LOGO VNBET
KINH TĂNG NHẤT A-HÀM
          QUYỂN 49
Phẩm 51: PHI THƯỜNG
           KINH SỐ 1 1
Nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp cô độc.
Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
–Thế nào, Tỳ-kheo, các ông trôi nổi sinh tử, trải qua khổ não, trong đó nước mắt buồn thương khóc lóc nhiều hơn hay nước sông Hằng nhiều hơn?
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
–Chúng con quán sát nghĩa mà Như Lai nói, nước mắt đổ ra trong sinh tử trôi nổi nhiều hơn nước sông Hằng.
Phật bảo Tỳ-kheo:
–Lành thay, lành thay, các Tỳ-kheo! Đúng như các ông nói không khác. Nước mắt mà các ông đổ ra trong sinh tử nhiều hơn nước sông Hằng. Vì sao? Trong sinh tử đó, hoặc mẹ chết, nước mắt đổ xuống không thể kể xiết. Trong đêm dài, hoặc cha, hoạc anh, chị, em, vợ con, năm thân, những người ân ái, vì thương tiếc mà buồn khóc không thể kể xiết. Cho nên, Tỳ-kheo, hãy nên nhàm chán sinh tử, tránh xa pháp này. Như vậy, Tỳ-kheo, hãy học điều này.
Khi nói pháp này, hơn sáu mươi Tỳ-kheo đều dứt sạch các lậu, tâm giải thoát.
______________________
1. Tham chiếu Pāli, S.15.3 Asu (R. ii. 179). Hán, Tạp 33, kinh 938.

* Trang 447 *
device

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp cô độc.
Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
–Thế nào, Tỳ-kheo, các ông, trong sinh tử, máu đổ ra khi thân thể các người hủy hoại nhiều hơn hay nước sông Hằng nhiều hơn?
Các Tỳ-kheo đáp:
–Chúng con quán sát nghĩa mà Như Lai nói, nước mắt đổ ra trong sinh tử trôi nổi nhiều hơn nước sông Hằng.
Phật bảo Tỳ-kheo:
–Lành thay, lành thay, các Tỳ-kheo! Đúng như các ông nói, máu nhiều hơn nước sông Hằng. Vì sao? Trong sinh tử, hoặc có khi làm bò, dê, heo, chớ, hươu, ngựa, chim, thú và vô số loài khác nữa, trải qua khổ não, thật đáng nhàm chán, hãy suy niệm xả ly. Như vậy, Tỳ-kheo, hãy học điều này.
Khi Thế Tôn nói pháp này, hơn sáu mươi Tỳ-kheo đều dứt sạch các lậu, tâm giải thoát.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

                                                                 KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp cô

* Trang 448 *
device

 độc. Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
–Hãy tư duy vô thường tưởng, hãy quảng bá vô thường tưởng. Do tư duy quảng bá vô thường tưởng mà đoạn tận dục ái, sắc ái, vô sắc ái; vô minh, kiêu mạn, thảy đều dứt sạch. Cũng như lấy lửa đổ cây cỏ, cháy sạch hết không còn gì. Tỳ-kheo nên biết, nếu tư duy vô thường tưởng, quảng bá vô thường tưởng, sẽ đoạn trừ sạch ái dục trong ba cõi.
Thuở xưa, có vị quốc vương tên là Thanh Tịnh Âm Hưởng, thống lãnh Diêm-phù-địa với tám vạn bốn ngàn thành quách, có tám vạn bốn ngàn đại thần, tám vạn bốn ngàn cung nhân thể nữ. Mỗi một thể nữ có bốn người hầu. Bấy giờ Thánh vương Âm Hưởng không có con. Vị đại vương này nghĩa như vầy: “Nay ta thống lãnh bờ cõi này, trị hóa mà không làm trái đạo lý. Nhưng nay ta không có người nối dõi. Nếu sau khi ta chết, gia đình, dòng họ sẽ đoạn tuyệt.” Vì để có con nên quốc vương quy y nơi các trời, rồng, thần, mặt trời, mặt trăng, các sao; tự quy y Đế Thích, Phạm thiên, Tứ Thiên vương, thần núi, thần cây, cho đến thần cỏ thuốc, cây trái: “Nguyện cầu phước cho tôi sinh con.” Lúc bấy giờ trên trời Tam thập tam có một Thiên tử tên Tu-bồ-đề, mạng sắp dứt, năm điềm báo tự nhiên bức bách. Những gì là năm? Hoa quan của chư Thiên không hề héo úa, nhưng hoa quan của Thiên tử này tự nhiên héo húa. Y phục của chư Thiên không có cáu bẩn, nhưng y phục của Thiên tử đã cáu bẩn. Thân thể của chư Thiên Tam thập tam thường thơm tho, tinh khiết, có ánh sáng rọi suốt; thân thể Thiên này này bấy giờ có mùi hôi không ai gần được. Chư Thiên Tam thập tam luôn luôn có ngọc nữ vây quanh trước sau để ca, múa, xướng hát, vui thú với ngũ dục; Thiên tử này khi sắp mạng chung các ngọc nữ ly tán. Chư Thiên Tam thập tam có tòa ngồi tự nhiên, sâu xuống đất bốn thước và khi Thiên tử đứng dậy thì tòa này rời khỏi mặt đất bốn thước; nhưng Thiên tử này sắp mạng chung nên không thích chỗ ngồi cũ nữa. Đó là năm điềm báo tự nhiên bức bách.
   Khi Thiên tử Tu-bồ-đề có điềm báo này, Thích Đề-hoàn Nhân bảo một Thiên tử: “Ông hãy đến Diêm-phù-địa nói với vua

* Trang 449 *
device

Âm Hưởng rằng, Thích Đề-hoàn Nhân có lời thăm hỏi vô lượng, mong vua đi đứng nhẹ nhàng, dạo bước khỏe mạnh. Ở Diêm-phù-địa không có người có đức để làm con của vua. Nhưng nay trời Tam thập tam có vị Thiên tử tên là Tu-bồ-đề đã có năm điềm báo bức bách, sẽ giáng thần xuống để làm con của vua. Nhưng rồi khi tuổi tráng niên đang thịnh người này sẽ xuất gia học đạo, tu phạm hạnh vô thượng.”
   Vị Thiên tử vâng lời, nói: “Kính vâng, Thiên vương! Xin vâng lời dạy của Thiên vương.”
Rồi trong khoảnh khắc bằng khi lực sĩ co duỗi cánh tay, biến mất khỏi Tam thập tam, hiện đến Diêm-phù-địa. Lúc bấy giờ đại vương Âm Hưởng đang ở trên lầu cao, cùng với một người cầm lọng hầu. Khi ấy vị trời này đứng giữa hư không nói với vua rằng: “Thích Đề-hoàn Nhân có lời thăm hỏi vô lượng, mong vua đi đứng nhẹ nhàng, dạo bước khỏe mạnh. Ở Diêm-phù-địa không có người có đức để làm con của vua. Nhưng nay trời Tam thập tam có vị Thiên tử tên là Tu-bồ-đề đã có năm điềm báo bức bách, sẽ giáng thần xuống để làm con của vua. Nhưng rồi khi tuổi tráng niên đang thịnh người này sẽ xuất gia học đạo, tu phạm hạnh vô thượng.”
Vua Âm Hưởng nghe được lời này, hoan hỷ phấn khởi không thể dừng được, liền trả lời vị trời rằng: “Nay ngài đến báo cho biết, thật đại hạnh! Chỉ mong giáng thần làm con của tôi. Con muốn cầu xuất gia, tôi sẽ không hề trái ý.”
   Rồi Thiên tử ấy trở về, đến chỗ Thích Đề-hoàn Nhân tâu lại: “Tâu Thiên vương, vua Âm Hưởng rất mừng rỡ.”
   Và thuật lại lời vua Âm Hưởng: “Chỉ mong giáng thần làm con của tôi. Con muốn cầu xuất gia, tôi sẽ không hề trái ý.”
    Bấy giờ Thích Đề-hoàn Nhân đi đến chỗ Thiên tử Tu-bồ-đề, nói với Thiên tử Tu-bồ-đề rằng: “Ông hãy phát nguyện sinh vào trong của vua loài người là Âm Hưởng. Vì sao? Vua Âm Hưởng không có con. Nhưng luôn luôn cai trị đúng theo chánh pháp. Ông xưa có phước, tạo các công đức, nay nên giáng thần vào trong cung đó.”

