LOGO VNBET
LUẬN A TỲ ĐÀM TỲ BÀ SA QUYỂN 14
 
Chương 1: KIỀN-ĐỘ TẠP
 
Phẩm 3: NHÂN, Phần 2
 
Có khi nào hành duyên vô minh, không duyên minh hay chăng? Cho đến nói rộng.
Hỏi: Vì sao nhân vô minh và minh mà soạn luận nầy?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì ý người soạn kinh muốn thế, cho  đến nói rộng.
Lại có thuyết nói: Vô minh trái với minh, minh sai trái với vô  minh, vô minh làm đối trị cho minh, minh làm đối trị cho vô minh.
Lại có thuyết nói: Vì đều là không có đầu, nên đều là chín loại,  đều là căn bản. Vô minh là căn bản của khởi tác pháp, minh là căn  bản của phần vắng lặng. Có phải hành duyên vô minh, cho đến nói rộng?
Chỗ nào cũng nói rộng tên các hành, như nói: Vô minh duyên  hành. Người A-tỳ-đàm nói như thế: Trong đây nói năm ấm của thời là  hành
Tôn giả Cù-sa nói rằng: Trong đây nói nghiệp là hành, như nói:  Có hành vi hại người. Trong đây nói nghiệp bất thiện là hành, như nói:  Không có hành vi hại người. Trong đây nói nghiệp thiện là hành, như  nói: Tạo ra hành hữu vi, như nói: Một phen tạo ra hành hữu vi. Trong  đây nói: Sự lo nghĩ là hành, như nói: Năm ấm, sắc, pháp tâm, tâm sở,  tâm bất tương ưng hành, vô vi. Trong đây nói: Tâm bất tương ưng hành  ấm là hành, như nói: Có sắc, thọ, tưởng, hành, thức nầy. Trong đây  nói: Tâm tương ưng, bất tương ưng, năm ấm là hành, như nói: Ba hành  nghĩa là thân, miệng, ý. Thân hành là hơi thở ra vào, khẩu hành là  giác quan, ý hành là tưởng, tư. Trong đây nói tưởng ấm và phần ít của  hai ấm là hành, như nói: Ba hành có phần phước, chẳng phải phần  phước, phần

* Trang 355 *
device

bất động.
Trong đây nói nghiệp thiện, bất thiện là hành, như nói: Hành có  năm lỗi. Trong đây nói: Pháp bất thiện là hành, cũng nói là khổ xúc.
Lại có thuyết nói: Trong đây nói: Năm thủ ấm là hành, như nói:  Người thông minh không dùng hành xả hành, như nói các hành vô  thường. Trong đây nói năm thủ ấm là hành, như nói: Vắng lặng là vui.  Trong đây nói vắng lặng là vui. Trong đây nói: Sự vắng lặng là hành  vô lậu của số pháp chẳng phải thường diệt, như nói: Các hành vô  thường, các pháp vô ngã, Niết-bàn vắng lặng. Trong đây nói: Tất cả  pháp hữu vi là hành. Kinh nầy cũng nói: Tất cả các pháp hữu vi là  hành. Nếu nói hành tương tự, thì gồm có mười một thứ: Cõi Dục có  bốn thiện, bất thiện, ẩn một, không ẩn một, cõi Sắc có ba thiện, ẩn  một, không ẩn một, cõi Vô sắc cũng thế và hành vô lậu. Vô minh và  minh chẳng phải nhân của hành thiện cõi Dục vì làm ba duyên: duyên  thứ lớp, duyên cảnh giới, duyên oai thế. Vô minh làm bốn nhân cho  hành vi bất thiện, đó là nhân tương ưng, nhân cộng sinh, nhân tương tự  và nhân biến. Vì làm bốn duyên, minh chẳng phải nhân vô minh, vì  làm hai duyên: duyên cảnh giới và duyên oai thế. Vô ký ẩn một cõi  Dục cũng giống như vậy. Vô minh chẳng phải nhân vô ký ẩn một trừ  báo vô minh, vì làm ba duyên: duyên thứ lớp, cảnh giới và oai thế.  Minh chẳng phải nhân của vô minh, mà là làm một duyên: duyên oai  thế. Vô minh làm một nhân cho của vô minh, đó là nhân báo, làm bốn  duyên đó là: nhân duyên, thứ lớp duyên, duyên cảnh giới, duyên oai  thế. Minh chẳng phải nhân của vô minh mà làm một duyên là duyên  oai thế. Vô minh chẳng phải nhân của hành động thiện cõi Sắc cho  minh, vì làm ba duyên, trừ nhân duyên. Vô minh làm bốn nhân cho  hành vô ký ẩn một của cõi Sắc, đó là: nhân tương ưng, nhân cộng sinh,  nhân tương tự và nhân biến. Vì làm bốn duyên: minh chẳng phải nhân  của vô minh, vì làm hai duyên: duyên cảnh giới, duyên oai thế. Minh  chẳng phải nhân của hành không ẩn một cõi Sắc cho vô minh. Vô  minh là làm ba duyên, trừ nhân duyên. Minh vì làm một duyên, đó là  duyên oai thế, cõi Vô sắc cũng giống như vậy. Vô minh và hành vô  lậu, trừ minh ban đầu, các hành vô lậu khác chẳng phải nhân, vì làm  hai duyên: duyên cảnh giới và duyên oai thế. Minh và tương tự vô  minh: làm ba nhân: nhân tương ưng, nhân cộng sinh, nhân tương tự, vì  làm bốn duyên minh ban đầu chẳng phải nhân cho vô minh, mà làm  hai duyên: duyên cảnh giới và duyên oai thế. Vô minh chẳng phải  nhân cho minh ban đầu, mà làm một duyên và duyên oai thế. Các  thuyết như trên đây là tóm tắt Tỳ-bà-sa.

