giờ, Thế Tôn lần lượt nói các đề tài vi diệu cho Bà-la-môn kia; đó luận về thí, luận về giới, luận về sinh Thiên; dục là bất tịnh, đoạn tận lậu là trên hết, xuất gia là thiết yếu.
Bấy giờ, Thế Tôn biết tâm ý Bà-la-môn kia đã khai mở, trong long rất vui mừng. Thế Tôn bèn nói cho Bà-lôn-môn pháp mà chư Phật thời xa xưa đã thuyết: Khổ, Tập, Tận, Đạo. Tức thì, Bà-la-

* Trang 223 *
device

môn ngay trên chỗ ngồi mà dứt sạch các trần cấu, đắc Pháp nhãn tịnh. Giống như tấm lụa mới trắng tinh, không có bụi dơ, dễ nhuộm màu; Bà-la-môn cũng như vậy, ngay trên chỗ ngồi mà đắc Pháp nhãn tịnh. Ông đã đắc pháp, thấy pháp, phân biệt pháp kia không còn hồ nghi, đã được vô úy rồi, tự quy y Tam tôn: Phật, Pháp, Thánh chúng, thọ trì ngũ giới, là đệ tử chân thật Như Lai, không còn thoái thất nữa.
Vợ chồng Bà-la-môn kia sau khi nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở tại vườn trúc Ca-lan-đà, thành La-duyệt, cùng với năm trăm vị đại Tỳ-kheo.
Bấy giờ, vua A-xà-thế có con voi tên Na-la-kỳ-lê16 rất là hung dữ, bạo ngược, dũng mãnh, thường đánh bại kẻ địch bên ngoài. Nhờ sức voi này mà khiến không đâu không phục một nước Ma-kiệt.
Bấy giờ, Đề-bà-đạt-đâu đến chỗ vua A-xà-thế, nói như vầy:
–Đại vương, nên biết, hiện tại con voi ác này có khả năng hàng phục các kẻ thù. Nên dùng rượu mạnh cho voi này uống say. Sáng mai Sa-môn Cù-đàm ắt sẽ vào thành khất thực, hãy thả voi say này dẫm đạp chết ông ta!
Vua A-xà-thế nghe lời xúi của Đề-bà-đạt-đâu, ra lệnh trong nước:
–Sáng sớm ngày mai sẽ thả voi say, cấm không cho người dân đi lại nơi các ngã đường trong thành.
Rồi Đề-bà-đạt-đâu nói với A-xà-thế rằng:
__________________
16. Na-la-kỳ-lê那羅祇梨. Pàli: Nàlàgiri (Dhanapàla), cf. Vin.ii. 194f.

