LOGO VNBET
LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA

QUYỂN 170

LUẬN VỀ NHIẾP (Phần 5)

 
Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Tịnh của Tĩnh lự  nào làm Nhân, thì dùng loại ấy làm Sở duyên chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Tịnh của Tĩnh lự  nào làm Sở duyên, thì dùng loại ấy làm Nhân chăng?
Đáp: Dựa vào Tịnh của mỗi một Tĩnh lự  đều cần phải làm thành bốn câu phân biệt:
Dựa vào Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất làm Nhân chứ không phải là Sở duyên, loại này có mười lăm, đó là bốn Vô lượng, hai Giải thoát, bốn Thắng xứ, hai Vô ngại giải, sở y của ba Thông.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất làm Sở duyên chứ không phải là Nhân, loại này có chín, đó là Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ nhất, Tịnh của ba Tĩnh lự  trên, Vô lậu của bốn Tĩnh lự , sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất làm Nhân cũng là Sở duyên, loại này có sáu, đó là Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất, hai Vô ngại giải, sở y của ba Thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất làm Nhân cũng không phải là Sở duyên, loại này có ba mươi lăm, đó là bảy Vị tương ưng-Tịnh của bốn Vô sắc, Vô lậu của ba Vô sắc, bốn Thắng xứ sau, sáu Giải thoát, mười Biến xứ, sở y của Vô tranh.
Dựa vào Tịnh của Tĩnh lự  thứ hai làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ hai làm Nhân chứ không phải là Sở duyên, loại này có mười bốn, đó là bốn Vô lượng, hai Giải thoát, bốn Thắng xứ, Pháp vô ngại giải, sở y của ba Thông.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ hai làm Sở duyên chứ không phải là Nhân, loại này có chín, đó là Vị tương ưng của Tĩnh

* Trang 328 *
device

lự thứ hai, Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất-thứ ba-thứ tư, Vô lậu của bốn Tĩnh lự , sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ hai làm Nhân cũng là Sở duyên, loại này có sáu, đó là Tịnh của Tĩnh lự  thứ hai, hai Vô ngại giải, sở y của ba Thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ hai làm Nhân cũng không phải là Sở duyên, loại này có ba mươi sáu, đó là bảy Vị tương ưng-Tịnh của bốn Vô sắc, Vô lậu của ba Vô sắc, bốn Thắng xứ sau, sáu Giải thoát, mười Biến xứ, sở y của Vô tranh và Từ vô ngại giải.
Dựa vào Tịnh của Tĩnh lự  thứ ba làm thành bốn câu phân biệt: 
1. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ ba làm Nhân chứ không phải là Sở duyên, loại này có bảy, đó là ba Vô lượng, Pháp vô ngại giải, sở y của ba Thông.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ ba làm Sở duyên chứ không phải là Nhân, loại này có chín, đó là Vị tương ưng của địa mình, Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất-thứ hai-thứ tư, Vô lậu của bốn Tĩnh lự , sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ ba làm Nhân cũng là Sở duyên, loại này có sáu, đó là Tịnh của Tĩnh lự  thứ ba, hai Vô ngại giải, sở y của ba Thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ ba làm Nhân cũng không phải là Sở duyên, loại này có bốn mươi ba, đó là bảy Vị tương ưng-Tịnh của bốn Vô sắc, Vô lậu của ba Vô sắc, Hỷ vô lượng, tám Thắng xứ, tám Giải thoát, mười Biến xứ, sở y của Vô tranh và Từ vô ngại giải.
Dựa vào Tịnh của Tĩnh lự  thứ tư làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ tư làm Nhân chứ không phải là Sở duyên, loại này có hai mươi mốt, đó là ba Vô lượng, Tịnh giải thoát, bốn Thắng xứ sau, tám Biến xứ trước, Pháp vô ngại giải, sở y của ba Thông và Vô tranh.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ tư làm Sở duyên chứ không phải là Nhân, loại này có tám, đó là Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ tư, Tịnh của ba Tĩnh lự  dưới, Vô lậu của bốn Tĩnh lự .
3. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ tư làm Nhân cũng là Sở duyên, loại này có bảy, đó là Tịnh của Tĩnh lự  thứ tư, hai Vô ngại giải, sở y của ba Thông và Nguyện trí.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ tư làm Nhân

