LOGO VNBET
LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA

 QUYỂN 167

LUẬN VỀ NHIẾP (Phần 2)

 
Hỏi: Tưởng về Vô thường… thâu nhiếp mấy Tĩnh lự …?
Đáp: Tưởng về Vô thường thâu nhiếp bốn Tĩnh lự , bốn Vô sắc, bốn Giải thoát. Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Bởi vì muốn ngăn chặn tông chỉ của người khác để hiển bày về nghĩa của mình. Như Luận giả Phân Biệt chấp nhận thâu nhiếp tánh khác, ngăn chặn thâu nhiếp tự tánh. Nay ngăn chặn ý đó,  chấp nhận thâu nhiếp tự tánh, ngăn chặn thâu nhiếp tánh khác, cho nên soạn ra phần luận này.
Hỏi: Vì sao trong này không nói Tưởng trở lại thâu nhiếp Tưởng?
Đáp: Có người nói: Bởi vì là ý của người soạn luận muốn như vậy, cho đến nói rộng ra.
Có người nói: Trong này nên đưa ra cách nói này: “Tưởng về Vô thường… thâu nhiếp mấy Tưởng…?
Đáp: Tưởng về Vô thường thâu nhiếp Tưởng về Vô thường, cho đến Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, thâu nhiếp Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui.” Cần phải đưa ra cách nói này, mà không nói thì nên biết là nghĩa này có khác.
Có người nói: Trong này muốn thành lập về nghĩa chưa thành lập, Tưởng trở lại thâu nhiếp Tưởng không cần thành lập, cho nên không nói.
Hỏi: Nếu như vậy thì văn sau cũng không cần nói là Tĩnh lự  thứ nhất… trở lại thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ nhất…?
Đáp: Có người nói: Các Tĩnh lự  thâu nhiếp Thể của nhiều pháp, không phải là đối với nhiều pháp, nghĩa về thâu nhiếp tự tánh không nói mà tự thành, Tưởng chỉ là một pháp, cho nên không phải là vấn nạn.

* Trang 279 *
device

Có người nói: Văn ấy cũng không cần nói là các Tĩnh lự  thâu nhiếp các Tĩnh lự , mà nói đến là muốn nêu rõ các loại văn từ-các loại giải thích, nhờ vào các loại văn từ-các loại giải thích bổ sung cho nghĩa thì nghĩa sẽ dễ hiểu.
Có người nói: Vì nêu rõ hai môn loại, hai phương thức, hai giai đoạn, hai ngọn đuốc, hai ánh sáng, hai cảnh vật, hai loại văn từ mô phỏng. Như không nói là Tưởng thâu nhiếp Tưởng, như vậy cũng không nên nói là các Tĩnh lự  thâu nhiếp các Tĩnh lự . Như văn sau nói là các Tĩnh lự  thâu nhiếp các Tĩnh lự , như vậy cũng nên nói là Tưởng thâu nhiếp Tưởng. Muốn làm cho hai nghĩa của đôi bên đều thông suốt, cho nên đưa ra hai văn để biểu đạt phỏng theo lẫn nhau.
Có người nói: Trong này phân tích về nghĩa của Thâu nhiếp và Tương ưng, bởi vì Tưởng đối với Tưởng chỉ có nghĩa về Thâu nhiếp, không có nghĩa về Tương ưng, cho nên không nói.
Cách nói này không hợp lý, bởi vì đối với Trí và Đẳng trì cũng không nên nói là không có Tương ưng. Nên đưa ra cách nói này: Tự tánh của Tưởng không có xen tạp, đối với Thâu nhiếp dễ dàng hiểu rõ, cho nên không nói; Trí và Đẳng trì, hoặc là tự tánh có xen tạp, hoặc là hành tướng có xen tạp, đối với Thâu nhiếp khó hiểu rõ ràng, cho nên nói đến.
Tưởng về Vô thường thâu nhiếp bốn Tĩnh lự , đây tức là nói chung. Nhưng các Tĩnh lự  đều là tánh thuộc năm Uẩn, Tưởng về Vô thường này chỉ thâu nhiếp Tưởng uẩn chứ không thâu nhiếp Uẩn khác. Ở trong Tưởng uẩn chỉ thâu nhiếp Tưởng về Vô thường chứ không thâu nhiếp Tưởng khác. Ở trong Tưởng về Vô thường, quá khứ thâu nhiếp quá khứ, vị lai thâu nhiếp vị lai, hiện tại thâu nhiếp hiện tại, hữu lậu thâu nhiếp hữu lậu, vô lậu thâu nhiếp vô lậu, Học thâu nhiếp Học, Vô học thâu nhiếp Vô học, Phi học phi vô học thâu nhiếp Phi học phi vô học, pháp lui sụt thâu nhiếp pháp lui sụt, cho đến pháp bất động thâu nhiếp pháp bất động; trong đó ở Tĩnh lự  thứ nhất thì thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ nhất, cho đến ở Tĩnh lự  thứ tư thì thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ tư. Vì vậy nói chung là thâu nhiếp bốn Tĩnh lự .
Như nói về thâu nhiếp bốn Tĩnh lự , thâu nhiếp bốn Vô sắc-bốn Giải thoát cũng như vậy. Sai biệt là bốn Vô sắc-bốn Giải thoát lấy bốn Uẩn làm tánh.
Tưởng còn lại tùy theo thích hợp cũng dựa theo cách nói này. Nhưng các Tưởng đều lấy Tưởng làm tự tánh, đều không thâu nhiếp Trí, Tam-ma-địa và Giải thoát thứ tám.