* Trang 224 *
device

–Nếu Sa-môn Cù-đàm kia có Nhất thiết trí biết việc tương lai, thì ngày mai ắt sẽ không vào thành khất thực.
Vua A-xà-thế nói:
–Như lời Tôn giả dạy, nếu có Nhất thiết trí thì sang sớm ngày mai sẽ không vào thành khất thực.
Bấy giờ, nam nữ lớn nhỏ trong thành đều phụng sự Phật, nghe vua A-xà-thế sớm mai sẽ thả voi say hại Như Lai. Nghe xong mọi người đều trong lòng buồn lo, liền đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, đứng qua một bên, bạch Thế Tôn:
–Sáng sớm ngày mai xin Thế Tôn chớ vào thành nữa. Vì sao? Vua A-xà-thế hôm nay có ra lệnh, bắt mọi người dân trong thành, ngày mai chớ đi lại nơi các ngã đường, ta muốn thả voi say hại Sa-môn Cù-đàm. Nếu Sa-môn Cù-đàm có Nhất thiết trí, thì sáng sớm ngày mai sẽ không vào thành khất thực. Nguyện xin Thế Tôn chớ vào thành nữa! Nếu Như Lai mà bỗng dưng bị hại thì người thế gian sẽ mất con mắt, không còn ai cứu giúp.
Thế Tôn bảo:
–Thôi! Thôi! Các Ưu-bà-tắc chớ ôm lòng sầu não. Vì sao? Thân của Như Lai không phải là thân thế tục, nên không bị người khác hại được. Không bao giờ có việc này. Các Ưu-bà-tắc nên biết, đất Diêm-phù, Đông Tây rộng bảy ngàn do-tuần, Nam Bắc dài hai mươi mốt ngàn do-tuần. Cù-da-ni ngang rộng tám ngàn do-tuần như nửa hình mặt trăng. Phất-vu-đãi ngang rộng chín ngàn do-tuần đất đai vuông vức. Uất-đơn-việt ngang rộng mười ngàn do-tuần đất dai tròn như mặt trăng đầy. Ví như voi say đầy khắp trong bốn thiên hạ này, giống như lúa mè, rừng rậm; số như vậy, cũng không thể nào đụng đến mảy may sợi lông của Như Lai, huống chi là hại được Như Lai. Không bao giờ có việc này. Ngoài bốn thiên hạ ra, dù có cả ngàn thiên hạ, ngàn mặt trời, mặt trăng, ngàn núi Tu-di, ngàn nước bốn biển, ngàn Diêm-phù-đề, ngàn Cù-da-ni, ngàn Phất-vu-đãi, ngàn Uất-đơn-việt, ngàn Tứ Thiên vương, ngàn Tam thập tam thiên, ngàn Đâu-thuật thiên, ngàn Diệm thiên, ngàn Hóa tự tại thiên, ngàn Tha hóa tự tại thiên, đó gọi là ngàn thế giới. Cho đến

* Trang 225 *
device

hai ngàn thế giới, đó gọi là trung thiên thế giới. Cho đến ba ngàn thế giới, đó gọi là tam thiên đại thiên thế giới. Trong đó đầy khắp Long vương Y-la-bát còn không thể động một sợi lông của Như Lai, huống lại là voi này muốn hại Như Lai được sao? không bao giờ có trường hợp đó. Vì sao? Thần lực của Như Lai là chẳng thể nghĩ bàn. Như Lai xuất hiện ở đời, vĩnh viễn không thể bị người đả thương được. Các vị hãy trở về nhà mình. Như Lai tự biết việc gì sẽ xảy ra.
Bấy giờ, Thế Tôn đã vì bốn bộ chúng thuyết pháp vi diệu rộng rãi. Các Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-tư sau khi nghe chánh pháp rồi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật, thoái lui ra về.
Sáng sớm hôm đó, Thế Tôn đắp y, ôm bát tính vào thành La-duyệt khất thực. Khi ấy, Thiên vương Đề-đầu-lại-tra dẫn Càn-đạp-hòa… từ phương Đông đến theo hầu Thế Tôn. Lại có Tỳ-lưu-lặc vương dẫn chúng Câu-bàn-trà, từ phương Nam đến theo hầu Như Lai. Phương Tây, Thiên vương Tỳ-lưu-lặc-xoa dẫn các chúng Rồng theo hầu Như Lai. Phương Bắc, Thiên vương Câu-tỳ-la dẫn chúng quỷ La-sát theo hầu Như Lai. Lại có Thích Đề-hoàn Nhân dẫn ngàn vạn chúng chư Thiên biến mất từ trời Đâu-thuật mà hiện đến chỗ Thế Tôn. Lại có Phạm Thiên vương dẫn ngàn vạn chúng Phạm thiên từ trên Phạm thiên đến chỗ Thế Tôn. Lại có Thích, Phạm, Tứ Thiên vương cùng với hai mươi tám trời, đại quỷ thần vương, cùng bảo nhau:
–Hôm nay chúng ta phải xem hai thần voi và rồng đấu với nhau. Ai là người thắng, kẻ bại?
Lúc này bốn bộ chúng thành La-duyệt, từ xa trông thấy Thế Tôn cùng các Tỳ-kheo vào thành khất thực, mọi người dân trong thành đều cất tiếng kêu la. Vua A-xà-thế lại nghe những tiếng này, hỏi tả hữu:
–Đây là những âm vang gì mà lọt thấu nơi này?
Thị thần đáp:
–Đây là những âm thanh phát xuất từ nhân dân khi thấy Như Lai vào thành khất thực.