* Trang 329 *
device

cũng không phải là Sở duyên, loại này có hai mươi chín, đó là bảy Vị tương ưng-Tịnh của bốn Vô sắc, Vô lậu của ba Vô sắc, Hỷ vô lượng, bảy Giải thoát, bốn Thắng xứ trước, hai Biến xứ sau, sở y của Từ vô ngại giải.
Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Tịnh của Vô sắc nào làm Nhân, thì dùng loại ấy làm Sở duyên chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Tịnh của Vô sắc nào làm Sở duyên, thì dùng loại ấy làm Nhân chăng?
Đáp: Tịnh của Vô sắc dưới, nếu Đẳng chí tùy theo dùng loại ấy làm Nhân, thì cũng dùng loại ấy làm Sở duyên. Có lúc Đẳng chí dùng loại ấy làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Nhân. Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nên làm thành bốn câu phân biệt.
Trong đó, nếu Đẳng chí dùng Tịnh của Không vô biên xứ làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có mười một loại, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự , Vị tương ưng-Vô lậu của địa mình, sở y của Nguyện trí.
Nếu Đẳng chí dùng Tịnh của Thức vô biên xứ làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có mười bốn loại, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự , Vô lậu của hai Vô sắc đầu, Tịnh của Không vô biên xứ, tức là Giải thoát của địa ấy, Vị tương ưng của địa mình, sở y của Nguyện trí.
Nếu Đẳng chí dùng Tịnh của Vô sở hữu xứ làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có mười bảy loại, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự , Vô lậu của ba Vô sắc, Tịnh của hai Vô sắc đầu, và Giải thoát của hai Vô sắc đầu, Vị tương ưng của địa mình, sở y của Nguyện trí. 
Dựa vào Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm Nhân chứ không phải là Sở duyên, loại này có một, đó là Diệt Tưởng- Thọ giải thoát.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm Sở duyên chứ không phải là Nhân, loại này có mười chín, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự -ba Vô sắc, và Giải thoát của ba Vô sắc, Vị tương ưng của địa mình, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm Nhân cũng là Sở duyên, loại này có năm, đó là Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tức là Giải thoát của địa ấy, hai Vô ngại giải, sở y của Lậu tận thông.

* Trang 330 *
device

4. Có lúc Đẳng chí không dùng Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm Nhân cũng không phải là Sở duyên, loại này có bốn mươi, đó là bảy Vị tương ưng, bốn Vô luợng, ba Giải thoát đầu, tám Thắng xứ, mười Biến xứ, hai Vô ngại giải, Vô tranh, sở y của năm Thông.
Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Vô lậu của Tĩnh lự  nào làm Nhân, thì dùng loại ấy làm Sở duyên chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Vô lậu của Tĩnh lự  nào làm Sở duyên, thì dùng loại ấy làm Nhân chăng?
Đáp: Các Đẳng chí tùy theo dùng Vô lậu của Tĩnh lự  ấy làm Nhân, thì cũng dùng loại ấy làm Sở duyên. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự  ấy làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Nhân.
Trong đó, nếu Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ nhất làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Nhân, thì có mười loại, đó là Tịnh của bốn Tĩnh lự -bốn Vô sắc, Giải thoát của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, sở y của Nguyện trí.
Như Vô lậu của Tĩnh lự  thứ nhất, Vô lậu của Tĩnh lự  thứ hai-thứ ba-thứ tư cũng như vậy.
Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Vô lậu của Vô sắc nào làm Nhân, thì dùng loại ấy làm Sở duyên chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Vô lậu của Vô sắc nào làm Sở duyên, thì dùng loại ấy làm Nhân chăng?
Đáp: Dựa vào Vô lậu của mỗi một Vô sắc đều cần phải làm thành bốn câu phân biệt:
Dựa vào Vô lậu của Không vô biên xứ làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Không vô biên xứ làm Nhân chứ không phải là Sở duyên, loại này có một, đó là sở y của Tha tâm thông.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Không vô biên xứ làm Sở duyên chứ không phải là Nhân, loại này có mười, đó là Tịnh của bốn Tĩnh lự -bốn Vô sắc, Giải thoát của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Không vô biên xứ làm Nhân cũng là Sở duyên, loại này có mười ba, đó là Vô lậu của bốn Tĩnh lự - ba Vô sắc, và Giải thoát của ba Vô sắc dưới, hai Vô ngại giải, sở y của Lậu tận thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vô lậu của Không vô biên xứ làm Nhân cũng không phải là Sở duyên, loại này có bốn mươi mốt, đó là