* Trang 450 *
device

Thiên tử Tu-bồ-đề tâu: “Thôi, thôi, tâu Thiên vương! Tôi không thích nguyện sinh vào cung vua. Ý tôi muốn xuất gia học đạo. Nhưng ở trong cung thì sự học đạo rất khó.”
Thích Đề-hoàn Nhân nói: “Ông chỉ cần phát nguyện sinh vào cung vua kia. Ta sẽ giúp đỡ để ông xuất gia học đạo.”
Tỳ-kheo nên biết, Thiên tử Tu-bồ-đề khi ấy liền phát nguyện sinh vào cung vua. Bấy giờ vua Âm Hưởng cùng với Đệ nhất phu nhân giao hội. Bà liền cảm thấy mình mang thai, liền tâu với vua Âm Hưởng: “Đại vương nên biết, tôi nay cảm giác mình đang mang thai.”
Vua nghe vậy rồi, hoan hỷ phấn khởi không thể dừng được. Vua liền đặc biết sai trải lót chỗ ngồi rất đẹp đẽ, ăn các thứ ngon ngọt như vua không khác. Qua tám chín tháng,2 sinh một đứa con trai cực kỳ xinh đẹp, hiếm có trên đời. Vua Âm Hưởng bèn triệu các Phạm chí ngoại đạo cùng các quần thần xem tướng. Vua đem hết nguồn gốc nhân duyên kể hết cho các tướng sư.
Các Bà-la-môn đáp: “Tâu đại vương, hãy xét lý này. Nay sinh thái tử hiếm có trên đời. Xưa tên là Tu-bồ-đề, nay theo như trước mà đặt tên là Tu-bồ-đề.”
Các tướng sư sau khi đặt tên rồi, ai nấy đứng dậy ra về.
Vương tử Tu-bồ-đề bấy giờ được vua rất quý trọng, chưa từng rời khỏi mắt. Rồi một lúc, vua Âm Hưởng suy nghĩa: “Xưa ta khong có con. Vì không có con nên cầu đảo các trời để có một đứa con. Sau một thời gian nay mới sinh con. Nhưng Thiên đế đã báo trước, nó sẽ xuất gia học đại. Ta nay hãy bày phương tiện để nó không xuất gia học đạo.”
Rồi vua Âm Hưởng cho dựng cung điện ba mùa cho thái tử. Mùa lạnh, có cung điện ấm. Mùa nóng có cung điện mát. Khi không lạnh không nóng, có cung điện thích thời. Lại cho dựng bốn chỗ ở cho cung nữ. Cung thứ nhất có sáu vạn thể nữ. Cung thứ hai có sáu vạn thể nữ. Cung thứ ba có sáu vạn thể nữ. Cung thứ tư có sáu vạn
______________________
2. Nguyên Hán: Kinh Bát Cửu Nguyệt經八九月.

* Trang 451 *
device

thể nữ. Mỗi cung có bốn người hầu dọn trải thảm ngồi để cho thái tử ngồi nằm trên đó. Nếu ý vương tử Tu-bồ-đề muốn dạo chơi phía trước, tức thì các thể nữ đứng mặt, khi ấy thảm ngồi tùy thân chuyển tới. Phía trước có sáu vạn thể nữ và bốn người hầu. Nếu ta muốn dạo chơi phía sau, thảm ngồi liền tùy thân chuyển theo. Nếu muốn cùng vui thú với các thể nữ, khi ấy thảm ngồi cùng tùy thân chuyển theo. Khiến cho vương tử Tu-bồ-đề tâm ý đắm nơi ngũ dục mà không muốn xuất gia.
   Cho đến một lúc, vào lúc nửa đêm, lúc không có người, Thích Đề-hoàn Nhân đi đến vương tử Tu-bồ-đề, ở giữa hư không mà nói với vương tử: “Vương tử, há không phải xưa kia đã có ý nghĩa này: “Ta sống tại gia cho đến tuổi tráng thịnh sẽ xuất gia học đạo” chăng? Nay sao lại vui thú trong ngũ dục, ý không còn ý nguyện xuất gia nữa? Nhưng ta cũng đã có nói, sẽ khuyến khích vương tử xuất gia học đạo. Nay đã đúng lúc, nếu không xuất gia học đạo, sau hối tiếc vô ích.” Thích Đề-hoàn Nhân nói xong, biến mất.
    Lúc bấy giờ vương tử Tu-bồ-đề ở trong cung suy nghĩa như vầy: “Vua Âm Hưởng giăng lưới ái dục cho ta. Do bởi lưới ái dục này mà ta không xuất gia học đạo  được. Nay ta phải cắt đứt lưới này không để bị lôi kéo bởi những thứ ô trược. Bằng chí tín kiên cố mà xuất gia học đạo, sống chỗ nhàn tĩnh, siêng năng tu tập nghiệp học để cho càng ngày càng tiến.” Rồi vương tử Tu-bồ-đề lại suy nghĩa thêm: “Phụ vương Âm Hưởng cho sáu vạn thể nữ vây quanh trước sau. Ta hãy quán sát lý này, thử xem có ai tồn tại mãi ở đời chăng?” Rồi vương tử Tu-bồ-đề quán sát khắp trong cung, không thấy có nữ nhân nào sống mãi ở đời. Rồi Tu-bồ-đề lại nghĩa: “Ta nay sao lại quán vật bên ngoài? Hãy quán sát nội thân, do nhân duyên gì mà có. Nay trong thân này, các thứ như tóc, lông, móng, răng, xương, tủy, có cái nào còn mãi ở đời chăng? Từ đầu đến chân, quán sát ba mươi sáu thứ, thấy là ô uế bất tịnh. Từ quán sát thấy không một thứ đang tham. Cũng không có cái gì chân thật, mà chỉ là huyễn ngụy giả dối, thảy đều trở về không, không còn mãi ở đời.” Rồi vương tử Tu-bồ-đề lại suy nghĩa: “Ta nay phải cắt đứt cái lưới này mà xuất gia học đạo.”

* Trang 452 *
device

Bấy giờ Tu-bồ-đề quán sát thân năm thủ uẩn này. Rằng: “Đây là sắc khổ. Đây là tập khởi của sắc. Đây là sắc diệt tận. Đây là xuất yếu của sắc.3 Thọ, tưởng, hành, thức khổ. Đây là tập khởi của thức. Đây là diệt tận của thức. Đây là xuất yếu của thức.” Sau khi quán thân năm thủ uẩn này rồi, biết rằng những gì là pháp tập khởi đều là pháp diệt tận, tức thì ngay trên chỗ ngồi mà đắc quả Bích-chi-phật. Lúc bấy giờ Bích-chi-phật Tu-bồ-đề biết mình đã thành Phật, liền nói bài kệ:
Này dục, ta biết ngươi
Ý do tư tưởng sinh
Ta không tư tưởng ngươi
Thì người không tồn tại.
Sau khi nói bài kệ xong, Bích-chi-phật liền bay lên hư không mà đi, rồi một mình Bát-niết-bàn trong Vô dư Niết-bàn giới dưới một gốc cây trong một núi nọ.
Bấy giờ vua Âm Hưởng bảo kẻ tả hữu: “Ngươi hãy đi đến cung của Tu-bồ-đề, xem vương tử có ngủ giấc yên ổn không?”
Quan đại thần vâng lệnh vua, đi đến cung của thái tử. Nhưng cửa phòng ngủ đã khóa chặt.
Đại thần quay trở lại tâu vua: “Vương tử ngủ yên. Cửa phòng đã khóa chặt.”
Vua lặp lại ba lần hỏi: “Ngươi đến xem vương tử ngủ có ngon không.”
Quan đại thần lại đến trước cửa cung. Nhưng canh cửa đóng chặt ông quay trở lại, tâu vua: “Vương tử ở trong cung ngủ say không biết gì. Cửa cung khóa chặt, đến giờ vẫn chưa mở.”
Khi ấy vua Âm Hưởng nghĩa thầm: “Con ta, vương tử, khi thiếu
­_________________________
3. Bảy xứ thiện, được nói rất nhiều trong các A-hàm cũng như Nikāya; nhưng bản Hán này chép thiếu. Nói đủ (Cf. Tạp 2, kinh 42, tr. 10a05): Sắc, sắc tập, sắc diệt, sắc diệt đạo, sắc vị, sắc hoạn, sắc ly. Pāli, S. xxii. 57 Sattaṭṭhāna (R.iii. 61): Rūpaṃ, rūpasamudayaṃ,  rūpanirodhaṃ, rūpanirodhagāminiṃ paṭipadaṃ, rūpassa assādaṃ, rupassa ādīnavaṃ,  rūpassa nissaraṇaṃ.

* Trang 453 *
device

 thời còn không mê ngủ. Sao nay tuổi tráng niên lại mê ngủ? Ta nên tự mình đến đó xem để biết con ta cát hung, hay có bệnh hoạn gì không.”
  Rồi vua Âm Hưởng đi đến cung của Tu-bồ-đề, đứng ngoài cửa, bảo một người: “Ngươi bắc thang leo vào trong cung mà mở cửa cho ta.”
Người ấy vâng lệnh vua, tức thì bắc thang, leo tường vào bên trong, mở cửa cho vua. Khi vua vào bên trong, quán sát bên trong cung, thấy chăn đệm trống không mà không có  vương tử. Không trong thấy vương tử, vua hỏi các thể nữ: “Vương tử Tu-bồ-đề hiện ở đâu?”
   Thể nữ đáp: “Chúng tôi cũng không biết vương tử hiện đang ở đâu.”
  Nghe nói thế, vua Âm Hưởng gieo mình xuống đất, giây lâu mới tỉnh.
Khi ấy, vua Âm Hưởng nói với quần thần: “Con ta khi còn nhỏ đã có ý nghĩa rằng: ‘Lớn lên con sẽ cạo bỏ râu tóc, khoác ba pháp y, với tín tâm kiên cố xuất gia học đạo.’ Nay chắc chắn vương tử đã bỏ ta mà xuất gia học đạo. Các người hãy đi khắp bốn phương tìm xem vương tử rốt cuộc đang ở tại đâu.”
Quần thần tức thì có xe cộ giong ruổi khắp mọi nơi tìm kiếm. Khi ấy có một vị đại thần đi vào trong núi kia, nửa đường chợt nghĩa: “Nếu vương tử Tu-bồ-đề xuất gia học đạo tất phải ở trong núi này.” Rồi thì, ông đại thần từ xa trông thấy vương tử Tu-bồ-đề ngồi kiết già dưới một gốc cây. Ông liền nghĩa thầm: “Đây chính là vương tử Tu-bồ-đề.” Nhìn kỹ, rồi quay trở về vua, tâu rằng: “Vương tử Tu-bồ-đề đang ở gần đây, đang ngồi kiết già dưới một gốc cây trong núi.” Vua Âm Hưởng nghe nói thế, liền đi đên núi đó. Từ xa trong thấy Tu-bồ-đề ngồi kiết già dưới một gốc cây, tức thì vua gieo mình xuống đất, nói rằng: “Con ta ngày xưa đã tự thề nguyền rằng, Con đến hai mươi tuổi sẽ xuất gia học đạo. Nay quả không sai. Vả lại, trời đã có báo với ta rằng, con ta sẽ học đạo.”
Bấy giờ vua Âm Hưởng đi thẳng đến trước, nói với Tu-bồ-đề