* Trang 280 *
device

Hỏi: Tưởng về Vô thường cũng bao gồm hệ thuộc cõi Dục, trong này vì sao không nói?
Đáp: Có người nói: Cần phải nói mà không nói thì nên biết là nghĩa này có khác.
Có người nói: Tưởng về Vô thường ở cõi Dục, là gia hạnh chứ không phải là Căn bản, trong này chỉ nói đến Căn bản, cho nên không nói.
Có người nói: Nay ở chương Định Uẩn này chỉ nói đến pháp ở địa của Định, cho nên không nói đến cõi Dục.
Có người nói: Trong này dùng mười Tưởng đối với các môn của Tĩnh lự  để làm câu hỏi, cõi Dục không phải là các môn của Tĩnh lự , cho nên không nói. Không nói đến Tưởng khác, nghĩa cũng giống như vậy.
Như Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, Tưởng về Chết, Tưởng về Đoạn, Tưởng về Lìa, Tưởng về Diệt cũng như vậy, bởi vì thuộc về tám Đẳng chí bao gồm hữu lậu và vô lậu. Bảy Tưởng này bởi vì sở duyên và hành tướng khác nhau, cho nên không thâu nhiếp ba Giải thoát đầu, tám Thắng xứ, mười Biến xứ và Vô lượng. Tưởng về Bất tịnh thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ ba-thứ tư, hai Giải thoát đầu.
Hỏi: Trong bốn Tĩnh lự  đều có Tưởng về Bất tịnh, vì sao chỉ nói là thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ ba-thứ tư?
Đáp: Cũng cần phải nói thâu nhiếp hai Tĩnh lự  đầu, mà không nói thì nên biết là nghĩa này có khác.
Có người nói: Nếu nói thâu nhiếp hai Giải thoát đầu, thì nên biết là đã nói đến thâu nhiếp hai Tĩnh lự  đầu, bởi vì hai Giải thoát đầu thuộc về hai Tĩnh lự  đầu.
Có người nói: Trong này nêu ra phần sau để hiển bày phần đầu, cho nên nêu ra địa lìa Hỷ thì đã hiển bày về địa có Hỷ.
Có người nói: Hai Tĩnh lự  đầu không có Tưởng về Bất tịnh, cho nên không nói. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì hai địa ấy đều có Hỷ căn, tất cả Hỷ căn chuyển hành tướng vui mừng, Tưởng về Bất tịnh chuyển hành tướng buồn chán, không phải là hai hành tướng chuyển trong một tâm.
Hỏi: Nếu như vậy thì Tưởng này đã thâu nhiếp hai Giải thoát đầu ở địa nào?
Đáp: Ở hai Cận phần chứ không phải là địa Căn bản, cũng bởi vì trái ngược nhau với Hỷ thọ.
Hỏi: Nếu như vậy thì văn sau không nên nói là hai Tĩnh lự đầu

* Trang 281 *
device

thâu nhiếp hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước?
Đáp: Văn ấy nói Tĩnh lự  cũng thâu nhiếp quyến thuộc, như nói về thành ấp cũng thâu nhiếp bên cạnh thành ấp.
Hỏi: Nếu như vậy thì không nên nói Tưởng về Bất tịnh thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ ba, bởi vì địa ấy có Lạc thọ, cũng trái ngược nhau với Tưởng về Bất tịnh?
Đáp: Tĩnh lự  thứ ba nói là cũng thâu nhiếp quyến thuộc chứ không phải là địa Căn bản, cho nên không có lỗi. Nếu như vậy thì trong này cũng nên nói Tưởng về Bất tịnh thâu nhiếp hai Tĩnh lự  đầu, bởi vì ông cùng chấp nhận ở địa Cận phần không có gì sai biệt. Nói như vậy thì trong địa Căn bản của hai Tĩnh lự  đầu, cũng có Tưởng về Bất tịnh và hai Giải thoát đầu. Nếu cho rằng không có, thì lẽ ra không có ai có thể lìa nhiễm của địa này, bởi vì địa này có Hỷ tăng thượng làm lay động tâm ấy. Nếu không có Tưởng về Bất tịnh và hai Giải thoát đầu để chế phục tâm ấy, thì các Sư Du-già lẽ nào có thể lìa nhiễm của địa ấy hay sao? Vả lại, địa ấy lẽ ra cũng không có Khổ-Tập nhẫn trí để chuyển hành tướng chán ngán ấy, vì vậy lẽ ra cũng không có Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ.
Hỏi: Vì sao Hỷ thọ làm chuyển hành tướng chán ngán?
Đáp: Bởi vì có thể tự tại đối với chán ngán cho nên cũng sinh ra vui vẻ, ngay lúc sinh ra vui vẻ đối với điều ấy cũng chán ngán, như lúc đánh thắng kẻ thù cũng chán ngán-cũng vui vẻ.
Có người nói: Như vua cùng với tướng sĩ đánh tan quân địch rồi cùng nhau thọ nhận niềm vui sướng; như vậy hành giả dùng Tưởng về Bất tịnh… trừ bỏ cõi Dục rồi, đối với Tĩnh lự  thứ nhất… cùng nhau thọ nhận niềm vui sướng.
Có người nói: Trong Tĩnh lự  thứ nhất, hai Giải thoát đầu và Tưởng về Bất tịnh, đối trị với Tỷ-Thiệt thức của cõi Dục; trong Tĩnh lự  thứ hai, hai Giải thoát đầu và Tưởng về Bất tịnh, đối trị với Nhãn-Nhĩ-Thân thức của Tĩnh lự  thứ nhất, vì vậy trong hai Tĩnh lự  đầu chắc chắn có hai Giải thoát đầu và Tưởng về Bất tịnh. Nhưng trong này tóm lược cho nên không nói đến Tưởng về Bất tịnh thâu nhiếp hai Tĩnh lự  đầu.
Có người nói: Tưởng về Bất tịnh thật ra ở bốn Tĩnh lự , nhưng ở đây chỉ nói thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ ba-thứ tư, là bởi vì Tĩnh lự  thứ ba có Lạc thọ thù thắng nhất ở trong sinh tử, Tĩnh lự  thứ tư có niềm vui Khinh an thù thắng nhất ở trong sinh tử, khó chán ngán-khó rời bỏ cho nên ở trong này nói đến Tưởng về Bất tịnh; trong hai Tĩnh lự  đầu không có niềm vui như vậy, cho nên không nói đến thâu nhiếp.