* Trang 331 *
device

tám Vị tương ưng, bốn Vô lượng, bốn Giải thoát, tám Thắng xứ, mười Biến xứ, hai Vô ngại giải, Vô tranh, sở y của bốn Thông.
Như Vô lậu của Không vô biên xứ, Vô lậu của Thức vô biên xứ và Vô sở hữu xứ cũng như vậy.
Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  nào làm Đẳng vô gián, thì dùng loại ấy làm Sở duyên chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  nào làm Sở duyên, thì dùng loại ấy làm Đẳng vô gián chăng?
Đáp: Dựa vào Vị tương ưng của mỗi một Tĩnh lự  đều cần phải làm thành bốn câu phân biệt:
Dựa vào Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ nhất làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ nhất làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có mười ba, đó là bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, sở y của ba Thông.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ nhất làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có mười, đó là Tịnh của ba Tĩnh lự  trên, Vô lậu của bốn Tĩnh lự , nghĩa vô ngại giải, Lậu tận thông, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ nhất làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có bốn, đó là Vị tương ưng- Tịnh của địa mình, sở y của hai Thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ nhất làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có ba mươi tám, đó là bảy Vị tương ưng-Tịnh của bốn Vô sắc, Vô lậu của ba Vô sắc, sáu Giải thoát, bốn Thắng xứ sau, mười Biến xứ, Vô tranh, sở y của ba Vô ngại giải.
Dựa vào Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ hai làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ hai làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có mười ba, đó là bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, sở y của ba Thông.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ hai làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có chín, đó là Tịnh của hai Tĩnh lự  trên, Vô lậu của bốn Tĩnh lự , nghĩa vô ngại giải, Lậu tận thông, sở y của Nguyện trí.

* Trang 332 *
device

3. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ hai làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có năm, đó là Vị tương ưng của địa mình, Tịnh của hai Tĩnh lự  đầu, sở y của hai Thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ hai làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có ba mươi tám, đó là bảy Vị tương ưng-Tịnh của bốn Vô sắc, Vô lậu của ba Vô sắc, sáu Giải thoát, bốn Thắng xứ sau, mười Biến xứ, Vô tranh, sở y của ba Vô ngại giải.
Dựa vào Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ ba làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ ba làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có sáu, đó là ba Vô lượng, sở y của ba Thông.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ ba làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có chín, đó là Tịnh của hai Tĩnh lự  trên, Vô lậu của bốn Tĩnh lự , nghĩa vô ngại giải, Lậu tận thông, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ ba làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có năm, đó là Vị tương ưng của địa mình, Tịnh của Tĩnh lự  thứ hai-thứ ba, sở y của hai Thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ ba làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có bốn mươi lăm, đó là bảy Vị tương ưng-Tịnh của bốn Vô sắc, Vô lậu của ba Vô sắc, Hỷ vô lượng, tám Giải thoát, tám Thắng xứ, mười Biến xứ, Vô tranh, sở y của ba Vô ngại giải.
Dựa vào Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ tư làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ tư làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có mười chín, đó là ba Vô lượng, Tịnh giải thoát, bốn Thắng xứ sau, tám Biến xứ trước, sở y của ba Thông.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ tư làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có chín, đó là Tịnh của hai Tĩnh lự , Vô lậu của bốn Tĩnh lự , nghĩa vô ngại giải, Lậu tận thông, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ tư làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có năm, đó là Vị tương ưng của địa mình, Tịnh của Tĩnh lự  thứ ba-thứ tư, sở y của hai Thông.

