LOGO VNBET
LUẬN A TỲ ĐẠT MA ĐẠI TỲ BÀ SA
 
 QUYỂN 192
 
LUẬN VỀ NIỆM TRÚ (Phần 6)
 
“Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn nói lời này xong liền tiến vào Tĩnh lự  thứ nhất, theo thứ tự cho đến tiến vào Định Diệt tận. Lúc ấy, Tôn giả A- nan liền hỏi Tôn giả A-nê-luật-đà rằng: Đức Thế Tôn bây giờ đã nhập Niết-bàn chăng? Trả lời rằng: Chưa đâu, chỉ là tiến vào Định Diệt tận mà thôi. Lại hỏi: Vì sao biết vậy? Trả lời rằng: Tôi đích thân nghe được từ Đức Phật, Đức Thế Tôn tiến vào Tĩnh lự  thứ tư dựa vào Định Bất động tịch Tĩnh mà nhập Niết-bàn, ánh mắt của thế gian mất đi.”
Hỏi: Tôn giả A-nan là biết mà hỏi, hay là không biết? Nếu biết thì vì sao lại hỏi? Nếu không biết thì làm sao gọi là nhận biết tâm của Đức Phật?
Đáp: Có người nói: Tôn giả ấy biết rõ điều đó.
Hỏi: Nếu như vậy thì vì sao lại hỏi?
Đáp: Cũng có lúc biết mà cố ý hỏi để làm phát khởi ngôn luận, như nói: Đức Thế Tôn biết mà cố ý hỏi.
Lại nữa, Tôn giả A-nan muốn nêu rõ Tôn giả A-nê-luật-đà có công đức thù thắng, cho nên tuy biết mà vẫn hỏi. nghĩa là Tôn giả ấy tuy có công đức thù thắng mà Đại chúng không biết, muốn khiến cho Đại chúng biết rõ điều ấy, vì vậy mà cố ý hỏi.
Có người nói: Tôn giả ấy không biết.
Hỏi: Nếu như vậy thì làm sao gọi là nhận biết tâm của Đức Phật?
Đáp: Đức Phật xuất Định rồi A-nan nhận biết tâm trước đây, mà lúc ấy không nhận biết là bởi vì Đức Phật còn ở trong Định.
Lại nữa, Tôn giả ấy nếu lúc trú trong tâm thuộc tánh thường hằng thì có thể nhận biết tâm của Đức Phật, lúc bấy giờ tâm ấy do hai điều buồn lo phiền muộn mà che khuất, cho nên không nhận biết tâm của

* Trang 715 *
device

Đức Phật:
1. Buồn lo phiền muộn vì mất đi quyến thuộc.
2. Buồn lo phiền muộn vì mất đi bậc Đại Sư.
Hỏi: Tôn giả A-nê-luật-đà vì sao biết vậy?
Đáp: Có người nói: Lúc Đức Thế Tôn sắp nhập Niết-bàn, tiến vào Đẳng chí giống như Thanh văn, cho nên vị ấy biết được.
Lời bình: Người ấy không nên đưa ra cách nói này, bởi vì lúc bấy giờ Đức Phật ngay lúc ấy tiến vào tất cả Tĩnh lự -Giải thoát-Đẳng trì- Đẳng chí không giống như Thanh văn-Độc giác.
Hỏi: Nếu như vậy thì vị ấy làm sao biết được?
Đáp: Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn khởi tâm tiến vào-rời ra Định giống như Thanh văn-Độc giác, vị ấy nhờ đó biết được bởi vì là cảnh của vị ấy, giống như lúc voi chúa vượt qua sông sâu, nếu đang ở giữa sông thì loài người không có ai biết, chỉ quan sát dấu vết tiến vào-rời ra khỏi dòng nước thì biết nơi vo chúa đã tiến vào-rời ra; như vậy Đức Thế Tôn nếu lúc trú trong dòng sông của Đẳng chí rất sâu, thì tất cả Thanh văn-Độc giác không có thể ngay lúc ấy nhìn thấy, chỉ quan sát tâm tiến vào-rời ra Định như dấu vết tiến vào-rời ra khỏi dòng nước, thì biết tiến vào Định như vậy-rời ra từ Định như vậy.
Như nói: “Lúc bấy giờ Tôn giả Đại Ca-diếp-ba dấy lên nghĩ rằng: Mình nên lấy gì để dập tắt ngọn lửa thiêu cháy thân thể của Như Lai? Lập tức dấy lên nghĩ rằng: Nay mình nên dùng sữa thơm để dập tắt ngọn lửa! Ngay lúc khởi tâm thì có bốn dòng sữa thơm từ hư không mà rưới xuống, vì vậy khiến cho ngọn lửa thiêu cháy thân thể của Như Lai cùng lúc mà tắt ngấm.”
Hỏi: Vì sao cần phải dùng sữa thơm để dập tắt ngọn lửa thiêu cháy thân thể của Như Lai?
Đáp: Bởi vì muốn hiển bày về pháp tương tự với những người Tiên. nghĩa là tục lệ ở nước ấy, nếu người Tiên mạng chung thì dùng sữa thơm để dập tắt ngọn lửa thiêu cháy thân thể, nếu người hưởng thụ dục lạc mạng chung thì dùng rượu để dập tắt ngọn lửa thiêu cháy thân thể; Đức Phật là bậc thù thắng ở trong những người Tiên, tức là vị người Tiên bậc nhất, cho nên nay cũng dùng sữa thơm để dập tắt ngọn lửa.
Lại nữa, muốn làm cho Xá-lợi của Đức Phật vô cùng thanh tịnh, cho nên dùng sữa thơm để rưới vào.
Lại nữa, sinh thân của Đức Phật là do sữa mà nuôi lớn, cho nên nay Xá-lợi cũng dùng sữa để rửa sạch.
Lại nữa, tánh của sữa là béo mà có thể dập tắt ngọn lửa; hoặc

* Trang 716 *
device

 có vật tuy là tánh béo mà không có thể dập tắt ngọn lửa, lại khiến cho ngọn lửa rực lên, như các loại bơ-dầu…; có vật tuy có thể dập tắt ngọn lửa mà tánh không béo, như nước-rượu…; chỉ có sữa là tánh béo lại có thể dập tắt ngọn lửa, cho nên chỉ dùng sữa.
Bởi vì nghĩa này, cho nên Tôn giả Đại Ca-diếp-ba, hiện bày bốn dòng sữa thơm dùng để dập tắt ngọn lửa thiêu cháy thân của Như Lai.
Như nói: Lúc bấy giờ Tôn giả A-nan, sau khi Đức Phật nhập Niết- bàn đã trải qua bảy ngày đêm, đi vòng về phía tay phải quanh đống lửa thiếu cháy thân của Như Lai, nói bài tụng rằng:
“Ngàn lớp y Trà-tỳ Đức Phật,
Chỉ có hai lớp y không cháy,
Là y ngoài và y lót thân,
Đây là điều kỳ lạ vô cùng.”
Hỏi: Vì sao Đức Thế Tôn chỉ có hai lớp y không cháy?
Đáp: Bởi vì có uy lực của các hàng Thiên thần tín kính Đức Phật đã giữ gìn làm cho không cháy.
Có người nói: Là do nguyện lực của Đức Phật đã giữ gìn làm cho trong-ngoài thanh tịnh, đó là một lớp y ở bên trong giữ gìn Xá-lợi (đà- đô) của Như Lai khiến cho không phân tán nhiễm bẩn, một lớp y ở bên ngoài giữ gìn tất cả tro tàn khiến cho không bị gió cuốn mất.
Có người nói: Đây là biểu thị cho Chánh pháp của Như Lai có hai loại bảo vệ trong-ngoài, bảo vệ bên trong đó là những Tỳ kheo-Tỳ kheo Ni… thanh tịnh, bảo vệ bên ngoài đó là hàng Quốc vương-Đại thần… có niềm tin thanh tịnh, đây là uy lực của Chánh pháp khiến cho hai lớp y ấy không cháy.
Có người nói: Đây là biểu thị cho trong tâm-ngoài thân của Như Lai đều thanh tịnh, tâm thanh tịnh đó là bởi vì đã vĩnh viễn lìa xa tất cả phiền não và tập khí, thân thanh tịnh đó là bởi vì từ nghiệp dị thục của tướng thù thắng nhất đã dẫn dắt sinh ra.
Như nói: Bốn Hữu, đó là Bổn hữu-Tử hữu-Trung hữu-Sinh hữu.
Thanh của Hữu thì có nhiều nghĩa, nói rộng ra như trước. Trong này, thanh của Hữu nói đến năm Uẩn thuộc Chúng đồng phần của số hữu tình gọi là Hữu.
Hỏi: Thế nào là Bổn hữu?
Đáp: Trừ ra các uẩn thuộc phần Sinh-phần Tử, còn lại các Hữu trung gian, đây chính là lấy năm uẩn-bốn uẩn trong một thời kỳ làm tánh.
Hỏi: Vì sao Hữu này gọi là Bổn hữu?