* Trang 226 *
device

A-xà-thế nói:
–Sa-môn Cù-đàm cũng không có Thánh đạo, không biết tâm người, rồi sẽ kinh nghiệm việc gì sẽ xảy ra.
Vua A-xà-thế liền bảo tượng sư:
–Ngươi hãy mau đem rượu mạnh cho voi uống, cột kiếm bén vào vòi và lập tức thả cho nó chạy.
Bấy giờ, Thế Tôn dẫn các Tỳ-kheo đến cửa thành, vừa cất chân vào cửa, khi ấy trời đất chấn động mạnh, chư Thiên tôn thần ở giữa hư không rải xuống các loại hoa. Tức thì, năm trăm Tỳ-kheo thấy voi say đến, mọi người đều bỏ chạy, không biết theo hướng nào! Lúc đó voi hung dữ kia thấy Như Lai từ xa, nó liền chạy đến. Thấy voi say đến, thị giả A-nan sau Thế Tôn lòng không an, bạch Thế Tôn:
–Voi này dữ quá! Coi chừng bị hại! Hãy tránh xa nó!
Thế Tôn bảo:
–A-nan, chớ sợ! Nay Ta sẽ dùng thần lực hàng phục voi này.
Như Lai quan sát voi hung bạo với khoảng cách không gần cũng không xa, liền hóa ra các sư tử vương ở hai bên và phía sau voi kia là một hầm lửa lớn. Lúc này voi dữ kia thấy hai bên là sư tử vương cùng thấy hầm lửa, liền té vãi phân tiểu, không biết chạy đi đâu, nó cứ nhắm phía trước hướng Như Lai mà chạy đến.
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Ngươi chớ làm hại Rồng
Rồng hiện rất khó gặp
Do ngươi không hại Rồng
Mà được sinh chỗ thiện.
Lúc ấy voi hung bạo nghe Thế Tôn nói kệ này, như bị lửa đốt, liền tự gỡ kiếm hướng về Như Lai, quỳ hai gối phủ phục sát đất, lấy vòi liếm chân Như Lai. Bấy giờ, Thế Tôn đưa tay phải duỗi thẳng, sờ vào đầu voi, mà nói kệ:
Sân nhuế sinh địa ngục
Cũng sinh thân rắn rít

* Trang 227 *
device

Cho nên phải trừ sân
Chớ thọ thân này lại.
Lúc đó các vị Thiên thần ở giữa hư không dùng hang trăm ngàn loài hoa tung rãi trên Như Lai. Bấy giờ Thế Tôn nói pháp vi diệu cho bốn bộ chúng trời, rồng, quỷ, thần. Hơn sáu vạn nam nữ, sau khi thấy Phật hàng phục voi, mọi trần cấu đều dứt sạch, đắc Pháp nhãn tịnh và tám vạn Thiên nhân cũng đắc Pháp nhãn tịnh. Lúc đó tự trong thân voi say kia gió đao nổi dậy, thân hoại mạng chung, sinh về cung Tứ Thiên vương.
Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, các Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, cùng Thiên, Long, Quỷ, Thần, sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 6
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Tôn giả Nan-đà khoác y thật đẹp với màu sắc làm hoa mắt người, mang giày dép da viền vàng, lại tô vẽ hai mắt, tay cầm bình bát, đang đi vào thành Xá-vệ.
Lúc đó, có các Tỳ-kheo từ xa nhìn thấy Tôn giả Nan-đà đắp y thật đẹp, vào thành Xá-vệ khất thực. Các Tỳ-kheo liền đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Sau đó ngồi thoái lui, bạch Thế Tôn:
–Vừa rồi Tỳ-kheo Nan-đà đắp y thật đẹp, màu chói mắt người, vào thành Xá-vệ khất thực.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo một Tỳ-kheo:
–Ông hãy nhanh chóng đến chỗ Tỳ-kheo Nan-đà nói là Như Lai cho gọi.
Thưa:

* Trang 228 *
device

–Kính vâng, Thế Tôn!
Tỳ-kheo kia vâng lời Thế Tôn dạy, đảnh lễ sát chân, rồi đi đến chỗ Tỳ-kheo Nan-đà, nói với Tỳ-kheo Nan-đà rằng:
–Thế Tôn cho gọi ông.
Nan-đà nghe Tỳ-kheo sau khi nói, liền đến chỗ Thế Tôn. Đến rồi đảnh lễ sát chân, nồi qua một bên. Lúc ấy Thế Tôn bảo Nan-đà:
–Vì cớ gì hôm nay ông đắp y thật đẹp này, còn mang giày dép da viền vàng, vào thành Xá-vệ khất thực?
Tôn giả Nan-đà im lặng không nói. Thế Tôn lại bảo tiếp:
–Thế nào Nan-đà, ông há không do lòng tin kiên cố, xuất gia học đạo ư?
Nan-đà thưa:
–Đúng vậy, Thế Tôn!
Thế Tôn bảo:
–Ông nay là thiện gia nam tử không y luật mà hành! Do long tin kiên cố xuất gia học đạo, sao lại đắp y thật đẹp, chải chuốt dáng vóc để vào thành Xá-vệ khất thực, cùng với những kẻ bạch y kia không khác?
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Bao giờ thấy Nan-đà
Trì hạnh A-luyện-nhã
Tâm ưa pháp Sa-môn
Đầu-đà đưa đến đích.
Nan-đà! Nay ông đừng có tạo hạnh như vậy nữa!
Tôn giả Nan-đà cùng bốn bộ chúng sau khi nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

* Trang 229 *
device

KINH SỐ 7
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Tôn giả Nan-đà không kham hành phạm hạnh, muốn cởi pháp y tập hạnh bạch y. Lúc ấy, các Tỳ-kheo đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
–Tỳ-kheo Nan-đà không kham hành phạm hạnh, muốn cởi pháp y, tập hạnh tại gia.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo một Tỳ-kheo:
–Ông hãy đến chỗ Nan-đà nói là Như Lai cho gọi. Thưa:
–Kính vâng, Thế Tôn.
Tỳ-kheo kia vâng lời Thế Tôn dạy, rời chỗ ngồi đứng dậy lễ sát chân Thế Tôn, rồi lui đi. Đến chỗ Tỳ-kheo Nan-đà kia, nói:
–Thế Tôn cho gọi Nan-đà.
Đáp:
–Vâng. Lúc ấy Tỳ-kheo Nan-đà theo Tỳ-kheo này đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên.
Thế Tôn bảo Nan-đà:
–Thế nào Nan-đà? Không thích tu phạm hạnh, muốn cởi pháp y, tu hạnh bạch y ư?
Nan-đà thưa:
–Đúng vậy, Thế Tôn!
Thế Tôn bảo:
–Vì sao, Nan-đà?
Nan-đà thưa:
–Dục tâm con hừng hực, không thể tự kiềm được!
Thế Tôn bảo:

* Trang 230 *
device

–Thế nào Nan-đà? Ông không phải là thiện gia nam tử xuất gia học đạo ư?
Nan-đà thưa:
–Đúng vậy, Thế Tôn! Con là thiện gia nam tử, do lòng tin kiên cố xuất gia học đạo.
Thế Tôn bảo:
–Điều đó không thích hợp với ông, là thiện gia nam tử đã bỏ nhà xuất gia học đạo, tu hạnh thanh tịnh, sao lại bỏ chánh pháp mà muốn tập hành ô uế?
Nan-đà nên biết, có hai pháp không biết chán đủ. Nếu có người nào tập hai pháp này thì không bao giờ biết chán đủ. Hai pháp gì? Dâm dục và uống rượu, đó gọi là hai pháp không biết chán đủ. Nếu người nào tập hai pháp này, thì không bao giờ biết chán đủ. Do bởi hành quả này mà không thể đạt đến chỗ vô vi. Cho nên, này Nan-đà, hãy ghi nhớ bỏ hai pháp này, sau nhất định sẽ thành tựu quả báo vô lậu. Nan-đà, nay ông khéo tu phạm hạnh, hướng đến quả đạo, không thể không đều do đây.
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Nhà lợp không kín
Trời mưa ắt dột
Người không thực hành
Dâm, nộ, si dột.
Nhà khéo lợp kín
Trời mưa không dột
Người hay thực hành
Không dâm, nộ, si17.
Thế Tôn lại tự nghĩ: “Thiện gia nam tử này dục ý quá nhiều. Nay Ta có thể dùng lửa trị lửa.”
Bấy giờ Thế Tôn liền dùng thần lực, tay nắm Nan-đà; trong
____________________
17. Cf. Dhp. 13, 14. Yathà agàraṃ ducchannaṃ, vuṭṭhì samativijjhati; evaṃ abhàvitaṃ cittaṃ, ràgo samativijjhati. Yathà agàraṃ suchannaṃ, vuṭṭhī na samativijjhati; evaṃ subhàvitaṃ cittaṃ, ràgo na samativijjhati.

* Trang 231 *
device

khoảnh khắc giống như lực SĨ co duỗi cánh tay, đem Nan-đà lên Hương sơn. Bấy giờ, trên núi có một hang đá, lại có một con khỉ cái mù lòa đang ở nơi đó. Thế Tôn, tay phải nắm Nan-đà, bảo rằng:
–Nan-đà, ông có thấy con khỉ cái mù lòa này không?
Thưa:
–Có thấy, Thế Tôn!
Thế Tôn bảo:
–Đằng nào xinh đẹp? Tôn-đà-lợi cô gái Thích xinh đẹp hay con khỉ cái mù lòa này xinh đẹp?
Nan-đà thưa:
–Giống như có người đả thương lỗ mũi con chó dữ, lại bôi thêm độc vào, con chó kia càng thêm dữ hơn. Ở đây cũng như vậy, Thích nữ Tôn-đà-lợi, nếu đen con khỉ cái mù lòa để cùng so sánh, thì không thể làm ví dụ được. Giống như đống lửa lớn thiêu đốt sơn dã, còn dùng củi khô bỏ thêm vào thì lửa càng trở nên hừng hực. Ở đây cũng vậy, con nhớ cô gái họ Thích kia, không rời khỏi tâm được.
Bấy giờ Thế Tôn trong khoảnh khắc như co duỗi cánh tay biến khỏi núi này, hiện đến trời Tam thập tam. Khi ấy chư Thiên trên cõi Tam thập tam đều tụ họp tại giảng đường Thiện pháp. Cách giảng đường Thiện pháp không xa, lại có cung điện, năm trăm ngọc nữ đang vui đùa với nhau, toàn là người nữ không có người nam. Bấy giờ Nan-đà từ xa trông thấy năm trăm Thiên nữ, đang ca hát kỹ nhạc vui đùa với nhau; thấy rồi hỏi Thế Tôn:
–Đây là những đâu, mà có năm trăm Thiên nữ ca hát kỹ nhạc vui đùa với nhau?
Thế Tôn bảo:
–Nan-đà, ông tự đến hỏi!
Tôn giả Nan-đà liền đến chỗ năm trăm Thiên nữ; thấy cung điện nhà cửa kia, trải hàng trăm thứ tọa cụ tốt; toàn là người nữ không có người nam. Lúc đó Tôn giả Nan-đà hỏi Thiên nữ kia:
–Các cô, có đúng là Thiên nữ đang cùng nhau vui đùa khoái lạc phải không?