* Trang 356 *
device

Hỏi: Có phải hành duyên vô minh, không duyên minh chăng?
 Đáp: Không. Vì sao? Vì không có hành nào có duyên với vô  minh mà không có duyên với minh.
Hỏi: Có hành nào có duyên với minh, không có duyên với vô  minh hay không?
 Đáp: Ở đây cũng không. Vì sao? Vì không có hành nào có duyên  với minh mà không có duyên với vô minh
Hỏi: Có hành nào có duyên với vô minh và minh hay không?
 Đáp: Có. Vì sao? Vì chúng sinh từ lâu nay không có chúng sinh  nào không chê bai đạo, cho là chẳng phải đạo. Chúng sinh đó về sau  nầy được lợi hành, ở địa khác cũng khiến tăng trưởng, cho đến nói  rộng. Lợi hành của Địa là: Được ruộng, đất, vườn, rừng, hoa quả.  Vương hành là: Được làm vua ở vùng biên địa, như vua Ma-thố-la,  v.v... Đại vương hành là: Được làm vua ở một phương, như vua Cù-sa,  vua Vô-luân-đồ, Tần thiên tử v.v... vua Chuyển luân hành là: Được  làm vua bốn châu thiên hạ.
Lại có thuyết nói: Vương hành là: Được làm vua một phương,  như vua Cù-sa, vô-luân-đồ, Tần thiên tử ,v.v... Đại vương hành là:  Được làm thái tử của vua Chuyển luân, đã lên ngôi vua, bảy báu chưa  đến. vua Chuyển luân hành là: Đã lên ngôi vị vua, bảy báu tự đến.
Lại có thuyết nói: Địa lợi hành là: Chỗ tất cả địa, cao sang ở  trong đó. Vương hành là: Được làm tiểu vương, quyến thuộc của vua  chuyển luân. Đại vương hành là: Ở ngôi vị Thái tử của vua chuyển  luân. vua Chuyển luân hành là: Được làm vua bốn châu thiên hạ, bảy  báu tự đến.
Do nhân duyên nầy, xoay vần sinh, làm cho các chúng sinh và  hạt giống, cỏ thuốc, cây cối đều được sinh trưởng. Cũng do thu thuế  đúng pháp, do nghiệp lực nầy nên đã làm cho hạt giống ngoài đều  được tăng trưởng.
Các nghĩa trên đây, nay sẽ nói rộng: Như các ngoại đạo thấy tuổi  thọ của mình có tăng, có giảm, tâm sinh ra chán lìa. Lại vì khổ oán  ghét mà gặp mặt, khổ yêu mà phải chia ly cách biệt, người tại gia bị  ép ngặt do các khốn khổ, bèn đi xuất gia. Đã xuất gia rồi thiểu dục tri  túc siêng năng, tinh tiến tu khổ hạnh, giữ giới hiểm nạn, các thứ khổ  hạnh để mong cầu giải thoát.
Ngoại đạo đó vì dựa vào tà đạo, nên ngày càng xa lìa Thánh  đạo. Vì xa lìa, nên không thể được đạo, vì không được đạo nên sinh  chê bai nói là không có đạo. Dù có giải thoát, nhưng không có đạo ấy,  nếu có

* Trang 357 *
device

đạo thì các thứ khổ hạnh của chúng ta lẽ ra được đạo nầy. Vì không  được nên phải biết không có đạo. Đối với pháp tu hành mà thối lui, rồi  nghĩ rằng: Người tu phước nhiều ở trong sinh tử, cũng vẫn có nạn,  huống chi là người không tu đạo. Nay ta sẽ tu phước bố thí, tức liền  thiết lập cúng tế lớn, bố thí các thứ uống ăn đầy đủ cho nhiều người.  Phát nguyện như thế, khiến cho ta được làm vua, cho đến vua Chuyển  luân. Như đệ tử Phật thấy tuổi thọ có tăng, có giảm, tâm sinh chán lìa.  Lại bị khổ oán ghét mà phải gặp, khổ vì thương yêu mà phải chia ly.  Tại gia bị khổ ép ngặt, bèn đi xuất gia, xuất gia rồi, đầu hôm, gần  sáng siêng tu phương tiện: một thất, bảy thất, cho đến mặt trời lặn, ở  trong khoảng đó ngồi kiết già, tu đỉnh an thiền, trấn hành thiền, dùng  pháp trượng, thường ở đỉnh núi, trong núi đá, tu hành tinh tiến. Tuy  nhiên, do hai việc, nên không đắc đạo:
1.         Căn thiện chưa thành thục.
2.         Hành phương tiện tà. Căn thiện chưa thành thục: Bắt đầu ở  thân nầy mà cầu giải thoát. Người nhanh chóng được giải thoát trong  pháp Phật:
1.         Trong thân, gieo trồng căn thiện của phần giải thoát.
2.         Trong thân đã thành thục.
3.         Trong thân được giải thoát, mà người kia chưa trồng căn thiện  của phần giải thoát mà cầu giải thoát.
Đó gọi là căn thiện chưa thành thục. Người hành phương tiện tà  là: Thọ nhận đối trị sai lầm, do việc nầy nên không thể đắc đạo. Do  không đắc đạo nên chê bai đạo, dù có giải thoát mà không có đạo kia.  Nếu sẽ có, thì nay ta phải vận dụng các thứ tinh tiến khổ hạnh, lẽ ra sẽ  được.
Do việc nầy nên thối lui. Lại nghĩ: Người làm nhiều phước ở  trong sinh tử mà vẫn còn bị tai nạn nguy hiểm, huống gì là không làm.  Nay ta sẽ làm phước nghiệp, tự làm cũng khuyên người khác làm lập  ra trường trai, Ban-xà-vu-sắt, nhân pháp hội giảng kinh v.v..., dùng  các thứ uống ăn bố thí cho nhiều người đầy đủ. Pháp nguyện như thế,  khiến ta được làm vua, đến ngôi vị Chuyển luân, đều được như  nguyện.
Nếu là tà kiến vô đạo, thì không do đâu sinh chê bai, vì có đạo,  nên tà kiến liền chê bai. Vì thế, đạo vô lậu làm duyên gần. Nếu tà  kiến không chê bai đạo, về sau không sinh tâm bố thí. Như vậy, tâm  nhiễm ô làm duyên cho tâm không nhiễm ô. Nếu không có tâm bố thí  thì hạt giống bên ngoài không tăng trưởng. Pháp nội làm duyên gần  cho pháp ngoại như thế, tâm trước nầy có đủ bốn duyên. Tâm trước,  nghĩa là tâm đi chung với tà kiến, cộng hữu tương ưng của tâm tà kiến  đó là nhân