* Trang 717 *
device

Đáp: Đây là do lúc trước đã tạo nghiệp mà sinh ra, cho nên gọi là Bổn hữu.
Hỏi: Nếu như vậy thì những Hữu khác cũng là Bổn hữu, bởi vì đều do lúc trước đã tạo nghiệp mà sinh ra?
Đáp: Nếu là do lúc trước đã tạo nghiệp mà sinh ra, thô thiển-hiển bày dễ hiểu-hiện thấy rõ ràng thì gọi là Bổn hữu; những Hữu còn lại tuy là do lúc trước đã tạo nghiệp mà sinh ra, nhưng vi tế-ẩn kín khó hiểu- không phải là hiện thấy rõ ràng, vì vậy không nói đến.
Hỏi: Thế nào là Tử hữu?
Đáp: Các uẩn thuộc phần Tử, tức là lấy năm uẩn-bốn uẩn lúc mạng chung làm tánh.
Hỏi: Thế nào là Trung hữu?
Đáp: Trừ ra các uẩn thuộc phần Sinh-phần Tử, còn lại các Hữu trung gian, tức là lấy năm uẩn của hai Hữu trung gian làm tánh.
Hỏi: Vì sao Hữu này gọi là gọi là Trung hữu?
Đáp: Đây là sinh ra ở khoảng giữa của hai Hữu, cho nên gọi là Trung hữu.
Hỏi: Nếu như vậy thì những Hữu khác cũng là Trung hữu, bởi vì đều sinh ra ở khoảng giữa của hai Hữu?
Đáp: Nếu sinh ra ở khoảng giữa của hai Hữu mà không phải là do nẽo thâu nhiếp, thì gọi là Trung hữu; những Hữu còn lại tuy sinh ra ở khoảng giữa của hai Hữu, mà là nẽo thâu nhiếp cho nên không gọi là Trung hữu.
Hỏi: Thế nào là Sinh hữu?
Đáp: Các uẩn thuộc phần Sinh, tức là lấy năm uẩn-bốn uẩn lúc tiến vào thai (kiết sinh) làm tánh.
Hỏi: Bốn Hữu này mấy loại là sát-na, mấy loại là nối tiếp nhau?
Đáp: Hai loại là sát-na, đó là Tử hữu-Sinh hữu; hai loại là nối tiếp nhau, đó là Bổn hữu-Trung hữu.
Hỏi: Bốn Hữu này mấy loại là nhiễm ô, mấy loại là không nhiễm ô?
Đáp: Đều gồm chung cả hai loại.
Hỏi: Bốn Hữu này mấy loại là tâm nhiễm ô, mấy loại là không nhiễm ô?
Đáp: Sinh hữu là tâm chỉ có nhiễm ô, ba Hữu còn lại là tâm nhiễm ô và không nhiễm ô.
Hỏi: Bốn Hữu này mấy loại là hữu lậu, mấy loại là vô lậu?
Đáp: Đều chỉ là hữu lậu.

* Trang 718 *
device

Hỏi: Bốn Hữu này về Thời và Tâm thì mấy loại là hữu lậu, mấy loại là vô lậu?
Đáp: Hai loại chỉ là hữu lậu, đó là Thời và Tâm của Tử hữu-Sinh hữu; hai loại gồm chung hữu lậu-vô lậu, đó là Thời và Tâm của Bổn hữu-Trung hữu.
Hỏi: Bốn Hữu này về Thời thì mấy loại khởi tâm Đồng phần, mấy loại khởi tâm không Đồng phần?
Đáp: Hai loại khởi tâm Đồng phần, đó là Thời của Tử hữu-Sinh hữu; hai loại khởi tâm Đồng phần-không Đồng phần, đó là Thời của Bổn hữu-Trung hữu.
Các Dục hữu thì tất cả Hữu ấy là năm Hành chăng? Cho đến nói rộng ra.
Trong này, các Uẩn dùng thanh của Hành mà nói. Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác quá khứ nói Uẩn là Hành, Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác Thích-ca Mâu-ni hiện tại nói Hành là Uẩn. Bởi vì Đức Phật trước kia nói năm Hành, Đức Phật bây giờ nói năm Thủ uẩn, cho nên trong A-tỳ-đạt-ma này nói năm Hành nói đến năm Hành, là muốn hiển bày Đức Phật bây giờ nói năm Uẩn tức là năm Hành mà Đức Phật trước kia đã nói.
Hỏi: Vì sao Đức Phật trước kia nói Uẩn là Hành, Đức Phật bây giờ nói Hành là Uẩn?
Đáp: Bởi vì Đức Phật quán xét hữu tình đã được hóa độ, cho nên tùy theo sự thích hợp mà nói. nghĩa là hữu tình do Đức Phật trước kia hóa độ thuận theo nghe nói về Hành mà đạt được hiểu biết chính xác, hữu tình do Đức Phật bây giờ hóa độ thuận theo nghe nói về Uẩn mà đạt được hiểu biết chính xác(Chánh giải).
Hỏi: Vì sao gọi là Hành?
Đáp: Bởi vì lưu chuyển cho nên gọi là Hành. nghĩa là các Uẩn đời trước do các Uẩn đời sau cho nên lưu chuyển, hoặc là các Uẩn đời sau do các Uẩn đời trước cho nên lưu chuyển. Nếu sinh ở cõi Dục, thì dùng tâm của cõi Dục làm tâm Đồng phần, làm Đồng phần cho Mạng căn Chúng đồng phần ấy; dùng tâm của cõi Sắc-Vô sắc và tâm vô lậu làm tâm không Đồng phần, không làm Đồng phần cho Mạng căn Chúng đồng phần ấy. Nếu sinh ở cõi Sắc, thì dùng tâm của cõi Sắc làm tâm Đồng phần, dùng tâm của cõi Dục-Vô sắc và tâm vô lậu làm tâm không Đồng phần. Nếu sinh ở cõi Vô sắc, thì dùng tâm của cõi Vô sắc làm tâm Đồng phần, dùng vô lậu làm tâm không Đồng phần.
Hỏi: Các Dục hữu thì tất cả Hữu ấy là năm Hành chăng? Giả sử