* Trang 232 *
device

Thiên nữ đáp:
–Chúng tôi có năm trăm người, tất cả đều thanh tịnh, không có phu chủ. Chúng tôi nghe Thế Tôn có đệ tử tên là Nan-đà, là con di mẫu của Phật. Ngài đang ở chỗ Như Lai tu phạm hạnh thanh tịnh, sau khi mạng chung sẽ sinh về cõi này làm phu chủ chúng tôi, cùng vui đùa với nhau.
Lúc này Tôn giả Nan-đà lòng rất vui mừng không thể tự kiềm chế, liền tự nghĩ: “Hiện tại ta là đệ tử Thế Tôn, lại là con di mẫu. Những Thiên nữ này đều sẽ làm vợ cho ta.”
Bấy giờ, Nan-đà thoái lui, đến chỗ Thế Tôn. Thế Tôn hỏi:
–Thế nào Nan-đà! Các ngọc nữ kia nói gì?
Nan-đà thưa:
–Các ngọc nữ kia đều nói: “Chúng tôi đều không có phu chủ. Nghe có đệ tử Thế Tôn khéo tu phạm hạnh, sau khi mạng chung sẽ sinh về nơi này.”
Thế Tôn bảo:
–Nan-đà, ý ông thế nào? Nan-đà, ý ông thế nào?
Nan-đà thưa:
–Khi ấy, con tự nghĩ: “Ta là đệ tử Thế Tôn, là con di mẫu của Phật. Những Thiên nữ này tất cả đều sẽ làm vợ cho ta.”
Thế Tôn bảo:
–Khoái thay, Nan-đà! Khéo tu phạm hạnh, Ta sẽ xác chứng cho ông, khiến cho năm trăm người nữ này đều sẽ thành những người hầu hạ ông.
Thế Tôn lại bảo:
–Thế nào Nan-đà? Thích nữ Tôn-đà-lợi xinh đẹp, hay là năm trăm Thiên nữ xinh đẹp?
Nan-đà thưa:
–Giống như con khỉ cái mù lòa trên đỉnh núi ở trước Tôn-đà-lợi, không tươi sáng cũng không nhan sắc. Ở đây cũng như vậy, Tôn-đà-lợi ở trước những Thiên nữ kia cũng lại như vậy, không có tươi sáng.