* Trang 282 *
device

Hỏi: Vì sao Tưởng về Bất tịnh chỉ nói thâu nhiếp hai Giải thoát đầu, chứ không nói thâu nhiếp bốn Thắng xứ trước?
Đáp: Bởi vì Tưởng về Bất tịnh là bắt đầu tu pháp quán chung tương tự với hai Giải thoát đầu cho nên thâu nhiếp, Thắng xứ là về sau dấy khởi pháp quán riêng biệt cho nên không thâu nhiếp lẫn nhau. Như Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn cũng như vậy.
Hỏi: Tưởng về Chán ăn không phải là tự tánh giải thoát, vì sao cũng thâu nhiếp hai Giải thoát đầu?
Đáp: Văn này chỉ cần nói Tưởng về Chán ăn thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ ba-thứ tư, mà nói như Tưởng về Bất tịnh, là muốn hiển bày Tưởng về Chán ăn lấy Tưởng về Bất tịnh làm gia hạnh, bởi vì nói Tưởng về Chán ăn và gia hạnh, cho nên nói là như Tưởng về Bất tịnh.
Có người nói: Tưởng về Chán ăn và Tưởng về Bất tịnh, xen tạp lẫn nhau-dẫn dắt lẫn nhau, có nghĩa của thâu nhiếp lẫn nhau, cho nên nói là thâu nhiếp như Tưởng về Bất tịnh.
Có người nói: Tưởng về Chán ăn cũng làm chuyển hành tướng Bất tịnh, như nói nếu có được cơm thì dấy lên Tưởng về giòi bọ, cho đến nói rộng ra. Vì vậy cũng thâu nhiếp hai Giải thoát đầu, cùng quán Sắc xứ mà chuyển Bất tịnh.
Hỏi: Nếu Tưởng về Chán ăn và Tưởng về Bất tịnh cùng quán Sắc xứ mà chuyển Bất tịnh, thì Đức Thế Tôn đã nói Tưởng về Chán ăn và Tưởng về Bất tịnh có gì sai biệt?
Đáp: Thể thật sự không có khác nhau, nhưng bởi vì đã đối trị Ái có sai biệt, cho nên kiến lập hai Tưởng, đó là Tưởng về Bất tịnh đối trị với Ái thuộc Dâm dục, Tưởng về Chán ăn đối trị với Ái thuộc Đoàn thực.
Lời bình: Không nên đưa ra cách nói như vậy, bởi vì Đức Phật đã an lập mười Tưởng đều khác nhau. Vả lại, Ái thuộc Đoàn thực duyên với Đoàn thực mà khởi lên, Hương-Vị-Xúc xứ là tánh của Đoàn thực. Nếu chấp nhận Tưởng này đối trị với Ái kia, thì tại sao nói là giống như Tưởng về Bất tịnh, quán Sắc xứ cho nên thâu nhiếp hai Giải thoát đầu? Vì vậy nên biết cách nói trước là hợp lý, bởi vì hành tướng-sở duyên và địa của hai Tưởng này khác nhau, cho nên không thâu nhiếp tất cả Giải thoát-Thắng xứ và Biến xứ-Vô lượng.
Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ ba-thứ tư.
Hỏi: Hai Tĩnh lự  đầu cũng có Tưởng này, vì sao không nói thâu nhiếp?
Đáp: Văn này cần phải nói là thâu nhiếp bốn Tĩnh lự , mà chỉ nói

* Trang 283 *
device

thâu nhiếp hai Tĩnh lự  sau, thì nên biết là nghĩa này có khác.
Có người nói: Trong này nêu ra phần sau để hiển bày phần đầu.
Có người nói: Hai Tĩnh lự  trên là địa thù thắng đáng yêu thích, bởi vì có Lạc thọ thù thắng nhất và niềm vui Khinh an thù thắng nhất. Đối với địa như vậy nói có Tưởng này, là hiển bày về người tu hành ở trong địa vui sướng thù thắng, hãy còn có thể khởi lên Tưởng về không đáng vui, huống là ở nơi khác hay sao? Vì vậy chỉ nói là thâu nhiếp hai địa này.
Có người nói: Tĩnh lự  thứ nhất bị ngọn gió Tầm-Tứ làm cho lay động, Tĩnh lự  thứ hai bị dòng nước vui vẻ tột độ(cực hỷ) làm cho trôi nổi, tuy có Tưởng về Bất tịnh-Chán ăn-Tất cả thế gian không đáng vui, mà không rõ ràng trong sáng; hai Tĩnh lự  sau, cùng với điều này trái ngược nhau, cho nên nói là thâu nhiếp. Bởi vì hành tướng-sở duyên và địa của hai Tưởng này khác nhau, cho nên không thâu nhiếp tất cả Giải thoát-Thắng xứ và Biến xứ-Vô lượng.
Hỏi: Tĩnh lự  thứ nhất… thâu nhiếp mấy Tĩnh lự …?
Đáp: Tĩnh lự  thứ nhất thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ nhất, bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, tám Trí, ba Tam-ma-địa. Tĩnh lự  thứ hai thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ hai, bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, tám Trí, ba Tam-ma-địa. Tĩnh lự  thứ ba thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ ba, ba Vô lượng, tám Trí, ba Tam-ma-địa. Tĩnh lự  thứ tư thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ tư, ba Vô lượng, Tịnh giải thoát, bốn Thắng xứ sau, tám Biến xứ trước, tám Trí, ba Tam-ma-địa.
Trong này, bốn Tĩnh lự  đều dùng năm Uẩn ở địa Căn bản của mình để làm tánh, cho nên có thể thâu nhiếp công đức của các môn này. Nên biết đều là thâu nhiếp tự tánh chứ không phải là thâu nhiếp tánh khác.
Hỏi: Từ vô lượng… thâu nhiếp mấy Vô lượng…?
Đáp: Từ thâu nhiếp Từ và Thế tục trí, cho đến Xả thâu nhiếp Xả và Thế tục trí.
Trong này, bốn Vô lượng đều dùng các Uẩn thuộc phẩm câu sinh để làm tánh, cho nên có thể thâu nhiếp Thế tục trí. Bởi vì duyên chung với hữu tình làm cảnh, cho nên không thâu nhiếp Giải thoát-Thắng xứ- Biến xứ và Tha tâm trí, hữu lậu cho nên không thâu nhiếp Trí khác và ba Tam-ma-địa.
Hỏi: Không vô biên xứ… thâu nhiếp mấy Vô sắc…?
Đáp: Không vô biên xứ thâu nhiếp Không vô biên xứ, và Giải thoát của địa ấy, Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Thức vô