* Trang 719 *
device

năm Hành thì tất cả Hành ấy là Dục hữu chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Dục hữu mà không phải là năm Hành, đó là hữu tình cõi Dục trú trong tâm không Đồng phần, và trú trong Định Vô tưởng-Diệt tận, bởi vì lúc ấy Dục hữu chỉ có hai Hành.
2. Có lúc năm Hành mà không phải là Dục hữu, đó là trời Vô tưởng ở cõi Sắc trú trong tâm Đồng phần; nếu trời Vô tưởng không đạt được Vô tưởng, thì lúc bấy giờ đều có đủ năm Hành, bởi vì trời Vô tưởng ấy ở phần vị có tâm, cho nên nhất định không khởi lên tâm không Đồng phần, mà Hành ấy không phải là Dục hữu.
3. Có lúc Dục hữu cũng là năm Hành, đó là hữu tình cõi Dục trú trong tâm Đồng phần, bởi vì lúc ấy Dục hữu có đủ năm Hành.
4. Có lúc không phải là Dục hữu cũng không phải là năm Hành, đó là trời Vô tưởng ở cõi Sắc trú trong tâm không Đồng phần và trú trong Định Vô tưởng-Diệt tận; nếu trời Vô tưởng đạt được Vô tưởng, nếu sinh ở cõi Vô sắc, thì lúc bấy giờ chỉ có hai Hành, hoặc là bốn Hành, hoặc là một Hành, mà Hành ấy lại không phải là Dục hữu.
Hỏi: Các Sắc hữu-trời Hữu tưởng thì tất cả Hữu ấy là năm Hành chăng? Giả sử năm Hành thì tất cả Hành ấy là Sắc hữu-trời Hữu tưởng chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Sắc hữu-trời Hữu tưởng mà không phải là năm Hành, đó là Sắc hữu-trời Hữu tưởng trú trong tâm không Đồng phần, và trú trong Định Vô tưởng-Diệt tận, bởi vì lúc bấy giờ Sắc hữu-trời Hữu tưởng đều chỉ có hai Hành.
2. Có lúc năm Hành mà không phải là Sắc hữu-trời Hữu tưởng, đó là hữu tình cõi Dục trú trong tâm Đồng phần; nếu trời Vô tưởng không đạt được Vô tưởng, thì lúc bấy giờ tuy đều có đủ năm Hành, mà Hành ấy không phải là Sắc hữu-trời Hữu tưởng.
3. Có lúc Sắc hữu-trời Hữu tưởng cũng là năm Hành, đó là Sắc hữu-trời Hữu tưởng trú trong tâm Đồng phần, bởi vì lúc bấy giờ Sắc hữu-trời Hữu tưởng có đủ năm Hành.
4. Có lúc không phải là Sắc hữu-trời Hữu tưởng cũng không phải là năm Hành, đó là hữu tình cõi Dục trú trong tâm không Đồng phần, và trú trong Định Vô tưởng-Diệt tận; nếu trời Vô tưởng đạt được Vô tưởng, nếu sinh ở cõi Vô sắc, thì lúc bấy giờ chỉ có hai Hành, hoặc là bốn Hành, hoặc là một Hành, mà Hành ấy lại không phải là Sắc hữu- trời Hữu tưởng.

* Trang 720 *
device

Hỏi: Các Sắc hữu-trời Vô tưởng thì tất cả Hữu ấy là hai Hành chăng? Giả sử hai Hành thì tất cả Hành ấy là Sắc hữu-trời Vô tưởng chăng?
Đáp: Nên làm thành bốn câu phân biệt:
1. Có lúc Sắc hữu-trời Vô tưởng mà không phải là hai Hành, đó là trời Vô tưởng không đạt được Vô tưởng, bởi vì lúc bấy giờ Sắc hữu-trời Vô tưởng ấy có đủ năm Hành, nguyên cớ như trước.
2. Có lúc hai Hành mà không phải là Sắc hữu-trời Vô tưởng, đó là hữu tình cõi Dục trú trong tâm không Đồng phần, và trú trong Định Vô tưởng-Diệt tận; nếu Sắc hữu-trời Hữu tưởng trú trong tâm không Đồng phần, và trú trong Định Vô tưởng-Diệt tận, thì lúc bấy giờ tuy đều là hai Hành, mà Hành ấy không phải là Sắc hữu-trời Vô tưởng.
3. Có lúc Sắc hữu-trời Vô tưởng cũng là hai Hành, đó là trời Vô tưởng đạt được Vô tưởng, bởi vì lúc bấy giờ Sắc hữu-trời Vô tưởng ấy chỉ có hai Hành.
4. Có lúc không phải là Sắc hữu-trời Vô tưởng cũng không phải là hai Hành, đó là hữu tình cõi Dục và trời Hữu tưởng ở cõi Sắc trú trong tâm Đồng phần, nếu sinh ở cõi Vô sắc, thì lúc bấy giờ mới có năm Hành, hoặc là bốn Hành, hoặc là một Hành, mà Hành ấy lại không phải là Sắc hữu-trời Vô tưởng.
Hỏi: Các Vô sắc hữu thì tất cả Hữu ấy là bốn Hành chăng? Giả sử bốn Hành thì tất cả Hành ấy là Vô sắc hữu chăng?
Đáp: Các Hữu là bốn Hành thì tất cả Hành ấy là Vô sắc hữu, không phải là hữu tình cõi Dục-Sắc mà có bốn Hành.
Có lúc Vô sắc hữu mà không phải là bốn Hành, đó là hữu tình cõi Vô sắc trú trong tâm không Đồng phần, bởi vì lúc bấy giờ Vô sắc hữu ấy chỉ có một Hành.
Có thể có Hữu là năm Hành chăng? Cho đến nói rộng ra.
Hỏi: Vì sao lại soạn ra phần luận này?
Đáp: Văn trước tuy thành lập có Hữu là hai Hành mà chưa ngăn chặn có Hữu là ba Hành, cũng chưa thành lập có Hữu là một Hành, nay bởi vì ngăn chặn có Hữu là ba Hành, và muốn thành lập có Hữu là một Hành, cho nên soạn ra phần luận này.
Hỏi: Có thể có Hữu là năm Hành chăng?
Đáp: Có, đó là hữu tình cõi Dục và Sắc hữu-trời Hữu tưởng trú trong tâm Đồng phần, nếu trời Vô tưởng không đạt được Vô tưởng, bởi vì lúc ấy chắc chắn có năm Hành hiện tại của địa mình.
Hỏi: Có thể có Hữu là bốn Hành chăng?

* Trang 721 *
device

Đáp: Có, đó là hữu tình cõi Vô sắc trú trong tâm Đồng phần.
Hỏi: Có thể có Hữu là ba Hành chăng?
Đáp: Không có, bởi vì không có hữu tình nào thành tựu ba Uẩn. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì tâm-tâm sở pháp chắc chắn không tách rời nhau, bởi vì Thọ-Tưởng-Tư luôn luôn tương ưng với nhau.
Hỏi: Có thể có Hữu là hai Hành chăng?
Đáp: Có, đó là hữu tình cõi Dục và trời Hữu tưởng ở cõi Sắc trú trong tâm không Đồng phần, nếu trú trong Định Vô tưởng-Diệt tận, nếu trời Vô tưởng đạt được Vô tưởng, bởi vì lúc ấy chỉ có hai Hành.
Hỏi: Có thể có Hữu là một Hành chăng?
Đáp: Có, đó là hữu tình cõi Vô sắc trú trong tâm không Đồng phần, bởi vì lúc ấy chỉ có một Hành.
Hỏi: Có thể có Hữu không có Hành chăng?
Đáp: Không có, bởi vì không có hữu tình nào không phải là do Uẩn tạo thành, bởi vì tất cả hữu tình chắc chắn có Mạng căn…của địa mình.
--------------------------------------

