LOGO VNBET
LUẬN A TỲ ĐÀM TỲ BÀ SA
 
QUYỂN 10
 
Chương 1: KIỀN-ĐỘ TẠP
 
Phẩm 2: TRÍ, Phần 6
Có sáu nhân, cho đến nói rộng.  
Luận nói: Sáu nhân nầy chẳng phải kinh Phật nói. Bốn duyên là kinh Phật nói. Nay muốn dùng nhân để giải thích duyên, việc ấy thế nào?
Nhân tương ưng cho đến nhân báo là nhân duyên, nhân sở tác là duyên thứ lớp, duyên cảnh giới và duyên oai thế.
Hỏi: Nhân gồm nhiếp duyên hay duyên gồm nhiếp nhân?
Đáp: Tùy thể tánh mà gồm thâu dẫn nhau.
Hoặc có thuyết nói: lẽ ra có khác nhau. Khác nhau ra sao? Như nhân tương ưng, cho đến nhân báo là nhân duyên. Nhân sở tác là duyên oai thế, duyên thứ lớp, duyên cảnh giới là duyên chẳng phải nhân. Là nhân gồm nhiếp duyên hay là duyên gồm nhiếp nhân? Vì duyên gồm nhiếp nhân, chứ chẳng phải nhân gồm nhiếp duyên. Không gồm nhiếp những thứ gì? Đó là duyên thứ lớp, duyên cảnh giới.
Lại có thuyết nói: Sáu nhân cũng là kinh Phật nói, như trong sáu pháp của kinh tăng Nhất A-hàm nói: Vì đã trải qua thời gian lâu xa, nên có quên mất. Tôn giả Ca-chiên-diên-tử kia đã dùng sức trí nguyện để quán chỗ sáu nhân đã được nói trong kinh Phật. Trong A-tỳ-đàm nầy, dựa vào sáu nhân mà soạn ra luận.
Nghe nói Tăng Nhất A-hàm: Từ một pháp tăng cho đến trăm pháp, nay chỉ có một pháp tăng cho đến mười pháp, pháp khác đều quên mất. Lại nữa, ở trong một pháp quên mất là nhiều, cho đến mười pháp quên mất cũng nhiều.
Nghe nói có một Đại đức A-la-hán tên là Xa-na-bà-tẩu, là Hòa thượng của Tôn giả Kỳ-bà-ca, lúc Tôn giả ấy nhập bát Niết-bàn, ngay

* Trang 230 *
device

trong ngày đó có bảy vạn bảy ngàn nhân duyên bổn sinh, có một vạn luận A-tỳ-đàm biến mất, không còn xuất hiện, từ đấy về sau không còn lưu hành nữa. Một Luận sư mất, có ngần ấy kinh, luận, lại không còn lưu hành, huống gì là nếu một trăm một ngàn vị Luận sư mất?
Lại có thuyết nói: Dù không có một chỗ nào của kinh hoàn toàn nói về sáu nhân, nhưng chỗ nào trong kinh cũng đều có nói riêng về từng nhân trong sáu nhân.
Hỏi: Nếu vậy thì trong kinh nào nói nhân tương ưng?
Đáp: Như nói: Đó gọi là tín căn bản của thấy đạo, gọi là trí bất hoại tương ưng, kinh nầy nói về nhân tương ưng.
Chỗ nào nói về nhân cộng sinh?
Như nói: Mắt duyên theo sắc sinh nhãn thức, cũng sinh ra thọ, tưởng v.v… của cộng sinh, tức kinh nầy nói về nhân cộng sinh.
Chỗ nào nói nhân tương tự?
Như nói: Người nầy thành tựu pháp thiện, cũng thành tựu pháp bất thiện. Pháp bất thiện của người nầy diệt, pháp thiện lại sinh, tức kinh nầy nói về nhân tương tự.  Chỗ nào nói về nhân cùng khắp? Như nói: Tỳ-kheo! Nếu có đối tượng tư duy, có chỗ phân biệt, đó gọi là sinh khởi kiết sử.  Chỗ nào nói nhân báo?
Như nói: Tu hành mà sát sinh rộng khắp, khi chết sẽ đọa vào địa ngục, thọ báo bất thiện, kinh nầy là nói về nhân báo.
Chỗ nào nói nhân sở tác?
Như nói: Do hai nhân, hai duyên sinh ra chánh kiến, cho đến nói rộng, tức kinh nầy nói nhân sở tác.
Các kinh như thế đều nói sáu nhân. Kiền-độ nầy phân biệt nhân, không phân biệt duyên, kiền-độ Kiến phân biệt duyên, không phân biệt nhân.
Hỏi: Vì sao Tôn giả Ca-chiên-diên-tử dựa vào sáu nhân để soạn luận?
Đáp: Vì sáu nhân nầy ý ngăn dứt không nhân, nhân ác.
Lại có thuyết nói: Tôn giả kia sở dĩ dựa vào sáu nhân để tạo luận là vì muốn biểu hiện rõ bốn thứ quả, như nhìn thấy quả A-ma-lặc trong tâm bàn tay. Nếu nói nhân tương ưng, cộng sinh, tức là hiện rõ quả công dụng. Nếu nói nhân tương tự, nhân cùng khắp, tức hiển hiện quả y. Nếu nói nhân báo tức biểu hiện rõ quả báo. Nếu nói nhân sở tác, tức biểu hiện rõ quả oai thế. Vì việc đó, nên dựa vào nhân để soạn luận.

* Trang 231 *
device

Hỏi: Thế nào là nhân tương ưng?
Đáp: Thọ đối với pháp tương ưng của thọ là nhân đối với nhân tương ưng, pháp tương ưng của thọ đối với nhân đối với nhân tương ưng của thọ.
Hỏi: Vì sao pháp tương ưng nầy xoay vần làm nhân?
Đáp: Vì pháp hữu vi, tánh yếu kém, nên nói về Nghĩa .
Hỏi: Pháp thọ không dùng tưởng, chủ thể, đối tượng giác không thọ nhận chăng?
Đáp: Không thể như thế, vì pháp khác lìa nhau, không thể có sở tác. Cho nên, pháp tâm, tâm sở đều xoay vần nuôi lớn nhau, xoay vần tăng ích nhau, và xoay vần nương vào nhau để có thể gánh nặng. Như hai cây lau dựa vào nhau mà đứng vững, nhiều bó cỏ lau cũng thế. Như dùng một sợi dây thì không thể kéo nổi khúc gỗ to, cần phải dùng nhiều sợi dây thì có thể. Pháp thọ kia cũng giống như thế.
Hỏi: Vì sao không nói tâm?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì ý của người soạn luận muốn thế, cho đến nói rộng.
 Lại có thuyết nói: Nên nói là nhân đối với nhân tương ưng của pháp tâm, tâm sở, cho đến nói rộng, mà không nói, nên biết Nghĩa  nầy là thuyết chưa trọn vẹn.
 Lại có thuyết nói: Văn nầy nói về Nghĩa  của các nhân không cùng tận, nếu cùng tận thì nên nói rằng: Thế nào là nhân tương ưng? Là nhân đối với nhân tương ưng của pháp tâm, tâm sở.
Thế nào là nhân cộng sinh? Là tất cả pháp hữu vi. Thế nào là nhân tương tự? Là pháp quá khứ, hiện tại. Thế nào là nhân nhất thiết biến? Là nhất thiết biến sử của quá khứ, hiện tại và pháp cộng hữu tương ưng của sử.
Thế nào là nhân báo? Là pháp hữu lậu thiện và bất thiện. Thế nào là nhân sở tác? Là tất cả các pháp. Nên nói các nhân như thế, nếu không nói như thế, phải biết nói về Nghĩa  của các nhân không cùng tận.
 Lại có thuyết nói: Điềuđã nói ở trước là thọ trong pháp tương ưng, Nghĩa  ấy ra sao? Như nói: Thọ trong pháp tương ưng của thọ, là nhân đối với nhân tương ưng, cho đến nói rộng.
Hỏi: Nếu vậy thì vì sao không tức tâm gọi là thuyết?
Đáp: Nghĩa  bình đẳng là Nghĩa  tương ưng, tâm nầy là chủ tông, như kệ nói: Tâm là vua tăng thượng thứ sáu.
 Lại có thuyết nói: Vì tâm nên gọi là pháp tương ưng, bất tương 

* Trang 232 *
device

ưng. Như nói: Đó gọi là pháp tương ưng của tâm, đó gọi là pháp bất tương ưng của tâm. Nhân đối với nhân tương ưng, pháp tương ưng tuệ, tưởng, tư, xúc, tác ý, quán, dục, giải thoát, niệm, định, tuệ như vậy, cho đến nói rộng.
Hỏi: Vì sao chỉ nói pháp số mười đại địa mà không nói pháp số khác?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì đó là ý người soạn luận muốn thế, cho đến nói rộng. Lại có thuyết nói: Nên nói mà không nói, phải biết, Nghĩa  nầy nói chưa trọn vẹn. Lại có thuyết nói: Trong các giới, các địa, các tâm, các chủng, có thể đắc nên nói, các pháp số khác và sự trái nhau ở trên nên không nói.
Hỏi: Thế nào là Nghĩa  tương ưng?
Đáp: Nghĩa  bình đẳng là Nghĩa  tương ưng.
Hỏi: Nếu Nghĩa  bình đẳng là Nghĩa  tương ưng, thì pháp số nầy đối với tâm hoặc nhiều, hoặc ít: đối với tâm thiện thì nhiều, đối với tâm nhiễm ô thì ít, hoặc đối với nhiễm ô thì nhiều, đối với vô ký không ẩn chìm thì ít, đối với thuộc về cõi Dục thì nhiều, với thuộc về cõi Sắc thì ít, đối với thuộc về cõi Sắc nhiều, thuộc về cõi Vô sắc thì ít, đối với hữu lậu thì nhiều, với vô lậu thì ít. Cũng thế thì thế nào Nghĩa  bình đẳng là Nghĩa  tương ưng?  Đáp: Vì thể bình đẳng, nên nói Nghĩa  bình đẳng là Nghĩa  tương ưng. Nếu trong một tâm có hai thọ, một tưởng, như thế thì không gọi là bình đẳng, chẳng phải Nghĩa  tương ưng. Một tâm, một tâm thọ pháp số khác cũng thế. Vì cho nên Nghĩa  bình đẳng là Nghĩa  tương ưng.
Lại có thuyết nói: Nghĩa  bình đẳng không lìa nhau là Nghĩa  tương ưng.
Lại có  thuyết nói: Nghĩa  bình đẳng, không khác nhau là Nghĩa  tương ưng.
Lại có thuyết nói: Nghĩa  bình đẳng, đồng thọ nhận là Nghĩa  tương ưng.
Như lúc xe chuyên chở, thì tất cả đều chở, không có hàng hóa nào không chở. Cũng thế, khi xe tâm thọ nhận duyên, là tiếp nhận các đại địa, đối với các duyên đều thọ nhận bình đẳng.
Lại có thuyết nói: Nghĩa  bình đẳng đồng tiếp nhận là Nghĩa  tương ưng, chẳng phải trước sau, như vào mùa thu, đàn bồ câu bay đến sân cùng lúc, cùng ăn một lúc, cùng bay đi một lúc. Tâm, pháp tâm sở như

* Trang 233 *
device

thế đối với duyên tạo ra cùng lúc, đã tạo ra cùng lúc, diệt một lúc.
Lại có  thuyết nói: Nghĩa  hợp là Nghĩa  tương ưng, như nước với sữa, không trở ngại nhau, nên hợp chung. Cũng thế, pháp nầy và pháp kia vì không trở ngại nhau nên tương ưng.
Lại có thuyết nói: Nghĩa  thương yêu bình đẳng với nhau là Nghĩa  tương ưng, như người rất thuận theo nhau nên nói là thương yêu nhau. Pháp nầy và pháp kia cũng vậy thuận theo nhau, nói là tương ưng.
Tôn giả Bà-Dĩ nói: Có bốn việc bình đẳng là Nghĩa  tương ưng, đó là thời, chỗ dựa, hành, cảnh giới. Thời là đồng một sát-na. Chỗ dựa là đồng một chỗ dựa. Hành là đồng một hành. Cảnh giới là đồng hành một cảnh giới. Vì việc ấy là Nghĩa  tương ưng.
Lại có thuyết nói: Nghĩa  bó lau là Nghĩa  tương ưng, như hai cọng cỏ lau, nhiều bó cỏ lau dựa vào nhau mà đứng, vì tánh của pháp tâm, tâm sở cũng vậy là yếu kém, nên mỗi tâm không thể sinh, không thể nhận lấy duyên, Tâm hợp với mười đại địa, có thể hành ở đời, có thể nhận lấy quả, có thể biết cảnh giới, có thể có chỗ tác.
Lại có  thuyết nói: Nghĩa  buộc khúc gỗ là Nghĩa  tương ưng, như một sợi dây gai không thể buộc khúc gỗ, nếu nhiều sợi dây gai kết hợp thành sợi thì có thể buộc khúc gỗ. Tâm, đại địa, pháp cũng thế, nói rộng như trên.
Lại có  thuyết nói: Nghĩa  kéo nhau lội qua sông là Nghĩa  tương ưng. Lôi kéo nhau, Nghĩa  là xoay vần níu tay nhau, như trong hang núi, lướt thuyền nhanh trên sông, một người thì không thể qua, nếu kết hợp với nhiều người, lại níu lấy tay nhau, thì sau đó, có thể vượt qua. Tâm và đại địa cũng vậy nói rộng như trên.  Lại có  thuyết nói: Nghĩa  đồng bạn là Nghĩa  tương ưng, như trên con đường hoang vắng, có nhiều giặc cướp, thú dữ, một người thì không thể đi qua, nếu tập hợp nhiều người, xoay vần nương nhau thì sau đó có thể đi qua. Tâm và đại địa, cũng thế đều nói rộng như trên.
Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Thế nào là Nghĩa  tương ưng? Nghĩa  tương sinh là Nghĩa  tương ưng.
Hỏi: Nếu vậy thì nhãn thức có thể sinh ý thức, nhãn thức đó có tương ưng chăng?
Đáp: Vì chỗ nương khác nhau, nếu đồng chỗ nương thì có thể sinh nhau, đó là Nghĩa  tương ưng. Lại nữa, Nghĩa  không khác nhau là Nghĩa  tương ưng.
Hỏi: Nếu vậy bốn đại cũng không khác nhau là Nghĩa  tương ưng chăng?