* Trang 454 *
device

 rằng: “Con nay sao bỏ cha mà xuất gia học đạo?”
Khi ấy Bích-chi-phật im lặng không trả lời. Vua lại nói:
“Mẹ con rất buồn lo. Phải gặp con mới chịu ăn. Hợp thời thì con nên về cung.”
Bích-chi-phật vẫn ngồi im lặng. Vua Âm Hưởng liền bước tới nắm tay, cũng không lay động.
Vua mới nói với quần thần: “Vương tử hôm nay đã mạng chung rồi. Thích Đề-hoàn Nhân trước đây đã có báo ta, rằng ta sẽ có con, nhưng con ta sẽ xuất gia học đạo. Nay vương tử đã xuất gia học đạo. Giờ hãy rước xá-lợi này về trong nước.”
Trong lúc đang hỏa thiêu4, các vị thần kỳ trong núi đó, hiện nửa thân hình, tâu vua rằng: “Đây là Bích-chi-phật, chứ không phải là vương tử. Ta là đệ tử của chư Phật quá khứ. Chư Phật cũng có dạy rằng, ở đời có bốn hạng người xứng đáng dựng tháp5 thờ. Những gì là bốn? Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác xứng đáng dựng tháp thờ. Bích-chi-phật xứng đáng dựng tháp thờ. A-la-hán lậu tận, đệ tử của Như Lai, xứng đáng dựng tháp thờ. Chuyển  luân thánh vương xứng đáng dựng tháp thờ.6 Hỏa thiêu thân của Chuyển luân thánh vương như thế nào, thì hỏa thiêu thân của Như Lai và Bích-chi-phật cũng như vậy.”
Vua Âm Hưởng hỏi chư Thiên: “Cúng dường hỏa thiêu thân của Chuyển luân thánh vương như thế nào?”
    Thần cây đáp: “Làm quách bằng sắt cho Chuyển luân thánh vương, bên trong chứa đầy dầu thơm. Tắm gội thân thể Chuyển luân thánh vương, lấy vải lụa kiếp-ba trắng quấn quanh thân; rồi lấy vải thêu màu phủ lên trên; sau đó bỏ vào trong quách. Dùng nắp bằng sắt đậy lên. Đóng đinh khắp nhiều chỗ. Lại lấy một trăm tấm vải mịn quấn quanh quách. Dùng các thứ tạp hương rải lên đất, rồi để quách bằng sắt vào giữa. Bảy ngày bảy đêm, cúng dường
____________________
4. Nguyên Hán: Xà-tuần蛇旬, một âm khác của trà-tỳ. Pāli: Jhāpeti.
5. Nguyên Hán: Thâu-bà偷婆; phiên âm của stūpa (Skt.) hay thūpa (Pāli).
6. Để bản chép thiếu mục số 4 này.

* Trang 455 *
device

hương, hoa, lụa là, phướn, lọng, ca nhạc. Sau bảy ngày, đưa thân vua đi hỏa thiêu để lấy xá-lợi. Lại trải qua bảy ngày, bảy đêm cúng dường không dứt. Dựng tháp tại các ngả tư đường. Lại lấy hương, hoa, phướn, lọng, các thứ cúng dường. Đại vương nên biết, sự việc cúng dường xá-lợi của Chuyển luân thánh vương là như vậy. Cúng dường chư Phật Như Lai, Bích-chi-phật, A-la-hán, cũng giống như vậy.”
   Vua Âm Hưởng hỏi vị trời ấy rằng: “Do nhân duyên gì mà cúng dường thân của Chuyển luân thánh vương? Lại do nhân duyên gì mà cúng dường thân của chư Phật, Bích-chi-phật, A-la-hán?”
   Trời đáp: “Chuyển luân thánh vương cai trị đúng pháp, tự mình không sát sinh, lại dạy người khác không sát sinh; tự mình không lấy của không cho, lại dạy người khác không trộm cướp; tự mình không dâm dật, lại dạy người khác không xâm phạm vợ người; tự mình không nói dối, không ỷ ngữ, không ác khẩu, không hai lưỡi gây đấu loạn đây kia, không tật đố, sân nhuế, ngu si; tự mình chuyên hành chánh kiến, lại làm cho người khác cũng tập theo chánh kiến. Đại vương, do nhân duyên này Chuyển luân thánh vương xứng đáng dựng tháp thờ.”
   Vua lại hỏi: “Do nhân duyên gì A-la-hán lậu tận xứng đáng dựng tháp thờ?”
   Trời đáp: “Tỳ-kheo A-la-hán lậu tận, ái dục đã dứt sạch, sân hận, ngu si đã diệt trừ, tự mình đã độ thoát, đạt đến vô vi, là ruộng phước của thế gian. Do nhân duyên này, A-la-hán lậu tận xứng đáng dựng tháp thờ.”
Vua lại hỏi: “Do nhân duyên gì Bích-chi-phật xứng đáng dựng tháp thờ?” Trời đáp: “Bích-chi-phật không thầy mà tự mình giác ngộ, xuất hiện đời thật khó gặp, được báo ngay trong hiện pháp, thoát khỏi đường dữ, khiến người được sinh lên trời. Do nhân duyên này, Bích-chi-phật xứng đáng dựng tháp thờ.”
Vua lại hỏi: “Do nhân duyên gì Như Lai xứng đáng dựng tháp thờ?” Trời đáp: “Như Lai có đầy đủ mười Lực. Mười Lực ấy không phải là những pháp mà Thanh văn, Bích-chi-phật có thể đạt được.

* Trang 456 *
device

Như Lai có bốn Vô sở úy, ở giữa đại chúng mà rống tiếng sư tử, vận chuyển Phạm luân. Như độ những ai chưa được độ, giải thoát những ai chưa được giải thoát, khiến Bát-niết-bàn những ai chưa Bát-niết-bàn; che chở những ai cô khổ, làm con mắt cho kẻ mù, làm đại y vương cho người bệnh; hết thảy chư Thiên, Người đời, Ma và Ma thiên, thảy đều tuân phụng, tôn kính, quý trọng, xoay chuyển nẻo dữ quay sang nẻo lành. Đại vương, do nhân duyên này Như Lai xứng đáng dựng tháp thờ. Đại vương, đó là nhân duyên gốc ngọn mà bốn hạng người xứng đáng dựng tháp thờ.”
Bấy giờ vua Âm Hưởng nói với vị Thiên thần này: “Lành thay, lành thay, Thiên thân! Nay tôi sẽ theo lời ông dạy để cúng dường xá-lợi này theo phép cúng dường Bích-chi-phật.”
   Sau đó, vua Âm Hưởng bảo mọi người: “Các người hãy rước xá-lợi của Bích-chi-phật Tu-bồ-đề về trong nước.” Quần thần vâng lệnh vua, đặt lên kim sàng rồi rước về trong nước. Khi ấy vua Âm Hưởng liền ra lệnh là cái quách bằng sắt, bên trong chứa đầy dầu thơm. Tắm gội thân thể Bích-chi-phật, lấy vải lụa kiếp-ba trắng quấn quanh thân; rồi lấy vải thêu nhiều màu phủ lên trên; sau đó bỏ vào trong quách. Dùng nắp bằng sắt đậy lên. Đóng đinh khắp nhiều chỗ cho chắc chắn. Lại lấy một trăm tấm vải mịn quấn quanh quách. Dùng các thứ tạp hương rải lên, rồi để thân Bích-chi-phật vào giữa. Bảy ngày bảy đêm, cúng dường hương, hoa, lụa là, phướn, lọng, ca nhạc. Sau bảy ngày, đưa xá-lợi Bích-chi-phật đi hỏa thiêu. Lại trải qua bảy ngày, bảy đêm cúng dường ca nhạc. Tại ngã tư đường dựng một ngôi tháp. Lại lấy hương, hoa, phướn, lọng, các thứ và tấu nhạc cúng dường.
   Tỳ-kheo nên biết, những chúng sinh nào cúng dường xá-lợi của Bích-chi-phật, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh lên trời Tam thập tam. Có chúng sinh tư duy vô thường tưởng, quay khỏi ba đường dữ mà chuyển sinh vào cõi người, trên trời.
Các Tỳ-kheo, các ông chớ nghĩa vua Âm Hưởng bấy giờ là ai khác. Đó là thân Ta vậy. Những ai tư duy vô thường tưởng, sẽ được nhiều lợi ích. Nay Ta xét nghĩa này nên nói với các Tỳ-kheo, hãy tư