* Trang 722 *
device

CHƯƠNG VIII: KIẾN UẨN (Tiếp Theo)

Phẩm Thứ Hai: LUẬN VỀ TAM HỮU LUẬN VỀ TAM HỮU (Phần 1)

 
Vào lúc rời bỏ (xả) Dục hữu-Dục hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Dục diệt đi, pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt chăng? Các chương như vậy và giải thích về nghĩa của từng chương đã lónh hội rồi, tiếp theo cần phải phân biệt rộng ra.
Nhưng thanh của Hữu thì có nhiều nghĩa, trong này nói đến năm Uẩn thuộc Chúng đồng phần của số hữu tình gọi là Hữu, như nói: Chết ở cõi Dục-sinh ở cõi Dục, lúc ấy tất cả Dục hữu nối tiếp nhau chăng? Cho đến nói rộng ra.
Đó cũng là nói đến năm Uẩn thuộc Chúng đồng phần của số hữu tình gọi là Hữu, như nói: Do các phiền não mà ràng buộc (triền-sở triền) Hữu địa ngục nối tiếp nhau, lúc ấy bắt đầu đã có được đại chủng các căn làm một Tăng thượng cho tâm-tâm sở pháp này. Cho đến nói rộng ra.
Lại nữa, như nói: Lúc Dục hữu nối tiếp nhau, ban đầu có được mấy nghiệp mà sinh căn? Cho đến nói rộng ra.
Lại như nói: Bốn Hữu, đó là Bổn hữu-Tử hữu-Trung hữu-Sinh hữu.
Nên biết văn ấy đều nói đến năm Uẩn thuộc Chúng đồng phần của số hữu tình gọi là Hữu.
Như nói: Pha-lặc-lũ-na do Thức thực mà dẫn dắt có thể cảm đến thân đời sau (hậu hữu) làm cho hiện rõ trước mắt. Đó là nói đến tâm quyến thuộc lúc tiếp tục sinh ra gọi là Hữu.
Như nói: A-nan-đà, nghiệp hữu như vậy có thể dẫn đến thân đời sau. Đó là nói về Tư dẫn đến thân đời sau gọi là Hữu.
Như nói: Thủ duyên Hữu. Đó là nói đến phần vị năm Uẩn gọi là Hữu.
Tôn giả Diệu Âm nói rằng: “Đó là nói đến nghiệp dẫn đến thân đời sau gọi là Hữu.”
Như nói: Thế nào là pháp có? Đó là tất cả hữu lậu. Đó là nói đến các pháp hữu lậu gọi là Hữu.
Như nói: Bảy Hữu, đó là Địa ngục hữu-Bàng sinh hữu-Ngạ quỷ hữu-Nhân hữu-Thiên hữu-Nghiệp hữu-Trung hữu. Đó là nói đến năm

* Trang 723 *
device

nẽo-nhân của năm nẽo-phương tiện của năm nẽo gọi là Hữu.
Như nói: Dục hữu là thế nào? Đó là nghiệp có thể cảm đến thân đời sau của cõi Dục. Cho đến nói rộng ra. Đó là nói đến nghiệp và dị thục gọi là Hữu, không nói là do Thủ mà duyên Hữu.
Hỏi: Nếu như vậy thì phần sau nói đến điều ấy nên hiểu thế nào? Như nói: Dục hữu là tất cả tùy miên tùy tăng của cõi Dục, cho đến nói rộng ra. Dục hữu là nghiệp thuộc năm Bộ đều có thể cảm đến dị thục thì có thể nói là tất cả tùy miên tùy tăng của cõi Dục, Sắc hữu-Vô sắc hữu chỉ là nghiệp có thể cảm đến dị thục do Tu mà đoạn, làm sao có thể nói là tất cả tùy miên tùy tăng của cõi Sắc-Vô sắc?
Đáp: Văn sau nên đưa ra cách nói này: Dục hữu là tất cả tùy miên tùy tăng của cõi Dục, Sắc hữu-Vô sắc hữu là biến hành của cõi Sắc-Vô sắc, và tùy miên tùy tăng do Tu mà đoạn. Nên đưa ra cách nói này mà không nói đến thì phải biết rằng đó là nói đến Hữu và quyến thuộc đều gọi là Hữu, bởi vì pháp có hòa hợp cũng gọi là Hữu.
Có Sư khác nói: Trước nói về nghiệp và dị thục gọi là Hữu, chứ không nói là do Thủ mà duyên Hữu; sau nói về nghiệp và dị thục gọi là Hữu, mà cũng nói là do Thủ mà duyên Hữu.
Vị ấy không nên đưa ra cách nói này, bởi vì những người soạn luận dựa vào chương mục lập ra môn loại, chứ không có thể do chương mục mà nói khác, do môn loại mà nói khác. Vì thế cho nên như trước đã nói là hợp lý.
Hỏi: Vì sao gọi là Hữu?
Đáp: Có thể có-có thể không phải là có, cho nên gọi là Hữu. Hỏi: Nếu như vậy thì Thánh đạo nên gọi là Hữu, bởi vì Thánh đạo cũng là có thể có-có thể không phải là có?
Đáp: Nếu có thể có-có thể không phải là có, luôn luôn nuôi lớn, thâu nhiếp thêm nhiều, duy trì các nghiệp nhân-quả báo thì gọi là Hữu; Thánh đạo tuy có thể có-có thể không phải là có, mà làm tổn hoại chia lìa đối với các nghiệp nhân-quả báo, cho nên không gọi là Hữu.
Lại nữa, nếu có thể có-có thể không phải là có, luôn luôn làm cho các nghiệp nhân-quả báo nối tiếp nhau lưu chuyển, khiến cho con đường già-chết không đoạn dứt thì gọi là Hữu; Thánh đạo tuy có thể có- có thể không phải là có, mà làm cho các nghiệp nhân-quả báo không nối tiếp nhau, không lưu chuyển, đoạn dứt con đường già-chết, cho nên không gọi là Hữu.
Lại nữa, nếu có thể có-có thể không phải là có, là hành hướng đến Khổ-Tập, hành hướng đến Tập của quả báo ở thế gian, lưu chuyển trong