* Trang 358 *
device

duyên của nghi, là duyên thứ lớp, đạo là duyên cảnh giới, trừ tự thể  của đạo, tất cả pháp khác là duyên oai thế. Tâm sau của người kia có  một duyên oai thế. Tâm sau, nghĩa là tâm cùng bố thí.
Hỏi: Vì sao tâm trước có bốn duyên, tâm sau có một duyên?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Văn nầy nên nói như vầy. Tâm trước  có bốn duyên, tâm sau lẽ ra cũng có bốn duyên. Đúng lý phải nói như  thế mà không nói, phải biết ở đây nói chưa trọn vẹn. Lại có thuyết nói: Trong đây hoàn toàn nói duyên gần.
Như kinh Thức Thân nói: Không bị tâm làm chướng ngại là  duyên oai thế. Các pháp vì làm cảnh giới là duyên cảnh giới. Tâm diệt  trước là duyên thứ lớp, pháp câu sinh là nhân duyên. Cũng thế, đều  nói là duyên gần, phải biết văn nầy cũng nói về duyên gần. Bốn  duyên của tâm trước là duyên gần, bốn duyên của tâm trước đối với  tâm sau là một duyên oai thế, chẳng phải nhân duyên, chẳng phải  duyên thứ đệ, chẳng phải duyên cảnh giới. Vì sao? Vì tâm trước làm  nhân duyên cho tà kiến. Tâm tương ưng của tà kiến không thực hành  bố thí, tâm nghi ngờ không thể khai mở duyên thứ đệ cho tâm thí, tâm  đạo không thực hành bố thí.
 Hỏi: Như thể của tâm sinh sau, do trong bốn duyên, tâm trước đối  với tâm sau, là duyên oai thế. Vì sao chẳng phải tự thể lại làm duyên  oai thế cho tự thể?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Văn ấy lẽ ra phải nói rằng: Bốn duyên  của tâm trước làm một duyên oai thế cho tâm sau, trừ tự thể của tâm  ấy mà không nói, phải biết ở đây nói chưa trọn vẹn, cho đến nói rộng.
Lại có thuyết nói: Trước đây, ta đã nói rằng: Trong ấy hoàn toàn  nói là duyên gần, tâm sau đối với bốn duyên của tâm trước là duyên  xa, là vì bỏ xa, lấy gần.
Lại có thuyết nói: Trước đã trừ tự thể là luận khác, nhật tụng  khác, trong kiền-độ khác nói, trừ tự thể của tâm kia, cũng sẽ tín thọ  huống gì là kiền-độ nầy của luận nầy.
 Hỏi: Tụng trong phẩm trước nói về tất cả các pháp, trừ tự thể của  tâm kia, làm duyên oai thế mà không tín, thọ?
 Đáp: Do việc nầy, nên trong đây dù không nói trừ tự thể của  tâm, nhưng cũng không có lỗi.
 Hỏi: Có khi nào hành không duyên vô minh, cũng không duyên  minh chăng?
 Đáp: Không. Không có hành không duyên vô minh, cũng không  duyên minh. Lại nữa, nếu phân biệt thành một pháp mà nói thì có. Hành duyên vô minh, không duyên minh, cho đến nói rộng.

* Trang 359 *
device

Duyên vô minh, không duyên minh: Nghĩa là hành nhiễm ô của  báo vô minh. Báo vô minh, nghĩa là vô minh làm nhân báo, minh  chẳng phải nhân của báo ấy. Vì sao? Vì minh không có nghĩa của  nhân. Vô minh làm bốn nhân cho hành nhiễm ô, nghĩa là nhân tương  ưng, nhân cộng sinh, nhân tương tự, nhân biến. Minh chẳng phải nhân  của hành đó, vì không có nghĩa của nhân.
Duyên minh, không duyên vô minh là trừ minh ban đầu, còn lại  là các hành vô lậu. Minh làm ba nhân cho hành vô lậu kia, đó là: nhân  tương ưng và nhân cộng sinh, nhân tương tự, vô minh chẳng phải nhân  của hành vô lậu kia, vì không có nghĩa của nhân. Duyên với vô minh  duyên với minh: không có điều nầy. Vì sao? Vì không có hành nào  vừa duyên với vô minh vừa duyên với minh vì cách xa, như kệ nói:
Hư không, đại địa cách xa nhau  
Biển kia, bờ nầy cũng lại xa  
Chỗ trời mọc, lặn đây cũng xa
Chánh pháp, tà pháp, xa trong xa!
Không duyên với vô minh, không duyên với minh là: Trừ báo  của vô minh, còn lại là các hành vô ký không ẩn một. Vì sao? Vì báo  của tất cả hành thiện và nghiệp thân khẩu bất thiện đều được báo của  sinh, trụ, lão, vô thường v.v... các sắc nuôi lớn, pháp quả chung nương  vào sắc, oai nghi, công sảo và hành thiện hữu lậu của minh ban đầu. Các pháp như thế không duyên với vô minh, không duyên minh. Vì sao? Vì vô minh và minh chẳng phải nhân của các pháp đó.
 Hỏi: Như khổ pháp nhẫn, đắc, vô minh và minh đều chẳng phải  nhân của pháp đó, ổ đây vì sao không nói?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Lẽ ra phải nói mà không nói, phải biết  ở đây nói chưa trọn vẹn.
Lại có thuyết nói: Do lúc phân biệt pháp cộng hữu của minh đầu  tiên, pháp kia cũng ở trong đó.
Bình luận: Không nên nói như thế, như thuyết trước nói là đúng.  
Hỏi: Vô minh nghĩa là gì?
Đáp: Không biết, không hiểu, không nhận thức là nghĩa vô minh  
Hỏi: Trừ minh, tất cả pháp khác cũng không biết không hiểu, không nhận thức, các pháp đó đều là vô minh phải chăng?
 Đáp: Nếu không biết, không hiểu, không nhận thức là tướng ngu  si, gọi là vô minh. Tất cả pháp khác tuy không biết, không hiểu, không  nhận thức, nhưng vì không có tướng ngu si nên nói chẳng phải vô minh
Hỏi: Minh nghĩa là gì?