* Trang 333 *
device

4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vị tương ưng của Tĩnh lự  thứ tư làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có ba mươi hai, đó là bảy Vị tương ưng-Tịnh của bốn Vô sắc, Vô lậu của ba Vô sắc, Hỷ vô lượng, bảy Giải thoát, bốn Thắng xứ trước, hai Biến xứ sau, Vô tranh, sở y của ba Vô ngại giải.
Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Vô sắc nào làm Đẳng vô gián, thì dùng loại ấy làm Sở duyên chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Vô sắc nào làm Sở duyên, thì dùng loại ấy làm Đẳng vô gián chăng?
Đáp: Các Đẳng chí tùy theo dùng Vị tương ưng của Vô sắc ấy làm Đẳng vô gián, thì cũng dùng loại ấy làm Sở duyên. Có lúc Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Vô sắc ấy làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Đẳng vô gián.
Trong đó, nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Không vô biên xứ làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Đẳng vô gián, thì có mười một loại, đó là Tịnh của ba Tĩnh lự , Vô lậu của bốn Tĩnh lự , Vô lậu của địa mình, nghĩa vô ngại giải, Lậu tận thông, sở y của Nguyện trí.
Nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Thức vô biên xứ làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Đẳng vô gián, thì có mười ba loại, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự , Vô lậu của hai Vô sắc đầu, nghĩa vô ngại giải, Lậu tận thông, sở y của Nguyện trí.
Nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Vô sở hữu xứ làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Đẳng vô gián, thì có mười sáu loại, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự , Tịnh của Không vô biên xứ, tức là Giải thoát của địa ấy, Vô lậu của ba Vô sắc, nghĩa vô ngại giải, Lậu tận thông, sở y của Nguyện trí.
Nếu Đẳng chí dùng Vị tương ưng của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Đẳng vô gián, thì có mười tám loại, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự , Tịnh của hai Vô sắc đầu, tức là Giải thoát của địa ấy, Vô lậu của ba Vô sắc, nghĩa vô ngại giải, Lậu tận thông, sở y của Nguyện trí.
Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Tịnh của Tĩnh lự  nào làm Đẳng vô gián, thì dùng loại ấy làm Sở duyên chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Tịnh của Tĩnh lự  nào làm Sở duyên, thì dùng loại ấy làm Đẳng vô gián chăng?
Đáp: Dựa vào Tịnh của mỗi một Tĩnh lự  đều cần phải làm thành bốn câu phân biệt:
Dựa vào Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất làm thành bốn câu phân biệt:

* Trang 334 *
device

1. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có mười lăm, đó là bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, hai Vô ngại giải, sở y của ba Thông.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có ba, đó là Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự  thứ tư, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có mười hai, đó là Vị tương ưng của địa mình, và Tịnh-Vô lậu của ba Tĩnh lự  đầu, hai Vô ngại giải, sở y của ba Thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có ba mươi lăm, đó là bảy Vị tương ưng-Tịnh của bốn Vô sắc, Vô lậu của ba Vô sắc, sáu Giải thoát, bốn Thắng xứ, mười Biến xứ, sở y của Vô tranh.
Dựa vào Tịnh của Tĩnh lự  thứ hai làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ hai làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có mười lăm, đó là bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, hai Vô ngại giải, sở y của ba Thông.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có ba, đó là Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự  thứ tư, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có mười hai, đó là Vị tương ưng của địa mình, và Tịnh-Vô lậu của ba Tĩnh lự  đầu, hai Vô ngại giải, sở y của ba Thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có ba mươi lăm, đó là bảy Vị tương ưng-Tịnh của bốn Vô sắc, Vô lậu của ba Vô sắc, sáu Giải thoát, bốn Thắng xứ, mười Biến xứ, Vô tranh, sở y của Từ vô ngại giải.
Dựa vào Tịnh của Tĩnh lự  thứ ba làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ ba làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có mười, đó là ba Vô lượng, Tịnh-Vô lậu của Không vô biên xứ, tức là Giải thoát của địa ấy, Pháp vô ngại giải, sở y của ba Thông.
2.Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ ba làm Sở duyên

* Trang 335 *
device

chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có một, đó là sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ ba làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có mười bốn, đó là Vị tương ưng của địa mình, và Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự , hai Vô ngại giải, sở y của ba Thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ ba làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có bốn mươi, đó là bảy Vị tương ưng-Tịnh của ba Vô sắc trên, Vô lậu của hai Vô sắc trên, Hỷ vô lượng, bảy Giải thoát, tám Thắng xứ, mười Biến xứ, Vô tranh, sở y của Từ vô ngại giải.
Dựa vào Tịnh của Tĩnh lự  thứ tư làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ tư làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có hai mươi bảy, đó là ba Vô lượng, Tịnh giải thoát, bốn Thắng xứ sau, tám Biến xứ trước, Vô tranh, Pháp vô ngại giải, sở y của ba Thông, Tịnh-Vô lậu của hai Vô sắc đầu, tức là Giải thoát của địa ấy.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ tư làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có hai, đó là Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự  thứ nhất.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ tư làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có mười ba, đó là Vị tương ưng của địa mình, và Tịnh-Vô lậu của ba Tĩnh lự  trên, hai Vô ngại giải, Nguyện trí, sở y của ba Thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Tịnh của Tĩnh lự  thứ tư làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có hai mươi ba, đó là bảy Vị tương ưng, Tịnh của hai Vô sắc trên, Vô lậu của một Vô sắc trên, Hỷ vô lượng, năm Giải thoát, bốn Thắng xứ trước, hai Biến xứ sau, sở y của Từ vô ngại giải.
Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Tịnh của Vô sắc nào làm Đẳng vô gián, thì dùng loại ấy làm Sở duyên chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Tịnh của Vô sắc nào làm Sở duyên, thì dùng loại ấy làm Đẳng vô gián chăng?
Đáp: Dựa vào Tịnh của mỗi một Vô sắc đều cần phải làm thành bốn câu phân biệt:
Dựa vào Tịnh của Không vô biên xứ làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Không vô biên xứ làm Đẳng vô