* Trang 724 *
device

sinh tử, lão tử thì gọi là Hữu; Thánh đạo tuy có thể có-có thể không phải là có, mà là hành hướng đến Diệt-Khổ, hành hướng đến Diệt quả báo ở thế gian, lưu chuyển trong sinh tử, lão tử cho nên không gọi là Hữu.
Lại nữa, nếu có thể có-có thể không phải là có, là quan hệ của Hữu thân kiến, là quan hệ của điên đảo, là quan hệ của tùy miên, là quan hệ của ái, nơi dừng chân của tham-sân-si, có vết bẩn-có chất độc, do các quả báo thâu nhiếp, rơi vào Khổ-Tập đế thì gọi là Hữu; Thánh đạo tuy có thể có-có thể không phải là có, mà không phải là quan hệ của Hữu thân kiến cho đến quan hệ của ái, không phải là nơi dừng chân của tham-sân-si, không có vết bẩn-không có chất độc, không phải là các quả báo thâu nhiếp, không rơi vào Khổ-Tập đế cho nên không gọi là Hữu.
Có Sư khác nói: Là đồ chứa của khổ đau cho nên gọi là Hữu.
Hỏi: Nếu như vậy thì ở đây cũng là đồ chứa của vui sướng, như nói: “Này Đại Danh! Nếu Sắc luôn luôn là khổ đau, không phải là vui sướng, không phải là tùy thuận với vui sướng, không tăng trưởng vui sướng, chỉ là nhân lìa xa vui sướng, thì các hữu tình không nên đối với Sắc khởi lên tham đắm-khởi lên nhiễm trước. Này Đại Danh! Bởi vì Sắc không phải là luôn luôn khổ đau, mà cũng là vui sướng, cũng tùy thuận với vui sướng, cũng tăng trưởng vui sướng, không phải chỉ là nhân lìa xa vui sướng, cho nên hữu tình đối với Sắc khởi lên tham đắm-khởi lên nhiễm trước.” Vả lại, Đức Phật quyết định kiến lập ba Thọ không tạp loạn lẫn nhau, đó là Lạc thọ, Khổ thọ, không khổ-không lạc thọ, như vậy pháp hữu vi cũng là đồ chứa của vui sướng, tại sao chỉ nói là đồ chứa của khổ đau cho nên gọi là Hữu?
Đáp: Bởi vì khổ đau nhiều, đó là trong sinh tử thì khổ đau nhiều- vui sướng ít, pháp thuận với khổ đau thì nhiều, pháp thuận với vui sướng thì ít, bởi vì vui sướng ít cho nên đưa vào phẩm khổ đau; như một giọt mật ngọt rơi vào trong bình đựng thuốc độc thì không gọi là bình đựng mật ngọt, mà vẫn gọi là bình đựng thuốc độc, bởi vì thuốc độc nhiều. Ở đây cũng như vậy.
Lại có người nói: Bởi vì đáng sợ hãi cho nên gọi là Hữu.
Hỏi: Nếu như vậy thì Niết-bàn lẽ ra cũng gọi là Hữu, như nói: “Này Tỳ kheo! Những loại người ngu không hề nghe dị sinh ở trong Niết-bàn, thì sinh lòng sợ hãi vô cùng, nói là Ngã không có, Ngã sở không có, Ngã sẽ không có, Ngã sở sẽ không có.” Họ đối với Niết-bàn đã sinh lòng sợ hãi, vậy thì Niết-bàn cũng nên gọi là Hữu?
Đáp: Đối với Hữu sinh lòng sợ hãi thì vậy là Chánh, đối với Niết-

* Trang 725 *
device

bàn mà sinh lòng sợ hãi thì vậy là Tà, bởi vì Niết-bàn không phải là đáng sợ hãi, vì vậy không gọi là Hữu.
Lại nữa, nếu khiến cho dị sinh và Thánh giả đều sinh lòng sợ hãi thì mới gọi là Hữu, Niết-bàn chỉ khiến cho dị sinh sinh lòng sợ hãi, cho nên không gọi là Hữu.
Nối tiếp nhau (tương tục) có năm loại:
1. Trung hữu nối tiếp nhau.
2. Sinh hữu nối tiếp nhau.
3. Phần vị nối tiếp nhau.
4. Pháp nối tiếp nhau.
5. Sát na nối tiếp nhau.
Trung hữu nối tiếp nhau, đó là uẩn Tử hữu diệt đi, uẩn Trung hữu sinh ra, các uẩn Tử hữu do các uẩn Trung hữu mà nói là nối tiếp nhau, cho nên gọi là Trung hữu nối tiếp nhau. 
Sinh hữu nối tiếp nhau, đó là uẩn Trung hữu diệt đi, uẩn Sinh hữu sinh ra, các uẩn Trung hữu do các uẩn Sinh hữu mà nói là nối tiếp nhau, cho nên gọi là Sinh hữu nối tiếp nhau.
Phần vị nối tiếp nhau, đó là phần vị Yết-la-lam diệt đi, phần vị Át-bộ-đàm sinh ra, phần vị Yết-la-lam do phần vị Át-bộ-đàm mà nói là nối tiếp nhau; cho đến phần vị Tráng niên diệt đi, phần vị Lão niên sinh ra, phần vị Tráng niên do phần vị Lão niên mà nói là nối tiếp nhau, cho nên gọi là phần vị nối tiếp nhau.
Pháp nối tiếp nhau, đó là pháp thiện không gián đoạn, pháp nhiễm- hoặc là pháp vô ký hiện rõ ở trước mắt, pháp thiện do pháp nhiễm-hoặc là pháp vô ký mà nói là nối tiếp nhau; pháp nhiễm-pháp vô ký không gián đoạn, một trong hai pháp hiện rõ trước mắt, nói rộng ra cũng như vậy, cho nên gọi là pháp nối tiếp nhau.
Sát-na nối tiếp nhau, đó là sát-na trước không gián đoạn, sát-na sau hiện rõ ở trước mắt, sát-na trước do sát-na sau mà nói là nối tiếp nhau, cho nên gọi là sát-na nối tiếp nhau.
Năm loại nối tiếp nhau này đều thâu nhiếp trong hai sự nối tiếp nhau, đó là pháp nối tiếp nhau và sát-na nối tiếp nhau, bởi vì phần vị Trung hữu-Sinh hữu nối tiếp nhau đều gọi là pháp và sát-na. Cõi Dục có đủ năm loại nối tiếp nhau; cõi Sắc có bốn loại, trừ ra phần vị; cõi Vô sắc có ba loại, trừ ra Trung hữu và phần vị. Chư Thiên, Na-lạc-ca và Hóa sinh có bốn loại, trừ ra phần vị; còn lại đều có đủ năm loại.
Có người nói: Chư Thiên và Hóa sinh cũng có đủ năm loại nối tiếp nhau.

* Trang 726 *
device

Ở trong năm loại nối tiếp nhau, trong này dựa vào hai loại nối tiếp nhau mà soạn luận, đó là Trung hữu và Sinh hữu.
Hỏi: Vào lúc rời bỏ (xả) Dục hữu-Dục hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Dục diệt đi, pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt chăng?
Đáp: Vào lúc rời bỏ Dục hữu-Dục hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Dục diệt đi, pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt, nghĩa là ở cõi Dục mạng chung-sinh trở lại cõi Dục, lúc từ Tử hữu hướng đến Trung hữu, thì rời bỏ Dục hữu, đó là Tử hữu của cõi Dục; Dục hữu nối tiếp nhau, đó là Trung hữu của cõi Dục, pháp của cõi Dục diệt đi, đó là các uẩn Tử hữu của cõi Dục; pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt, đó là các uẩn Trung hữu của cõi Dục. Nếu lúc từ Trung hữu hướng đến Sinh hữu, thì rời bỏ Dục hữu, đó là Trung hữu của cõi Dục; Dục hữu nối tiếp nhau, đó là Sinh hữu của cõi Dục, pháp của cõi Dục diệt đi, đó là các uẩn Trung hữu của cõi Dục; pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt, đó là các uẩn Sinh hữu của cõi Dục.
Hỏi: Nếu trú trong tâm vô phú vô ký của cõi Dục mà mạng chung, lúc trú trong Trung hữu thì không thành tựu Tử hữu, lúc trú trong Sinh hữu thì không thành tựu Trung hữu, có thể gọi là rời bỏ; nếu trú trong tâm thiện hoặc là tâm nhiễm mà mạng chung, lúc trú trong Trung hữu thì thành tựu Tử hữu, lúc trú trong Sinh hữu thì thành tựu Trung hữu, làm sao gọi là rời bỏ?
Đáp: Có người nói: Trong này chỉ dựa vào phần vị trú trong tâm vô phú vô ký mà mạng chung để nói, vì thế cho nên không có lỗi.
Có người nói: Trong này dựa vào rời bỏ hiện hành mà nói, tuy trú trong Trung hữu thành tựu Tử hữu, trú trong Sinh hữu thành tựu Trung hữu, mà không hiện hành cho nên nói là rời bỏ.
Có người nói: Trong này nói rời bỏ Uẩn trước đây gọi là rời bỏ, không nói đến nghĩa thành tựu hay không thành tựu.
Có lúc pháp của cõi Dục diệt đi, pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt, mà không phải là rời bỏ Dục hữu-Dục hữu nối tiếp nhau, đó là không mạng chung mà pháp của cõi Dục diệt đi, pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt. Sự việc ấy thế nào? Đó là phần vị Yết-la-lam không gián đoạn, phần vị Át-bộ-đàm hiện rõ ở trước mắt, cho đến phần vị Tráng niên không gián đoạn, phần vị Lão niên hiện rõ ở trước mắt; pháp thiện không gián đoạn, pháp nhiễm-hoặc là pháp vô ký hiện rõ ở trước mắt, pháp nhiễm không gián đoạn, pháp thiện-hoặc pháp vô ký hiện rõ trước mắt, pháp vô ký không gián đoạn, pháp thiện và pháp