* Trang 457 *
device

duy vô thường tưởng, quảng bá vô thường tưởng. Do tư duy vô thường tưởng mà đoạn tận dục ái, sắc ái, vô sắc ái; vô minh, kiêu mạn cũng vĩnh viễn diệt trừ. Cũng như ngọn lửa đốt cháy cỏ cây trước cửa sổ giảng đường cao đẹp, cháy sạch không còn gì. Tỳ-kheo tư duy vô thường tưởng cũng vậy, đoạn tận dục ái, sắc ái, vô sắc ái, dứt sạch không còn tàn dư.
Cho nên, Tỳ-kheo, hãy chuyên nhất tâm ý chớ để sai trái.
Khi pháp này được thuyết, sáu mươi Tỳ-kheo ngay trên chỗ ngồi dứt sạch các lậu, tâm giải thoát.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
                                                               KINH SỐ 47
Nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp cô độc.
Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
–Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào không đoạn năm tệ của tâm8, không từ năm kết của tâm9, với Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni ấy pháp thiện giảm chứ không tăng.
Những gì là năm tệ của tâm mà không đoạn trừ? Ở đây, Tỳ-kheo có tâm hồ nghi đối với Như Lai, không giải thoát,10 không nhập
____________________
7. Tham chiếu Pāli, M.16 Cetokhila (R. i. 101). Hán, Trung 56, kinh 106 (Tâm uế心穢).
8. Nguyên Hán: Tâm ngũ tệ心五 弊. Cf. Trung 56: Tâm ngũ uế心中五穢;Tập Dị 11 (tr 416b29): Ngũ tâm tài五心栽. Pāli: Pañca cetokhilā, năm trạng thái hoang dã của tâm.
9. Hán: Tâm ngũ kết心五結. Trung 56: Tâm ngũ phược心中五縛; Tập Dị 11 (tr.0418a13): Ngũ tâm phược "五心縛者.
10. Hiểu là không cởi mở, không quyết đoán.

* Trang 458 *
device

chánh pháp11.Do vậy, tâm người ấy không chuyên phúng tụng. Đó là Tỳ-kheo có tệ của tâm mà không đoạn trừ.
Lại nữa, Tỳ-kheo có tâm hồ nghi đối với chánh pháp, không giải thoát, không nhập chánh pháp. Do vậy, tâm người ấy không chuyên phúng tụng. Đó là Tỳ-kheo có tệ của tâm mà không đoạn trừ.
Lại nữa, Tỳ-kheo có tâm hồ nghi đối với Thánh chúng, không giải thoát, cũng không dụng ý hướng đến chúng hòa hợp, cũng không ở trong pháp đạo phẩm. Đó là Tỳ-kheo có tệ của tâm mà không đoạn trừ.
Lại nữa, Tỳ-kheo phạm cấm giới cấm giới mà không tự mình sam hối lỗi lầm. Tỳ-kheo đã phạm giới mà không tự mình sám hối lỗi lầm, nên không để tâm nơi pháp đạo phẩm. Đó là Tỳ-kheo có tệ của tâm mà không đoạn trừ.
Lại nữa, Tỳ-kheo có tâm ý bất định mà tu phạm hạnh, rằng: “Với công đức tu phạm hạnh này, mong ta sinh lên trời, hoặc sinh làm các thần kỳ.” Với tâm ấy mà tu phạm hạnh, tâm không chuyên nhất vào trong đạo phẩm. Do tâm không ở trong đạo phẩm, nên đó là tệ của tâm mà không đoạn trừ.
Như vậy, Tỳ-kheo có năm tệ của tâm mà không đoạn trừ.
Thế nào là năm kết của tâm không được đoạn trừ? Ở đây, Tỳ-kheo biếng nhác, không tìm cầu phương tiện. Tỳ-kheo kia do biếng nhác, không tìm cầu phương tiện, nên nói là Tỳ-kheo có kết của tâm không được đoạn trừ.
Lại nữa, Tỳ-kheo thường hay quên lãng, tham ngủ nghỉ. Tỳ-kheo ấy do thường hay quên lãng, thâm ngủ nghỉ, nên nói là Tỳ-kheo có kết thứ hai của tâm không được đoạn trừ.
Lại nữa, Tỳ-kheo mà ý không định, thường xuyên hay tán loạn. Tỳ-kheo kia do tâm loạn bất định, nên nói Tỳ-kheo có kết thứ ba của tâm không được đoạn trừ.
Lại nữa, Tỳ-kheo mà căn môn bất định. Tỳ-kheo ấy do căn
_______________________
11. Hiểu là không có tịnh tín.

* Trang 459 *
device

môn bất định, nên nói là Tỳ-kheo có kết thứ tư của tâm không được đoạn trừ.
  Lại nữa, Tỳ-kheo thường thích ở tại thị tứ, không thích ở chỗ vắng tĩnh. Đó là Tỳ-kheo có kết thứ năm của tâm không được đoạn trừ.
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni có năm kết của tâm này mà không được đoạn trừ, với Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni ấy ngày đêm pháp thiện đoạn tuyệt chứ không tăng ích.
Cũng như có tám hoặc mười hai trứng12 mà không tùy thời được bao che, được ấp ủ, được chăm sóc; dù gà mẹ có ý nghĩa rằng: “Mong cho các con của ta được an toàn không gì khác.” Nhưng các gà con ấy không được an ổn. Vì sao? Vì không tùy thời chăm sóc. Về sau chúng bị hư, không nở gà con. Ở đây cũng vậy, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni mà năm kết của tâm không được đoạn, năm tệ của tâm không được trừ, thì ngày đêm pháp thiện giảm chứ không tăng ích.
   Nếu Tỳ-kheo mà năm kết của tâm được đoạn, năm tệ của tâm được trừ, thì ngày đêm pháp thiện tăng ích chứ không tổn giảm. Cũng như gà có tám hoặc mười hai trứng, tùy thời chăm sóc, tùy thời nuôi nấng, tùy thời che chở, gà tuy có nghĩa rằng: “Mong các con của ta toàn không thành tựu. Nhưng các gà con kia vẫn thành tựu an ổn, vô vi. Vì sao? Tùy thời được nuôi lớn khiến được vô vi, cho đến khi các gà con được ra khỏi ngoài. Đây cũng vậy, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni mà năm tệ của tâm được đoạn, năm kết của tâm được trừ, với Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni ấy, ngày đêm pháp thiện tăng ích chứ không tổn giảm.
   Cho nên, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, hãy an lập tâm không có do dự hồ nghi đối với Phật, do dự hồ nghi đối với Pháp, do dự hồ nghi đối với Chúng, đầy đủ giới, tâm ý chuyên chánh không có thác loạn, cũng không khởi ý mong cầu pháp khác, cũng không tu phạm hạnh cầu may rằng: “Ta do hành pháp này sẽ sinh làm thân người trời, thần diệu, tôn quý.”
____________________
12. Hán: Kê tử雞子, gà con. Cũng có thể hiểu là trứng.

* Trang 460 *
device

Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni không có hồ nghi do dự đối với Phật, Pháp, Thánh chúng, cũng không phạm giới, cũng có điều gì sai sót, Ta nói với các ông, dặn dò thêm nữa các ông, Tỳ-kheo kia có hai nơi để đến, hoặc sinh lên trời, hoặc sinh trong loài người.
  Cũng như người ở trong chỗ cực nóng, lại bị đói khát; mà gặp được chỗ có bóng mát, được nước suối mát lạnh mà uống; người ấy dù có nghĩa rằng: “Ta tuy gặp được bóng mát, nước lạnh của suối mà uống, nhưng không dứt đói khát.” Nhưng người ấy vẫn hết nóng bức, trừ được đói khát. Đây cũng vậy. Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni mà không hồ nghi do dự đối với Như Lai, Tỳ-kheo ấy có hai chỗ để đến, hoặc sinh lên trời, hoặc sinh vào loài người.
Cho nên, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, hãy tìm cầu phương tiện đoạn năm kết của tâm, trừ năm tệ của tâm. Như vậy, các Tỳ-kheo, hãy học điều này.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

                                                                 KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp cô độc.
Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
–Hoặc có khi uy quyền của vua không phổ cập, trộm cướp tranh nhau nổi lên. Khi trộm cướp nổi lên, nhân dân trong các thôn xóm, thành thị, thảy đều bị bại vong. Hoặc có người gặp phải đói khát mà mạng chung. Giả sử chúng sinh ấy vì đó khát mà mạng chung, đều rơi vào ba nẻo dữ.
Ở đây, với Tỳ-kheo tinh tấn cũng vậy. Nếu sự trì giới bị sút kém, khi ấy ác Tỳ-kheo tranh nhau khởi lên làm ác. Khi Tỳ-kheo tranh nhau nổi lên làm ác, Chánh pháp dần dần suy giảm, phi pháp

 