* Trang 336 *
device

gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có sáu, đó là Tịnh-Vô lậu của Thức vô biên xứ-Vô sở hữu xứ, tức là Giải thoát của địa ấy.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Không vô biên xứ làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có năm, đó là Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự  thứ nhất-thứ hai, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Không vô biên xứ làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có mười hai, đó là Vị tương ưng của địa mình, và Tịnh-Vô lậu của hai Tĩnh lự  trên, Không vô biên xứ, tức là Giải thoát của địa ấy, Biến xứ, hai Vô ngại giải, sở y của Lậu tận thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Tịnh của Không vô biên xứ làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có bốn mươi hai, đó là bảy Vị tương ưng, Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, bốn Vô lượng, năm Giải thoát, tám Thắng xứ, chín Biến xứ, hai Vô ngại giải, Vô tranh, sở y của năm Thông. 
Dựa vào Tịnh của Thức vô biên xứ làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Thức vô biên xứ làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có năm, đó là Tịnh-Vô lậu của Vô sở hữu xứ, Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và Giải thoát của hai địa ấy.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Thức vô biên xứ làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có bảy, đó là Tịnh-Vô lậu của ba Tĩnh lự  đầu, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Thức vô biên xứ làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có mười ba, đó là Vị tương ưng của địa mình, và Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự  thứ tư-hai Vô sắc đầu, và Giải thoát của hai Vô sắc đầu, Biến xứ của Thức vô biên xứ, hai Vô ngại giải, sở y của Lậu tận thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Tịnh của Thức vô biên xứ làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có bốn mươi, đó là bảy Vị tương ưng, bốn Vô lượng, bốn Giải thoát, tám Thắng xứ, chín Biến xứ, hai Vô ngại giải, Vô tranh, sở y của năm Thông.
Dựa vào Tịnh của Vô sở hữu xứ làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Vô sở hữu xứ làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có hai, đó là Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tức là Giải thoát của địa ấy.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Vô sở hữu xứ làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có chín, đó là Tịnh-Vô lậu của

* Trang 337 *
device

bốn Tĩnh lự , sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Vô sở hữu xứ làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có mười ba, đó là Vị tương ưng của địa mình, và Tịnh-Vô lậu của ba Vô sắc đầu, tức là ba Giải thoát của địa ấy, hai Vô ngại giải, sở y của Lậu tận thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Tịnh của Vô sở hữu xứ làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có bốn mươi mốt, đó là bảy Vị tương ưng, bốn Vô lượng, bốn Giải thoát, tám Thắng xứ, mười Biến xứ, hai Vô ngại giải, Vô tranh, sở y của năm Thông.
Dựa vào Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có một, đó là Diệt Tưởng-Thọ giải thoát.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có mười hai, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự -Không vô biên xứ, và Giải thoát của Không vô biên xứ, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có mười hai, đó là Vị tương ưng của địa mình, và Tịnh của ba Vô sắc đầu, tức là ba Giải thoát của địa ấy, Vô lậu của hai Vô sắc trên, hai Vô ngại giải, sở y của Lậu tận thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có bốn mươi, đó là bảy Vị tương ưng, bốn Vô lượng, ba Giải thoát, tám Thắng xứ, mười Biến xứ, hai Vô ngại giải, Vô tranh, sở y của năm Thông.
Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Vô lậu của Tĩnh lự  nào làm Đẳng vô gián, thì dùng loại ấy làm Sở duyên chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Vô lậu của Tĩnh lự  nào làm Sở duyên, thì dùng loại ấy làm Đẳng vô gián chăng?
Đáp: Dựa vào Vô lậu của mỗi một Tĩnh lự  đều cần phải làm thành bốn câu phân biệt:
Dựa vào Vô lậu của Tĩnh lự  thứ nhất làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ nhất làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có mười sáu, đó là bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, hai Vô ngại giải, sở