* Trang 234 *
device

Đáp: Bốn đại không có chỗ nương, nếu có chỗ nương không khác nhau là Nghĩa  tương ưng. Lại nữa, có Nghĩa  sở duyên là Nghĩa  tương ưng.
Hỏi: Nếu vậy năm thức cũng có sở duyên, có phải là Nghĩa  tương ưng chăng?
Đáp: Chỗ nương đều khác nhau, nếu đồng chỗ dựa, đồng sở duyên là Nghĩa  tương ưng.
Lại nữa, đồng một Nghĩa  duyên là Nghĩa  tương ưng.
Hỏi: Nếu vậy nhãn thức, ý thức đồng một duyên có phải là tương ưng chăng? Hiện tại thấy nhiều người đều cùng sinh tâm, đồng ngắm xem trăng thượng tuần có phải là tương ưng chăng?
Đáp: Chỗ nương đều khác nhau, nếu đồng chỗ có phải nương, đồng một duyên, là Nghĩa  tương ưng. Lại nữa, Nghĩa  hợp là Nghĩa  tương ưng, v.v…
Hỏi: Nếu vậy mạng sống lâu, hơi ấm, thức hợp ở một chỗ là tương ưng chăng?
Đáp: Hai thứ kia không có chỗ nương, nếu có chỗ nương thì cũng có hợp nhau, là Nghĩa  tương ưng.  
Lại nữa, Nghĩa  sinh cùng lúc là Nghĩa  tương ưng.
Hỏi: Nếu vậy bốn đại cùng sinh một lúc là tương ưng chăng?
Đáp: Bốn đại không có chỗ nương, nếu có chỗ nương, cùng sinh một lúc là Nghĩa  tương ưng. Lại nữa, đều cùng sinh, cùng trụ, cùng diệt là Nghĩa  tương ưng.
Hỏi: Nếu vậy tâm hồi chuyển, sắc, tâm bất tương ưng hành, cùng sinh, cùng diệt cùng trụ thì có tương ưng chăng?
Đáp: Không có chỗ nương. Nếu có chỗ nương, cùng sinh, cùng trụ, cùng diệt là Nghĩa  tương ưng.
Lại nữa, đồng một chỗ nương, đồng một hành, đồng một sở duyên, là Nghĩa  tương ưng.
Hỏi: Vì sao biết đồng một chỗ nương, đồng một hành, đồng một sở duyên có phải là tương ưng chăng?
Đáp: Vì sao biết được đồng một chỗ nương, đồng một hành, đồng một sở duyên, chẳng phải Nghĩa  tương ưng? Lại nữa, Nghĩa  cùng làm một việc là Nghĩa  tương ưng.
Hỏi: Nếu vậy nhẫn trí đồng tạo ra một việc là tương ưng chăng?
Đáp: Nhẫn trí kia không đồng thời sinh, nếu sinh đồng thời, đồng làm một việc là Nghĩa  tương ưng.
Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Nghĩa  đồng bạn là Nghĩa  tương ưng,

* Trang 235 *
device

như thức tùy việc sở duyên, vì các danh số, lìa cùng sinh là Nghĩa  tương ưng.
Tôn giả Cù-sa nói: Đồng một chỗ nương, đồng một hành, đồng một duyên, là Nghĩa  tương ưng. Vì sao? Vì pháp hữu vi tánh yếu kém, xoay vần làm nâhn cho nhau mà sinh, không thấy có một đại địa nào hiện hành một mình ở đời, cho nên nói là tương ưng. Nhân tương ưng nầy ở trong ba đời, quyết định có thể sinh ra quả công dụng.
Thế nào là nhân cộng sinh? Cho đến nói rộng.
Hỏi: Nhân tương ưng, nhân cộng sinh có gì khác nhau?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Nếu có nhân tương ưng thì có nhân cộng sinh.
 Hỏi: Có khi nào nhân cộng sinh chẳng phải nhân tương ưng hay không?
Đáp: Có các nhân cộng sinh không tương ưng.
Hỏi: Việc nầy có thể như vậy, chỗ hỏi có sự khác nhau, trong một sát-na thọ và tưởng có hai nhân, đó là nhân tương ưng, nhân cộng sinh có gì khác nhau?
Đáp: Nghĩa  không lìa nhau là Nghĩa  của nhân tương ưng, Nghĩa  đồng một quả là Nghĩa  của nhân cộng sinh.
Lại có thuyết nói: Đồng một chỗ dựa, đồng một hành, đồng một duyên là Nghĩa  của nhân tương ưng, đồng một sinh, một trụ, một diệt là Nghĩa  nhân cộng sinh.
Lại có thuyết nói: Nghĩa  dắt tay lội qua sông là Nghĩa  nhân tương ưng, Nghĩa  của sức tự siêng năng vượt qua là Nghĩa  nhân cộng sinh.
Lại có thuyết nói: Nghĩa  gìn giữ tài sản là Nghĩa  nhân tương ưng, Nghĩa  năng khởi là Nghĩa  nhân cộng sinh.
Lại có  thuyết nói: Nghĩa  bình đẳng là Nghĩa  nhân tương ưng, Nghĩa  không lìa nhau là Nghĩa  nhân cộng sinh.
 Hỏi: Thế nào là nhân cộng sinh?
Đáp: Tâm và số pháp là nhân đối với nhân cộng sinh, cho đến nói rộng. Trước không nói về tâm, nay sẽ nói: Tâm và số pháp là nhân đối với nhân cộng sinh, số pháp hồi chuyển trở lại với tâm là nhân đối với nhân cộng sinh. Tâm và tâm xoay lại nghiệp thân, miệng là nhân đối với nhân cộng sinh, nghiệp thân miệng là thiền giới vô lậu.
Hỏi: Vì sao không nói tâm hồi chuyển nghiệp thân, miệng cùng với tâm là nhân đối với nhân cộng sinh?
Đáp: Nên nói mà không nói, phải biết Nghĩa  nầy là thuyết chưa trọn vẹn.

* Trang 236 *
device

Lại có thuyết nói: Trước, sau nói rộng, giữa thì nói tóm tắt. Như nhân tạo tác trước, sau nói rộng, thuyết giữa thì nói giản lược, nhân nầy cũng giống như thế.
Lại có  thuyết nói: Tâm đối với nghiệp thân, miệng và nhân không tùy thuộc vào việc của tâm, nghiệp thân khẩu đối với tâm tùy thuộc vào việc của nghiệp thân, miệng, không cùng với nhân ấy của nghiệp. Như vua đối với quyến thuộc của mình, ban cho nhiều lợi ích về ăn uống, mà không lệ thuộc vào việc của mình. Quyến thuộc đối với vua, tùy thuộc vào việc ấy, chẳng phải ban cho nhiều thức uống ăn.  
Nghiệp của thân, miệng, tâm như thế cho đến nói rộng.
Lại có thuyết nói: Nghiệp thân, miệng từ tâm mà khởi, thuộc về tâm, vì từ tâm sinh, nên là nhân cộng sinh. Nghiệp thân, miệng không thể khởi tâm, tâm không lệ thuộc nghiệp, cũng vì không từ nghiệp sinh, nên chẳng phải nhân cộng sinh.
Bình luận: Không nên nói như thế, nói như trước là tốt: Tâm và tâm xoay lại nhân cộng sinh của nghiệp thân, miệng, phải biết tâm hồi chuyển nghiệp thân, miệng cùng và nhân đối với nhân cộng sinh của tâm. Vì sao? Vì đồng một quả, đồng một chỗ tạo tác.
Hỏi: Nếu vậy thì sao không nói?
Đáp: Vì trên đã nói rộng về nhân đối với nhân cộng sinh của tâm bất tương ưng hành.  Hỏi: Những gì là tâm bất tương ưng hành?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Tự thể của tâm sinh, sinh với nhân đối với nhân cộng sinh của tâm.
Lại có thuyết nói: Tâm và nhân đối với nhân cộng sinh của tự chỗ sinh, già, trụ, diệt, sinh với nhân đối với nhân cộng sinh của tâm, chẳng phải lão, trụ, diệt. Vì sao? Vì Nghĩa  tăng trưởng là Nghĩa  của nhân, Nghĩa  diệt kia là Nghĩa  hư hoại.
Lại có thuyết nói: Tâm và sinh v.v…, sinh v.v… và nhân đối với nhân cộng sinh của tâm.
Lại có  thuyết nói: Tâm và pháp tâm sở là nhân đối với nhân cộng sinh như sinh v.v… Tâm sinh v.v… cùng với tâm là nhân đối với nhân cộng sinh.
Bình luận: Không nên nói như thế, nói như trên là tốt. Tâm và pháp tâm sở, nhân đối với nhân cộng sinh của sinh v.v…, pháp tâm sở sinh v.v. … cùng với nhân đối với nhân cộng sinh của tâm.
Hỏi: Nếu vậy thì với thuyết nầy làm sao giải thích, như nói: Trừ thân kiến sinh, già, trụ, diệt, các khổ đế khác chẳng phải nhân cộng Sinh

* Trang 237 *
device

đối với thân kiến?
Đáp: Nên nói rằng: Trừ thân kiến, sinh, già, trụ, diệt của pháp tương ưng, các khổ đế khác đối với thân kiến, chẳng phải nhân cộng sinh, mà không người nói, phải biết Nghĩa  nầy là thuyết chưa trọn vẹn.  
Lại nữa, nhân đối với nhân cộng sinh của bốn đại cộng sinh, chư vị nói lời nầy: Uy lực của bốn đại không có riêng: Địa đại, thủy, hỏa, phong đại là nhân đối với nhân cộng sinh, ba đại là nhân đối với nhân cộng sinh đối với địa đại. Các chỗ nói rằng, thế lực của bốn đại có thiên lệch, nhân đối với nhân cộng sinh địa đại nơi ba đại, nhân đối với nhân cộng sinh bá đại ở địa đại. Vì sao? Vì địa đại thì có nhiều thể, một thể và nhiều thể là nhân cộng sinh, nhiều thể nơi một thể là nhân cộng sinh, cho đến phong đại cũng giống như thế.
Bình luận: Nói như thế là tốt: Nếu bốn đại có thế lực riêng, hoặc không có thế lực riêng một bên, thì địa đại nơi ba đại, ba đại ở địa đại, tạo ra nhân cộng sinh. Vì sao? Vì địa đại không nhân địa đại mà sinh ra sắc tạo.
Hỏi: Sinh rồi là nhân hay chưa sinh là nhân?
Đáp: Sinh cũng là nhân, chưa sinh cũng là nhân. Vì sao? Vì đã sinh và chưa sinh đều rơi vào Nghĩa  của nhân. Như Phái Ba-già-la-na nói: Thế nào là pháp từ nhân sinh? Tất cả pháp hữu vi như thuyết kia đã nói: Sinh và chưa sinh đều là pháp từ nhân sinh, đây cũng giống như thế.
Hỏi: Tạo sắc có nhân cộng sinh hay không?
Đáp: Có. Vì sao? Vì tất cả pháp hữu vi đều có nhân cộng sinh.
Hỏi: Tạo sắc và tạo sắc có nhân cộng sinh hay không?
Đáp: Không. Vì sao? Vì tự thể không cùng với tự thể tạo ra nhân cộng sinh.
Lại có thuyết nói: Tạo sắc và tạo sắc làm nhân cộng sinh cho tạo sắc. Việc ấy thế nào? Như vi trần cộng sinh của nhãn căn xoay vần làm nhân cộng sinh.
Bình luận: Không nên nói như thế. Vì sao? Vì tạo sắc có đối đãi không được lại cùng với tạo sắc đối đãi làm nhân cộng sinh.
Tất cả tâm đều cùng hồi chuyển, Nghĩa  là số pháp và sinh v.v…, chẳng phải tất cả tâm đều có tâm hồi chuyển. Vì sắc có mười việc, nên gọi là hồi chuyển. Mười việc ấy là:
1.Cộng sinh (sinh chung).
2.Cộng trụ.
3.Cộng diệt.
4.Cùng một quả.