* Trang 284 *
device

biên xứ thâu nhiếp Thức vô biên xứ, và Giải thoát của địa ấy, Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Vô sở hữu xứ thâu nhiếp Vô sở hữu xứ, và Giải thoát của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Phi tưởng phi phi tưởng xứ thâu nhiếp Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và Giải thoát của địa ấy, Diệt Tưởng-Thọ giải thoát, Thế tục trí.
Trong này, bốn Vô sắc đều dùng bốn Uẩn ở địa Căn bản của mình để làm tánh, cho nên có thể thâu nhiếp tất cả công đức này. Sáu Trí, là trừ ra Pháp trí và Tha tâm trí, bởi vì hai Trí này không dựa vào địa Vô sắc.
Hỏi: Giải thoát thứ nhất… thâu nhiếp mấy Giải thoát…?
Đáp: Giải thoát thứ nhất-thứ hai-thứ ba thâu nhiếp Giải thoát thứ nhất-thứ hai-thứ ba và Thế tục trí. Giải thoát của Không vô biên xứ thâu nhiếp Giải thoát của Không vô biên xứ, và Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Giải thoát của Thức vô biên xứ thâu nhiếp Giải thoát của Thức vô biên xứ, và Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Giải thoát của Vô sở hữu xứ thâu nhiếp Giải thoát của Vô sở hữu xứ, và sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Giải thoát của Phi tưởng phi phi tưởng xứ thâu nhiếp Giải thoát của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và Thế tục trí. Diệt Tưởng-Thọ giải thoát thâu nhiếp Diệt Tưởng-Thọ giải thoát.
Trong này, ba Giải thoát trước đều dùng năm Uẩn thuộc phẩm câu sinh để làm tánh, cho nên có thể thâu nhiếp Thế tục trí, là bắt đầu quán chung cho nên không thâu nhiếp Thắng xứ và Biến xứ, là hữu lậu cho nên không thâu nhiếp Trí khác và ba Tam-ma-địa, duyên với Sắc cho nên không thâu nhiếp Tha tâm trí. Giải thoát của bốn Vô sắc đều dùng bốn Uẩn thiện gia hạnh của địa mình làm tánh, cho nên có thể thâu nhiếp hai Biến xứ sau và sáu Trí, ba Tam-ma-địa.
Hỏi: Thắng xứ thứ nhất… thâu nhiếp mấy Thắng xứ…?
Đáp: Thắng xứ thứ nhất thâu nhiếp Thắng xứ thứ nhất và Thế tục trí, cho đến Thắng xứ thứ tám thâu nhiếp Thắng xứ thứ tám và Thế tục trí. 
Trong này, tám Thắng xứ đều dùng năm Uẩn thuộc phẩm câu sinh để làm tánh, cho nên có thể thâu nhiếp Thế tục trí. Thắng xứ là quán phần giữa(trung quán) cho nên không thâu nhiếp Biến xứ, hữu lậu cho nên không thâu nhiếp Trí khác và ba Tam-ma-địa, duyên với Sắc cho nên không thâu nhiếp Tha tâm trí.
Hỏi: Biến xứ thứ nhất… thâu nhiếp mấy Biến xứ…?
Đáp: Biến xứ thứ nhất thâu nhiếp Biến xứ thứ nhất và Thế tục trí, cho đến Biến xứ thứ mười thâu nhiếp Biến xứ thứ mười và Thế tục trí.

* Trang 285 *
device

Trong này, mười Biến xứ đều dùng năm Uẩn-bốn Uẩn thuộc phẩm câu sinh để làm tánh, cho nên có thể thâu nhiếp Thế tục trí, hữu lậu cho nên không thâu nhiếp Trí khác và ba Tam-ma-địa, duyên với Sắc và địa khác nhau cho nên không thâu nhiếp Tha tâm trí.
Hỏi: Pháp trí… thâu nhiếp mấy Trí…?
Đáp: Pháp trí thâu nhiếp Pháp trí và phần ít của năm Trí, cho đến nói rộng ra.
Pháp trí thâu nhiếp Pháp trí. Pháp trí thuộc về sáu địa, đó là Định Vị chí, Tĩnh lự  trung gian và bốn Tĩnh lự . Định Vị chí thâu nhiếp Định Vị chí, cho đến Tĩnh lự  thứ tư thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ tư.
Lại nữa, Pháp trí thuộc về ba đạo, đó là Kiến đạo, Tu đạo và đạo Vô học. Kiến đạo thâu nhiếp Kiến đạo, cho đến đạo Vô học thâu nhiếp đạo Vô học.
Lại nữa, Pháp trí duyên với bốn Đế, Khổ pháp trí thâu nhiếp Khổ pháp trí, cho đến Đạo pháp trí thâu nhiếp Đạo pháp trí.
Lại nữa, Pháp trí thuộc về bốn đạo, đó là đạo gia hạnh-vô gián- giải thoát-thắng tiến. Đạo gia hạnh thâu nhiếp đạo gia hạnh, cho đến đạo thắng tiến thâu nhiếp đạo thắng tiến.
Lại nữa, Pháp trí rơi vào ba đời, quá khứ thâu nhiếp quá khứ, vị lai thâu nhiếp vị lai, hiện tại thâu nhiếp hiện tại. Trong đó cho đến sát-na này thâu nhiếp sát-na này, sát-na kia thâu nhiếp sát-na kia.
Trong này nói chung cho nên chỉ nói là Pháp trí thâu nhiếp Pháp trí.
Pháp trí thâu nhiếp phần ít của năm Trí, đó là Pháp trí cũng thâu nhiếp Tha tâm trí, phần ít của Trí thuộc bốn Đế. Tha tâm trí bao gồm hữu lậu và vô lậu, Trí này chỉ thâu nhiếp vô lậu; trong vô lậu có Pháp trí và Loại trí, Trí này chỉ thâu nhiếp Pháp trí, cho nên nói là phần ít. Trí thuộc bốn Đế đều bao gồm Pháp trí và Loại trí, Trí này chỉ thâu nhiếp Pháp trí, cho nên nói là phần ít.
Loại trí thâu nhiếp Loại trí và phần ít của năm Trí, nói như Pháp trí. Sai biệt là Trí này thuộc về chín địa.
Tha tâm trí thâu nhiếp Tha tâm trí, Tha tâm trí thuộc về bốn Tĩnh lự  Căn bản, Tĩnh lự  thứ nhất thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ nhất, cho đến Tĩnh lự  thứ tư thâu nhiếp Tĩnh lự  thứ tư.
Lại nữa, Tha tâm trí bao gồm hữu lậu và vô lậu, hữu lậu thâu nhiếp hữu lậu, vô lậu thâu nhiếp vô lậu.
Lại nữa, Tha tâm trí có Pháp trí và Loại trí, Pháp trí thâu nhiếp Pháp trí, Loại trí thâu nhiếp Loại trí.