* Trang 233 *
device

Thế Tôn bảo:
–Ông khéo tu phạm hạnh, Ta sẽ tác chứng cho ông được năm trăm Thiên nữ này.
Bấy giờ Thế Tôn lại nghĩ: “Nay Ta sẽ dùng lửa để diệt lửa Nan-đà.” Trong khoảnh khắc giống như lực SĨ co duỗi cánh tay, Thế Tôn tay phải nắm cánh tay Nan-đà, dẫn đến trong địa ngục. Lúc này chúng sinh địa ngục đang chịu ngần ấy khổ não. Khi ấy trong địa ngục kia có một cái vạc lớn, trống không, có người. Thấy vậy, Nan-đà sinh lòng sợ hãi, long áo đều dựng đứng, đến trước Thế Tôn thưa:
–Ở đây mọi chúng sinh đều chịu khổ đau, chỉ có độc nhất cái vạc này trống không có người!
Thế Tôn bảo:
–Đây gọi là địa ngục A-tỳ.
Bấy giờ, Nan-đà lại càng sợ hãi hơn, lông áo đều dựng đứng lên, bạch Thế Tôn:
–Đây là địa ngục A-tỳ, mà sao có một chỗ trống không có tội nhân?
Thế Tôn bảo:
–Nan-đà, ông tự đến đó hỏi.
Lúc này, Tôn giả Nan-đà liền tự đến hỏi:
–Thế nào ngục tốt, đây là ngục gì mà trống, không có người?
Ngục tốt đáp:
–Tỳ-kheo nên biết, đệ tử của Phật Thích-ca Văn tên là Nan-đà, ở chỗ Như Lai tu phạm hạnh thanh tịnh, sau khi thân hoại mạng chung, sinh về chỗ lành trên trời. Ở đó, ông ta sống lâu ngàn tuổi, tự vui đùa khoái lạc, mạng chung ở đó lại sinh vào trong địa ngục A-tỳ này. Cái vạc trống này chính là nhà của ông ta.
Tôn giả Nan-đà nghe xong những lời này, sinh lòng sợ hãi, lông áo đều dựng đứng, liền tự nghĩ: “Cái vạc trống này chính là dành cho ta chăng?” Rồi trở lại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân bạch Thế Tôn:
–Xin nhận sự sám hối tội của chính con, vì không lo tu phạm

* Trang 234 *
device

hạnh, lại còn xúc nhiễu Như Lai!
Bấy giờ Tôn giả Nan-đà, liền nói kệ này:
Đời người không đủ quý
Tuổi trời rồi cũng tàn
Địa ngục chua, thống khổ
Chỉ có vui Niết-bàn.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo Tôn giả Nan-đà:
–Lành thay! Lành thay! Như những gì ông đã nói. Niết-bàn rất là khoái lạc. Nan-đà, cho phép ông sám hối. Ông kẻ ngu si đã tự biết là mình có lỗi đối với Như Lai. Nay Ta nhận sự hối lỗi của ông, sau này chớ tái phạm.
Bấy giờ, Thế Tôn trong khoảnh khắc như co duỗi cánh tay, tay nắm Nan-đà biến khỏi địa ngục, trở về đến vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, thành Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo Nan-đà:
–Này Nan-đà, nay ông hãy tu hành hai pháp. Hai pháp gì? Chỉ và Quán. Lại phải tu thêm hai pháp. Hai pháp gì? Sinh tử không đáng vui, biết Niết-bàn là an lạc. Đó là hai pháp. Lại tu thêm hai pháp. Hai pháp gì? Trí và Biện.
Bấy giờ, Thế Tôn thuyết giảng cho Nan-đà bằng nhiều pháp khác nhau. Tôn giả Nan-đà sau khi thọ lãnh những lời dạy của Thế Tôn rồi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Thế Tôn, rồi lui ra; đi đến vườn An-đà. Ở đó, ngồi kiết già dưới một bóng cây, chánh thân, chánh ý, cột niệm trước mặt, tư duy những lời dạy này của Như Lai. Bấy giờ Tôn giả Nan-đà ở nơi vắng vẻ, lúc nào cũng tư duy về những lời dạy của Như Lai không bỏ quên giây phút nào, vì mục đích gì mà thiện gia nam tử này, do lòng tin kiên cố, xuất gia học đạo, tu phạm hạnh vô thượng, cho đến biết như thật rằng: “Sinh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, không còn tái sinh đời sau nữa.”
Lúc bấy giờ, Tôn giả Nan-đà thành A-la-hán. Sau khi thành A-la-hán, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục, đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Lúc này Tôn giả Nan-đà bạch Thế Tôn:

* Trang 235 *
device

–Trước đây, Thế Tôn đã hứa chứng nhận năm trăm Thiên nữ cho đệ tử. Nay con xả hết.
Thế Tôn bảo:
–Nay ông đã dứt sinh tử, phạm hạnh đã lập. Ta cũng liền bỏ nó luôn.
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Nay Ta thấy Nan-đà
Tu hành pháp Sa-môn
Các ác đều đã diệt
Không mất hạnh Đầu-đà.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Người đắc A-la-hán, hiện nay chính là Tỳ-kheo Nan-đà; không còn dâm, nộ, si cũng là Tỳ-kheo Nan-đà.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 8
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Ni-câu-lưu, tại Ca-tỳ-la-việt, Thích-sí-sấu18, cùng với năm trăm vị đại Tỳ-kheo. Bấy giờ Đại Ái Đạo Kiều-đàm-di19 đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, bạch Thế Tôn:
–Ước nguyện Thế Tôn sinh mạng hằng được thủ hộ để giáo hóa lâu dài những kẻ ngu tối.
Thế Tôn bảo:
–Cù-đàm-di, không nên nói với Như Lai những lời như vậy.
_________________
18. Thích-sí-sấu釋翅瘦, hay Thích-sí釋翅; Pàli: Sakkesu: Giữa những người họ Thích. Xem kinh 10, phẩm 17.
19. Đại Ái Đạo Cù-đàm-di大愛道瞿曇彌. Pàli: Mahàpajàpatī Gotamī.

* Trang 236 *
device

Tuổi thọ của Như Lai lâu vô cùng, mạng hằng được thủ hộ.
Bấy giờ, Đại Ái Đạo Cù-đàm-di liền nói kệ này:
Làm sao lễ Tối Thắng
Đấng thế gian Tối tôn
Để đoạn tất cả nghi
Do vậy nói lời này.
Bấy giờ, Thế Tôn đáp lại Cù-đàm-di bằng bài kệ này:
Tinh tấn ý khó khuyết
Thường có tâm dũng mãnh
Xem Thanh văn bình đẳng
Đó là lễ Như Lai.
Rồi Đại Ái Đạo bạch Thế Tôn:
–Từ đây về sau con sẽ lễ Thế Tôn. Nay Như Lai dạy xem20 tất cả chúng sinh với ý không tăng tổn. Trên trời, trong cõi người, cùng A-tu-luân, Như Lai là tối thượng.
Khi ấy Như Lai chấp nhận những gì Đại Ái Đạo đã nói. Bà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân, rồi lui ra.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Trong hàng Thanh văn của Ta, đệ tử hiểu biết rộng rãi đệ nhất, chính là Đại Ái Đạo.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 9
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
________________
20. Để bản: Lễ禮. TNM: Thị視.

* Trang 237 *
device

–Có hai hạng người này ở trong chúng sẽ phát sinh hủy báng Như Lai21.Hai hạng người nào? Hạng phi pháp nói là pháp; pháp nói là phi pháp. Đó là hai hạng người phỉ báng Như Lai.
Lại có hai hạng người không phỉ báng Như Lai. Thế nào là hai? Hạng phi pháp nói là phi pháp; thật pháp nói là thật pháp. Đó là hai hạng người không phỉ báng Như Lai.
Cho nên, này các Tỳ-kheo, phi pháp nên nói là phi pháp; thật pháp nên nói là thật pháp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.
Các Tỳ-kheo sau khi Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 10
Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Có hai hạng người được phước vô lượng. Thế nào là hai? Người đáng khen ngợi thì liền khen ngợi; người không đáng khen ngợi, thì cũng không khen ngợi. Đó là hai hạng người được phước vô lượng.
Lại có hai hạng người chịu tội vô lượng. Thế nào là hai? Người đáng khen ngợi, lại còn phỉ báng; người không đáng khen ngợi, mà lại khen ngợi. Các Tỳ-kheo chớ học điều này.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
___________________
21. Lưu ý Hán dịch đảo cú. So ngữ cảnh tiếp theo để rõ. Cf. A ii. 3. 3 (R i. 60).

* Trang 238 *
device

 
Đại Tập 8 - Bộ A-Hàm VIII - Kinh Tạp A-Hàm Số 125 (Q1->30)