* Trang 238 *
device

5.Cùng một nương.
6.Cùng một quả báo.
7.Thiện cùng với thiện.
8.Bất thiện cùng với bất thiện.
9.Vô ký cùng với vô ký.
Cùng rơi vào một đời.
Cùng một quả, Nghĩa  là quả giải thoát. Cùng một nương: là Quả nương. Cùng một quả báo là: Quả báo, tóm lại là có mười việc.
Như đạo dứt kiết, sự hồi chuyển của thế tục có tám việc, trừ bất thiện, vô ký. Trừ đạo dứt kiết sử hồi chuyển của thế tục, các thiện hữu lậu hồi chuyển khác có bảy việc, trừ quả giải thoát. Đạo dứt kiết vô lậu bất thiện, vô ký hồi chuyển có bảy việc, trừ quả báo. Bất thiện, vô ký, trừ đạo dứt kiết vô lậu hồi chuyển, các vô lậu xoay lại khác có sáu việc, trừ quả báo, quả giải thoát. Bất thiện, vô ký, tâm bất thiện hồi chuyển có bảy việc, trừ quả giải thoát thiện, vô ký, tâm vô ký hồi chuyển có sáu việc, trừ quả giải thoát, quả báo, thiện, bất thiện, cho nên tóm lại có mười việc. Tâm đối với pháp tâm sở hồi chuyển có năm việc:
1.Nương chung.
2.Chỗ hành chung.
3.Sở duyên chung.
4.Quả báo chung.
5.Quả báo chung.
Số pháp hồi chuyển đối với tâm cũng đồng có năm việc. Tâm và tâm hồi chuyển, sắc tâm bất tương ưng hành có hai việc:
1.Quả.
2.Báo.
Tâm hồi chuyển sắc tâm bất tương ưng hành và tâm hồi chuyển có hai việc:
1.Quả.
2.Báo.
Hỏi: thế nào là thể tánh hồi chuyển?
Đáp: Là bốn ấm, năm ấm, như cõi Sắc là năm ấm, cõi Dục, cõi Vô sắc là bốn ấm. Vì sao? Vì cõi Dục, cõi Vô sắc không có giới của tâm hồi chuyển, đó là thể tánh hồi chuyển, là ngã, là vật, là tướng, là phần, là tánh.
Đã nói về thể tánh, về lý do nay sẽ nói:
Hỏi: Hồi chuyển Nghĩa  là gì?
Đáp: Nghĩa  thuận theo là Nghĩa  hồi chuyển, Nghĩa  nhận lấy một

* Trang 239 *
device

quả là Nghĩa  hồi chuyển, Nghĩa  đồng làm một việc là Nghĩa  hồi chuyển. Nói đúng như Nghĩa , như việc mà các ông đã làm, chúng tôi cũng làm, là Nghĩa  hồi chuyển.
Hỏi: Vì sao giới cõi Dục không hồi chuyển với tâm?
Đáp: Chẳng phải ruộng, chẳng phải đồ dùng, chẳng phải đất, vì chẳng phải ruộng, chẳng phải đồ dùng, chẳng phải đất.
Lại có thuyết nói: Vì cõi Dục chẳng phải địa định, chẳng phải địa tu, chẳng phải địa ly dục, nên giới trong đó cũng không hồi chuyển với tâm. Cõi Sắc là địa định, địa tu, địa ly dục, giới trong cõi đó hồi chuyển với tâm.  
Lại nữa, Nghĩa  ngôn, giới cõi Dục nói là tâm cõi Dục, ông có thể vì tôi, hoặc phá giới, nếu khởi phiền não của tâm phá giới, thì tâm cõi Dục có tạo ra sự ủng hộ hay không?
Đáp: Không thể. Giới ngôn: nếu ông không thể, thì làm sao thuận theo ông được? Giống như có người sợ hãi kẻ thù, nói với người khác: Ông có thể vì tôi làm chỗ che chở không, tôi sẽ thuận theo ông. Người khác đáp: Không thể. Người ấy nói: Nếu ông không thể thì tôi đâu thuận theo ông? Giới kia cũng giống như thế. Tâm cõi Sắc có thể vì phá giới và khởi phiền não phá giới mà làm ra sự ủng hộ. Cho nên, giới kia thuận theo tâm.
Hỏi: Tất cả tâm thiện cõi Sắc đều có giới hồi chuyển sắc phải không?
Đáp: Không. Trong Sơ thiền có sáu tâm thiện, không có giới sắc hồi chuyển. Ba thức thân thiện là văn tuệ khi chết, tâm thiện, khởi tác tâm thiện, có hai tâm thiện trong Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, không có giới sắc hồi chuyển. Văn tuệ khi chết, tâm thiện không có giới cõi Vô sắc.
Hỏi: Vì sao cõi Vô sắc không có giới?
Đáp: Vì chẳng phải ruộng của giới, cho đến nói rộng. Giới và sắc đều là cõi Vô sắc, vì không có sắc nên không có giới.
Lại có thuyết nói: Giới là do bốn đại tạo, vì cõi Vô sắc không có bốn đại nên không có giới.
Hỏi: Không có bốn đại vô lậu cũng không có giới vô lậu chăng?
Đáp: Vì giới vô lậu không do bốn đại nên là vô lậu, vì tâm nên là giới vô lậu. Lại nữa, giới đối trị phá giới và khởi phiền não phá giới, cõi Vô sắc không có phá giới và khởi phiền não phá giới, cho nên không có giới.

* Trang 240 *
device

Hỏi: Vì sao cõi Vô sắc không có phá giới và khởi phiền não đối trị phá giới?
Đáp: Vì phá giới và khởi phiền não phá giới là pháp cõi Dục. Cõi Vô sắc đối với cõi Dục có bốn việc rất xa là chỗ dựa (thứ lớp duyên), chỗ hành, chỗ duyên và đối trị rất xa.
Hỏi: Nếu vậy Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền đều không có phạm giới, và khởi phiền não đối trị phạm giới, cũng không có giới sắc hồi chuyển phải chăng?
Đáp: Đối trị có hai thứ:
1.Đối trị dứt phiền não.
2.Đối trị lỗi lầm.
Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền dù không có đối trị dứt, nhưng vẫn có đối trị lỗi lầm như Đức Thế tôn nói: Tâm pháp giải thoát bất động, đệ tử Thánh nhập tam-muội, dứt pháp bất thiện, tu pháp thiện. Bấy giờ, trong thân đệ tử Thánh kia đều là pháp thiện. Vì đối trị lỗi lầm, nên nói rằng: Cõi Vô sắc không có đối trị lỗi lầm, cũng không có đối
trị dứt phiền não.
 Có hai thứ giới:
1.Đạo câu sinh.
2.Định câu sinh.
Giới của đạo câu sinh là giới vô lậu, giới của Định câu sinh là hữu lậu. Nếu là giới của đạo câu sinh thì chẳng phải giới của định câu sinh, nếu là giới của định câu sinh thì chẳng phải giới của đạo câu sinh.
Lại có thuyết nói: Giới của đạo câu sinh là vô lậu, giới của định câu sinh là hữu lậu, vô lậu. Cho nên đạo soạn ra luận chứng thứ nhất. Nếu có giới của đạo câu sinh, thì đệ tử bậc Thánh kia sẽ có giới của định câu sinh hay chăng?
Đáp: Nếu đệ tử bậc Thánh kia có giới của đạo câu sinh, thì cũng có giới của định câu sinh.
Hỏi: Có khi nào giới của định câu sinh thì chẳng phải giới của đạo câu sinh chăng?
Đáp: Có. Nghĩa  là giới hữu lậu.
Lại có thuyết nói: Giới của đạo câu sinh là vô lậu, giới của định câu sinh là thiền căn bản, cho nên, phải tạo ra bốn luận chứng:
Hỏi: Nếu có giới của đạo câu sinh thì vị đệ tử bậc Thánh đó cũng có giới của định câu sinh phải chăng? Nếu có giới của định câu sinh thì vị đó cũng có giới của đạo câu sinh phải chăng?
Đáp: Hoặc có giới của đạo câu sinh, chẳng phải giới của định câu

* Trang 241 *
device

sinh, cho đến nói rộng thành bốn luận chứng:
1.Giới của đạo câu sinh chẳng phải giới của định câu sinh, Nghĩa  là thiền Vị chí, Trung gian là vô lậu.
2.Giới của định câu sinh chẳng phải giới của đạo câu sinh, Nghĩa  là giới hữu lậu trong thiền căn bản.
3.Giới của đạo câu sinh, cũng là giới của định câu sinh, Nghĩa  là vô lậu trong thiền căn bản.
4.Chẳng phải giới của đạo câu sinh, chẳng phải giới của định câu sinh, Nghĩa  là giới hữu lậu của thiền Vị chí, Trung gian, tất cả giới cõi Dục.
Hỏi: Nếu được giới của đạo câu sinh, thì vị đó cũng được giới của định câu sinh phải chăng? Nếu được giới của định câu sinh, thì vị đó cũng được giới của đạo câu sinh phải chăng?
Đáp: Nên làm ra bốn luận chứng:
1.Được giới của đạo câu sinh, chẳng phải giới của định câu sinh: Chưa lìa dục, được chánh quyết định, mười lăm tâm đạo tỷ trí trong thấy đạo. Người lìa dục nương vào thiền Vị chí, được chánh quyết định. Mười lăm tâm bậc Thánh trong thấy đạo ly dục cõi Dục, đạo phương tiện: chín đạo vô ngại, tám đạo giải thoát. Người tín giải thoát chưa ly dục, chuyển căn, thấy được tạo ra đạo giải thoát, phương tiện vô ngại. bậc Thánh chưa lìa dục, khởi tâm vô lượng, khởi niệm xứ, an ban (sổ tức), bất tịnh.
2.Những lúc như thế được giới của đạo câu sinh, chẳng phải giới của định câu sinh, được giới của định câu sinh, chẳng phải giới của đạo câu sinh: Người phàm phu lìa dục cõi Dục, sau cùng là đạo giải thoát. Sơ thiền lìa dục, tức dùng Sơ thiền làm phương tiện của đạo phương tiện, sau cùng là đạo giải thoát. Nếu dựa vào Nhị thiền biên làm phương tiện của đạo phương tiện, sau cùng là đạo giải thoát, cho đến đệ Tam thiền cũng giống như thế. Lìa dục của thiền thứ tư, nếu dùng đệ Tứ thiền làm phương tiện của đạo phương tiện, thì lúc khởi thần thông, đạo năm vô ngại, đạo ba giải thoát, phàm phu lìa dục, khởi tâm vô lượng, khởi giải thoát Sơ thiền, đệ nhị, đệ Tam thiền, khởi thắng xứ, khởi tám Nhất thiết xứ, khởi niệm xứ bất tịnh, an ban, nương vào thiền khởi căn thiện đạt phần. Khi chết ở cõi Vô sắc sinh cõi Sắc, lúc chết ở địa trên trong cõi Sắc, sinh xuống địa dưới.
3.Những lúc như thế được giới của định câu sinh, chẳng phải giới của đạo câu sinh. Người được giới của đạo câu sinh, giới của định câu sinh, là người lìa dục nương vào thiền Vị chí, được chánh quyết định,

* Trang 242 *
device

đạo tỷ trí nương vào địa trên, được chánh quyết định. Mười lăm tâm đạo thấy đạo của bậc Thánh tỷ trí lìa dục cõi Dục, sau cùng là đạo giải thoát, lìa dục của Sơ thiền, đạo phương tiện, chín đạo vô ngại, chín đạo giải thoát. Cũng thế, cho đến lìa dục của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Người tín giải thoát lìa dục, chuyển căn, được thấy đạo giải thoát phương tiện vô tận. A-la-hán giải thoát, chuyển căn lúc được bất động, đạo phương tiện, chín đạo vô ngại, chín đạo giải thoát, lúc luân tập thiền, lúc ba tâm khởi thần thông, năm đạo vô ngại, ba đạo giải thoát. bậc Thánh lìa dục, khởi tâm vô lượng, thắng xứ giải thoát, niệm xứ an ban tất cả xứ bất tịnh, nguyện trí biện vô tránh, bán-đa-câu-đề-ca, không, vô tướng, vô nguyện; không, vô tướng, vô nguyện diệt, tướng định vi tế.
4.Những lúc như thế được giới đạo câu sinh, được giới của định câu sinh. Người không được giới của đạo câu sinh, giới của định câu sinh: trừ ngần ấy việc trên.
Nếu xả giới của đạo câu sinh thì cũng xả giới của định câu sinh chăng? Cho đến nên lập ra bốn luận chứng:
1.Người xả giới của đạo câu sinh chẳng phải giới của định câu sinh, Nghĩa  là được quả Tu-đà-hoàn, được Tư-đà-hàm, thuận theo thứ lớp được A-na-hàm, chưa lìa dục, tín giải thoát chuyển căn, được thấy đến quả Tư-đà-hàm, thối lui ở đạo thắng tiến, thối lui đạo thắng tiến của quả Tu-đà-hoàn, thời gian nầy, xả giới của đạo câu sinh, không xả giới của định câu sinh.
2.Người xả giới của định câu sinh, không xả giới của đạo câu sinh: phàm phu lìa dục, lúc thối lui dục cõi Sắc, phàm phu, bậc Thánh qua đời ở cõi Dục, cõi sắc, sinh lên cõi Vô sắc, qua đời ở cõi Sắc, sinh trong cõi Dục, lúc ấy xả giới của định câu sinh, không xả giới của đạo câu sinh.
3.Người xả giới của đạo câu sinh, cũng xả giới của định câu sinh là nương vào thiền được quả A-na-hàm, quả A-la-hán. Tín giải thoát chuyển căn lìa dục, lúc được kiến đáo, giải thoát chuyển căn được bất động, thối lui quả A-la-hán, đạo thắng tiến của A-na-hàm thối lui quả A-na-hàm, lúc ấy xả giới của đạo câu sinh, cũng xả giới của định câu sinh.
4.Không xả giới của đạo câu sinh, không xả giới của định câu sinh: Trừ ngần ấy việc trên.
Nếu thành tựu giới của đạo câu sinh, cũng thành tựu giới của định câu sinh chăng? Cho đến nói rộng tạo bốn luận chứng:

* Trang 243 *
device

1.Người thành tựu giới của đạo câu sinh, chẳng phải giới của định câu sinh: bậc Thánh chưa lìa dục sinh trong cõi Dục, đó gọi là thành tựu giới của đạo câu sinh, chẳng phải giới của định câu sinh.
2.Người thành tựu giới của định câu sinh, chẳng phải giới của đạo câu sinh: phàm phu lìa dục sinh trong cõi Dục, cũng sinh trong cõi Sắc, đó gọi là thành tựu giới của định câu sinh, chẳng phải giới của đạo câu sinh.
3.Người câu thành tựu: bậc Thánh sinh trong cõi Dục lìa dục cõi Dục, cũng sinh trong cõi Sắc, đó gọi là câu thành tựu.
4.Người đều không thành tựu: phàm phu sinh cõi Dục, không lìa dục, phàm phu sinh cõi Vô sắc, đó gọi là đều không thành tựu.
Nếu không thành tựu giới của đạo câu sinh thì cũng không thành tựu giới của định câu sinh phải chăng? Cho đến nói rộng tạo bốn luận chứng:  
Trước,  thành tựu luận chứng thứ nhất làm luận chứng thứ hai, luận chứng thứ hai làm luận chứng thứ nhất, luận chứng thứ ba làm luận chứng thứ tư, luận chứng thứ tư làm luận chứng thứ ba.  Có bốn thứ giới:  1.Giới đạt đến giải thoát.  2.Giới thiền.  3.Giới vô lậu.  4.Giới đoạn. Giới đợi giải thoát là giới cõi Dục. Giới thiền là giới cõi Sắc. Giới vô lậu là giới của đạo câu sinh. Giới đoạn là giới thiền, giới vô lậu. Việc ấy thế nào? Thế tục hồi chuyển sắc trong chín đạo vô ngại, lìa dục cõi Dục đó gọi là giới thiền, giới đoạn, vô lậu hồi chuyển sắc trong chín đạo vô ngại lìa dục cõi Dục, đó gọi là giới vô lậu, giới đoạn.
Hỏi: Vì sao lìa dục cõi Dục hồi chuyển sắc trong chín đạo vô ngại gọi là giới đoạn?
Đáp: Vì lìa dục cõi Dục, hồi chuyển sắc trong chín đạo vô ngại là phạm giới và khởi phiền não đối trị phạm giới. Vì việc nầy nên tạo ra bốn luận chứng. Nếu là giới thiền thì giới thiền đó cũng là giới đoạn chăng? Nếu là giới đoạn thì cũng là giới thiền phải chăng? Cho đến nói rộng tạo bốn luận chứng:
1.Giới thiền chẳng phải giới đoạn, Nghĩa  là dứt trừ hồi chuyển sắc trong chín đạo vô ngại lìa dục cõi Dục, các xoay lại sắc của thế tục khác, đó gọi là giới thiền, chẳng phải giới đoạn.

* Trang 244 *
device

2.Giới đoạn nầy chẳng phải giới thiền, Nghĩa  là vô lậu hồi chuyển sắc trong chín đạo vô ngại đã lìa dục cõi Dục, đó gọi là giới đoạn, chẳng phải giới thiền.
3.Đều cùng là hồi chuyển sắc của thế tục trong chín đạo vô ngại đã lìa dục cõi Dục, đó gọi là đều cùng.
4.Đều chẳng phải, Nghĩa  là dứt trừ vô lậu hồi chuyển sắc trong chín đạo vô ngại đã lìa dục cõi Dục, các hồi chuyển sắc của đạo vô lậu khác, gọi là đều chẳng phải (câu phi).
Nếu là giới vô lậu thì giới đó cũng là giới đoạn chăng? Cho đến nói rộng tạo bốn luận chứng:
1.Giới vô lậu nầy chẳng phải giới đoạn, Nghĩa  là trừ hồi chuyển sắc của vô lậu trong chín đạo vô ngại đã lìa dục cõi Dục, các hồi chuyển sắc của vô lậu khác, gọi là chẳng phải giới đoạn vô lậu.
2.Giới đoạn nầy chẳng phải giới vô lậu, Nghĩa  là sắc hồi chuyển của thế tục trong chín đạo vô ngại đã lìa dục cõi Dục, gọi là giới đoạn chẳng phải giới vô lậu.
3.Đều cùng, là sắc hồi chuyển của vô lậu trong chín đạo vô ngại đã lìa dục cõi Dục, đó gọi là đều.
4.Đều chẳng phải: Trừ sắc hồi chuyển của thế tục trong chín đạo vô ngại đã lìa dục cõi Dục, các sắc hồi chuyển khác của thế tục, gọi là đều chẳng phải.
Hỏi: Bốn thứ giới nầy nếu người thành tựu thì thành tựu bao nhiêu thứ?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Chỉ thành tựu giới đợi giải thoát. Hoặc có người nói chỉ thành tựu giới thiền. Hoặc có thuyết nói chỉ thành tựu giới vô lậu. Không có thuyết nào nói chỉ thành tựu giới đoạn. Nghĩa  là hoặc có thành tựu giới đợi giải thoát, giới thiền. Không người nào chỉ thành tựu giới đợi giải thoát, giới đoạn. Hoặc có người chỉ thành tựu giới vô lậu, giới thiền, hoặc có người chỉ thành tựu giới thiền, giới đoạn, không người nào chỉ thành tựu giới vô lậu, giới đoạn. Hoặc có người thành tựu giới đợi giải thoát, giới thiền, giới vô lậu, chẳng phải thành tựu giới đoạn. Hoặc có người thành tựu giới đợi giải thoát, giới thiền, giới đoạn, chẳng phải thành tựu giới vô lậu, không người nào thành tựu giới đợi giải thoát, giới vô lậu, giới đoạn, chẳng phải giới thiền. Hoặc có người thành tựu giới thiền, giới vô lậu, giới đoạn, chẳng phải thành tựu giới đợi giải thoát. Hoặc có người thành tựu bốn thứ. Người thành tựu giới đợi giải thoát, chẳng phải giới khác, sinh trong cõi Dục thọ giới, không được tâm thiện cõi Sắc. Người chỉ thành tựu giới thiền, chẳng 

* Trang 245 *
device

phải giới khác, sinh trong cõi Dục không thọ giới, còn ràng buộc đầy đủ thứ của kẻ phàm phu, được tâm thiện cõi Sắc, sinh đệ nhị, đệ tam, đệ Tứ thiền phàm phu. Người chỉ thành tựu giới vô lậu, chẳng phải giới khác, là bậc Thánh sinh cõi Vô sắc chỉ thành tựu giới đợi giải thoát thiền giới, chẳng phải giới khác, sinh trong cõi Dục có thọ giới bị ràng buộc đầy đủ thứ của kẻ phàm phu, được tâm thiện cõi Sắc. Người chỉ thành tựu giới thiền, giới vô lậu là bậc Thánh sinh trong cõi Dục, không thọ giới. bậc Thánh nơi cõi Dục tu đạo dứt trừ các thứ ràng buộc sinh Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Người thành tựu giới đoạn, giới thiền, chẳng phải giới khác. Nghĩa  là phàm phu sinh trong cõi Dục, không thọ giới, lìa dục cõi Dục, một hạng cho đến chín hạng người phàm phu sinh trong Sơ thiền. Người thành tựu giới đợi giải thoát, giới thiền, giới vô lậu, chẳng phải giới đoạn, Nghĩa  là bậc Thánh thọ giới sinh trong cõi Dục, tu đạo dứt trừ mọi sự ràng buộc cõi Dục. Người thành tựu giới đợi giải thoát, giới thiền, giới đoạn, chẳng phải giới vô lậu, Nghĩa  là người phàm phu thọ giới sinh trong cõi Dục xa lìa một thứ dục, cho đến chín thứ dục. Người thành tựu giới đoạn của thiền vô lậu, chẳng phải giới đợi giải thoát là bậc Thánh không thọ giới, sinh trong cõi Dục, lìa một thứ dục, cho đến chín loại, bậc Thánh sinh trong Sơ thiền.    Người thành tựu bốn loại là: bậc Thánh thọ giới sinh trong cõi Dục, lìa một thứ dục cho đến chín thứ.
Hỏi: Bốn thứ giới nầy, có bao nhiêu loại hồi chuyển với tâm, bao nhiêu loại không hồi chuyển với tâm?
Đáp: Có ba thứ hồi chuyển với tâm, đó giới đoạn, thiền, vô lậu, một là không hồi chuyển với tâm, đó là giới đạt giải thoát.
Hỏi: Vì sao giới đạt giải thoát không hồi chuyển với tâm?
Đáp: Vì chẳng phải ruộng, cho đến nói rộng. Lại nữa, giới đợi giải thoát thô, giới tâm hồi chuyển vi tế. Lại nữa, giới đợi giải thoát thì trọng, giới tâm hồi chuyển thì khinh.  
Lại nữa, giới đợi giải thoát từ có tạo tác sinh, giới tâm hồi chuyển từ tâm sinh.
Lại nữa, giới đợi giải thoát từ người khác sinh, giới tâm hồi chuyển từ chính mình sinh.  
Lại nữa, giới đợi giải thoát từ tha sanh, giới của tâm hồi chuyển từ tự sanh.  
Lại nữa, giới đợi giải thoát từ mọi sự nhĩm hội hòa hợp sinh, giới tâm hồi chuyển không như vậy.  
Lại nữa, giới đợi giải thoát giả lập bày mà thọ đắc, giới tâm hồi

* Trang 246 *
device

chuyển từ pháp mà đắc.
Lại nữa, giới đợi giải thoát hành không kịp tâm, giới tâm hồi chuyển hành thì theo kịp tâm.
Lại nữa, giới đợi giải thoát bị sự phá giới che lấp, giới tâm hồi chuyển không bị che lấp do phá giới.  
Lại nữa, giới đợi giải thoát bị sự che lấp do ý của tâm ác kiếp sát, giới tâm hồi chuyển không bị che lấp.  
Lại nữa, giới tâm hồi chuyển sinh cùng với tâm trụ, diệt, giới đợi giải thoát thì không như thế.  
Lại nữa, giới tâm hồi chuyển đồng một quả, một y, một báo với tâm, giới đợi giải thoát thì trái với trên.  
Lại nữa, pháp nên như thế: Tâm hoặc tâm thiện, pháp hồi chuyển cũng là tâm thiện, nếu tâm bất thiện, vô ký, dĩ nhiên pháp hồi chuyển cũng bất thiện, vô ký. Giới đợi giải thoát là thiện, nếu cùng với tâm hồi chuyển thì chỉ cùng thiện. Tâm hồi chuyển bất thiện, vô ký, thì tâm kia nên dứt trừ.
Lại nữa, pháp nên như thế. Tâm thuộc về cõi Dục, hồi chuyển ràng buộc cõi Dục. Tâm thuộc về cõi Sắc, hồi chuyển ràng buộc cõi Sắc. Tâm thuộc về cõi Vô sắc thì hồi chuyển cũng ràng buộc ở cõi Vô sắc. Tâm không lệ thuộc thì hồi chuyển không lệ thuộc. Theo giới đợi giải thoát, là thuộc về cõi Dục, hoặc tâm hồi chuyển cùng ràng buộc nơi cõi Dục. Tâm thuộc về cõi Sắc, Vô sắc và tâm không lệ thuộc, lúc hiện ở trước, thì nên dứt.
Lại nữa, pháp nên như thế: Tâm Hữu học thì hồi chuyển Hữu học, tâm Vô học thì hồi chuyển Vô học, tâm phi Hữu học phi Vô học thì hồi chuyển Phi học phi Vô học. Giới đợi giải thoát là phi học phi Vô học, nếu hồi chuyển với tâm phi học phi Vô học. Tâm Học, Vô học hiện tiền, nên dứt.  
Lại nữa, pháp nên như thế: Tâm do thấy đạo thì dứt, hồi chuyển sẽ được thấy đạo thì dứt. Tâm do tu đạo dứt trừ, hồi chuyển sẽ được tu đạo dứt trừ. Tâm không có dứt trừ, hồi chuyển lại không dứt trừ. Giới đợi giải thoát là do tu đạo dứt trừ. Nếu hồi chuyển với tâm do tu đạo dứt trừ thì tâm sẽ do thấy đạo thì dứt, lúc tâm không dứt trừ hiện ở trước thì nên dứt trừ.  
Lại nữa, giới đợi giải thoát, nếu hồi chuyển với tâm thì nên tu ở đời vị lai. Nếu tu ở đời vị lai thì cũng không có lỗi, nên phải thành tựu đời vị lai, nhưng không thành tựu đời vị lai.  
Lại nữa, giới đợi giải thoát hồi chuyển với tâm, Nghĩa  là lúc sinh