* Trang 461 *
device

tăng trưởng. Khi phi pháp tăng trưởng, chúng sinh ở đó đều rơi vào ba nẻo dữ.
Hoặc khi uy quyền của vua lan xa, khiến cho giặc cướp lẩn trốn. Do uy quyền của vua lan xa mà nhân dân trong thành thị, thôn xóm trở nên đông đúc. Ở đây, với Tỳ-kheo tinh tấn cũng vậy. Nếu trì giới trọn vẹn, Tỳ-kheo phạm giới dần dần suy giảm, chánh pháp hưng thịnh. Bấy giờ, chúng sinh sau khi mạng chung thảy đều sinh lên trời, sinh trong loài người.
Cho nên, Tỳ-kheo, hãy tâm niệm giới luật cho đầy đủ; uy nghi, lễ tiết, không có điều gì khuyết giảm. Như vậy, Tỳ-kheo, hãy học điều này.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
                                                                        
                                                                         KINH SỐ 6
Nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp cô độc.
Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
–Chẳng thà cứ thường hay ngủ nhiều, chớ đừng trong khi thức mà tư duy loạn tưởng, để rồi thân hoại mạng chung sinh vào nẻo dữ.
Chẳng thà để cho dùi sắt đang rực cháy ịn vào mắt, chứ không để nhìn sắc mà nổi lên loạn tưởng. Tỳ-kheo khởi tưởng như vậy bị bại hoại bởi thức. Tỳ-kheo bị hủy hoại bởi thức sẽ rời vào ba nẻo dữ, địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ. Điều Ta muốn nói là như vậy.
Người kia chẳng thà cứ thường hay ngủ, chứ đừng khi thức mà tư duy loạn tưởng. Thà lấy dùi bén đâm vào lỗ tai cho nó hư hoại chứ không để vì nghe tiếng mà nổi lên loạn tưởng. Tỳ-kheo nổi lên loạn tưởng sẽ bị bại hoại bởi thức.
Chẳng thà cứ thường xuyên ngủ chứ đừng để khi thức mà tư

* Trang 462 *
device

 duy loạn tưởng. Chẳng thà lấy kìm nóng làm hư hoại mũi, chứ đừng vì ngửi mùi mà nổi lên loạn tưởng. Tỳ-kheo nổi lên loạn tưởng thì bị bại hoại bởi thức. Do bị bại hoại bởi thức mà rơi vào ba nẻo dữ, địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ.
Điều mà Ta muốn nói là như vậy.
Chẳng thà lấy gươm bén cắt đứt lưỡi, chứ không để vì lời nói hung dữ, thô bạo, mà rơi vào ba nẻo dữ, địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ.
Chẳng thà thường ngủ, chứ đừng để trong khi thức mà nổi lên tư duy loạn tưởng. Chẳng thà lấy tấm lá đồng nóng đỏ quấn quanh thân mình, chứ không giao thông với phụ nữ của trưởng giả, cư sĩ, Bà-la-môn. Nếu cùng giao thông, qua lại chuyện trò, tất phải rơi vào ba nẻo dữ, địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ.
Điều Ta muốn nói chính là như vậy.
Chẳng thà thường hay ngủ, chớ đừng để trong khi thức mà có ý nghĩa muốn phá hoại Thánh chúng. Đã phá hoại Thánh chúng, đọa tội ngũ nghịch, thì dù có đến ức ngàn chư Phật cũng không thể cứu chữa. Những ai gây đấu loạn giữa chúng, người ấy sẽ đọa tội không thể cứu chữa. Vì vậy ở đây Ta nói: “Chẳng thà cứ hay ngủ, chứ đừng để trong khi thức mà có ý muốn phá hoại Thánh chúng, chịu tội không thể cứu chữa.”
Cho nên, Tỳ-kheo, hãy gìn giữ sáu tình chớ để sai sót. Như vậy, Tỳ-kheo, hãy học điều này.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
                                                                   KINH SỐ 7
Nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp cô độc.

* Trang 463 *
device

Bấy giờ trưởng A-na-bân-để13 có bốn người con14.Chúng không thờ Phật, Pháp, Thánh chúng, không tự quy y Phật, Pháp, Thánh chúng. Trưởng giả A-na-bân-để nói với bốn người con:
–Các con, hãy tự quy y Phật, Pháp, Thánh chúng, để được phước vô lượng lâu dài.
Các con thưa:
–Thưa cha, chúng con không thể tự quy y Phật, Pháp, Thánh chúng.
A-na-bân-để nói:
–Cha sẽ các con mỗi đứa một ngàn lượng vàng ròng, nếu nghe lời cha mà tự quy y Phật, Pháp, Thánh chúng.
Các con thưa:
–Chúng con cũng không thể tự quy y Phật, Pháp, Thánh chúng.
Người cha lại nói:
–Cha cho các con hai ngàn.
Rồi cứ thêm: Ba ngàn, bốn ngàn, năm ngàn lượng vàng: “Các con, hãy tự quy y Phật, Pháp, Thánh chúng, để được phước vô lượng lâu dài.”
Các con sau khi nghe nói vậy, im lặng nhận lời. Rồi chúng hỏi:
–Chúng con sẽ tự quy y Phật, Pháp, Thánh chúng như thế nào?
Trưởng giả A-na-bân-để đáp:
–Các con tất cả theo cha đi đến Thế Tôn. Thế Tôn có dạy điều gì, các con hãy ghi nhớ mà vâng làm.
Các con thưa với cha:
–Như Lai nay đang ở đâu, cách đây gần xa?
Người cha đáp:
_______________________
13. Để bản chép nhầm là A-na-bân-kỳ阿那邠祁. kinh số 4 phẩm 10: A-na-bân-trì阿那邠持; kinh số 3 phẩm 27: A-na-bân-để阿那邠邸. Pāli: Anāthapiṇḍika (Skt. Anāthapiṇḍada).
14. Theo nguồn Pāli, ông có một con trai tên Kāla, và ba người con gái: Mahā-Subhddā, Cūla-Subhaddā, Sumanā.

* Trang 464 *
device

–Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, nay đang ở tại nước Xá-vệ, trú trong vườn của cha.
Rồi thì A-na-bân-để dẫn bốn người con đi đến chỗ Thế Tôn. Đến nơi, cúi đầu lạy dưới chân, rồi đứng sang một bên. Khi ấy, trưởng giả A-na-bân-để bạch Thế Tôn rằng:
–Bốn đứa con của con đây chưa tự quy y Phật, Pháp, Thánh chúng. Gần đây, con cho mỗi đứa năm ngàn lượng càng, khuyến khích thờ Phật, Pháp, Thánh chúng. Cúi mong Thế Tôn thuyết pháp cho chúng, để chúng được phước vô lượng lâu dài.
Bấy giờ Thế Tôn lần lượt thuyết pháp cho bốn người con của ông trưởng giả, khiến cho được hoan hỷ. Các người con của ông trưởng giả sau khi nghe pháp, hoan hỷ phấn khởi không thể dừng được, quỳ mọp trước Phật, bạch Thế Tôn rằng:
–Chúng con mỗi đứa tự quy y Thế Tôn, Chánh pháp, Thánh chúng. Từ nay về sau không sát sinh, cho đến không uống rượu.
Nói như vậy ba lần. Khi ấy trưởng giả A-na-bân-để bạch Thế Tôn rằng:
–Nếu có ai xuất tài vật thuê người thờ Phật, người ấy được phước như thế nào?
Thế Tôn nói:
–Lành thay. lành thay! Trưởng giả, vì để người trời được an lạc mà ông hỏi Như Lai nghĩa này. Hãy khéo suy nghĩa, Ta sẽ nói cho ông nghe.
Trưởng giả vâng lời Phật, lắng nghe.
Thế Tôn nói:
–Có bốn kho báu lớn15.Những gì là bốn?
1.Kho của rồng Y-bát-la ở nước Càn-đà-vệ, là một kho. Trong cung này chứa đầy vô số vật trân bảo.
2.Kho Ban-trù ở nước Mật-đế-la, chứa trân bảo nhiều vô lượng không thể kể hết.
_______________________
15. Xem kinh số 3 phẩm 48 trên.