* Trang 286 *
device

Lại nữa, Tha tâm trí có Học-Vô học và Phi học phi vô học, Học thâu nhiếp Học, cho đến Phi học phi vô học thâu nhiếp Phi học phi vô học.
Lại nữa, Tha tâm trí rơi vào ba đời, quá khứ thâu nhiếp quá khứ, vị lai thâu nhiếp vị lai, hiện tại thâu nhiếp hiện tại. Trong đó cho đến sát-na này thâu nhiếp sát-na này, sát-na kia thâu nhiếp sát-na kia.
Trong này nói chung cho nên chỉ nói là Tha tâm trí thâu nhiếp Tha tâm trí.
Tha tâm trí thâu nhiếp phần ít của bốn Trí, đó là Tha tâm trí cũng thâu nhiếp phần ít của Pháp trí-Loại trí-Thế tục trí-Đạo trí.
Pháp trí-Loại trí đều duyên với bốn Đế, Trí này chỉ duyên với phần ít của Đạo đế, cho nên nói là phần ít.
Thế tục trí thuộc về mười tám địa, đó là cõi Dục, Tĩnh lự  trung gian, bốn Tĩnh lự , bốn Vô sắc, và Cận phần của tám địa ấy, Trí này chỉ thâu nhiếp bốn Tĩnh lự . Ở trong bốn Tĩnh lự , có thiện-nhiễm ô và vô phú vô ký, Trí này chỉ thâu nhiếp thiện. Ở trong thiện, có sinh đạt được- do Văn mà thành và do Tu mà thành, Trí này chỉ thâu nhiếp do Tu mà thành. Ở trong do Tu mà thành, có đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát- thắng tiến, Trí này chỉ thâu nhiếp đạo thắng tiến. Ở trong đạo thắng tiến, có thuận phần lui sụt, thuận phần an trú, thuận phần thắng tiến và thuận phần quyết trạch, Trí này chỉ thâu nhiếp thuận phần an trú. Ở trong thuận phần an trú, có duyên với quá khứ-vị lai-hiện tại và lìa thời gian, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với hiện tại. Ở trong duyên với hiện tại, có duyên với Tự tương tục và duyên với Tha tương tục, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với Tha tương tục. Ở trong duyên với Tha tương tục, có duyên với tâm-tâm sở, có duyên với năm Uẩn, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với tâm-tâm sở. Ở trong duyên với tâm-tâm sở, có duyên với một pháp, có duyên với nhiều pháp, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với một pháp. Ở trong duyên với một pháp, có lúc là Tha tâm trí, có lúc không phải là Tha tâm trí, Trí này chỉ thâu nhiếp tha Tâm trí. Bởi vì nghĩa như vậy, cho nên nói là phần ít.
Đạo trí thuộc về chín địa, đó là Định Vị chí, Tĩnh lự  trung gian, bốn Tĩnh lự , ba Vô sắc, Trí này chỉ thâu nhiếp bốn Tĩnh lự . Ở trong bốn Tĩnh lự , có Kiến đạo-Tu đạo và đạo Vô học, Trí này chỉ thâu nhiếp Tu đạo và đạo Vô học. Ở trong hai đạo này, có đạo gia hạnh-vô gián-giải thoát-thắng tiến, Trí này chỉ thâu nhiếp đạo thắng tiến. Ở trong đạo thắng tiến, có duyên với quá khứ-vị lai-hiện tại, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với hiện tại. Ở trong duyên với hiện tại, có duyên với Tự tương