* Trang 360 *
device

Đáp: Nghĩa biết, hiểu, nhận thức là nghĩa của minh
 Hỏi: Trí thế tục cũng biết, hiểu, nhận thức, vì sao không gọi là  minh?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Nếu biết, hiểu, nhận thức, có thể quyết  định đối với chân đế là minh. Mặc dù trí thế tục biết, hiểu, nhận thức,  nhưng không thể quyết định được đối với chân đế. Như trí viễn phần  dù lanh lợi, nhưng không thể đối với chân đế đều được quyết định.
Lại có thuyết nói: Nếu biết, hiểu, nhận thức, có thể quyết định  đối với chân đế, biết rõ rốt ráo về đệ nhất nghĩa ấy là minh. Dù trí thế  tục biết, hiểu, nhận thức, nhưng không có khả năng quyết định biết rõ  rốt ráo về chân đế đệ nhất nghĩa, nên chẳng phải minh
Lại có thuyết nói: Nếu biết, hiểu, nhận thức có thể dứt phiền não  không còn sanh là minh. Trí thế tục vì trái với ở trên, nên chẳng phải  minh. Nếu biết, hiểu nhận thức có thể phá hoại hữu là minh, trí thế tục  vì trái với ở trên chẳng phải minh.
Lại có thuyết nói: Nếu biết, hiểu, nhận thức có thể cắt đứt pháp  nối tiếp của sinh tử hữu và pháp tương tục của già chết là minh. Trí  thế tục vì trái với ở trên, nên chẳng phải minh.
Lại có thuyết nói: Nếu biết, hiểu, nhận thức rõ hết thân kiến của  khổ, tập, các thủ đạo là minh. Trí thế tục vì trái với ở trên, nên chẳng  phải minh.
Lại có thuyết nói: Nếu biết, hiểu, nhận thức, thể của điên đảo  chẳng phải thân kiến, chẳng phải chỗ của tham dục, giận dữ, ngu si,  chẳng phải chất độc hỗn tạp, nhơ bẩn, vẩn đục, không rơi vào các cõi,  không rơi vào khổ đế, tập đế là minh. Vì trí thế tục trái với trên, nên  chẳng phải minh.
Lại có thuyết nói: Nếu biết hiểu, nhận thức, biết rồi lại chẳng  phải không biết, được trí quyết định, lại không sinh ra tà kiến, ngu si,  do dự là minh. Vì trí thế tục trái với trên, nên chẳng phải minh.
Lại có thuyết nói: Trí thế tục ở trong phần minh của vô minh. Vì  sao? Vì đối với vô minh, minh đều có nghĩa của ba duyên, như bạn  thân của người, cũng thân với oán thù người khác. Người nầy đối với  người khác không gọi là bạn thân, không gọi là kẻ thù. Trí thế tục kia  cũng giống như thế.
Lại có thuyết nói: Vì không xen lẫn với vô minh, nên là nghĩa  của minh. Vì trí thế tục xen lẫn với vô minh, nên chẳng phải minh.
Lại có thuyết nói: Về phần trí thế tục, có thể sinh khởi việc chê  bai đạo pháp, trong đó nên nói về thí dụ phản thần.

* Trang 361 *
device

Lại có thuyết nói: Nghĩa năng đối trị là minh, như người bị quỷ  dựa dùng chú để chữa bệnh cho họ. Cũng thế, phàm phu bị quỷ phiền  não dựa, dùng đạo vô lậu để trị. Trí thế tục kia không thể chữa trị rốt  ráo, nên chẳng phải minh.
Trừ pháp làm nhân của tâm và pháp chẳng phải tâm, các pháp  khác được gồm nhiếp nơi hai giới: một nhập, một ấm. Việc ấy là thế  nào? Nghĩa là khổ pháp nhẫn tương ưng với tâm gồm nhiếp hai giới là  ý giới, ý thức giới. Một nhập là ý nhập, một ấm là thức ấm. Trừ pháp  làm nhân của minh và các pháp khác chẳng phải minh, nghĩa là gồm  nhiếp một giới, một nhập, một ấm. Như vậy là sao? Nghĩa là khổ pháp  nhẫn gồm nhiếp một giới là pháp giới, một nhập là pháp nhập, một  ấm là hành ấm. Nói các số pháp như thọ v.v... cũng nên như vậy.
 Hỏi: Các minh lấy minh làm nhân chăng? Nếu là nhân của minh  là minh chăng? Cho đến nói rộng thành bốn trường hợp.
1.         Là minh, chẳng phải lấy minh làm nhân: Là minh đầu tiên.
2.         Là nhân của minh, chẳng phải minh: Pháp cộng sinh tương ưng  với minh.
3.         Là minh, cũng dùng minh làm nhân: Là trừ minh đầu tiên, còn  các minh khác.
4.         Chẳng phải là minh, cũng không lấy minh làm nhân: Là trừ  ngần ấy việc nói trên:
Các minh là nhân của minh phải chăng? Nếu là nhân của minh  cũng là minh phải chăng? Cho đến nói rộng thành bốn trường hợp:
1.         Là minh, không làm nhân cho minh: Nghĩa là minh vị lai.
2.         Làm nhân cho minh, chẳng phải minh: Nghĩa là pháp cộng  sinh tương ưng với minh.
3.         Là minh, cũng làm nhân cho minh: Là minh của quá khứ, hiện tại.
4.         Không phải là minh, cũng không làm nhân cho minh: Trừ ngần ấy việc trên. Khổ pháp nhẫn đắc có mười lăm:
1.         Đều cùng có với khổ pháp nhẫn.
2.         Đều cùng có với khổ pháp trí. Cũng thế cho đến đều cùng có  với đạo tỷ nhẫn.
Đắc của khổ pháp trí có mười bốn. Cũng thế giảm dần cho đến  đắc của đạo tỷ nhẫn có một.
Hỏi: Thấy đạo còn có đắc khác hay không?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Không. Vì sao. Vì như thấy đạo diệt,