* Trang 465 *
device

3.Kho Tân-già-la tại nước Tu-lại-tra, chứa trân bảo nhiều không thể kể.
4.Kho Tương-khư tại nước Bà-la-nại chứa trân bảo nhiều không thể kể.
Giả sử trai gái lớn nhỏ trong cõi Diêm-phù-địa mỗi người đến khuân vác trong suốt bốn năm, bốn tháng, bốn ngày, kho Y-bát-la vẫn không hề vơi bớt. Mỗi người đến lấy nơi kho Ban-trù, suốt bốn năm, bốn tháng, bốn ngày, kho vẫn không vơi bớt. Mỗi người đến lấy nơi kho Tân-già-la tại nước Tu-lại-tra, suốt bốn năm, bốn tháng, bốn ngày, kho vẫn không vơi bớt. Mỗi người đến lấy nơi kho Tương-khư tại nước Ba-la-nại, suốt bốn năm, bốn tháng, bốn ngày, kho vẫn không vơi bớt.
Này trưởng giả, đó là bốn kho lớn, mà trai gái lớn nhỏ trong cõi Diêm-phù-địa mỗi người đến khuân vác trong suốt bốn năm, bốn tháng, bốn ngày, vẫn không hề vơi bớt.
   Trong đời tương lai có Phật hiệu Di-lặc xuất hiện ở đời. Quốc giới bấy giờ có tên là Kê-đầu, đó là chỗ vua cai trị, Đông sang Tây mười hai do-diên; Nam đến Bắc bảy do-diên. Nhân dân đông đúc. Thóc lúa dồi dào. Chung quanh thành Kê-đầu nơi vua cai trị có bảy lớp ao nước, mỗi cái rộng một do-diên, mà đáy là cát vàng. Trong ao mọc các loại hoa sen ưu-bát, câu-vật-đầu, phân-đà-lợi. Nước tượng màu vàng, màu bạc, màu thủy tinh. màu lưu ly. Khi nước bạc đông cứng, nó trở thành bạc. Khi nước vàng đông cứng, nó trở thành vàng. Khi nước thủy tinh đông cứng, nó trở thành thủy tinh. Khi nước lưu ly đông cứng, nó trở thành thủy tinh.
  Này trưởng giả nên biết, thành có bốn cửa. Trong ao nước bạc, bực cửa được làm bằng vàng. Trong ao nước vàng, bực cửa được làm bằng bạc. Trong ao thủy tinh, bực cửa được làm bằng lưu ly. Trong ao lưu ly, bực cửa được làm bằng thủy tinh.
   Trưởng giả nên biết, chung quanh thành Kê-đầu bấy giờ treo các linh. Tiếng linh khi được nghe đều phát ra âm thanh năm loại nhạc. Trong thành này thường xuyên có bảy loại tiếng. Những gì là bảy? Đó là tiếng tiếng loa, tiếng trống, tiếng đàn, tiếng trống nhỏ,

* Trang 466 *
device

tiếng trống tròn16, tiếng trống trận17, tiếng ca múa.
  Trong thành Kê-đầu lúc bấy giờ sinh thứ lúa tự nhiên dài ba tấc, rất là thơm ngon, cho ra các mùi vị thượng hạng; vừa gặt xong thì sinh trở lại, không thấy chỗ đã bị cắt lấy.
   Vua thời bấy giờ tên là Tương-khư18, cai trị bằng pháp, có đầy đủ bảy báu. Trưởng giả nên biết, vị đại thần điển tàng lúc đó tên là Thiện Bảo, đức cao, trí tuệ, Thiên nhãn đệ nhất. Ông có thể biết chỗ nào có kho tàng bảo vật. Nếu kho có chủ, ông tự nhiên giữ gìn. Nếu là kho vô chủ, ông lấy đem dâng cho vua. Trong lúc đó, Long vương Y-bát-la, Long vương Ban-trù, Long vương Tân-già-la, Long vương Tương-khư; bốn Long vương này quản lý bốn kho báu. Các vị này đến nói với quan điển tàng Thiện Bảo:
–Cần gì, chúng tôi sẽ cung cấp.
Khi ấy bốn Long vương nói:19
–Xin nguyện dâng hiến bảo vật trong bốn kho để tự ý sử dụng.
Điển tàng Thiện Bảo liền lấy bảo vật trong bốn kho dâng lên vua Tương-khư, cùng với xe bảo vũ20 bằng vàng.
Bấy giờ, Thế Tôn nói bài kệ này:
Y-la ở Kiền-đà
Ban-trù tại Mật-si21
Tân-già nước Tu-lại
Tương khư, Ba-la-nại.
Đây là bốn kho báu
Tràn đầy các bảo vật
Bấy giờ thường xuất hiện
Do công đức mà có;
________________________
16. Hán: Viên cổ員鼓.
17. Hán: Bề cổ鞞 鼓.
18. Xem kinh số 3 phẩm 48.
19. Bản Hán có thể nhảy sót nên đoạn văn thiếu mạch lạc.
20. Bảo vũ xa寶羽車, xe có gắn lông chim; xem kinh số 1 phẩm 23.
21. Mật-si 蜜絺, trên kia chép Mật-đế.

* Trang 467 *
device

Đem dâng Thánh vương kia
Vàng, bạc, xe bảo vũ
Các thần đều hộ vệ
Ngày đêm được hưởng phước.
   Bấy giờ có Phật xuất hiện ở đời giáo hóa nhân dân, hiệu là Di-lặc, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, hiệu Phật Chúng Hựu.
  Trưởng giả nên biết, quan điển tàng Thiện Bảo lúc đó há là ai khác chăng? Chớ nghĩa như vậy. Vì sao? Chủ kho bấy giờ chính là trưởng giả hiện nay vậy.
   Bấy giờ vua Tương-khư đem vàng bạc đi làm phước đức rộng rãi. Vua dẫn theo tám vạn bốn ngàn đại thần vây quanh trước sau đi đến chỗ Di-lặc mà xuất gia học đạo. Quán điển tàng cũng làm phước đức rộng rãi, rồi cũng xuất gia học đạo, chấm dứt biên tế khổ. Đấy đều là do trưởng giả dắt dẫn bốn con khiến tự quy y Phật, Pháp, Tăng Tỳ-kheo. Do bởi công đức này mà không rơi vào ba nẻo dữ. Lại do duyên đức này mà được bốn kho báu lớn. Cũng do bởi báo ứng này mà làm người quản lý kho tàng cho vua Tương-khư, rồi ngay trong đời ấy mà chấm dứt biên tế khổ. Vì sao? Công đức quy y Phật, Pháp, Tăng không thể lường hết được. Những ai tự quy y Phật, Pháp, Chúng, phước đức đều như vậy.
   Cho nên, này trưởng giả, hãy thương tưởng đến các loài hữu hình, tìm cầu phương tiện hướng đến Phật pháp. Như vậy, trưởng giả, hãy học điều này.
Trưởng giả A-nan-bân-để khi ấy hoan hỷ phấn khởi không thể dừng được, liền rời chỗ ngồi đứng dậy, nhiễu Phật ba vòng, là lễ rồi lui đi. Bốn người con của ông cũng vậy.
Bấy giờ trưởng giả A-na-bân-để cùng với bốn con nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

* Trang 468 *
device

                                                               KINH SỐ 822
Nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp cô độc.
Bấy giờ trưởng giả A-na-bân-để thân mang trọng bệnh. Xá-lợi-phất, bằng Thiên nhãn thanh tịnh không bợn dơ, thấy trưởng giả A-na-bân-để thân mang trọng bệnh, bèn nói với A-nan:
–Thầy cùng tôi đi đến trưởng giả A-na-bân-để thăm viếng.
A nan đáp:
–Nên biết bây giờ là đúng lúc.
Lúc bấy giờ, đến giờ, A-nan khoác y ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực; lần hồi đi đến nhà trưởng giả A-na-bân-để, ngồi lên chỗ ngồi. Khi ấy Xá-lợi-phất đang ở trên chỗ ngồi, nói với trưởng giả A-na-bân-để:
–Bệnh của ông nay có thêm bớt gì không? Có thấy đau nhức bớt dần mà không tăng thêm nặng không?
Trưởng giả đáp:
–Bệnh của con giờ rất ít hy vọng. Chỉ cấm thấy tăng chứ không cảm thấy giảm.
Xá-lợi-phất nói:
–Bây giờ trưởng giả hãy nhớ tưởng Phật, rằng Như Lai là Bậc Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, hiệu Phật Chúng Hựu. Ông cũng hãy nhớ tưởng pháp, rằng pháp của Như Lai rất sâu  thẳm, đáng tôn, đáng quý, không gì sánh bằng, là điều mà Hiền thánh tu hành. Ông cũng hãy nhớ tưởng Tăng, rằng Thánh chúng của Như Lai hòa thuận trên dưới, không tranh tụng, thành tựu pháp tùy pháp. Thánh chúng ấy thành tựu giới, thành tựu Tam-muội, thành tựu trí tuệ, thành tựu giải thoát, thành tựu giải
________________________
22. Tham chiếu Pāli, M. 143.Anāthapiṇḍkovāda (R. iii. 257). Hán, Trung 6, kinh 28.

* Trang 469 *
device

 thoát kiến tuệ. Tăng ấy gồm bốn đôi tám hạng. Đây gọi là Thánh chúng của Như Lai đáng tôn, đáng quý, là ruộng phước vô thượng của thế gian.
Này trưởng giả, nếu ai tu hành niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng Tỳ-kheo, phước đức ấy không thể tính kể, đạt đến chỗ cam lộ diệt tận.
Nếu thiện nam, thiện nữ, niệm Tam tôn Phật, Pháp, Thánh chúng, mà đọa vào ba nẻo dữ, không có trường hợp ấy. Thiện nam, thiện nữ ấy tu niệm Tam tôn chắc chắn đi đến cõi lành, sinh lên trời, trong loài người.
Rồi sau đó, này trưởng giả, không khởi nơi sắc23, cũng không y sắc mà khởi nơi thức 24 không khởi nơi thanh, cũng không y thanh mà khởi nơi thức; không khởi hương, cũng không y hương mà khởi nơi thức; không khởi nơi vị, cũng không y vị mà khởi nơi thức; không khởi nơi xúc trơn mịn, cũng không y xúc trơn mịn mà khởi nơi thức; không khởi nơi ý, cũng không y ý mà khởi nơi thức. Không khởi đời này, đời sau25, cũng không y đời này, đời sau mà khởi nơi thức. Không khởi nơi ái, cũng không y ái mà khởi nơi thức. Vì sao? Duyên ái mà có thủ; duyên thủ mà có hữu; duyên hữu mà có sinh, chết, sầu ưu khổ não không thể kể hết. Đó là có năm khổ thạnh ấm này.
   Không có ngã, nhân, thọ mạng, sĩ phu, manh triệu, các loài hữu hình26.Khi mắt khởi thì khởi, không biết nó từ đâu đến. Khi mắt diệt thì diệt, không biết nó đi về đâu. Không có, mà mắt sinh;
_______________________
23. Hán: Bất khởi ư sắc不起於色. Pāli: Na cakkhuṃ upādiyissāmi, tôi không chấp thủ sắc; nhưng bản Hán đọc là uppādessāmi, tôi sẽ không khởi.
24. Pāli: Na ca me cakkhunissitaṃ viññānaṃ bhavissati, tôi cũng không thức y nơi mắt.
25. Hán: Kim thế, hậu thế. Pāli: Idhalokaṃ, paralokaṃ, thế giới này, thế giới khác.
26. Các từ khác nhau chỉ tự ngã: Ngã我 (Pāli: Attā, Skt. Ātman), nhân人 (Pāli: puggala, Skt. pudgala), thọ mạng壽命 (Pāli, Skt.: jīva), sĩ phu士夫 (Pāli: Purisa, Skt. Puruwa), manh triệu萠 兆(= bằng triệu? có dấu hiệu nảy mầm, Pāli, Skt. Bhūta, mầm sống, sinh vật, linh vật).