* Trang 287 *
device

tục, có duyên với Tha tương tục, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với Tha tương tục. Ở trong duyên với Tha tương tục, có duyên với tâm-tâm sở, có duyên với năm Uẩn, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với tâm-tâm sở. Ở trong duyên với tâm-tâm sở, có duyên với một pháp, có duyên với nhiều pháp, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với một pháp. Ở trong duyên với một pháp, có lúc là Tha tâm trí, có lúc không phải là Tha tâm trí, Trí này chỉ thâu nhiếp Tha tâm trí. Bởi vì nghĩa như vậy, cho nên nói là phần ít.
Thế tục trí thâu nhiếp Thế tục trí, Thế tục trí thuộc về mười tám địa, nói như trước.
Cõi Dục thâu nhiếp cõi Dục, cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ thâu nhiếp Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Lại nữa, Thế tục trí có thiện-nhiễm ô và vô phú vô ký, thiện thâu nhiếp thiện, cho đến vô phú vô ký thâu nhiếp vô phú vô ký. Ở trong thiện, có gia hạnh đạt được-lìa nhiễm đạt được và sinh đạt được, gia hạnh đạt được thâu nhiếp gia hạnh đạt được, cho đến sinh đạt được thâu nhiếp sinh đạt được. Lại có thuận phần lui sụt cho đến thuận phần quyết trạch, thuận phần lui sụt thâu nhiếp thuận phần lui sụt, cho đến thuận phần quyết trạch thâu nhiếp thuận phần quyết trạch. Lại có đạo gia hạnh cho đến đạo thắng tiến, đạo gia hạnh thâu nhiếp đạo gia hạnh, cho đến đạo thắng tiến thâu nhiếp đạo thắng tiến. Lại có quá khứ-vị lai-hiện tại, quá khứ thâu nhiếp quá khứ, cho đến hiện tại thâu nhiếp hiện tại. Trong đó cho đến sát-na này thâu nhiếp sát-na này, sát-na kia thâu nhiếp sát-na kia.
Trong này nói chung cho nên nói là Thế tục trí thâu nhiếp Thế tục trí.
Phần ít của một Trí, đó là Thế tục trí cũng thâu nhiếp phần ít của Tha tâm trí. Tha tâm trí bao gồm hữu lậu và vô lậu, Trí này chỉ thâu nhiếp hữu lậu, cho nên nói là phần ít.
Khổ trí thâu nhiếp Khổ trí. Khổ trí thuộc về chín địa, thuộc về ba đạo, thuộc về bốn đạo, rơi vào ba đời, rơi vào sát-na. Hễ thuộc về địa nào, thuộc về đạo nào, rơi vào đời nào, rơi vào sát-na nào, thì ngay địa ấy, đạo ấy, đời ấy, sát-na ấy thâu nhiếp.
Trong này nói chung cho nên nói là Khổ trí thâu nhiếp Khổ trí.
Phần ít của hai Trí, đó là Khổ trí cũng thâu nhiếp phần ít của Pháp trí-Loại trí. Pháp trí-Loại trí đều duyên với bốn Đế, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với Khổ đế, cho nên nói là phần ít.
Tập trí thâu nhiếp Tập trí và phần ít của hai Trí, Diệt trí thâu

* Trang 288 *
device

nhiếp Diệt trí và phần ít của hai Trí, đều nói như Khổ trí.
Đạo trí thâu nhiếp Đạo trí, cũng nói như Khổ trí. Phần ít của ba Trí, đó là Đạo trí cũng thâu nhiếp phần ít của Pháp trí-Loại trí và Tha tâm trí. Pháp trí-Loại trí đều duyên với bốn Đế, Trí này chỉ thâu nhiếp duyên với Đạo đế; Tha tâm trí bao gồm hữu lậu và vô lậu, Trí này chỉ thâu nhiếp vô lậu, cho nên nói là phần ít.
Hỏi: Tam-ma-địa Không… thâu nhiếp mấy Tam-ma-địa…?
Đáp: Không thâu nhiếp Không, Vô nguyện thâu nhiếp Vô nguyện, Vô tướng thâu nhiếp Vô tướng. Tam-ma-địa Không duyên với hai hành tướng của Khổ đế mà chuyển, Tam-ma-địa Vô nguyện duyên với mười hành tướng của ba Đế mà chuyển, Tam-ma-địa Vô tướng duyên với bốn hành tướng của Diệt đế mà chuyển. Ở trong mỗi một hành tướng đều thuộc về chín địa, thuộc về ba đạo, thuộc về bốn đạo, rơi vào ba đời, rơi vào sát-na. Hễ hành tướng nào, thuộc về địa nào, thuộc về đạo nào, rơi vào đời nào, rơi vào sát-na nào, thì ngay hành tướng ấy, địa ấy, đạo ấy, đời ấy, sát-na ấy thâu nhiếp.
Trong này nói chung cho nên nói là Không thâu nhiếp Không, cho đến Vô tướng thâu nhiếp Vô tướng. Ba Tam-ma-địa tuy bao gồm hữu lậu, nhưng trong này dựa vào môn Giải thoát mà nói, cho nên chỉ thâu nhiếp vô lậu.
Như thâu nhiếp, có thể đạt được (khả đắc) cũng như vậy, bởi vì tự Thể đối với tự Thể có thể đạt được là nghĩa của thâu nhiếp. nghĩa là tự Thể đối với tự Thể là có, tự Thể đối với tự Thể là thật, tự Thể đối với tự Thể là hiện có, là không khác, là không ngoài, là không lìa nhau, là không thoát khỏi, là không có sai biệt, là không phải trống rỗng, là không phải không có, không phải là khách, không phải là xa, không phải là hai, không phải là tranh chấp. Những nghĩa như vậy đều là nghĩa của có thể đạt được. Các pháp tự Thể thâu nhiếp tự Thể, không phải là như dùng bàn tay giữ lấy thức ăn, dùng ngón tay giữ lấy áo, nhưng bởi vì tất cả các pháp chướng ngại đến tự Thể, khiến cuối cùng không rời bỏ cho nên gọi là thâu nhiếp.
Có Sư khác nói: Tự Thể này thâu nhiếp có bốn loại, đó là khác nhau về Giới, khác nhau về Pháp, khác nhau về Sát-na, khác nhau về Tương tục. Khác nhau về Giới, đó là Nhãn giới thâu nhiếp Nhãn giới, cho đến Pháp giới thâu nhiếp Pháp giới. Khác nhau về Pháp, đó là trong Pháp giới có bảy pháp, tức là Sắc-Thọ-Tưởng-Hành và ba Vô vi, Sắc thâu nhiếp Sắc, cho đến Phi trạch diệt thâu nhiếp Phi trạch diệt. Khác nhau về Sát-na, đó là trong Sắc có quá khứ-vị lai-hiện tại, quá khứ