* Trang 247 *
device

trở lại, thì giới, địa nên được. Nếu từ cõi Sắc, Vô sắc qua đời, sinh trong cõi Dục, lúc tâm nối tiếp nhau, thì lẽ ra được. Vì có lỗi như thế, nên không có sự khác nhau giữa ba hạng người, nghĩa là trụ giới, trụ phi giới và trụ phi giới, phi phi giới. Lại nữa, giới đợi giải thoát, do bốn việc thành xả:
1. Lúc xả giới.
2. Lúc biến thành hai hình.
3. Khi chết.
4. Khi dứt căn thiện.
Nếu giới đợi giải thoát hiện hồi chuyển với tâm, thì không do bốn
việc nầy, lẽ ra cũng xả.
Lại nữa, giới đợi giải thoát, từ khi thọ giới trở về sau, sẽ sinh trong tất cả thời, nghĩa là kể cả lúc ngủ, điên cuồng, ngất xỉu... Nếu giới đạt đến giải thoát, hồi chuyển với tâm, lúc có tâm thì có, lúc không tâm thì nên dứt trừ.
Lại nữa, giới đợi giải thoát, hồi chuyển với tâm, thì người thọ giới không có trên dưới, nhưng có trên dưới.
Vì muốn khiến cho không có lỗi như thế, nên giới đạt đến giải thoát không hồi chuyển với tâm. Giới hồi chuyển của pháp Noãn là đối trị bằng xả của phá giới. Pháp Đảnh, pháp Nhẫn, pháp Thế đệ nhất nơi giới hồi chuyển của đạo tỷ trí trong thấy đạo tu đạo, tức lúc đối với phá giới, tạo ra hai thứ đối trị: Đối trị phần xả và đối trị bằng nắm giữ. Giới
hồi chuyển của đạo phương tiện lìa dục cõi Dục, tạo ra đối trị do phá giới mà cho thực hành xả. Giới hồi chuyển của đạo vô ngại đầu tiên, xa lìa dục cõi Dục, tạo ra đối trị bằng nắm giữ và đối trị phần xa cho phá giới, tạo ra đối trị bằng dứt, đối trị bằng xả cho trường hợp khởi phiền não phá giới. Giới hồi chuyển của bảy đạo vô ngại tạo ra đối trị bằng nắm giữ, đối trị phần xa cho phá giới, tạo ra đối trị bằng dứt, đối trị phần xa, đối trị bằng nắm giữ cho việc khởi phiền não phá giới. Đạo vô ngại thứ chín làm đối trị bằng nắm giữ, đối trị phần xa và đối trị bằng dứt cho việc phá giới và làm đối trị bằng nắm giữ, đối trị phần xa, đối trị bằng xả, đối trị bằng dứt cho việc khởi phiền não phá giới. Ngoại trừ giới hồi chuyển như đã nói ở trên, các giới hồi chuyển khác, tạo ra đối trị bằng nắm giữ, đối trị phần xa cho việc phá giới và trường hợp khởi phiền não phá giới.
Hỏi: Như giới hồi chuyển của pháp trí có thể xả phá giới và khởi phiền não phá giới, chẳng phải tỷ trí, vì sao nói tỷ trí có giới hồi chuyển?

* Trang 248 *
device

Đáp: Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Vì tỷ trí kia là nhân, vì lệ thuộc tỷ trí đó, vì nối tiếp với tỷ trí, vì từ tỷ trí kia sinh, vì tỷ trí nầy đã trụ nơi pháp đối trị. Vì sao? Vì nếu đang là pháp trí không xả phá giới và khởi phiền não phá giới, thì tỷ trí sẽ xả. Lại nữa, pháp đối trị cho sự phá giới và khởi phiền não phá giới phần nhiều là tỷ trí, tuy không làm đối trị bằng xả, đối trị bằng dứt, nhưng đã làm đối trị bằng nắm giữ và đối trị phần xa.
Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Nếu pháp trí có giới hồi chuyển, tỷ trí không có giới hồi chuyển, thì tuy có thể có giới đối trị, nhưng Đức Thế tôn nói: Có thể có giới đối trị, có giới không thể đối trị.
Hỏi: Vì giới cõi Dục nhiều hay giới cõi Sắc nhiều?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Giới cõi Dục nhiều. Vì sao? Vì nghiệp căn bản, nghiệp trước, nghiệp sau có thể được. Lại vì từ ngăn tánh tội, già tội có thể được. Cõi Sắc tuy có tánh nghiệp, nghiệp căn bản, nhưng chẳng phải xứ khác có thể được.
Bình luận: Nên nói rằng: Giới cõi Sắc nhiều, chỉ có giới thâu nhiếp của thiền Vị chí thì ngang bằng với giới cõi Dục, giới khác thì nhiều.
Hỏi: Giới hữu lậu nhiều hay giới vô lậu nhiều?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Giới hữu lậu nhiều, giới hữu lậu có hai thứ: Một thứ ít nhập giới vô lậu, tức có một thứ ít giới vô lậu, một thứ ít nhập.
Bình luận: Nên nói rằng: Giới vô lậu nhiều, chỉ giới hồi chuyển của pháp nhẫn khổ thì ngang bằng với giới hữu lậu, giới khác thì nhiều.
Hỏi: Giới hồi chuyển của pháp nhẫn khổ nhiều hay giới hồi chuyển của trí vô sinh, tận trí nhiều?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Giới hồi chuyển của khổ pháp trí gấp bội đối với giới hồi chuyển của pháp nhẫn khổ, gấp bội theo thứ lớp như thế, cho đến trí vô sinh, tận trí. Đối với Kinh Thi Thiết nói, khéo hiểu, nghĩa là khổ pháp trí vượt hơn khổ pháp nhẫn, cho đến đạo tỷ trí vượt hơn đạo tỷ nhẫn. Đạo phương tiện lìa dục cõi Dục, một vô ngại, một giải thoát thì vượt hơn, xoay vần vượt hơn như thế, cho đến giải thoát thứ chín. Vì sao? Vì như xả dần dần phá giới và phiền não phá giới, giới ấy cũng dần dần tăng ích. Chuyển biến theo thứ lớp vượt hơn gấp bội như thế, cho đến tận trí, trí vô sinh.
Bình luận: Như thuyết nầy là tốt: Như giới của khổ pháp nhẫn, cho đến giới của tận trí, trí vô sinh, đều bằng nhau không có khác. Vì sao? Vì từ thân miệng mà sinh bảy điều thiện.

* Trang 249 *
device

Hỏi: Nếu vậy thì theo thuyết của Kinh Thi Thiết nói làm sao hiểu?
Đáp: Vì từ nhân sinh tăng ích, nên nói rằng: Như khổ pháp trí từ nhân của khổ pháp nhẫn sinh mà được tăng ích, cho đến tận trí, trí vô sinh cũng giống như thế. Những giới như thế đều là bảy điều thiện.
Hỏi: Giới của Phật nhiều hay giới của Thanh văn nhiều?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Giới Thanh văn nhiều, chẳng phải giới của Phật nhiều. Vì sao? Vì Phật chỉ có một cõi giới thân, Thanh văn có hai cõi giới thân.
Bình luận: Nên nói rằng: Giới Phật nhiều. Vì sao? Vì ba niệm xứ bất cộng: Lực, vô úy, đại bi. Những giới như thế, Thanh văn, Bích-chi Phật không có.
Hỏi: Sinh trong cõi Dục, được đạo A-la-hán, giới thân hồi chuyển được bao nhiêu địa?
Đáp: Như Sa-môn phương Tây lập ra thuyết như vầy: Được giới thân hồi chuyển của hai mươi sáu địa. Vì sao? Vì địa Sơ thiền có ba thứ, đó là: Phạm-ca-di, Phạm-phú-lâu và Đại phạm. Như Sa-môn nước Kế-tân nói: Được giới thân hồi chuyển của hai mươi lăm địa. Vì sao? Vì Sơ thiền có hai xứ sở, đó là Phạm-ca-di, Phạm-phú-lâu. Trời Đại Phạm thuộc về Phạm-phú-lâu, nên cũng như thôn xóm và chốn A-luyện-nhã. Được giới thân hồi chuyển của địa Sơ thiền kia, tu ở đời vị lai, không được khởi ở trước hiện tại. Vì sao? Vì báo thân của địa Sơ thiền đó, có thể khởi giới thân hồi chuyển của địa Sơ thiền kia ở trước trong hiện tại, các giới thân hồi chuyển của địa khác, thành tựu không khởi hiện ở trước.
Sinh cõi Vô sắc, thành tựu không khởi hiện ở trước. Vì sao? Vì giới nầy là giới thuộc về sáu địa, từ thiền Vị chí cho đến đệ Tứ thiền, tự địa cõi Vô sắc không có giới thuộc về địa dưới, không thể khởi hiện ở trước.
Hỏi: Những người sinh xuống địa dưới đều có thể khởi hiện ở trước chăng?
Đáp: Không phải đều khởi. Vì sao? Vì tất cả công đức không hẳn là đều khởi hiện ở trước, lỗi lầm xấu ác còn không phải đều khởi ở trước hiện tại, huống gì các công đức? Các công đức đều từ phương tiện sinh, như trước đã nói: Dựa vào báo thân của địa kia, khởi giới thân hồi chuyển của địa kia, không có lúc nào khởi báo thân của hai địa ở trước hiện tại, huống gì là nhiều địa? Cho nên, được giới thân hồi chuyển của hai mươi lăm địa, không phải đều khởi ở trước hiện tại.

* Trang 250 *
device

Hỏi: Vì sao đệ tử của Đức Thế tôn sinh cõi Vô sắc, thành tựu giới của đạo câu sinh, không thành tựu giới của định câu sinh. Vì sao? Vì A- la-hán cõi Vô sắc đã thành tựu giới của đạo câu sinh, không thành tựu giới của định câu sinh?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Sự ràng buộc của giới thế tục là pháp trói buộc, vì cho nên không thành tựu. Giới vô lậu không ràng buộc, chẳng phải pháp lệ thuộc cho nên thành tựu.
Lại có thuyết nói: Giới của thế tục rơi trong cõi, trong địa, cho nên không thành tựu. Giới vô lậu dù trong địa, nhưng vì không rơi trong cõi cho nên thành tựu.
Hỏi: Chư Phật, Thế tôn có giới thân một trăm năm, cho đến giới thân của thời gian tám vạn năm, nếu thân của thời gian một trăm năm chứng đắc Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là được thân giới của thời gian tám vạn năm hay không? Nếu được thì tại sao thân nầy được giới trong thân khác? Nếu không được thì Kinh Thi Thiết đã nói làm sao hiểu? Như nói: Chư Phật, Thế tôn đều bình đẳng nên nói như thế là được.
Hỏi: Nếu vậy thì tại sao thân nầy được giới trong thân khác?
Đáp: Nếu do thân nầy được giới của thân khác thì có lỗi gì? Lại nữa, thời gian một trăm năm được Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng, thân được đắc giới trong thời gian một trăm năm, gọi là được thành tựu hiện tại ở trong thân, giới trong thân khác gọi là được không ở trong thân, là thành tựu không hiện ở trước. Thân của thời gian tám vạn năm được đạo quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thân được đắc giới trong của thời gian tám vạn năm, gọi là được thành tựu hiện ở trước trong thân, đối với thân khác, gọi là được không ở trong thân, là thành tựu không hiện ở trước.
Lại có thuyết nói: Không được.
Hỏi: Nếu vậy thì kinh Thi Thiết nói làm sao hiểu? Như nói: Chư Phật đều bình đẳng?
Đáp: Tức kinh kia đã nói: Vì ba việc nầy nên bình đẳng, công hạnh đã chứa nhóm ở đời quá khứ đều bình đẳng. Pháp thân chứng đắc đều bình đẳng, lợi ích cho thế gian đều bình đẳng.
Công hạnh đã tích lũy ở đời quá khứ đều bình đẳng: Như một Đức Phật đã thực hành bốn Ba-la-mật trong suốt ba A-tăng-kỳ kiếp, sau đó, chứng được đạo quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chư Phật đều như thế. Pháp thân sở đắc đều bình đẳng: Như một Đức Phật đã thành tựu ba niệm xứ bất cộng: lực, vô úy, đại bi. Chư Phật cũng thế. Lợi ích