* Trang 362 *
device

đắc kia cũng diệt theo, giống như khi mặt trời lặn, sự sáng suốt cũng  lặn theo. Cũng thế, mặt trời như thấy đạo, sự sáng suốt mặt trời như  các đắc, nếu đạo kia diệt thì đắc cũng diệt theo.
Bình luận: Lại phải có đắc, nghĩa là đời vị lai. Ở đây, chỉ nói  sinh, chẳng nói bất sinh, nghĩa là khổ pháp nhẫn có một đắc là nhẫn  câu sinh, không làm nhân cho đắc. Đắc đối với nhẫn cũng không làm  nhân, đều là làm nhân cho đạo vô lậu đời sau.
Câu sinh đắc của khổ pháp trí có ba: hai là đắc của đạo, một là  đắc của giải thoát. Hai là đắc của đạo, tức: 1.        Đắc của khổ pháp nhẫn.
2.         Đắc của khổ pháp trí.
Đắc của giải thoát: Là giải thoát mười sử do thấy khổ cõi Dục  mà dứt trừ. Khổ pháp trí đối với đắc có nghĩa vô nhân, đắc đối với trí  cũng không có nghĩa nhân. Khổ pháp nhẫn và câu sinh đắc làm nhân  tương tự cho ba đắc kia. Câu sinh đắc và khổ tỷ nhẫn có bốn: ba là đắc  của đạo, một là đắc của giải thoát. Khổ tỷ nhẫn không có nghĩa nhân  với đắc. Đắc đối với khổ tỷ nhẫn cũng không có nghĩa nhân. Khổ pháp  nhẫn và câu sinh đắc làm nhân tương tự cho bốn đắc. Khổ pháp trí và  câu sinh đắc làm nhân tương tự cho ba đắc, trừ đắc của khổ pháp nhẫn.  Vì việc ấy nên nói như thế.
 Hỏi: Có phải đạo vô lậu đời trước không làm nhân cho đạo vô  lậu của đời sau hay không?
 Đáp: Có, vượt hơn không làm nhân cho thấp kém. Khổ tỷ trí câu  sinh đắc có sáu: bốn là đắc của đạo, hai là đắc của giải thoát. Khổ tỷ  trí có nghĩa không nhân với sáu đắc, Sáu đắc cũng có nghĩa không  nhân với khổ tỷ trí. Khổ pháp nhẫn câu sinh đắc làm nhân tương tự  cho sáu đắc. Khổ pháp trí và câu sinh đắc làm nhân tương tự cho năm  đắc, trừ đắc của khổ pháp nhẫn. Khổ tỷ nhẫn và câu sinh đắc làm  nhân cho ba đắc sau, không làm nhân cho ba đắc trước.
Hỏi: Vì sao không làm nhân cho ba đắc trước?
 Đáp: Vì thấp kém, nên đạo vượt hơn không làm nhân cho pháp  thấp kém
 Hỏi: Vì đạo thấp nên không được làm nhân, có thể như thế, đắc  của giải thoát vượt hơn, vì sao không làm nhân?
 Đáp: Đắc của giải thoát dù vượt hơn, nhưng vì sở đắc của đạo lực  thấp, nên không làm nhân. Cũng thế, cho đến đạo tỷ nhẫn có hai mươi  hai đắc câu sinh, có mười lăm là đắc của đạo, bảy là đắc của giải  thoát. Đạo tỷ nhẫn với hai mươi hai đắc không có nghĩa của nhân. Hai  mươi