* Trang 338 *
device

y của bốn Thông.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ nhất làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có mười bốn, đó là Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự  thứ tư, Tịnh của bốn Vô sắc, Vô lậu của ba Vô sắc, Giải thoát của bốn Vô sắc, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ nhất làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có mười, đó là Tịnh-Vô lậu của ba Tĩnh lự  đầu, hai Vô ngại giải, sở y của hai Thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ nhất làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có hai mươi lăm, đó là tám Vị tương ưng, hai Giải thoát, bốn Thắng xứ sau, mười Biến xứ, sở y của Vô tranh.
Dựa vào Vô lậu của Tĩnh lự  thứ hai làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ hai làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có mười lăm, đó là bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, Pháp vô ngại giải, sở y của bốn Thông.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ hai làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có mười hai, đó là Tịnh của bốn Vô sắc, Vô lậu của ba Vô sắc, Giải thoát của bốn Vô sắc, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ hai làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có mười hai, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự , hai Vô ngại giải, sở y của hai Thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ hai làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có hai mươi sáu, đó là tám Vị tương ưng, hai Giải thoát, bốn Thắng xứ sau, mười Biến xứ, Vô tranh, sở y của Từ vô ngại giải.
Dựa vào Vô lậu của Tĩnh lự  thứ ba làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ ba làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có tám, đó là ba Vô lượng, Pháp vô ngại giải, sở y của bốn Thông.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ ba làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có chín, đó là Tịnh của ba Vô sắc trên, tức là Giải thoát của ba địa ấy, Vô lậu của hai Vô sắc trên, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ ba làm Đẳng vô

* Trang 339 *
device

gián cũng là Sở duyên, loại này có mười lăm, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự -Không vô biên xứ, và Giải thoát của Không vô biên xứ, hai Vô ngại giải, sở y của hai Thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ ba làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có ba mươi ba, đó là tám Vị tương ưng, Hỷ vô lượng, bốn Giải thoát, tám Thắng xứ, mười Biến xứ, Vô tranh, sở y của Từ vô ngại giải.
Dựa vào Vô lậu của Tĩnh lự  thứ tư làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ tư làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có hai mươi hai, đó là ba Vô lượng, Tịnh giải thoát, bốn Thắng xứ sau, tám Biến xứ trước, Pháp vô ngại giải, Vô tranh, sở y của bốn Thông.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ tư làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có bảy, đó là Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự  thứ nhất, Tịnh của hai Vô sắc trên, và Giải thoát của hai địa ấy, Vô lậu của một Vô sắc trên.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ tư làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có mười bảy, đó là Tịnh-Vô lậu của ba Tĩnh lự  trên-hai Vô sắc đầu, và Giải thoát của hai Vô sắc đầu, hai Vô ngại giải, hai Thông, sở y của Nguyện trí.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vô lậu của Tĩnh lự  thứ tư làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có mười chín, đó là tám Vị tương ưng, Hỷ vô lượng, ba Giải thoát, bốn Thắng xứ trước, hai Biến xứ sau, sở y của Từ vô ngại giải.
Hỏi: Nếu Đẳng chí tùy theo dùng Vô lậu của Vô sắc nào làm Đẳng vô gián, thì dùng loại ấy làm Sở duyên chăng? Giả sử Đẳng chí tùy theo dùng Vô lậu của Vô sắc nào làm Sở duyên, thì dùng loại ấy làm Đẳng vô gián chăng?
Đáp: Dựa vào Vô lậu của hai Vô sắc đầu đều cần phải làm thành bốn câu phân biệt:
Dựa vào Vô lậu của Không vô biên xứ làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Không vô biên xứ làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có một, đó là Biến xứ của Không vô biên xứ.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Không vô biên xứ làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có bảy, đó là Tịnh-Vô lậu của hai Tĩnh lự  đầu, Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và Giải