* Trang 251 *
device

cho thế gian đều bình đẳng: Như một Đức Phật độ trăm ngàn vạn na-do- tha chúng sinh đều nhập Niết-bàn, chư Phật cũng thế.
Lại nữa, vì căn bình đẳng, nên ngôn ngữ bình đẳng. Vì sao? Vì đều trụ trong căn tăng thượng, giới cũng bình đẳng, vì đều được giới tăng thượng, nên địa cũng bình đẳng, đều dựa vào đệ Tứ thiền, được đạo quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Thế nào là nhân tương tự? Cho đến nói rộng. Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
Đáp: Vì ngăn quan niệm cho rằng không có pháp quá khứ, vị lai, hiện tại là pháp vô vi. Vì như văn nầy ngăn dứt ý do không có quá khứ, vị lai. Lại vì dứt ý của Sa-môn cho là pháp tương tự, người kia nói rằng: Tâm chỉ làm nhân cho tâm, thọ chỉ làm nhân cho thọ, cho đến tuệ chỉ làm nhân cho tuệ. Vì dứt ý như thế cho nên nói rằng: Tâm và pháp tâm sở, pháp tâm sở và tâm làm nhân tương tự. Do việc ấy nên soạn luận nầy.
Hỏi: Vì sao nói rằng: Căn thiện của đời trước và căn thiện của đời sau và pháp tương ưng của căn thiện làm nhân tương tự, mà không nói rằng: Căn thiện quá khứ và căn thiện hiện tại và pháp tương ưng của căn thiện làm nhân tương tự?
Đáp: Vì muốn cho quá khứ, hiện tại có nghĩa trước sau, vì pháp quá khứ rất nhiều, nên phải có trước, sau. Nếu nói rằng: Pháp quá khứ và hiện tại làm nhân tương tự thì không sáng tỏ về quá khứ có nhân tương tự ở quá khứ. Nếu nói lời ấy thì sáng tỏ về quá khứ có nhân tương tự nơi quá khứ.
Hỏi: Vì sao căn thiện đời trước không nói là pháp tương ưng, mà căn thiện đời sau lại nói là pháp tương ưng?
Đáp: Nên nói rằng: Pháp tương ưng của căn thiện và căn thiện đời trước, cùng với pháp tương ưng của căn thiện và căn thiện đời sau. Trong tự giới, tạo ra nhân đối với nhân tương tự, mà không người nói, phải biết đó là thuyết chưa trọn vẹn. Như trước đã nói: Văn nầy nói về nhân xứ bất tận.
Lại có thuyết nói: Vì dứt ý của Sa-môn nói pháp tương tự. Người kia nói rằng: Căn thiện làm nhân tương tự cho căn thiện, chứ chẳng phải pháp tương ưng của căn thiện. Pháp tương ưng của căn thiện làm nhân tương tự cho pháp tương ưng của căn thiện, chẳng phải căn thiện. Căn bất thiện, vô ký cũng giống như thế.
Vì dứt ý như thế, nên nói rằng: Căn thiện và pháp tương ưng của căn thiện, pháp tương ưng của căn thiện làm nhân tương tự cho căn

* Trang 252 *
device

thiện. Trong tự giới, cõi Dục lại với cõi Dục, cõi Sắc lại với cõi Sắc, Vô sắc lại với cõi Vô sắc. Như nói giới của mình, địa của mình cũng giống như thế. Địa Sơ thiền lại cùng với địa Sơ thiền, cho đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, trở lại với Phi tưởng Phi phi tưởng xứ.
Căn thiện của quá khứ cùng với vị lai. Quá khứ, hiện tại, hiện tại làm nhân đối với nhân tương tự cho căn thiện của vị lai.
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
Đáp: Nếu ở đời khác mà nói, thì văn nầy không rối loạn, cho đến nói rộng. Căn vô ký của tự giới cũng giống như thế. Căn bất thiện của đời trước, cho đến nói rộng.
Hỏi: Vì sao trong căn bất thiện nầy không nói đến tự giới? Đáp: Vì căn bất thiện chỉ ở cõi Dục.
Lại có thuyết nói: Nên nói tự hạt giống, hạt giống do thấy khổ mà dứt trừ, lại cho hạt giống do thấy khổ mà dứt trừ, cho đến hạt giống do tu đạo dứt trừ, lại cùng với hạt giống do tu đạo dứt trừ.
Lại có thuyết nói: Nên nói rằng: Nói về căn thiện rồi, căn bất thiện, vô ký cũng giống như thế.
Hỏi: Nếu vậy căn bất thiện chỉ có ở cõi Dục, sao lại nói tự giới? Đáp: Vì tự hạt giống, nên nói là tự giới.
Hỏi: Vì sao không nói rằng: Căn bất thiện của đời trước và căn vô ký của đời sau, căn vô ký của đời trước làm nhân tương tự cho căn bất thiện của đời sau?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Nên nói như thế mà không nói, phải biết nghĩa nầy là lời chưa trọn vẹn.
Lại có thuyết nói: Nếu nói như thế thì sáng tỏ, căn bất thiện ở trong ba cõi, căn vô ký chỉ ở cõi Dục, ít nhân thì sẽ có nhiều quả, nhiều nhân thì sẽ có ít quả.
Hỏi: Đời vị lai có nhân tương tự hay không? Nếu có thì vì sao trong đây không nói? Như nói: Thế nào là nhân tương tự?
Đáp: Căn thiện của đời trước và căn thiện của đời sau, pháp tương ưng của căn thiện là nhân đối với nhân tương tự của tự giới.
Hỏi: Quá khứ như vậy cùng với vị lai, quá khứ, hiện tại, hiện tại làm nhân đối với nhân tương tự cho vị lai, mà không nói vị lai làm nhân đối với nhân tương tự cho vị lai. Nếu có, tại sao không là hai tâm xoay vần làm nhân cho nhau? Nếu không có, thì với thuyết nầy làm sao hiểu? Như nói: Nếu pháp nầy có thể làm nhân cho pháp kia, hoặc có lúc không làm nhân cho pháp kia?
Đáp: Không.

* Trang 253 *
device

Hỏi: Pháp nầy hoặc có lúc làm nhân cho pháp kia, hoặc có lúc không làm nhân. Nếu pháp sinh thì làm nhân, nếu không sinh thì không làm nhân, vì sao nói không? Nếu không, thì làm sao hiểu thuyết của phái Ba-già-la-na? Như nói: Không phải tâm làm nhân cho pháp là thế nào?
Đáp: Là tâm vô lậu ban đầu của người được chánh quyết định, các phàm phu khác tất nhiên sẽ được chánh quyết định, nghĩa là tâm vô lậu ban đầu.
Hỏi: Như người chưa được chánh quyết định, thì tất cả tâm vô lậu chẳng phải pháp làm nhân cho tâm, vì sao chỉ nói tâm vô lậu ban đầu? Nếu không có thì kinh nầy trái với thuyết khác đã nói. Như nói: Khổ đế, hoặc dùng thân kiến làm nhân, không làm nhân cho thân kiến, cho đến nói rộng. Thân kiến là nhân, không làm nhân cho thân kiến, nghĩa là trừ sử của quá khứ, hiện tại do thấy khổ mà dứt trừ và khổ đế nơi pháp tương ưng của sử, trừ nhất thiết biến sử của quá khứ, hiện tại nhờ thấy tập mà dứt trừ và khổ đế nơi pháp tương ưng của sử, trừ thân kiến của đời vị lai và pháp tương ưng của thân kiến, còn là các khổ đế nhiễm ô khác, nghĩa là dùng thân kiến làm nhân, không làm nhân cho thân kiến.
(Không có đáp).
Hỏi: Như thân kiến của vị lai không thể làm nhân cho thân kiến ở vị lai. Vì sao? Vì trừ thân kiến vị lai và pháp tương ưng của thân kiến. Nếu không là thức thân thì làm sao hiểu điều kinh nói? Như nói: Nhãn thức là chỗ sai khiến các sử nhiễm ô quá khứ, cũng là nhân chăng? Nếu là nhân thì cũng là chỗ sai khiến của sử chăng?
Đáp: Nên rộng tạo ra bốn trường hợp:
1.         Là nhân không bị sử sai khiến: Các sử ở trước tâm kia, là nhất thiết biến không duyên của tự giới. Nếu duyên đã dứt thì sử tương ưng sẽ giải thoát.
2.         Bị sử sai khiến chẳng phải nhân: Nghĩa là các sử ở sau tâm, sử ấy là nhất thiết biến duyên của tự giới, mà không dứt.
3.         Vừa là nhân, vừa là sử: Các sử ở trước tâm kia, là nhất thiết biến duyên của tự giới mà không dứt, sử tương ưng không giải thoát.
4.         Chẳng phải nhân, chẳng phải sử: Các sử ở sau tâm kia, là nhất thiết biến chẳng phải duyên của tự giới.
Duyên: là đã dứt sử nhất thiết biến của tha giới. Như quá khứ, vị lai, hiện tại cũng phải như thế, nói rộng thành bốn trường hợp.
Hỏi: Bốn trường hợp của quá khứ, hiện tại có thể như thế làm sao

* Trang 254 *
device

giải thích vị lai? Nếu không thì Kinh Thi Thiết nói làm sao hiểu? Như nói: Các pháp bốn việc nên quyết định:
1.         Nhân.
2.         Quả.
3.         Chỗ dựa.
4.         Chỗ duyên.
Nếu không có, tại sao không nhân mà có nhân? Không quả mà có
quả?
Đáp: Nên nói rằng: Đời vị lai không có nhân tương tự, vì không có
cho nên không nói, cũng không có lỗi hai tâm xoay vần làm nhân cho nhau.
Hỏi: Nếu vậy thì như đã nói: Nếu pháp nầy có thể làm nhân cho pháp kia, hoặc lúc không làm nhân, cho đến nói rộng, điều nầy giải thích ra sao?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Trong đó, vì hai nhân nên soạn ra luận, đó là nhân tương ưng, nhân cộng sinh.
Lại có thuyết nói: Vì hai nhân nên soạn luận, đó là nhân tương ưng, nhân cộng sinh, nhân báo và nhân sở tác.
Lại có thuyết nói: Vì năm nhân nên soạn luận, trừ nhân sở tác. Vì sao? Vì Nhất thiết xứ không che ngăn.
Nên nói rằng: Vì sáu nhân nên soạn luận.
Hỏi: Có pháp hoặc làm nhân cho pháp kia, hoặc có lúc không làm nhân. Vì sao nói rằng: Nếu pháp nầy có thể làm nhân cho pháp kia, hoặc có lúc không làm nhân cho pháp kia?
Đáp: Thuyết nầy lúc sinh sau cùng, có thể làm nghĩa cho nhân tương tự của nhất thiết biến. Từ đây về sau, sự sinh đều dùng pháp nầy làm nhân.
Hỏi: Nếu vậy thì thuyết nầy giải thích thế nào? Như nói: Nếu pháp nầy có thể làm duyên thứ lớp cho pháp kia, hoặc có lúc không làm duyên thứ lớp?
Đáp: Nếu pháp kia chưa sinh.
Hỏi: Lúc duyên thứ lớp sinh sau cùng, cũng có thể làm nghĩa của duyên thứ lớp. Từ đây về sau, sinh đều lấy sự sinh nầy làm duyên thứ lớp, vì sao đáp chưa sinh mà không nói lúc sinh sau cùng?
Đáp: Nên nói mà không nói, nên biết nghĩa nầy là lời chưa trọn
vẹn.
Lại nữa, hiện thuyết khác, văn khác, nếu dùng văn khác để trang
nghiêm nghĩa, thì nghĩa dễ hiểu.

* Trang 255 *
device

Lại nữa, vì hiện nghĩa hai môn, vì hiện hai thứ nghĩa lược, vì hiện hai nhập pháp tánh, vì hiện hai thứ đuốc, vì hiện hai sự, vì hiện hai thứ văn ảnh, vì hiện cùng sinh cùng thông đạt. Như nói nghĩa của nhân đời sau cùng, cũng nên nói nghĩa của duyên đời sau cùng. Như nói nghĩa chưa sinh của duyên thứ lớp, cũng nên nói nghĩa chưa sinh của nhân. Nói hiện nghĩa hai môn, cho đến nói rộng. Như thuyết của Ba-già-la-na nói: Chẳng phải tâm làm nhân cho pháp, cho đến nói rộng, làm sao giải thích?
Đáp: Thuyết nầy rốt ráo chẳng phải tâm nhân pháp. Như người chưa được chánh quyết định, tất cả tâm vô lậu chưa sinh hết là chẳng phải tâm nhân pháp. Nếu lúc được chánh quyết định, tâm vô lậu ban đầu là chẳng phải tâm nhân pháp, các tâm vô lậu khác là tâm nhân pháp. Cho nên, kinh kia nói: Tâm vô lậu đầu tiên là chẳng phải tâm nhân pháp.
Lại có thuyết nói: Trong đây không nói nhân tương tự, thuyết nầy nói có hai thứ phàm phu, đó là người có thể được Niết-bàn và người không thể chứng đắc Niết-bàn. Trong đó, người không thể được Niết- bàn, nói là chẳng phải nhân của tâm.Hỏi: Vì sao biết có người không được Niết-bàn?
Đáp: Như ở đây nói, người phải được chánh quyết định, nên biết cũng có người không hẳn được chánh quyết định.
Cũng thế thì thuyết đã nói khéo hiểu được. Như thuyết thứ hai nầy của Ba-già-la-na đã nói, trừ thân kiến ở vị lai và pháp tương ưng của thân kiến, điều đó làm sao hiểu?
Đáp: Nên nói rằng: Trừ pháp tương ưng của thân kiến ở vị lai, còn lại là các khổ đế nhiễm ô khác, như thế thì điều đó cũng khéo hiểu.Hỏi: Như Kinh Thức Thân nói làm sao hiểu?
Đáp: Như quá khứ làm bốn trường hợp, hiện tại lẽ ra cũng làm bốn trường hợp, đời vị lai cũng nên tạo ra ba trường hợp:
1.         Có khi là nhân chẳng bị sử sai khiến.
2.         Hoặc là nhân bị sử sai khiến.
3.         Hoặc chẳng phải nhân, chẳng bị sử sai khiến.
Là nhân chẳng bị sử sai khiến: Các sử tương ưng với tâm ấy đã dứt.
Là nhân bị sử sai khiến là: Các sử tương ưng với tâm ấy không dứt.
Không phải nhân, không bị sử sai khiến: Như duyên khác bị sử sai dứt. khiến.