* Trang 363 *
device

hai đắc và đạo tỷ nhẫn cũng không có nghĩa nhân. Khổ pháp nhẫn và  câu sinh đắc làm nhân tương tự cho hai mươi hai đắc, cho đến đạo  pháp trí và câu sinh đắc làm nhân tương tự cho ba đắc sau, không làm  nhân cho ba đắc trước. Nếu khổ pháp nhẫn hiện ở trước thì đạo sở tu  trong vị lai đều được làm nhân. Khổ pháp nhẫn, cho đến làm nhân cho  đạo Vô học.
Lại có thuyết nói: Khổ pháp nhẫn hiện ở trước, không làm nhân  cho đạo sở tu trong vị lai. Vì sao? Vì cho đến không có một sát-na sinh  làm sao gọi là quả?
Bình luận: Nói nhân nầy là đúng, vì đều là sở đắc của một thân,  lại vì là đạo vượt hơn.
Cũng thế cho đến đạo tỷ nhẫn hiện ở trước, đạo sở tu trong vị lai,  đạo tỷ nhẫn kia đều vì làm nhân. Từ đạo tỷ trí, cho đến đạo Vô học  đều vì làm nhân, cho đến định Kim cương dụ hiện ở trước, đều làm  nhân cho đạo sở tu trong vị lai và các đạo Vô học đều vì làm nhân.  Tận trí mới sinh, trừ tự thể của trí, làm nhân cho tất cả đạo Vô học.  Đạo của người tín hành lại làm nhân cho đạo của người tín hạnh, cũng  làm nhân cho đạo của người pháp hành. Đạo của người pháp hành chỉ  làm nhân cho đạo của người pháp hành.
Lại có thuyết nói: Đạo của người tín hành làm nhân cho cho đạo  người tín hành, không làm nhân cho đạo của người pháp hành, vì  không có người tín hành làm người pháp hành.  Lời bình: Nên nói rằng: Vì làm nhân là đúng, vì đều là một thân,  lại vì là đạo vượt hơn, nên đạo của tín giải thoát làm nhân cho đạo của  tín giải thoát, cũng làm nhân cho đạo kiến đáo. Đạo kiến đáo chỉ làm  nhân cho đạo kiến đáo. Đạo của thời giải thoát làm nhân cho đạo của  thời giải thoát, cũng làm nhân cho đạo bất thời giải thoát. Đạo bất thời  giải thoát chỉ làm nhân cho đạo bất thời giải thoát. Thấy đạo làm nhân  cho thấy đạo, cũng làm nhân cho tu đạo, đạo Vô học. Tu đạo làm nhân  cho tu đạo, cũng làm nhân cho đạo Vô học. Đạo Vô học chỉ làm nhân  cho đạo Vô học. Đạo Thanh văn trở lại làm nhân cho đạo Thanh văn.  Đạo Bích-chi Phật lại làm nhân cho đạo Bích-chi Phật. Đạo của Phật  lại làm nhân cho đạo của Phật. Ba đạo nầy đều không làm nhân lẫn  nhau. Đạo Vô lậu vừa dựa vào thân nữ, vừa dựa vào thân nam.
Hoặc có thuyết nói: Đạo dựa vào thân nữ lại làm nhân cho đạo  dựa vào thân nữ, đạo dựa vào thân nam lại làm nhân cho đạo dựa vào  thân nam, nên làm nhân lẫn nhau tùy theo căn cơ nhạy bén, chậm lụt  của chúng, nói như thế là đúng.

* Trang 364 *
device

Hoặc có thuyết nói một đạo, hoặc có thuyết nói là nhiều đạo.  Thuyết nói một đạo không nói thấy đạo, tức là tu đạo. Thấy đạo khác  tu đạo khác: Thấy đạo dựa vào đắc của thân chín xứ, ba thiên hạ, sáu  tầng trời cõi Dục.
Nói một đạo, là đạo ở Diêm-phù-đề, cho đến tức là đạo của trời  Tha hóa tự tại. Nói nhiều đạo, nghĩa là chỗ nương đạo thân, của  Diêm- phù-đề khác, cho đến chỗ nương đạo của trời Tha hóa tự tại  khác.
Nói nhiều đạo lại có hai thứ:
1.         Nói như thế nầy: Nếu do thân của Diêm-phù-đề được thấy đạo,  thì đạo nầy gọi là đắc, thành tựu trong thân, cũng hiện ở trước. Chỗ  nương đạo của thân khác, là đắc không thành tựu trong thân, không  hiện ở trước.
2.         Nói rằng: Nếu do thân của Diêm-phù-đề mà được thấy đạo, thì  đạo đó được gọi là đắc, thành tựu ở trong thân, cũng hiện ở trước. Chỗ  đắc thấy đạo của thân khác không gọi là đắc, không ở trong thân, không  thành tựu, không hiện ở trước.
Tu đạo dựa vào thân cõi Dục, vừa dựa vào thân cõi Sắc, Vô sắc.  Nói một đạo là nếu dựa vào chỗ đắc đạo của thân cõi Dục, chỗ đắc  đạo của thân cõi Sắc, Vô sắc tức là một đạo. Nói nhiều đạo là dựa vào  chỗ đắc đạo khác của thân cõi Dục, dựa vào chỗ đắc đạo khác của  thân cõi Sắc, Vô sắc. Nói nhiều đạo lại có hai thứ:
1.         Thuyết nói: Dựa vào thân cõi Dục đắc đạo, đạo nầy được gọi là  đắc thành tựu ở trong thân hiện ở trước. Dựa vào thân khác đắc đạo, gọi  là đắc không thành tựu ở trong thân không hiện ở trước
2.         Thuyết nói: Nương vào thân cõi Dục đắc đạo, gọi là đắc, thành  tựu ở trong thân hiện ở trước, nương vào trong thân khác, thành tựu  hiện ở trước. Dựa vào thân khác đắc đạo, không đắc không ở trong  thân, không thành tựu, không hiện ở trước.
Bình luận: Không nên nói như thế, vì nếu vậy thì dựa vào thân  cõi Dục, đắc quả rồi, sinh trong cõi Sắc, Vô sắc, sinh cõi ấy rồi, khởi  Thánh đạo hiện ở trước, có thể nói là đắc quả lần nữa chăng? Như  thuyết trước nói là đúng.
Thánh đạo vừa dựa vào thân nữ, vừa dựa vào thân nam. Nói một  đạo: là nương vào đạo thân nữ, nương vào đạo thân nam, tức là một  đạo. Nói nhiều đạo: là nương vào đạo thân nữ khác, nương vào đạo  thân nam khác. Nói nhiều đạo lại có hai thứ:

* Trang 365 *
device

1.         Nói: Nếu đạo dựa vào thân nữ mà đắc, thì đạo nầy gọi là đắc  thành tựu ở trong thân hiện ở trước. Đạo ở trong thân nam, đạo nầy gọi  là không đắc thành tựu ở trong thân không hiện ở trước.
2.         Nói: Nếu đạo dựa vào thân nữ mà đắc, thì đạo nầy gọi là đắc  thành tựu ở trong thân hiện ở trước. Đạo trong thân nam, đạo nầy  không đắc ở trong thân, không thành tựu, không hiện ở trước.
Bình luận: Không nên nói như thế. Vì sao? Vì dựa vào thân nữ  mà đắc quả, về sau đắc thân nam, khởi Thánh đạo hiện ở trước, có thể  nói đắc quả trở lại chăng? Như thuyết trước nói là đúng.
Chánh đẳng Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác dựa vào thân  một trăm tuổi mà được, cho đến vừa dựa vào thân tám vạn tuổi mà  được. Nói một đạo, nghĩa là dựa vào thân một trăm tuổi mà được  Chánh đẳng Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tức là dựa vào thân  tám vạn tuổi mà được. Nói nhiều đạo, nghĩa là chỗ đắc đạo của thân  một trăm tuổi khác, chỗ đắc đạo lúc thân tám vạn tuổi cũng khác. Nói nhiều đạo có hai thứ:
1.         Nói: Dựa vào thân một trăm tuổi, được Chánh đẳng Vô thượng  Chánh Đẳng Chánh Giác, đạo nầy gọi là đắc thành tựu ở trong thân  hiện ở trước. Đạo khác gọi là đắc, không thành tựu ở trong thân không  hiện ở trước.
2.         Nói: Thân một trăm tuổi được Chánh đẳng Vô thượng Chánh  Đẳng Chánh Giác, đạo nầy gọi là đắc thành tựu ở trong thân hiện ở  trước. Đạo của thân khác, không đắc, không ở trong thân, không thành  tựu, không hiện ở trước.
 Hỏi: Nếu vậy thì tất cả Chư Phật đều bình đẳng, thuyết nầy làm  sao hiểu được?
Đáp: Vì ba việc nên nói bình đẳng:
1.         Hạnh thiện tu tập thuở xưa đều bình đẳng.
2.         Thành tựu pháp thân bình đẳng.
3.         Đem lại lợi ích cho thế gian bình đẳng.
Tu tập công hạnh thiện bình đẳng: Nghĩa là tất cả Chư Phật đều  tu các phương tiện bốn Ba-la-mật trong suốt ba A-tỳ kiếp.
Thành tựu pháp thân bình đẳng: Chư Phật đều có mười lực, bốn  vô sở úy, đại bi, ba niệm xứ bất cộng, đều trụ căn cơ thượng thượng.
Đem lại ích cho thế gian bình đẳng: Muốn cho vô lượng na-do- tha chúng sinh, quyến thuộc đều được giải thoát, nhập vào Niết-bàn.  Vì ba sự nầy nên gọi là bình đẳng. Lại có thuyết nói: Giới cũng bình đẳng, vì đều trụ căn cơ thượng

* Trang 366 *
device

thượng, nên đạo cũng bình đẳng, vì đều thành tựu đạo thượng thượng. Bình luận: Như trước nói là đúng.
 Hỏi: Có phải có một pháp ở trong khoảng một sát-na, có thể khởi  hai mươi bốn đắc hiện ở trước hay không?
 Đáp: Có. Nếu dựa vào đệ Tứ thiền được chánh quyết định thì sẽ  được khổ pháp nhẫn trong sáu địa. Một địa có bốn hành, nghĩa là hành  vô thường v.v… được hiện ở trước.
 Hỏi: Có phải dứt phiền não đắc, đắc mà không bỏ, bỏ mà không  đắc, cho đến nói rộng thành bốn trường hợp:
1.         Đắc mà không bỏ, nghĩa là người phàm phu lìa dục cõi Dục,  cho đến lìa dục của Vô sở hữu xứ. Bậc Thánh lúc chuyển căn và đắc  quả, chính là đạo dứt các kiết khác.
2.         Bỏ mà không đắc, nghĩa là người phàm phu khi lìa dục về sau,  từ cõi Sắc, Vô sắc qua đời, lúc sinh trong cõi Dục, sẽ qua đời ở địa dưới,  là lúc thối lùi quả trung gian của bậc Thánh địa trên.
3.         Vừa đắc vừa xả: Người phàm phu từ cõi Vô sắc qua đời, sinh nơi  cõi Sắc, qua đời ở địa trên sinh nơi cõi Sắc, Vô sắc. Lúc chuyển căn, lúc  thối lui quả, lúc đắc quả của bậc Thánh ở địa dưới. 4.     Không đắc không bỏ: Trừ ngần ấy việc trên.
Thở vào thở ra, phải nói dựa vào thân xoay lại chăng? Cho đến  nói rộng.
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Như kinh Nhiếp Pháp nói: Vì sao Đức Thế tôn nói thở vào  thở ra là hành của thân?
 Đáp: Vì đây là pháp của thân, thân là gốc của hơi thở, cũng  thuộc về thân, vì dựa vào thân nên lưu chuyển. Như Kinh Thi Thiết  nói, như Kinh Đàm- Ma-Đề-Na nói. Vì sao? Người chết việc thở vào thở ra không trở lại chăng?
 Đáp: Việc thở vào thở ra là do thế lực của tâm. Vì người chết  không có tâm, nên sự thở vào thở ra không trở lại. Một kinh nói là do  thân, một kinh nói là do tâm, có người cho hai kinh nầy vừa là liễu  nghĩa, vừa là bất liễu nghĩa. Vì muốn làm rõ nghĩa chân thật của hai  kinh nói trên, nên soạn luận nầy.
 Hỏi: Sự thở vào thở ra phải nói là nương vào thân mà lưu  chuyển, hay phải nói là dựa vào tâm mà lưu chuyển?
 Đáp: Phải nói là dựa vào thân mà xoay lại dựa vào tâm mà xoay  lại là tùy thuộc vào tiện nghi của hơi thở nơi người đó.
Hỏi: Tùy thuộc vào tiện nghi là sao?