* Trang 340 *
device

thoát của địa ấy, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Không vô biên xứ làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có mười sáu, đó là Tịnh-Vô lậu của hai Tĩnh lự  sau-ba Vô sắc đầu, tức là Giải thoát của địa ấy, hai Vô ngại giải, sở y của Lậu tận thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vô lậu của Không vô biên xứ làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có bốn mươi mốt, đó là tám Vị tương ưng, bốn Vô lượng, bốn Giải thoát, tám Thắng xứ, chín Biến xứ, hai Vô ngại giải, Vô tranh, sở y của năm Thông.
Dựa vào Vô lậu của Thức vô biên xứ làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Thức vô biên xứ làm Đẳng vô gián chứ không phải là Sở duyên, loại này có một, đó là Biến xứ của Thức vô biên xứ.
2. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Thức vô biên xứ làm Sở duyên chứ không phải là Đẳng vô gián, loại này có bảy, đó là Tịnh-Vô lậu của ba Tĩnh lự  đầu, sở y của Nguyện trí.
3. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Thức vô biên xứ làm Đẳng vô gián cũng là Sở duyên, loại này có mười sáu, đó là Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự  thứ tư-ba Vô sắc dưới, Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Giải thoát của bốn Vô sắc, hai Vô ngại giải, sở y của Lậu tận thông.
4. Có lúc Đẳng chí không dùng Vô lậu của Thức vô biên xứ làm Đẳng vô gián cũng không phải là Sở duyên, loại này có bốn mươi mốt, đó là tám Vị tương ưng, bốn Vô lượng, bốn Giải thoát, tám Thắng xứ, chín Biến xứ, hai Vô ngại giải, Vô tranh, sở y của năm Thông.
Dựa vào Vô lậu của Vô sở hữu xứ làm thuận theo câu trước, nghĩa là nếu Đẳng chí dùng Vô lậu của Vô sở hữu xứ làm Đẳng vô gián thì cũng dùng loại ấy làm Sở duyên. Có lúc Đẳng chí dùng Vô lậu của Vô sở hữu xứ làm Sở duyên, mà không dùng loại ấy làm Đẳng vô gián, loại này có chín, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự , sở y của Nguyện trí.
Hỏi: Có thể có lúc một Đẳng chí hiện rõ ở trước mắt, thì ba mươi ba Đẳng chí xả bỏ (Xả) mà không đạt được; tám Đẳng chí đạt được (Đắc) mà không xả bỏ; hai Đẳng chí cũng xả bỏ-cũng đạt được; hai Đẳng chí phần ít xả bỏ-phần ít đạt được, phần ít không xả bỏ-không đạt được; mười ba Đẳng chí phần ít xả bỏ mà không đạt được, phần ít không xả bỏ-không đạt được; bảy Đẳng chí không phải là xả bỏ-không phải là đạt được chăng?
Đáp: Có, đó là A-la-hán Tuệ giải thoát, khởi lên Vị tương ưng của

* Trang 341 *
device

Tĩnh lự  thứ nhất mà lui sụt.
Lúc bấy giờ ở trong sáu mươi lăm Đẳng chí, ba mươi ba loại là xả bỏ mà không đạt được, đó là Tịnh-Vô lậu của ba Tĩnh lự  trên, Tịnh-Vô lậu của Vô sắc, năm Giải thoát, bốn Thắng xứ sau, mười Biến xứ, sở y của Lậu tận thông.
Tám loại là đạt được mà không xả bỏ, đó là Vị tương ưng Tĩnh lự -Vô sắc.
Hai loại là cũng xả bỏ-cũng đạt được, đó là Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự  thứ nhất, bởi vì xả bỏ Vô học và pháp đã tu của địa trên, đạt được Học và lui sụt từng phần.
Hai loại là phần ít xả bỏ-phần ít đạt được, phần ít không xả bỏ- không đạt được, đó là có lúc muốn làm cho Túc trú tùy niệm trí thông cũng có Vô lậu, dựa vào pháp ấy có thể đạt được mà đưa ra cách hỏi- đáp này. nghĩa là Túc trú tùy niệm trí thông và Tha tâm trí thông, lúc bấy giờ phần ít xả bỏ, tức là tất cả pháp hữu lậu đã tu của địa trên thuộc Vô học và pháp hữu lậu của Tĩnh lự  thứ nhất đã tu thuộc phần vị Vô học; phần ít đạt được,  tức là Học của Tĩnh lự  thứ nhất; phần ít không xả bỏ-không đạt được, tức là pháp hữu lậu còn lại của Tĩnh lự  thứ nhất. Nếu có lúc muốn làm cho Túc trú tùy niệm trí thông chỉ là hữu lậu, thì dựa vào đó không nên đưa ra cách hỏi-đáp như vậy, bởi vì Túc trú tùy niệm trí thông, lúc bấy giờ chỉ có phần ít xả bỏ, và phần ít không xả bỏ-không đạt được.
Mười ba loại là phần ít xả bỏ mà không đạt được, phần ít không xả bỏ-không đạt được, đó là bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, sở y của ba Thông. Tức là tất cả các pháp đã tu của địa trên, và phần vị Vô học của địa mình xả bỏ mà không đạt được, còn lại pháp của địa mình thì không xả bỏ-không đạt được.
Bảy loại không phải là xả bỏ-không phải là đạt được, đó là bốn Vô ngại giải, sở y của Nguyện trí-Vô tranh, Diệt tận giải thoát, bởi vì trước đây chưa đạt được.
Hỏi: Có thể có đạt được một Đẳng chí, mà không có gì xả bỏ chăng?
Đáp: Có, đó là lúc đạt được Diệt tận giải thoát.
Hỏi: Có thể có lập tức đạt được sáu Đẳng chí, mà không có gì xả bỏ chăng?
Đáp: Có, đó là lúc A-la-hán bắt đầu khởi lên Nguyện trí, lập tức đạt được sáu Đẳng chí, đó là bốn Vô ngại giải, sở y của Nguyện trí-Vô tranh.