* Trang 727 *
device

nhiễm hiện rõ ở trước mắt; sát-na trước không gián đoạn, sát-na sau hiện rõ ở trước mắt.
Hỏi: Vào lúc rời bỏ (xả) Dục hữu-Sắc hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Dục diệt đi, pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt chăng?
Đáp: Vào lúc rời bỏ Dục hữu-Sắc hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Dục diệt đi, pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt, nghĩa là ở cõi Dục mạng chung-sinh đến cõi Sắc, lúc từ Tử hữu hướng đến Trung hữu, thì rời bỏ Dục hữu, đó là Tử hữu của cõi Dục; Sắc hữu nối tiếp nhau, đó là Trung hữu của cõi Sắc, pháp của cõi Dục diệt đi, đó là các uẩn Tử hữu của cõi Dục; pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt, đó là các uẩn Trung hữu của cõi Sắc.
Có lúc pháp của cõi Dục diệt đi, pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt, mà không phải là rời bỏ Dục hữu-Sắc hữu nối tiếp nhau, đó là không mạng chung mà pháp của cõi Dục diệt đi, pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt. Sự việc ấy thế nào? Trong này có người nói: Tâm thiện của cõi Dục không gián đoạn, Định Vị chí hiện rõ ở trước mắt.
Có người nói: Tâm thiện của cõi Dục không gián đoạn, Định Vị chí-Tĩnh lự  thứ nhất hiện rõ ở trước mắt.
Có người nói: Tâm thiện của cõi Dục không gián đoạn, Định Vị chí-Tĩnh lự  thứ nhất-Tĩnh lự  trung gian hiện rõ ở trước mắt.
Tôn giả Diệu Âm nói rằng: “Tâm thiện của cõi Dục không gián đoạn, Định Vị chí-Tĩnh lự  thứ nhất-Tĩnh lự  trung gian-Tĩnh lự  thứ hai hiện rõ ở trước mắt. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì như lúc vượt qua Định, Tĩnh lự  thứ nhất không gián đoạn, Tĩnh lự  thứ ba hiện rõ ở trước mắt, ở đây cũng thuận theo như vậy. Vả lại, cõi Dục có bốn loại tâm biến hóa, đó là thuộc quả Tĩnh lự  thứ nhất cho đến thuộc quả Tĩnh lự  thứ tư. Tâm biến hóa của cõi Dục thuộc quả Tĩnh lự  thứ nhất không gián đoạn, Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất hiện rõ ở trước mắt, cho đến tâm biến hóa của cõi Dục thuộc quả Tĩnh lự  thứ tư không gián đoạn, Tịnh của Tĩnh lự  thứ tư hiện rõ ở trước mắt.”
Hỏi: Vào lúc rời bỏ (xả) Dục hữu-Vô sắc hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Dục diệt đi, pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt chăng?
Đáp: Đúng như vậy.
Hỏi: Giả sử pháp của cõi Dục diệt đi, pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt, thì lúc ấy tất cả là rời bỏ Dục hữu-Vô sắc hữu nối tiếp nhau chăng?

* Trang 728 *
device

Đáp: Đúng như vậy.
Hỏi: Trong này vì sao không nói về không mạng chung mà pháp của cõi Dục diệt đi, pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt?
Đáp: Bởi vì lý chắc chắn không có ở cõi Vô sắc không mạng chung mà có pháp của cõi Dục diệt đi, pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt.
Hỏi: Lẽ nào không có thể có ở cõi Dục không mạng chung, mà pháp đạt được của cõi Dục diệt đi, pháp đạt được của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt chăng?
Đáp: Trong này nói về pháp đồng loại diệt đi, pháp đồng loại hiện rõ ở trước mắt; không hề có ở cõi Dục không mạng chung mà pháp đồng loại đạt được của cõi Dục diệt đi, pháp đồng loại đạt được của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt, vì thế cho nên không nói đến. 
Có người nói: Trong này nói đến tâm-tâm sở pháp diệt đi, tâm- tâm sở pháp hiện rõ ở trước mắt, không hề có ở cõi Dục không mạng chung mà tâm-tâm sở pháp của cõi Dục diệt đi, tâm-tâm sở pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt, vì thế cho nên không nói đến.
Hỏi: Vào lúc rời bỏ (xả) Sắc hữu-Sắc hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Sắc diệt đi, pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt chăng?
Đáp: Vào lúc rời bỏ Sắc hữu-Sắc hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Sắc diệt đi, pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt, nghĩa là ở cõi Sắc mạng chung-sinh trở lại cõi Sắc, lúc từ Tử hữu hướng đến Trung hữu, thì rời bỏ Sắc hữu, đó là Tử hữu của cõi Sắc; Sắc hữu nối tiếp nhau, đó là Trung hữu của cõi Sắc, pháp của cõi Sắc diệt đi, đó là các uẩn Tử hữu của cõi Sắc; pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt, đó là các uẩn Trung hữu của cõi Sắc. Lúc từ Trung hữu hướng đến Sinh hữu, thì rời bỏ Sắc hữu, đó là Trung hữu của cõi Sắc; Sắc hữu nối tiếp nhau, đó là Sinh hữu của cõi Sắc, pháp của cõi Sắc diệt đi, đó là các uẩn Trung hữu của cõi Sắc; pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt, đó là các uẩn Sinh hữu của cõi Sắc.
Trong này, nếu trú trong tâm vô phú vô ký mà mạng chung, và lúc trú trong tâm thiện-hoặc là tâm nhiễm mà mạng chung, thì đều gọi là rời bỏ Sắc hữu; hỏi-đáp phân biệt như trước nên biết!
Có lúc pháp của cõi Sắc diệt đi, pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt, mà không phải là rời bỏ Sắc hữu-Sắc hữu nối tiếp nhau, đó là không mạng chung mà pháp của cõi Sắc diệt đi, pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt. Sự việc ấy thế nào? Đó là Tĩnh lự  thứ nhất không gián