* Trang 289 *
device

thâu nhiếp quá khứ, cho đến hiện tại thâu nhiếp hiện tại. Khác nhau về Tương tục, đó là Sắc hiện tại có lúc rơi vào Tự tương tục, có lúc rơi vào Tha tương tục, Tự tương tục thâu nhiếp Tự tương tục, Tha tương tục thâu nhiếp Tha tương tục. Dựa vào lý lẽ này, còn lại nhất định phải biết, cho nên nói là như thâu nhiếp, có thể đạt được cũng như vậy, bởi vì nghĩa về thâu nhiếp và có thể đạt được không có gì khác nhau.
Hỏi: Tưởng về Vô thường… tương ưng với mấy Tĩnh lự …?
Đáp: Tưởng về Vô thường tương ưng với bốn Tĩnh lự , bốn Vô sắc, bốn Giải thoát, bốn Trí, một Tam-ma-địa. Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao soạn ra phần luận này?
Đáp: Vì ngăn chặn ý của người ngu đối với pháp Tương ưng, chấp rằng pháp Tương ưng không phải là có thật, để hiển bày về pháp Tương ưng là có thật, cho nên soạn ra phần luận này.
Tưởng về Vô thường tương ưng với bốn Tĩnh lự , bốn Tĩnh lự  đều lấy năm Uẩn làm tánh, Tưởng này tương ưng với toàn phần hai Uẩn kia và phần ít của một Uẩn. Tương ưng với bốn Vô sắc- bốn Giải thoát, bốn Vô sắc và bốn Giải thoát của Vô sắc đều lấy bốn Uẩn làm tánh, Tưởng này tương ưng với toàn phần hai Uẩn kia và phần ít của một Uẩn. Tương ưng với bốn Trí, đó là tương ưng với Pháp trí-Loại trí, Thế tục trí-Khổ trí. Tương ưng với một Tam-ma-địa, đó là duyên với Vô nguyện thuộc Khổ.
Như Tưởng về Vô thường, Tưởng về Vô thường-Khổ, Tưởng về Khổ-Vô ngã, Tưởng về Chết, Tưởng về Đoạn, Tưởng về Lìa, Tưởng về Diệt, cũng như vậy. Dựa vào những Tưởng này đều tương ưng với bốn Trí và một Tam-ma-địa, số giống nhau cho nên nói là cũng như vậy.
Trong đó, tất cả giống nhau, đó là Tưởng về Chết. Hành tướng khác nhau mà tên gọi giống nhau, đó là Tưởng về Vô thường-Khổ. Tên gọi về Trí giống nhau, còn lại không giống nhau, đó là Tưởng về Khổ- Vô ngã, bởi vì tương ưng với Tam-ma-địa Không. Chỉ có số giống nhau, còn lại đều không giống nhau, đó là Tưởng về Đoạn-Lìa-Diệt, bởi vì tương ưng với Tam-ma-địa Vô tướng thuộc Diệt trí.
Tưởng về Bất tịnh tương ưng với hai Tĩnh lự  sau, hai Giải thoát đầu và Thế tục trí. Tưởng này tương ưng với bốn Tĩnh lự , mà chỉ nói là tương ưng với hai Tĩnh lự  sau, nói như trong phần thâu nhiếp.
Như Tưởng về Bất tịnh, Tưởng về Chán ăn cũng như vậy, nghĩa là tưởng này thật ra không tương ưng với hai Giải thoát đầu, mà nói là tương ưng với, cũng nói như trong phần thâu nhiếp.
Tưởng về Tất cả thế gian không đáng vui, tương ưng với hai Tĩnh

* Trang 290 *
device

lự  sau và Thế tục trí. Tưởng này cũng tương ưng với bốn Tĩnh lự , mà chỉ nói là tương ưng với hai Tĩnh lự  sau, cũng nói như trong phần thâu nhiếp.
Hỏi: Tĩnh lự  thứ nhất… tương ưng với mấy Tĩnh lự …?
Đáp: Tĩnh lự  thứ nhất tương ưng với Tĩnh lự  thứ nhất, bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, tám Trí, ba Tam-ma-địa. Tĩnh lự  thứ hai tương ưng với Tĩnh lự  thứ hai, bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, tám Trí, ba Tam-ma-địa. Tĩnh lự  thứ ba tương ưng với Tĩnh lự  thứ ba, ba Vô lượng, tám Trí, ba Tam-ma-địa. Tĩnh lự  thứ tư tương ưng với Tĩnh lự  thứ tư, ba Vô lượng, Tịnh giải thoát, bốn Thắng xứ sau, tám Biến xứ trước, tám Trí, ba Tam-ma-địa.
Trong này, bốn Tĩnh lự  đều lấy năm Uẩn của địa mình làm tánh, bởi vì bốn Uẩn câu sinh của mỗi một địa lần lượt chuyển đổi tương ưng, cho nên nói Tĩnh lự  thứ nhất tương ưng với Tĩnh lự  thứ nhất, cho đến Tĩnh lự  thứ tư tương ưng với Tĩnh lự  thứ tư, không phải là tự tánh cùng với tự tánh có nghĩa của tương ưng.
Vả lại, bởi vì mỗi một Tĩnh lự  thâu nhiếp nhiều pháp, cho nên có thể tương ưng với các công đức của Vô lượng…
Ba Vô lượng là trừ ra Hỷ vô lượng, bởi vì hai Tĩnh lự  sau không có Hỷ căn. Có những người muốn làm cho Hỷ vô lượng không dùng Hỷ thọ làm tự tánh, cũng nói Hỷ vô lượng tương ưng với Hỷ thọ, cho nên hai địa ấy chỉ có ba Vô lượng.
Hỏi: Từ vô lượng… tương ưng với mấy Vô lượng…? Đáp: Từ tương ưng với Từ và Thế tục trí, cho đến Xả tương ưng với Xả và Thế tục trí. Từ… tuy dùng căn thiện không có sân… làm tự tánh, mà trong này đã nói đến thâu nhiếp toàn bộ cùng có tương ưng với tự tánh làm Thể của Từ…, cho nên nói là Từ tương ưng với Từ, cho đến Xả tương ưng với Xả, tức là nghĩa về tương ưng với bốn Uẩn câu sinh.
Hỏi: Không vô biên xứ… tương ưng với mấy Vô sắc…?
Đáp: Không vô biên xứ tương ưng với Không vô biên xứ, và Giải thoát của địa ấy, Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Thức vô biên xứ tương ưng với Thức vô biên xứ, và Giải thoát của địa ấy, Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Vô sở hữu xứ tương ưng với Vô sở hữu xứ, và Giải thoát của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Phi tưởng phi phi tưởng xứ tương ưng với Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và Giải thoát của địa ấy cùng Thế tục trí.
Trong này, bốn Vô sắc đều lấy bốn Uẩn của địa mình làm tánh, bởi vì bốn Uẩn câu sinh của mỗi một địa lần lượt chuyển đổi tương ưng,