* Trang 342 *
device

Hỏi: Có thể có xả bỏ một Đẳng chí, mà không có gì đạt được chăng?
Đáp: Có, đó là lúc ở cõi Biến Tịnh chết đi sinh đến cõi Quảng Quả, xả bỏ Tịnh của Tĩnh lự  thứ ba, mà không có gì đạt được.
Hỏi: Bổ-đặc-già-la thuộc bốn Hướng-bốn Quả, đối với sáu mươi lăm Đẳng chí, ai thành tựu mấy loại, không thành tựu mấy loại?
Đáp: Hướng Dự lưu thành tựu tám loại, đó là tám Vị tương ưng, còn lại thì không thành tựu. Như Hướng Dự lưu, Quả Dự lưu, Hướng Nhất lai, Quả Nhất lai, cũng như vậy.
Hướng Bất hoàn thành tựu ít nhất là tám loại, nói như trước. Người từ từ thì thành tựu nhiều nhất là bốn mươi bảy loại, tức là đã lìa nhiễm của Vô sở hữu xứ, dựa vào Tĩnh lự  thứ tư tiến vào Chánh tánh ly sinh, đó là Tịnh-Vô lậu của bốn Tĩnh lự, Tịnh của bốn Vô sắc, Vị tương ưng của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, bốn Vô lượng, bảy Giải thoát, tám Thắng xứ, mười Biến xứ, sở y của năm Thông. Quả Bất hoàn thành tựu nhiều nhất, nói như Hướng; thành tựu ít nhất là hai mươi lăm loại, đó là tám Vị tương ưng, Tịnh-Vô lậu của Tĩnh lự  thứ nhất, bốn Vô lượng, hai Giải thoát đầu, bốn Thắng xứ trước, sở y của năm Thông; hoặc là giảm một-hai Vị, tăng một-hai Tịnh, cũng đều là hai mươi lăm loại.
Hướng A-la-hán thành tựu ít nhất là mười ba, tức là sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, không đạt được Diệt tận giải thoát, thì đó là Vô lậu của bốn Tĩnh lự -ba Vô sắc, Vị tương ưng-Tịnh của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, bốn Giải thoát. Nếu sinh đến Vô sở hữu xứ chưa lìa nhiễm của địa mình, thì cũng thành tựu mười ba loại, đó là tăng thêm một Vị, giảm bớt một Giải thoát. Thành tựu nhiều nhất là năm mươi mốt loại, tức là sinh ở cõi Dục-cõi Phạm Thế, Thân chứng thì đó là một Vị, tám Tịnh, bảy Vô lậu, bốn Vô lượng, tám Giải thoát, tám Thắng xứ, mười Biến xứ, sở y của năm Thông. Quả A-la-hán thành tựu ít nhất là mười ba, tức là sinh đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, A-la-hán Tuệ giải thoát, thì đó là bảy Vô lậu, một Tịnh, bốn Giải thoát, sở y của Lậu tận thông; thành tựu nhiều nhất là năm mươi bảy loại, đó là người đạt được Vô ngại giải, Nguyện trí-Vô tranh, chỉ trừ ra tám Vị tương ưng, còn lại đều có đủ. Phật nhất định thành tựu năm mươi bảy loại, trong Độc giác thì Bộ Hành giống như Thanh văn cõi Dục, Lân Giác Dụ thì giống như Phật.

* Trang 343 *
device

Đại Tập 94 - Bộ Tỳ Đàm VI - Số 1545 tt (Quyển 151-200)