* Trang 729 *
device

đoạn, Tĩnh lự  thứ hai-thứ ba hiện rõ ở trước mắt; Tĩnh lự  thứ hai không gián đoạn, Tĩnh lự  thứ nhất-thứ ba-thứ tư hiện rõ ở trước mắt; Tĩnh lự  thứ ba không gián đoạn, Tĩnh lự  thứ nhất-thứ hai-thứ tư hiện rõ ở trước mắt; Tĩnh lự  thứ tư không gián đoạn, Tĩnh lự  thứ hai-thứ ba hiện rõ ở trước mắt; pháp thiện không gián đoạn, pháp nhiễm-hoặc là pháp vô ký hiện rõ ở trước mắt, pháp nhiễm-pháp vô ký nói cũng như vậy; sát-na trước không gián đoạn, sát-na sau hiện rõ ở trước mắt.
Hỏi: Vào lúc rời bỏ (xả) Sắc hữu-Dục hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Sắc diệt đi, pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt chăng?
Đáp: Vào lúc rời bỏ Sắc hữu-Dục hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Sắc diệt đi, pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt, nghĩa là ở cõi Sắc mạng chung-sinh đến cõi Dục, lúc từ Tử hữu hướng đến Trung hữu, thì rời bỏ Sắc hữu, đó là Tử hữu của cõi Sắc; Dục hữu nối tiếp nhau, đó là Trung hữu của cõi Dục, pháp của cõi Sắc diệt đi, đó là các uẩn Tử hữu của cõi Sắc; pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt, đó là các uẩn Trung hữu của cõi Dục.
Có lúc pháp của cõi Sắc diệt đi, pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt, mà không phải là rời bỏ Sắc hữu-Dục hữu nối tiếp nhau, đó là không mạng chung mà pháp của cõi Sắc diệt đi, pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt. Sự việc ấy thế nào? Trong này có người nói: Định Vị chí không gián đoạn, tâm thiện của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt.
Có người nói: Định Vị chí-Tĩnh lự  thứ nhất không gián đoạn, tâm thiện của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt.
Có người nói: Định Vị chí-Tĩnh lự  thứ nhất-Tĩnh lự  trung gian không gián đoạn, tâm thiện của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt.
Tôn giả Diệu Âm nói rằng: “Định Vị chí-Tĩnh lự  thứ nhất-Tĩnh lự  trung gian-Tĩnh lự  thứ hai không gián đoạn, tâm thiện của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì như lúc vượt qua Định, Tĩnh lự  thứ ba không gián đoạn, Tĩnh lự  thứ nhất hiện rõ ở trước mắt, ở đây cũng thuận theo như vậy. Vả lại, cõi Dục có bốn loại tâm biến hóa, đó là thuộc quả Tĩnh lự  thứ nhất cho đến thuộc quả Tĩnh lự  thứ tư. Tịnh của Tĩnh lự  thứ nhất không gián đoạn, tâm biến hóa của cõi Dục thuộc quả Tĩnh lự  thứ nhất hiện rõ ở trước mắt, cho đến Tịnh của Tĩnh lự  thứ tư không gián đoạn, tâm biến hóa của cõi Dục thuộc quả Tĩnh lự  thứ tư hiện rõ ở trước mắt.”
Hỏi: Vào lúc rời bỏ (xả) Sắc hữu-Vô sắc hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Sắc diệt đi, pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước

* Trang 730 *
device

mắt chăng?
Đáp: Vào lúc rời bỏ Sắc hữu-Vô sắc hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Sắc diệt đi, pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt, nghĩa là ở cõi Sắc mạng chung-sinh đến cõi Vô sắc, lúc từ Tử hữu hướng đến Sinh hữu, thì rời bỏ Sắc hữu, đó là Tử hữu của cõi Sắc; Vô sắc hữu nối tiếp nhau, đó là Sinh hữu của cõi Vô sắc, pháp của cõi Sắc diệt đi, đó là các uẩn Tử hữu của cõi Sắc; pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt, đó là các uẩn Sinh hữu của cõi Vô sắc.
Có lúc pháp của cõi Sắc diệt đi, pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt, mà không phải là rời bỏ Sắc hữu-Vô sắc hữu nối tiếp nhau, đó là không mạng chung mà pháp của cõi Sắc diệt đi, pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt. Sự việc ấy thế nào? Đó là Tĩnh lự  thứ ba không gián đoạn, Không vô biên xứ hiện rõ ở trước mắt; Tĩnh lự  thứ tư không gián đoạn, Không-Thức vô biên xứ hiện rõ ở trước mắt .
Hỏi: Vào lúc rời bỏ (xả) Vô sắc hữu-Vô sắc hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Vô sắc diệt đi, pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt chăng?
Đáp: Vào lúc rời bỏ Vô sắc hữu-Vô sắc hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Vô sắc diệt đi, pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt, nghĩa là ở cõi Vô sắc mạng chung-sinh đến cõi Vô sắc, lúc từ Tử hữu hướng đến Sinh hữu, thì rời bỏ Vô sắc hữu, đó là Tử hữu của cõi Vô sắc; Vô sắc hữu nối tiếp nhau, đó là Sinh hữu của cõi Vô sắc, pháp của cõi Vô sắc diệt đi, đó là các uẩn Tử hữu của cõi Vô sắc; pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt, đó là các uẩn Sinh hữu của cõi Vô sắc.
Có lúc pháp của cõi Vô sắc diệt đi, pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt, mà không phải là rời bỏ Vô sắc hữu-Vô sắc hữu nối tiếp nhau, đó là không mạng chung mà pháp của cõi Vô sắc diệt đi, pháp của cõi Vô sắc hiện rõ ở trước mắt. Sự việc ấy thế nào? Đó là Không vô biên xứ không gián đoạn, Thức vô biên xứ-Vô sở hữu xứ hiện rõ ở trước mắt; Thức vô biên xứ không gián đoạn, Không vô biên xứ-Vô sở hữu xứ-Phi tưởng phi phi tưởng xứ hiện rõ ở trước mắt; Vô sở hữu xứ không gián đoạn, Không-Thức vô biên xứ-Phi tưởng phi phi tưởng xứ hiện rõ ở trước mắt; Phi tưởng phi phi tưởng xứ không gián đoạn, Thức vô biên xứ-Vô sở hữu xứ hiện rõ ở trước mắt; pháp thiện không gián đoạn, pháp nhiễm-hoặc là pháp vô ký hiện rõ ở trước mắt, pháp nhiễm- pháp vô ký nói cũng như vậy; sát-na trước không gián đoạn, sát-na sau hiện rõ ở trước mắt.
Hỏi: Vào lúc rời bỏ (xả) Vô sắc hữu-Dục hữu nối tiếp nhau, lúc

* Trang 731 *
device

ấy tất cả pháp của cõi Vô sắc diệt đi, pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt chăng?
Đáp: Đúng như vậy.
Hỏi: Giả sử pháp của cõi Vô sắc diệt đi, pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt, thì lúc ấy tất cả là rời bỏ Vô sắc hữu-Dục hữu nối tiếp nhau chăng?
Đáp: Đúng như vậy.
Hỏi: Trong này vì sao không nói về không mạng chung mà pháp của cõi Vô sắc diệt đi, pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt?
Đáp: Bởi vì lý chắc chắn không có ở cõi Vô sắc không mạng chung mà có pháp của cõi Vô sắc diệt đi, pháp của cõi Dục hiện rõ ở trước mắt. Phần còn lại hỏi-đáp như trước.
Hỏi: Vào lúc rời bỏ(xả) Vô sắc hữu-Sắc hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Vô sắc diệt đi, pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt chăng?
Đáp: Vào lúc rời bỏ Vô sắc hữu-Sắc hữu nối tiếp nhau, lúc ấy tất cả pháp của cõi Vô sắc diệt đi, pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt, nghĩa là ở cõi Vô sắc mạng chung-sinh đến cõi Sắc, lúc từ Tử hữu hướng đến Trung hữu, thì rời bỏ Vô sắc hữu, đó là Tử hữu của cõi Vô sắc; Sắc hữu nối tiếp nhau, đó là Trung hữu của cõi Sắc, pháp của cõi Vô sắc diệt đi, đó là các uẩn Tử hữu của cõi Vô sắc; pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt, đó là các uẩn Trung hữu của cõi Sắc.
Có lúc pháp của cõi Vô sắc diệt đi, pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt, mà không phải là rời bỏ Vô sắc hữu-Sắc hữu nối tiếp nhau, đó là không mạng chung mà pháp của cõi Vô sắc diệt đi, pháp của cõi Sắc hiện rõ ở trước mắt. Sự việc ấy thế nào? Đó là Thức vô biên xứ không gián đoạn, Tĩnh lự  thứ tư hiện rõ ở trước mắt; Không vô biên xứ không gián đoạn, Tĩnh lự  thứ ba-thứ tư hiện rõ ở trước mắt.
Tạm thời tùy theo bản văn phân biệt về nghĩa rồi, nên tùy theo nghĩa ấy tiếp tục phân biệt rộng ra.
Hỏi: Nếu ở cõi Dục mạng chung-sinh trở lại cõi Dục, thì lúc ấy rời bỏ những gì, đạt được những gì, pháp nào diệt đi, pháp nào hiện rõ ở trước mắt; cho đến nếu ở cõi Vô sắc mạng chung-sinh đến cõi Sắc, thì lúc ấy rời bỏ những gì, đạt được những gì, pháp nào diệt đi, pháp nào hiện rõ ở trước mắt?
Đáp: Những người ở cõi Dục mạng chung-sinh trở lại cõi Dục:
Nếu vốn trú trong luật nghi Biệt giải thoát, không có Biểu của thân-ngữ bất thiện, giả sử có đã mất: Nếu trú trong tâm thiện mà mạng