* Trang 470 *
device

đã có, rồi mắt diệt; thảy đều do nhân duyên của các pháp tụ hội. Nói là pháp nhân duyên, đó là, duyên cái này mà có cái kia; cái này không thì cái kia không. Tức là, duyên vô minh có hành, duyên hành có thức, duyên thức có danh sắc, duyên danh sắc có sáu nhập (xứ), duyên sáu nhập (xứ) có xúc*, duyên xúc có thọ*, duyên thọ có ái, duyên ái có thủ*, duyên thủ có hữu, duyên hữu có sinh, duyên sinh có chết, duyên chết có sầu ưu khổ não không thể kể xiết. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy. Không có, mà sinh; đã có, rồi diệt; không biết nó từ đâu đến cũng không biết nó đi về đâu; thảy đều do nhân duyên của các pháp tụ hội. Này trưởng giả, đó gọi là pháp hành Không đệ nhất.
Bấy giờ trưởng giả A-na-bân-để buồn rầu rơi lệ không thể tự dừng. Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi A-na-bân-để:
–Vì nhân duyên gì mà ông bi cảm như vậy?
Trưởng giả đáp:
–Không phải con bi cảm. Vì sao? Xưa con đã nhiều lần thừa sự Phật, cũng tôn kính các Tỳ-kheo trưởng lão, nhưng chưa hề nghe được pháp tôn quý như vậy, như những điều mà Xá-lợi-phất giảng dạy.
Khi ấy A-nan nói với A-na-bân-để:
–Trưởng giả nên biết, thế gian có hai hạng người được Như Lai nói đến. Những gì là hai? Một là biết lạc, hai là biết khổ. Người đã quen sống với lạc kia, như thiện gia nam tử Da-thâu-đề. Người quen sống với khổ kia như Tỳ-kheo Bà-già-lê. Lại nữa, này trưởng giả, Tỳ-kheo Da-thâu-đề giải Không đệ nhất. Người được tín giải thoát là Tỳ-kheo Bà-già-lê. Lại nữa, này trưởng giả, người biết khổ và người biết lạc, cả đều tâm được giải thoát, cả hai đều là đệ tử của Như Lai, không ai có thể sánh bằng. Bởi vì họ không chìm mất (chết), cũng không sinh.27 Cả hai đều tinh cần vâng lời Phật dạy không biếng
_____________________
27. Pāli, A-nan hỏi Cấp Cô Độc: Olīyasi kho tvaṃ, gahapati, saṃsīdasi kho tvaṃ, gahapati? “Gia chủ, ông đang bám chặt lấy (sự sống), hay đang chìm lĩm (chết)?”

* Trang 471 *
device

nhác, bỏ phế. Nhưng vì tâm có sự tăng giảm, nên người ta có kẻ biết, có kẻ không biết. Đúng như trưởng giả đã nói: “Xưa con đã nhiều lần thừa sự Phật, cũng tôn kính các Tỳ-kheo trưởng lão, nhưng trước đây chưa hề nghe được pháp tôn quý như vậy, như những điều mà Xá-lợi-phất giảng dạy.” Tỳ-kheo Da-thâu-đề nhìn nơi đất mà tâm được giải thoát. Tỳ-kheo Bà-già-lê quán sát nhìn con dao mà tức thì tâm được giải thoát. Cho nên, này trưởng giả, nên làm như Tỳ-kheo Bà-già-lê.
    Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất nói pháp một cách rộng rãi, khiến ông hoan hỷ, khiến phát tâm vô thượng. Sau đó, ngài rời chỗ ngồi đứng dậy mà đi.
    Xá-lợi-phất đi chưa bao lâu, giây lát A-na-bân-để mạng chung, sinh lên trời Tam thập tam. Thiên tử A-na-bân-để này có năm công đức hơn hẳn chư Thiên kia. Những gì là năm? Thọ mạng cõi trời, nhan sắc cõi trời, lạc thú cõi trời, oai thần cõi trời và ánh sáng cõi trời. Thiên tử A-na-bân-để khi ấy suy nghĩa như vầy: “Ta có được thân này là do ân đức của Như Lai. Nay ta không nên an trú mà hưởng thụ nơi ngũ dục. Trước hết, hãy đến Thế Tôn lễ bái, thăm hỏi.
    Rồi Thiên tử A-na-bân-để với các Thiên tử khác vây quanh trước sau cầm hoa trời rải lên thân Như Lai. Như Lai lúc ấy đang ở trong vườn Kỳ thọ Cấp cô độc, nước Xá-vệ. Vị Thiên tử này đứng giữa hư không, chắp tay hướng về Thế Tôn mà nói bài kệ:
Đây là cõi Kỳ hoàn
Chúng Tiên nhân28 đang ở
Nơi Pháp vương ngự trị
Khiến phát tâm hoan hỷ.
Thiên tử A-na-bân-để nói xong bài kệ này, Như Lai im lặng hứa khả. Liền khi ấy, vị Thiên tử này nghĩa: “Như Lai đã im lặng hứa khả, ta nên xả thần túc để xuống hầu một bên.”
________________________
28. Tiên nhân chúng; Tiên nhân ở đây chỉ Phật. Chúng, dịch nghĩa của Tăng. Pāli: Isisaṅgha.

* Trang 472 *
device

Bấy giờ Thiên tử A-na-bân-để bạch Thế Tôn rằng:
–Con là Tu-đạt, lại tên là A-na-bân-để mà mọi người đều rõ, lại cũng là đệ tử của Như Lai, vâng lời dạy của Thánh Tôn. Nay con đã mạng chung, sinh lên trời Tam thập tam.
Thế Tôn nói:
–Ông do ân đức gì mà nay được thân trời này?
Thiên tử bạch Phật:
–Con mong nhờ oai lực của Phật mà được thân trời.
Rồi Thiên tử A-na-bân-để rải hoa trời lên trên than Như Lai và cũng rải lên trên thân của A-nan và Xá-lợi-phất. Sau đó, đi nhiễu khắp Kỳ hoàn bảy vòng và biến mất.
Bấy giờ Thế Tôn nói với A-nan:
–Đêm qua có Thiên tử đên chỗ Ta, nói bài kệ sau đây:
Đây là cõi Kỳ hoàn
Chúng Tiên nhân đang ở
Nơi Pháp vương ngự trị
Khiến phát tâm hoan hỷ.
Rồi Thiên tử ấy đi nhiễu khắp Kỳ hoàn bảy vòng và lui mất. A-nan, ông có biết Thiên tử ấy không?
A-nan đáp:
–Tất nhiên là trưởng giả A-na-bân-để.
Phật nói:
–A-nan, đúng như lời ông nói. Lành thay, ông bằng trí vị tri29 mà biết được Thiên tử ấy. Vì sao? Vị đó là Thiên tử A-na-bân-để.
A-nan bạch Phật:
–A-na-bân-để nay sinh lên trời, tên là gì?
Phật đáp:
–Vẫn tên là A-na-bân-để. Vì sao? Vị Thiên tử này ngay ngày mới sinh chư Thiên ở đó ai cũng nói: “Thiên tử này khi còn ở loài người là đệ tử của Như Lai, luôn luôn với đẳng tâm mà bố thí rộng
________________________
29. Vị tri trí未知智, chỉ trí tuệ của bậc Hữu học. Pāli: Anaññāta.