* Trang 256 *
device

Hỏi: Nhất thiết biến sử của giới khác, nên nói như thế, mà không nói là có ý gì?
Đáp: Vì muốn có nghĩa trước sau cho đời hiện tại, vị lai. Hỏi: Như Kinh Thi Thiết nói: Tất cả pháp hữu vi có bốn việc quyết định, nghĩa nầy làm sao hiểu được?
Đáp: Nhân là nói bốn nhân: Nhân tương ưng, nhân cộng sinh, nhân báo và nhân sở tác. Quả là nói ba quả: Quả công dụng, quả báo và quả oai thế. Chỗ dựa là nói sáu thứ, đó là nhãn thức, pháp tương ưng nương vào mắt, cho đến ý thức, pháp tương ưng của ý thức nương vào ý. Duyên là nhãn thức, pháp tương ưng của nhãn thức duyên theo sắc, cho đến ý thức, pháp tương ưng của ý thức duyên với pháp. Tại sao không nhân mà có nhân, không quả mà có quả?
Đáp: Như nghĩa ngã cũng không có nhân mà có nhân, không quả mà có quả. Nói nhân, là vì thời gian nên nói, chứ chẳng phải nói không pháp mà có.
Lại có thuyết nói: Trong đời vị lai có nhân tương tự.Hỏi: Nếu vậy thì các chỗ đã vấn nạn, khéo hiểu văn kinh vì sao không nói?
Đáp: Lẽ ra nói mà không nói, phải biết nghĩa nầy là lời chưa trọn
vẹn.
Lại có thuyết nói: Đây là nói Nhân tương tự bất tận, trong đó chỉ
nói nhân có công năng có thể cho quả, nhận lấy quả, nghĩa là nhân tương tự của đời vị lai, không thể cho quả, nhận lấy quả.
Nếu có, tại sao không có hai tâm xoay vần làm nhân cho nhau?
Đáp: Trong đời vị lai có bốn hành tướng tùy tùng để giải thích việc nầy. Như hành vô thường có bốn hành tướng tùy tùng. Khổ, không, vô ngã cũng có bốn hành tướng tùy tùng. Như hành vô thường, sự sinh trước làm nhân, ba hành sinh sau không thể làm nhân cho hành vô thường. Ba hành còn lại là khổ, không, vô ngã cũng giống như thế.
Nếu nói rằng, nương vào đệ Tứ thiền, được A-la-hán. Cùng tùy tùng với đệ Tứ thiền kia, có chín địa vô lậu tu ở đời vị lai. Nếu xuất thiền đó, muốn khởi vô lậu vào lúc Sơ thiền hiện ở trước, thì không có nhân. Vì sao? Vì không tùy tùng nhau.
Nếu vậy thì đạo vô lậu của quá khứ, hiện tại sẽ có người làm nhân tương tự và có người không thể làm, lại trái với văn kinh nầy: Pháp thiện của đời trước với pháp thiện của đời sau, cho đến nói rộng. Vì muốn cho không có lỗi như thế, nên nói ở đời vị lai không có nhân tương tự.

* Trang 257 *
device

Hỏi: Sắc pháp có nhân tương tự không?
Đáp: Phái Thí Dụ giả nói rằng: Sắc pháp không có nhân tương tự, vì duyên lực, nên sinh. Việc ấy thế nào? Như đào đất sâu khoảng trăm khuỷu tay thì thấy bùn, dù mưa hay trời nắng, gió thổi mà vẫn mọc cỏ. Như lớp đất bùn nầy không hề sinh ra thực vật, như trên nóc nhà mọc lên cây cỏ. Nơi nầy cũng không hề sinh ra thực vật, vậy thế nào làm nhân tương tự cho chúng?
Hỏi: Nếu vậy thì văn kia làm sao hiểu? Như nói: Duyên oai thế của bốn đại quá khứ làm nhân cho bốn đại vị lai? Người kia đáp: Tôi không có kinh như thế. Vì muốn bỏ văn như vậy, nên nói rằng: Vì việc ấy, nên không cần hiểu, nếu muốn hiểu, thì phải hiểu thế nào?
Đáp: Duyên oai thế kia có hai thứ: Có gần, có xa, có ở thân nầy, có ở thân khác. Các duyên ở gần thân nầy, được gọi là nhân, nếu ở xa nơi thân khác thì gọi là duyên.
Người A-tỳ-đàm nói rằng: Sắc pháp có nhân tương tự.
Hỏi: Nếu có nhân tương tự, thì với thuyết của phái Thí dụ giả đã nói, làm sao hiểu?
Đáp: Do có hạt giống tồn tại ở trong pháp kia, nhưng vì chưa được nhân duyên của sự sinh, cho nên bất sinh, nếu được thì sẽ sinh ngay. Cỏ cây mọc trên nóc nhà: nếu chim ngậm hạt giống bay đến, nếu có gió thổi đến thì sau đó mới mọc. Vì việc nầy, nên sắc pháp có nhân tương tự.
Lại có thuyết nói: Sắc pháp có nhân tương tự, cũng làm nhân cho pháp tương tự, cũng làm nhân cho pháp không tương tự. Làm nhân cho pháp tương tự: Làm nhân tương tự cho thân nầy, không làm nhân tương tự cho thân khác. Làm nhân tương tự cho thân nầy: Như lúc Ca-la-la của thân nầy làm nhân tương tự cho Ca-la-la. Làm nhân tương tự, làm nhân không tương tự: Như Ca-la-la làm nhân cho lão, như lúc A-phù-đà của thân nầy làn nhân cho A-phù-đà, cho đến lúc già cũng làm nhân, làm duyên cho Ca-la-la. Cũng thế, thân nầy lúc già làm nhân cho thời kỳ già, làm duyên chẳng phải nhân cho thời kỳ khác.
Nếu nói rằng: Ca-la-la đầu tiên thì không có nhân, sắc sau cùng thì không có quả.
Lại có thuyết nói: Sắc pháp có nhân tương tự làm nhân cho pháp tương tự, không làm nhân cho pháp không tương tự, vừa làm nhân cho pháp tương tự của thân nầy, vừa làm nhân cho pháp tương tự của thân khác. Pháp tương tự của thân khác làm nhân cho pháp tương tự của thân nầy, pháp tương tự của thân nầy cũng làm nhân cho pháp tương tự của

* Trang 258 *
device

thân khác. Vào lúc khác, làm duyên, chẳng phải làm nhân. Thân khác lúc già như thế làm nhân cho thân nầy khi già. Thân nầy vào lúc già, lại làm nhân cho thân khác lúc già, làm duyên chẳng phải nhân vào lúc khác.
Lại có thể: Sắc pháp có nhân tương tự, làm nhân cho pháp tương tự, cũng làm nhân cho pháp không tương tự. Làm nhân cho thân nầy, cũng làm nhân cho thân khác. Như Ca-la-la của thân khác làm nhân cho, cho đến làm nhân cho lúc gìa. Ca-la-la của thân nầy làm nhân cho Ca-la-la của thân khác, Ca-la-la của thân nầy cho đến làm nhân cho thân khác lúc già. A-phù-đà của thân khác làm nhân cho A-phù-đà của thân nầy, cho đến làm nhân của lúc già. A-phù-đà của thân nầy làm nhân cho A-phù-đà của thân khác cho đến làm nhân của lúc già, làm duyên chẳng phải nhân vào lúc Ca-la-la. Thân khác lúc già làm nhân cho thân nầy lúc già. Thân nầy lúc già làm nhân cho thân khác khi già. Ở vào lúc khác, làm duyên, chẳng phải làm nhân.
Bình luận: Nên nói rằng: Với mười thời gian của thân khác làm nhân cho mười thời gian của thân nầy, mười thời gian của thân nầy làm nhân cho mười thời gian của thân khác. Pháp bên ngoài, phải biết, tùy theo sự thích ưng, cũng nói như thế: Năm ấm thiện xoay vần làm nhân, nhiễm ô cũng giống như the lần lượt làm nhân. Năm ấm vô ký không ẩn chìm.
Hoặc có thuyết nói: Lần lượt làm nhân.
Lại có thuyết nói: Bốn ấm vô ký không ẩn chìm làm nhân cho sắc ấm vô ký không ẩn chìm, sắc ấm không thể làm nhân cho bốn ấm vô ký không ẩn mất. Vì sao? Vì tánh yếu kém.
Lại có thuyết nói: Sắc ấm vô ký không ẩn chìm làm nhân cho bốn ấm vô ký không ẩn chìm, bốn ấm vô ký không ẩn chìm không làm nhân cho sắc ấm vô ký không ẩn chìm. Vì sao? Vì bốn ấm là pháp vượt hơn, còn sắc ấm là pháp thấp kém, pháp vượt hơn không làm nhân cho pháp thấp kém.
Lại có thuyết nói: Bốn ấm vô ký không ẩn chìm không làm nhân cho sắc ấm, sắc ấm vô ký không ẩn chìm không làm nhân cho bốn ấm, bốn ấm vô ký không ẩn chìm xoay vần làm nhân, bốn ấm không ẩn chìm có ba thứ: oai nghi, công xảo, báo. Ba thứ đó có xoay vần làm nhân hay không?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Lần lượt làm nhân.
Lại có thuyết nói: Báo làm nhân cho báo, cũng làm nhân cho oai nghi, công xảo, Oai nghi làm nhân cho oai nghi, cũng làm nhân cho

* Trang 259 *
device

công xảo, không làm nhân cho báo. Pháp vượt hơn không làm nhân cho pháp thấp kém, nên công xảo làm nhân cho công xảo, chẳng phải báo, chẳng phải oai nghi, vì pháp vượt hơn không làm nhân cho pháp thấp kém.
Lại có thuyết nói: Ba pháp nầy xoay vần làm nhân. Vì sao? Vì đồng ở một giới, vì đồng một ràng buộc.
Bình luận: Không nên nói như thế, thuyết trước đã nói là hơn. Pháp nhiễm ô có chín thứ: Hạ hạ, hạ trung, hạ thượng. Trung hạ,
trung trung, trung thượng. Thượng hạ, thượng trung, thượng thượng.
Hỏi: Pháp nhiễm ô kia có xoay vần làm nhân hay không? Đáp: Lần lượt làm nhân.
Hỏi: Nếu vậy thì vì sao có chín thứ?
Đáp: Vì đối trị có chín thứ, pháp nầy cũng có chín thứ.
Việc ấy thế nào? Như hạ hạ tu đạo đối trị phiền não thượng thượng, cho đến thượng thượng tu đạo đối trị phiền não hạ hạ. Vì đối trị có chín thứ, nên pháp nầy cũng có chín thứ.
Lại có thuyết nói: Vì hành hiện tiền có chín thứ, nên pháp thiện cũng có chín thứ, từ hạ hạ cho đến thượng thượng.
Hỏi: Pháp nầy có lần lượt làm nhân hay không?
Đáp: Pháp thiện có hai thứ: là hiện sinh đắc, và thiện phương tiện.
Chín thứ tướng của thiện sinh đắc kia lần lượt làm nhân.
Hỏi: Nếu vậy vì sao lại có chín thứ?
Đáp: Vì báo có chín thứ, nên pháp nầy có chín thứ, như thiện tối thắng, có thể sinh báo tối thắng, cho đến thiện hạ hạ sinh báo hạ hạ.
Lại có thuyết nói: Do pháp nầy hiện tiền, vì hành có chín thứ, nên phương tiện thiện cũng có chín thứ, hạ hạ cho đến thượng thượng.
Hỏi: Pháp nầy có xoay vần làm nhân hay không?
Đáp: Không, hạ hạ làm nhân cho hạ hạ, cho đến thượng thượng làm nhân cho thượng thượng, thiện sinh đắc làm nhân cho thiện phương tiện. Vì thiện phương tiện là hơn, nên thiện phương tiện không làm nhân cho thiện sinh đắc, vì thiện sinh đắc kém, nên thiện phương tiện có ba thứ: Văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ.
Hỏi: Ba thứ nầy có xoay vần làm nhân hay không?
Đáp: Không. Văn tuệ làm nhân cho văn tuệ, cũng làm nhân cho tư tuệ, tu tuệ. Tư tuệ làm nhân cho tư tuệ, không làm nhân cho tu tuệ, vì không đồng giới nên không làm nhân cho văn tuệ, vì văn tuệ thấp. Tu tuệ làm nhân cho tu tuệ, không làm nhân cho văn tuệ, tư tuệ, vì giới khác, vì thấp kém.