* Trang 732 *
device

chung, thì lúc ấy rời bỏ hai uẩn thiện-hai uẩn vô ký, đạt được hai uẩn vô ký, ngay lúc ấy năm uẩn thiện-một uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký diệt đi, một uẩn thiện-bốn uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký hiện rõ ở trước mắt.
Nếu trú trong tâm nhiễm mà mạng chung, thì lúc ấy rời bỏ hai uẩn thiện-hai uẩn vô ký, đạt được hai uẩn vô ký, ngay lúc ấy hai uẩn thiện- bốn uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký diệt đi, một uẩn thiện-bốn uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký hiện rõ ở trước mắt. Nếu trú trong tâm vô ký mà mạng chung, thì lúc ấy rời bỏ hai uẩn thiện-năm uẩn vô ký, đạt được hai uẩn vô ký, ngay lúc ấy hai uẩn thiện-một uẩn nhiễm-năm uẩn vô ký diệt đi, một uẩn thiện-bốn uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký hiện rõ ở trước mắt.
Chính người ấy nếu có Biểu của thân-ngữ bất thiện không mất: Nếu trú trong tâm thiện mà mạng chung, thì lúc ấy rời bỏ hai uẩn thiện- hai uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký, đạt được hai uẩn vô ký, ngay lúc ấy năm uẩn thiện-hai uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký diệt đi, một uẩn thiện-bốn uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký hiện rõ ở trước mắt.
Nếu trú trong tâm nhiễm mà mạng chung, thì lúc ấy rời bỏ hai uẩn thiện-hai uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký, đạt được hai uẩn vô ký, ngay lúc ấy hai uẩn thiện-năm uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký diệt đi, một uẩn thiện-bốn uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký hiện rõ ở trước mắt.
Nếu trú trong tâm vô ký mà mạng chung, thì lúc ấy rời bỏ hai uẩn thiện-hai uẩn nhiễm-năm uẩn vô ký, đạt được hai uẩn vô ký, ngay lúc ấy hai uẩn thiện-hai uẩn nhiễm-năm uẩn vô ký diệt đi, một uẩn thiện- bốn uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký hiện rõ ở trước mắt.
Nếu vốn trú trong không luật nghi, không có Biểu của thân-ngữ thiện, giả sử có đã mất: Nếu trú trong tâm thiện mà mạng chung, thì lúc ấy rời bỏ hai uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký, đạt được hai uẩn vô ký, ngay lúc ấy bốn uẩn thiện-hai uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký diệt đi, một uẩn thiện- bốn uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký hiện rõ ở trước mắt.
Nếu trú trong tâm nhiễm mà mạng chung, thì lúc ấy rời bỏ hai uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký, đạt được hai uẩn vô ký, ngay lúc ấy một uẩn thiện-năm uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký diệt đi, một uẩn thiện-bốn uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký hiện rõ ở trước mắt.
Nếu trú trong tâm vô ký mà mạng chung, thì lúc ấy rời bỏ hai uẩn nhiễm-năm uẩn vô ký, đạt được hai uẩn vô ký,  ngay lúc ấy một uẩn thiện-hai uẩn nhiễm-năm uẩn vô ký diệt đi, một uẩn thiện-bốn uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký hiện rõ ở trước mắt. 
Chính người ấy nếu có Biểu của thân-ngữ thiện không mất: Nếu

* Trang 733 *
device

trú trong tâm thiện mà mạng chung…, thì nói rộng ra như phần trú trong luật nghi Biệt giải thoát, có Biểu của thân-ngữ bất thiện.
Nếu vốn trú trong phi luật nghi phi bất luật nghi, không có Biểu của thân-ngữ thiện-bất thiện, giả sử có đã mất: Nếu trú trong tâm thiện mà mạng chung, thì lúc ấy rời bỏ hai uẩn vô ký, đạt được hai uẩn vô ký,  ngay lúc ấy bốn uẩn thiện-một uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký diệt đi, một uẩn thiện-bốn uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký hiện rõ ở trước mắt.
Nếu trú trong tâm nhiễm mà mạng chung, thì lúc ấy rời bỏ hai uẩn vô ký, đạt được hai uẩn vô ký, ngay lúc ấy một uẩn thiện-bốn uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký diệt đi, một uẩn thiện-bốn uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký hiện rõ ở trước mắt.
Nếu trú trong tâm vô ký mà mạng chung, thì lúc ấy rời bỏ năm uẩn vô ký, đạt được hai uẩn vô ký, ngay lúc ấy một uẩn thiện-một uẩn nhiễm-năm uẩn vô ký diệt đi, một uẩn thiện-bốn uẩn nhiễm-hai uẩn vô ký hiện rõ ở trước mắt.
Chính người ấy nếu có Biểu của thân-ngữ thiện không mất, không có Biểu của thân-ngữ bất thiện, giả sử có đã mất, nếu trú trong tâm thiện-nhiễm-vô ký mà mạng chung, thì nói rộng ra như phần trú trong luật nghi Biệt giải thoát, không có Biểu của thân-ngữ bất thiện, giả sử có đã mất, trú trong ba loại tâm mà mạng chung.
Chính người ấy nếu có Biểu của thân-ngữ bất thiện không mất, không có Biểu của thân-ngữ thiện, giả sử có đã mất, nếu trú trong tâm thiện-nhiễm-vô ký mà mạng chung, thì nói rộng ra như phần trú trong không luật nghi, không có Biểu của thân-ngữ thiện, giả sử có đã mất, trú trong ba loại tâm mà mạng chung.
Chính người ấy nếu có Biểu của thân-ngữ thiện-bất thiện không mất, nếu trú trong tâm thiện-nhiễm-vô ký mà mạng chung, thì nói rộng ra như phần trú trong luật nghi Biệt giải thoát có Biểu của thân-ngữ bất thiện không mất, và trú trong không luật nghi có Biểu của thân-ngữ thiện không mất, trú trong ba loại tâm mà mạng chung.

* Trang 734 *
device

Đại Tập 94 - Bộ Tỳ Đàm VI - Số 1545 tt (Quyển 151-200)