* Trang 473 *
device

khắp, giúp đỡ hết thảy những người nghèo khổ. Do công đức này, ở trên trời Tam thập tam vẫn gọi tên cũ là A-na-bân-để.
Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
–Tỳ-kheo mà có công đức lớn, thành tựu trí tuệ, đó là A-nan. Nay đang ở địa vị hữu học mà trí tuệ không ai sánh bằng. Vì sao? Điều mà A-la-hán cần phải biết, thì A-nan cũng biết. Điều cần học nơi chư Phật quá khứ, A-nan cũng đều biết rõ. Thời quá khứ có người nghe rồi mới hiểu rõ, còn như Tỳ-kheo A-nan hiện nay mới nhìn ngắm cũng biết rõ, rằng: “Như
Lai cần như vậy, Như Lai không cần như vậy.” Đệ tử của chư Phật quá khứ nhập định rồi mới biết sự việc chưa xảy ra. Còn như Tỳ-kheo A-nan của Ta ngày nay nhìn đến là tỏ rõ.
Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
–Trong hàng Thanh văn của Ta, hiểu biết rộng rãi, có tinh tấn dũng mãnh, niệm không thác loạn, đa văn đệ nhất, có khả năng chấp sự, đó là Tỳ-kheo A-nan.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
                                                                  KINH SỐ 930
Nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp cô độc. Bấy giờ trưởng A-na-bân-để có người con dâu tên là Thiện Sinh,31 dung mạo xinh đẹp, mặt như màu hoa đào, là con gái của vị đại thần của vua Ba-tư-nặc,32 ỷ vào dòng họ, cậy thế hào tộc, không
__________________
30. Tham chiếu Pāli, A.VII 59 Sattabhariyā (R. iv. 91).
31. Thiện Sinh善 生, Pāli: Sujātā.
32. Theo tài liệu Pāli, cô là em gái út của bà Visakhā, con của Trưởng giả Dhanañjayaseṭṭhi.

* Trang 474 *
device

 cung kính cha mẹ chồng và chồng, cũng không thờ Phật, Pháp, Tăng Tỳ-kheo, không kính phụng Tam tôn.
Bấy giờ trưởng giả A-nan-bân-để đi đến Thế Tôn, cúi đầu lạy dưới chân, rồi ngồi xuống một bên. Ông trưởng giả bạch Thế Tôn rằng:
–Gần đây con cưới vợ cho con trai. Nàng ấy là con gái của vị đại thần của vua Ba-tư-nặc, tự thị dòng tộc trọng vọng, không thừa sự Tam tôn, không biết trưởng lão, tôn ti. Cúi mong Thế Tôn thuyết pháp để nàng sinh hoan hỷ, tâm ý khai tỏ.
Như Lai khi ấy im lặng hứa khả điều mà trưởng giả nói. Ông trưởng giả lại bạch Phật:
–Cúi mong Thế Tôn nhận lời thỉnh của con, cùng với Tăng Tỳ-kheo.
Khi ông trưởng giả thấy Thế Tôn im lặng nhận lời, liền rời chỗ ngồi đứng dậy, lạy Phật, nhiễu ba vòng, rồi lui về.
Về đến nhà, ông cho sửa soạn các thứ ẩm thực, trải dọn chỗ ngồi tốt đẹp. Khi đến giờ, ông bạch Phật:
–Cúi xin Thế Tôn nhận lời thỉnh của con. Cơm đã dọn đủ.
 Bấy giờ Thế Tôn dẫn các Tỳ-kheo vây quanh trước sau đi nhà ông trưởng giả, ngồi lên chỗ ngồi dọn sẵn. Ông trưởng giả lấy một cái ghế nhỏ, ngồi trước Như Lai. Rồi Thế Tôn nói với cô Thiện Sinh:
–Này con gái ông trưởng giả, nên biết, chồng đối với vợ có bốn việc33.Những gì là bốn?
1.Có người vợ như là mẹ.
2.Có người vợ như là bạn thân.
3.Có người vợ như là giặc.
4.Có người vợ như là nô tỳ.
Cô nên biết, vợ như mẹ, ấy là tùy thời chăm sóc chồng không để thiếu thốn, thờ kính, phục vụ. Người ấy được chư Thiên hộ vệ;
_____________________
33. Pāli: Có bảy loại vợ.

* Trang 475 *
device

 người và loài phi nhân không thể rình cơ hội. Này con gái ông trưởng giả, đó gọi là vợ như mẹ.
Người vợ kia như thế nào gọi là bạn thân? Ở đây, này con gái ông trưởng giả, sau khi thấy chồng rồi, tâm không tăng giảm, cùng chung vui hay khổ. Đó gọi là vợ như bạn thân.
Thế nào gọi vợ như giặc? Ở đây, này cô, khi thấy chồng, lòng ôm sân nhuế, ganh ghét chồng, không phục vụ, không thờ kinh, không cung kính, thấy là muốn hại, mà tâm để nơi người khác. Chồng không thân vợ, vợ cũng không thân chồng. Người ấy không được mọi người yêu kính; không được chư Thiên hộ vệ, sẽ bị ác quỷ xâm hại; thân hoại mạng chung sinh vào địa ngục. Người như vậy gọi là vợ như giặc.
 Thế nào là vợ như nô tỳ? Ở đây, người vợ hiền lương, thấy chồng thì tùy thời chăm sóc, nhẫn nhịn lời nói, không bao giờ cãi lại; nhẫn chịu khổ lạnh, hằng có tâm từ ái. Đối với Tam tôn thì sinh niệm tưởng này: “Kia còn thì tôi còn. Kia suy thì tôi suy.” Do sự việc ấy, người ấy được chư Thiên hộ vệ; người và loài phi nhân đều yêu mến; thân hoại mạng chung sinh vào chỗ lành, sinh lên trời.
Đó là, này con gái ông trưởng giả, có bốn loại vợ này. Nay cô thuộc vào loại nào?
Cô gái ấy sau khi nghe Thế Tôn nói, liền đến trước Phật, lạy dưới chân rồi bạch Thế Tôn rằng:
–Cúi lạy Thế Tôn, con nay xin sửa đổi việc đã qua, tu tập việc sẽ đến. Không còn dám như trước nữa. Từ nay về sau, con sẽ thường hành lễ pháp như là nô tỳ vậy.
Rồi nàng Thiện Sinh trở lại chỗ chồng, cúi đầu lạy dưới chân:
–Nay xin nguyện chăm xóc người như là nô tỳ.
Sau đó, nàng Thiện Sinh lại đến Thế Tôn, cúi đầu lạy dưới chân, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn lần lượt thuyết pháp, nói về giới, về thí, về sinh Thiên, dục là bất tịnh tưởng, dâm là đại ô uế. Khi Thế Tôn biết tâm ý cô đã khai tỏ, như pháp mà chư Phật thường thuyết là Khổ, Tập, Tận, Đạo; bấy giờ Thế Tôn cũng nói

* Trang 476 *
device

 hết cho cô nghe. Tức thì ngay trên chỗ ngồi, cô được Pháp nhãn thanh tịnh. Như tấm vải mới dễ nhuộm màu. Đây cũng như vậy, cô phân biệt các pháp, khéo hiểu ý nghĩa thâm diệu, tự quy y Tam tôn, thọ năm giới.
Bấy giờ cô gái Thiên Sinh nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 10
Nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp cô độc.
Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến chố Thế Tôn, cúi đầu lạy dưới chân rồi ngồi xuống một bên.  Giây lát, rời chồ ngồi, bạch Thế Tôn rằng:
–Thế Tôn thường khen ngợi địa vị cao, hào tộc tôn quý mà không nói đến hạng thấp hèn. Còn con, bạch Thế Tôn, không khen ngợi hào tộc tôn quý, cũng không nói đến hạng thấp hèn. Con giữ bậc trung mà nói, khiến người được xuất gia học đạo.
Phật nói với Xá-lợi-phất:
–Ông tự nói là không khen ngợi hào tộc tôn quý, không nói hạng thấp hèn, giữ bậc trung mà nói, để khiến người được xuất gia học đạo. Nhưng Ta nay không nói thượng, trung, hạ dẫn đến thọ sinh34.Vì sao? Phàm sinh là rất khổ, không đáng để ước nguyện. Như đống phân kia, một ít mà còn rất hôi thối, huống chi là chứa nhiều. Nay sự thọ sinh cũng vậy. Một đời hay hai đời còn là khổ nạn, huống nữa lưu chuyển vô cùng mà lại có thể cam chịu. Do hữu mà có sinh. Do sinh mà có già. Do già mà có bệnh, có chết, sầu ưu khổ não, có gì vui mà tham đắm? Như thế thành thân năm thạnh ấm.
________________________
34. Hán: Thọ sinh phần受生分.

* Trang 477 *
device

    Ta nay sau khi quán sát nghĩa này, nên nói một đời, hai đời, còn là khổ nạn, huống nữa lưu chuyển vô cùng mà lại có thể cam chịu.
   Này Xá-lợi-phất, nếu có ý muốn thọ sinh, nên phát nguyện sinh vào nhà hào quý chứ không sinh thấp hèn. Vì sao? Xá-lợi-phất, chúng sinh đêm dài bị tâm trói buộc  chứ không phải bị hào quý trói buộc. Nhưng này, Xá-lợi-phất, Ta vốn ở nhà hào quý, là dòng Sát-lợi, xuất từ Chuyển luân thánh vương. Giả sử không xuất gia học đạo, Ta làm Chuyển luân thánh vương. Nay xả ngôi vị Chuyển luân thánh vương mà xuất gia học đạo, thành đạo Vô thượng. Phàm sinh vào nhà thấp hèn, không được xuất gia học đạo, ngược lại phải rơi vào nẻo dữ. Cho nên, Xá-lợi-phất, hãy tìm cầu phương tiện hàng phục tâm. Như vậy, Xá-lợi-phất, hãy học điều này.
Bấy giờ Xá-lợi-phất nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

* Trang 478 *
device

 
Đại Tập 9 - Bộ A- àm IX - Số 125(tt)-> 151