* Trang 291 *
device

cho nên nói là Không vô biên xứ tương ưng với Không vô biên xứ, cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ tương ưng với Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Vả lại, bởi vì mỗi một Vô sắc thâu nhiếp nhiều pháp, cho nên có thể tương ưng với những công đức đã nói. Sáu Trí thì nói như trong phần thâu nhiếp.
Hỏi: Giải thoát thứ nhất… tương ưng với mấy Giải thoát…?
Đáp: Giải thoát thứ nhất-thứ hai-thứ ba tương ưng với Giải thoát thứ nhất-thứ hai-thứ ba và Thế tục trí. Giải thoát của Không vô biên xứ tương ưng với Giải thoát của Không vô biên xứ, và Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Giải thoát của Thức vô biên xứ tương ưng với Giải thoát của Thức vô biên xứ, và Biến xứ của địa ấy, sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Giải thoát của Vô sở hữu xứ tương ưng với Giải thoát của Vô sở hữu xứ, và sáu Trí, ba Tam-ma-địa. Giải thoát của Phi tưởng phi phi tưởng xứ tương ưng với Giải thoát của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và Thế tục trí. Diệt Tưởng-Thọ giải thoát không phải là tương ưng.
Ba Giải thoát trước tuy đều dùng căn thiện không có tham để làm tự tánh, mà trong này đã nói đến toàn bộ dùng pháp cùng có tương ưng với tự tánh làm Thể, cho nên nói là Giải thoát thứ nhất-thứ hai-thứ ba tương ưng với Giải thoát thứ nhất-thứ hai-thứ ba, tức là nghĩa về tương ưng với bốn Uẩn câu sinh. Bốn Giải thoát của Vô sắc nói như bốn Vô sắc. Diệt Tưởng-Thọ giải thoát tuy có nhiều pháp như tâm-tâm sở không tách lìa nhau cùng lúc khởi lên, mà không có nghĩa giống nhau về sở y-sở duyên-hành tướng, cho nên không phải là tương ưng.
Hỏi: Thắng xứ thứ nhất…tương ưng với mấy Thắng xứ…?
Đáp: Thắng xứ thứ nhất tương ưng với Thắng xứ thứ nhất và Thế tục trí, cho đến Thắng xứ thứ tám tương ưng với Thắng xứ thứ tám và Thế tục trí.
Trong này, tám Thắng xứ tuy đều dùng căn thiện không có tham để làm tự tánh, mà trong này đã nói đến toàn bộ dùng pháp cùng có tương ưng với tự tánh làm Thể, cho nên nói là Thắng xứ thứ nhất tương ưng với Thắng xứ thứ nhất, cho đến Thắng xứ thứ tám tương ưng với Thắng xứ thứ tám.
Hỏi: Biến xứ thứ nhất… tương ưng với mấy Biến xứ…?
Đáp: Biến xứ thứ nhất tương ưng với Biến xứ thứ nhất và Thế tục trí, cho đến Biến xứ thứ mười tương ưng với Biến xứ thứ mười và Thế tục trí.
Trong này, tám Biến xứ trước tuy đều dùng căn thiện không có

* Trang 292 *
device

tham để làm tự tánh, mà trong này đã nói đến toàn bộ dùng pháp cùng có tương ưng với tự tánh làm Thể; hai Biến xứ sau dùng toàn bộ bốn Uẩn câu sinh làm tánh, cho nên nói là Biến xứ thứ nhất tương ưng với Biến xứ thứ nhất, cho đến Biến xứ thứ mười tương ưng với Biến xứ thứ mười.
Hỏi: Pháp trí… tương ưng với mấy Tam-ma-địa?
Đáp: Pháp trí tương ưng với phần ít của ba Tam-ma-địa, cho đến nói rộng ra.
Pháp trí tương ưng với phần ít của ba Tam-ma-địa, Trí này không tương ưng với Loại trí và tất cả các Nhẫn đi cùng ba Tam-ma-địa, cho nên nói là phần ít.
Như Pháp trí, Loại trí cũng như vậy, nghĩa là Trí này không tương ưng với Pháp trí và tất cả các Nhẫn đi cùng ba Tam-ma-địa, cho nên nói là cũng như vậy.
Tha tâm trí tương ưng với phần ít của một Tam-ma-địa, Trí này không tương ưng với Khổ-Tập-Diệt trí và Tha tâm trí vốn không thâu nhiếp Đạo trí, cùng với tất cả các Nhẫn đi kèm Tam-ma-địa, cho nên nói là phần ít. Tức là tương ưng với phần ít của Tam-ma-địa Vô nguyện duyên với Đạo, nghĩa như Tha tâm trí.
Tập-Diệt-Đạo trí cũng như vậy, đây là dựa vào số giống nhau cho nên nói là cũng như vậy. Nhưng Tập trí chỉ tương ưng với phần ít của Tam-ma-địa Vô nguyện duyên với Tập, Diệt trí chỉ tương ưng với phần ít của Tam-ma-địa Vô tướng duyên với Diệt, Đạo trí chỉ tương ưng với phần ít của Tam-ma-địa Vô nguyện duyên với Đạo, bởi vì đều trừ ra Nhẫn đi cùng Tam-ma-địa.
Khổ trí tương ưng với phần ít của hai Tam-ma-địa, Trí này chỉ tương ưng với Trí đi cùng Tam-ma-địa Không, và Khổ trí đi cùng Tam- ma-địa Vô nguyện, cho nên nói là phần ít.
Phần nói về ba Tam-ma-địa, không nói riêng biệt về tương ưng, bởi vì đối với các phần trước đã nói đầy đủ, cho nên ở trong phần của mình không có tương ưng.

* Trang 293 *
device

Đại Tập 94 - Bộ Tỳ Đàm VI - Số 1545 tt (Quyển 151-200)