* Trang 260 *
device

Tu tuệ có bốn thứ: Có Noãn, Đảnh, Nhẫn, pháp Thế đệ nhất. Pháp Noãn làm nhân cho pháp Noãn, cho đến làm nhân cho pháp Thế đệ nhất. Pháp Đảnh làm nhân cho pháp Đảnh, cho đến làm nhân cho pháp Thế đệ nhất. Pháp Nhẫn làm nhân cho pháp Nhẫn cũng làm nhân cho pháp Thế đệ nhất.
Tâm biến hóa cõi Dục có bốn thứ: Quả Sơ thiền cho đến quả đệ Tứ thiền.
Hỏi: Bốn thứ tâm nầy có xoay vần làm nhân hay không?
Đáp: Quả Sơ thiền làm nhân cho quả Sơ thiền, cho đến quả đệ Tứ thiền làm nhân cho quả đệ Tứ thiền. Vì sao? Vì nếu như thiền không xoay vần làm nhân thì quả ấy cũng giống như thế.
Lại có thuyết nói: Quả Sơ thiền làm nhân cho quả Sơ thiền, cho đến làm nhân cho quả của đệ Tứ thiền, quả Nhị thiền làm nhân cho quả Nhị thiền, cho đến làm nhân cho quả đệ Tứ thiền, quả Tam thiền làm nhân cho quả Tam thiền, cũng làm nhân cho quả đệ Tứ thiền, quả đệ Tứ thiền làm nhân cho quả đệ Tứ thiền.
Lại có thuyết nói: Đều xoay vần làm nhân. Vì sao? Vì đều rơi vào một giới, vì đồng một ràng buộc.
Lời Bình: Như thuyết thứ hai là tốt.
Hỏi: Như địa Sơ thiền có thân thức, có tâm biến hóa, vậy có xoay vần làm nhân hay không?
Đáp: Thân thức làm nhân cho tâm biến hóa, chứ chẳng phải tâm biến hóa làm nhân cho thân thức. Vì sao? Vì pháp vượt hơn không làm nhân cho pháp thấp kém.
Hỏi: Nếu nhân tương tự có thể nhận lấy quả, thì cũng có thể cho quả phải không?
Đáp: Nếu có thể cho quả thì cũng có thể nhận lấy quả.
Hỏi: Có trường hợp nào có thể nhận lấy quả mà không thể cho quả hay không?
Đáp: Có, ấm sau cùng của A-la-hán.
Cũng thế là nói chung, nay sẽ phân biệt nói về thiện, bất thiện, vô ký.
Hỏi: Nếu nhân tương tự thiện, có thể nhận lấy quả, cũng có thể cho quả hay không? Nếu người có thể cho quả, lại có thể nhận lấy quả hay không? Cho đến nói rộng tạo ra bốn trường hợp:
1.         Nhận lấy quả không cho quả: Là lúc dứt mất căn thiện, được xả căn thiện sau cùng.
2.         Cho quả, không nhận lấy quả: Là căn thiện được hiện ở đầu

* Trang 261 *
device

tiên.
     3.    Nhận lấy quả, cho quả: Như không dứt căn thiện ở vào lúc  khác.
4.         Không nhận lấy quả, không cho quả: Trừ ngần ấy việc trên.      Nếu nhân tương tự bất thiện có thể nhận lấy quả, cũng có thể cho  quả hay không? Cho đến nói rộng thành bốn trường hợp:
     1.    Có thể nhận lấy quả, không thể cho quả: Như lìa dục cõi Dục,  được xả bất thiện sau cùng.
     2.    Có thể cho quả, không nhận lấy quả: Lìa dục cõi Dục, thối lui  bất thiện, được sinh đầu tiên.
     3.    Có thể nhận lấy quả, có thể cho quả: Như người không lìa dục  vào lúc khác.
4.         Không nhận lấy quả, không cho quả: Trừ ngần ấy việc trên.      Nếu là nhân tương tự của pháp vô ký ẩn một, thì có thể nhận lấy  quả, cũng có thể cho quả hay không, có thể cho quả, cũng có thể nhận  lấy quả hay không? Cho đến nói rộng thành bốn trường hợp.
     1.    Có thể nhận lấy quả, không thể cho quả: Như lìa dục của Phi  tưởng Phi phi tưởng xứ, được xả vô ký ẩn một sau cùng.
     2.    Cho quả không nhận lấy quả: Lúc thối lui quả A-la-hán, vô ký  ẩn một được sinh đầu tiên.
     3.    Nhận lấy quả, cho quả: Không lìa dục của Phi tưởng Phi phi  tưởng xứ vào lúc khác.
4.         Không nhận lấy quả, không cho quả: Trừ ngần ấy việc trên.      Hỏi: Nếu là nhân tương tự vô ký không ẩn một, thì người nhận  lấy quả cũng có thể cho quả hay không?
     Đáp: Nếu có thể cho quả, thì người kia cũng có thể nhận lấy quả,  nếu không nhận lấy quả thì làm sao cho?
Hỏi: Có khi nào nhận lấy quả mà không cho quả hay không?  
Đáp: Có, tâm sau cùng của A-la-hán.
     Đã nói tướng thiện, bất thiện, vô ký, nay sẽ nói về tướng năng  duyên: Nếu nhân tương tự thiện có thể nhận lấy quả, cũng có thể cho  quả hay không, nếu cho quả, cũng có thể nhận lấy quả hay không?  Cho đến nói rộng thành bốn trường hợp:
     1.    Có thể nhận lấy quả, không cho quả: Theo thứ lớp của tâm  thiện, sinh tâm bất thiện, tâm vô ký hiện ở trước.
     2.    Cho quả, không nhận lấy quả: Nếu theo thứ lớp của tâm bất  thiện, tâm vô ký, hiện ở trước.
3.         Nhận lấy quả, cho quả: Như thứ lớp của tâm thiện, tâm thiện

* Trang 262 *
device

   hiện ở trước.
4.         Không nhận lấy quả, không cho quả: Trừ ngần ấy việc trên.
      Nếu nhân tương tự của tâm bất thiện có thể nhận lấy quả, cũng  có thể cho quả không? Nếu người cho quả thì cũng có thể nhận lấy  quả hay không? Cho đến nói rộng thành bốn trường hợp:
     1.    Nhận lấy quả, không cho quả: Như thứ lớp của tâm bất thiện,  nếu tâm thiện, tâm vô ký hiện ở trước.
     2.    Cho quả, không nhận lấy quả: Như thứ lớp của tâm thiện, tâm  vô ký, tâm bất thiện hiện ở trước.
     3.    Nhận lấy quả, cho quả: Như thứ lớp của tâm bất thiện, tâm bất  thiện hiện ở trước.
     4.    Không nhận lấy quả, không cho quả: Trừ ngần ấy việc trên.
      Nếu nhân tương tự của tâm vô ký ẩn một có thể nhận lấy quả thì  cũng có thể cho quả không. Nếu có thể cho quả, cũng có thể nhận lấy  quả hay không? Cho đến nói rộng thành bốn luận chứng:
     1.    Có thể nhận lấy quả không cho quả: Theo thứ lớp của tâm vô ký  ẩn một, tâm thiện, bất thiện, vô ký không ẩn một hiện ở trước.
     2.    Cho quả, không nhận lấy quả: Theo thứ lớp của tâm thiện, bất  thiện, vô ký không ẩn một, tâm vô ký ẩn một hiện ở trước.
     3.    Nhận lấy quả, cho quả: Theo thứ lớp của tâm vô ký ẩn một, tâm  vô ký ẩn một hiện ở trước.
     4.    Không nhận lấy quả, không cho quả: Trừ ngần ấy việc trên.
     Nếu nhân tương tự của tâm vô ký không ẩn một có thể nhận lấy  quả thì cũng có thể cho quả hay không? Nếu có thể cho quả thì cũng  có thể nhận lấy quả hay không? Cho đến nói rộng thành bốn luận  chứng:
     1.    Nhận lấy quả, không cho quả: Theo thứ lớp của tâm vô ký  không ẩn một, tâm thiện, bất thiện, tâm vô ký ẩn một hiện ở trước.
     2.    Cho quả, không nhận lấy quả: Theo thứ lớp của tâm thiện, bất  thiện, vô ký ẩn một, tâm vô ký không ẩn một hiện ở trước.
     3.    Nhận lấy quả, cho quả: Theo thứ lớp của tâm vô ký không ẩn  một, tâm vô ký không ẩn một hiện ở trước.
4.         Không nhận lấy quả, không cho quả: Trừ ngần ấy việc trên.
      Đã nói nhân tương tự có tướng duyên, tướng nối tiếp nhau của  nhân tương tự, nay sẽ nói: Nếu nhân tương tự nhận lấy quả, cũng có  thể cho quả hay không? nếu có thể cho quả, cũng có thể nhận lấy quả  hay không? Cho đến nói rộng thành bốn trường hợp:
     1.    Tâm thiện, nối tiếp nhau sinh hai mươi tâm thiện, nhận lấy quả,  không cho quả: trừ tâm thứ hai, ngoài ra còn mười tám tâm khác.

* Trang 263 *
device

     2.    Cho quả, không nhận lấy quả, là sơ tâm diệt ở quá khứ, mười  tám tâm nếu sinh hiện ở trước.
     3.    Nhận lấy quả, cho quả, là tâm thứ hai.
     4.    Không nhận lấy quả, không cho quả, là trừ ngần ấy việc trên.  Bất thiện vô ký ẩn một, vô ký không ẩn một cũng giống như thế.
     Vả lại, trong khoảng một sát-na, nếu được nhân tương tự, thì  cũng được nhân của nhân tương tự hay không? Nếu được nhân của  nhân tương tự, thì cũng được nhân tương tự hay không? Cho đến nói  rộng thành bốn trường hợp.
     1.    Được nhân tương tự, không được nhân của nhân tương tự: Từ  quả Sa-môn trên thối lui, trụ đạo thắng tiến của quả Tu-đà-hoàn, vốn  được sơ quả Tu-đà-hoàn hiện ở trước, thời gian nầy không thành tựu  thấy đạo.
     2.    Được nhân của nhân tương tự, không được nhân tương tự: Như  vốn trụ đạo thắng tiến của quả Tu-đà-hoàn, có thể cho quả Sa-môn ở  đời sau.
     3.    Làm nhân tương tự, được nhân tương tự, cũng được nhân của  nhân tương tự: Trừ sơ tâm của Tu-đà-hoàn, các quả Tu-đà-hoàn khác  đã từng khởi hiện ở trước.
      4.   Không được nhân tương tự, cũng không được nhân của nhân  tương tự: Trừ ngần ấy việc trên.
     Vả lại, trong khoảng sát-na, biết nhân tương tự, không biết sở  duyên của nhân tương tự hay chăng? Biết sở duyên của nhân tương tự,  mà không biết nhân tương tự hay không? Cho đến nói rộng thành bốn  trường hợp.
     1.    Biết nhân tương tự, không biết sở duyên của nhân tương tự: Đạo  pháp trí trong thấy đạo duyên với phần trí khổ, tập, diệt ở đời trước.
     2.    Biết sở duyên của nhân tương tự, không biết nhân tương tự:  Duyên theo pháp trí phần chưa sinh.
     3.    Biết nhân tương tự, cũng biết sở duyên của nhân tương tự: Là  đạo pháp nhẫn.
     4.    Không biết nhân tương tự, không biết sở duyên: Trừ ngần ấy  việc trên..
Hỏi: Nhân tương tự có thêm bớt hay không?
     Đáp: Có, việc ấy thế nào? Hoặc có phiền não của thân trước tạo  ra nhân tương tự tăng thượng, chẳng phải thân hiện nay.
     Nghe nói lúc Tôn giả A-nan vào thành Xá vệ khất thực, nàng  Ma- đăng- già vừa thấy Tôn giả vội vã đi theo. Vì sao? Vì nàng đã  từng làm

* Trang 264 *
device

vợ của Tôn giả A-nan trong năm trăm đời, nên nay vừa thấy Tôn giả,  thì dục vọng của nàng dấy lên dữ dội, không dứt được.
     Trưởng lão Di-kỳ-ca đang ngồi trong rừng Am-la, lúc ấy, ý giác  của ba ác tăng thượng. Vì sao? Vì từng nghe nói vị Trưởng lão ấy,  trước kia vốn đã từng làm vua khu rừng nầy. Nếu năm lạc thú xưa ở  nơi chốn tự ưa thích, thì dục giác tăng thượng, tâm sinh ra nhàm chán,  sau lại đến nơi khác, giác giận dữ tăng thượng. Vì sao? Vì xưa kia, lúc  còn làm vua, thường ở chỗ nầy đã chặt đầu, tai, tay chân của dân  chúng, nên giác giận dữ tăng thượng, tâm sinh nhàm chán. Lại đến  chỗ khác, giác giết hại tăng thượng. Vì sao? Vì chính ở nơi nầy, nhà  vua đã từng trói buộc, dùng roi đánh đập dân chúng, đoạt hết tài vật  của họ, nên giác hãm hại tăng thượng.
     Các phiền não của thân trong quá khứ như thế v.v… đã tạo ra  nhân tương tự tăng thượng, chẳng phải thân nầy. Hoăc có tâm dục làm  nhân tương tự tăng thượng cho tâm giận dữ, làm cho tâm giận dữ tăng  thượng, hoặc có tâm giận dữ làm nhân tương tự cho tâm dục, làm cho  tâm dục tăng thượng. Như nói về bất thiện, còn nói thiện, vô ký cũng  giống như thế.
     Vì việc nầy, nên biết nhân của nhân tương tự có thêm bớt, là  nhân tương tự quyết định ở quá khứ, còn quả của đời hiện tại là quả  của y báo.
?????

* Trang 265 *
device

Đại Tập 95 - Bộ Tỳ Đàm VII - Số 1546 (Quyển 1-40)