* Trang 367 *
device

Đáp: Hoặc có thuyết nói: Như trẻ con thở vào, thở ra ít, trung  niên thì vừa, già thì thở vào, thở ra nhiều.
Lại có thuyết nói: Vì hơi thở nầy có bốn việc, nên nói là tùy  thuộc vào tiện nghi:
1.         Dựa vào thân.
2.         Đường gió thông suốt.
3.         Các lỗ mở ra.
4.         Tâm thô của chỗ thở vào thở ra hiện ở trước.
Bốn việc nầy nói là tùy thuộc vào hơi thở. Nếu phải thở vào ra  chỉ dựa vào thân, không dựa vào tâm, nghĩa là nhập định Vô tưởng  Diệt tận, hơi thở vào ra cũng phải xoay lại. Vì sao? Vì hơi thở đó ra  vào, nương của hơi thở vào ra, đường của gió cũng thông suốt, các lỗ  lông cũng mở ra, chỉ vì không có tâm thô hiện tại, nên hơi thở vào ra  không xoay lại. Nếu hơi thở vào ra chỉ dựa vào tâm, không dựa vào  thân thì chúng sinh ở cõi Vô sắc cũng phải thở vào ra. Nhưng vì hơi  thở kia không có bốn việc nầy, nên không xoay lại. Nếu hơi thở vào ra  chỉ dựa vào thân, tâm, không tùy thuộc vào sự tiện nghi của hơi thở,  đó là lúc hơi thở trong Noãn v.v..., cho đến nói rộng.
Thân ở trong trứng v.v..., chẳng nương dựa vào hơi thở vào ra,  con đường của gió không thông, các lỗ chân lông không mở ra, vì chỉ  có tâm thô của chỗ hơi thở vào ra, thế nên không xoay lại, nếu phải  xoay lại thì lẽ ra phải xao động.
Lại có thuyết nói: Vì thời gian trứng Ca-la-la mềm mỏng, nên  hơi thở vào ra không xoay lại, thời gian của A-phù-đà, Tỳ-thi, vì các lỗ  chân lông của thân chưa mở ra, nên hơi thở vào ra không xoay lại. Khi  vào đệ Tứ thiền, nương vào thân, có hơi thở vào ra, đường gió cũng  thông suốt, nhưng các lỗ chân lông không mở ra, vì sức của định, nên  thân thể đều hòa hợp. Lại không khởi tâm thô ở chỗ hơi thở vào ra, và  vì tâm vi tế địa định kia.
Hỏi: Vì sao nói nhập đệ Tứ thiền, không nói sinh đệ Tứ thiền?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì ý của người tạo luận muốn thế, cho  đến nói rộng.
Lại có thuyết nói: Văn ấy nên nói như thế: Nhập đệ Tứ thiền và  sinh đệ Tứ thiền nhưng không nói, phải biết thuyết nầy nói chưa trọn  vẹn, cho đến nói rộng.
Lại nữa, nếu nói nhập định, phải biết cũng nói chỗ sinh, như kinh  nói: Trước tu định nầy sau sinh xứ kia. Cho nên, hơi thở ra vào dựa  vào thân vừa dựa vào tâm mà hồi chuyển, tùy thuộc vào sự tiện nghi  của

* Trang 368 *
device

 hơi thở. Từ ngục A-tỳ, lên đến trời Biến tịnh, ở trong khoảng đó, các  chúng sinh sinh ra các căn đầy đủ, cho đến nói rộng. Ở đây, nói các  căn đầy đủ, nghĩa là đủ bốn việc trên, chứ chẳng phải các căn như  nhãn căn v.v…
Hỏi: Vì sao nhập đệ Tứ thiền, hơi thở ra vào không lưu chuyển?
 Đáp: Tâm thô có thể khởi hơi thở ra vào, nhưng vì pháp tâm, tâm  sở kia là vi tế, nên không lưu chuyển.
Lại có thuyết nói: Tâm xao động có thể khởi hơi thở ra vào, tâm  kia không xao động, như người đi trên con đường náo nhiệt, thì dễ  khởi pháp trần, tâm kia cũng giống như thế.
Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Vì sao nhập đệ Tứ thiền, hơi thở không  lưu chuyển ra vào? Vì người nhập đệ Tứ thiền, các lỗ chân lông của  thân khép lại. Vì không có chỗ nương, nên hơi thở không lưu chuyển  ra vào.
Tôn giả Bà-đàn-đà nói: Nhập đệ Tứ thiền thân không lay động,  vì tâm kia không lay động nên thân kia cũng không lay động.
Lại có thuyết nói: Cõi Dục do cảnh giới ái nên làm cho thân, tâm  thô. Sơ thiền do giác quán, đệ Nhị thiền do hỷ, đệ Tam thiền do lạc,  trong đệ Tứ thiền vì đã xa lìa hẳn các pháp như thế, nên hơi thở ra  vào, có địa thở ra, có địa thở ra vào, có địa không có hơi thở ra vào,  Người thở vào đi đến người thở ra. Trong bốn địa có hơi thở ra vào.  Bốn địa là: Cõi Dục, Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền. Trong ngũ địa  không có hơi thở ra vào. Ngũ địa là đệ Tứ thiền và bốn định vô sắc.
 Hỏi: Trú ở địa có hơi thở ra vào, địa không có hơi thở ra vào, tâm  hiện ở trước, có hơi thở hồi chuyển ra vào hay không?
Đáp: Không hồi chuyển.
 Hỏi: Ở địa không thở ra vào, tâm của địa có hơi thở vào ra hiện ở  trước, là có hơi thở ra vào xoay lại hay không?
Đáp: Không xoay lại.
 Hỏi: Nếu trụ ở thân địa có hơi thở ra vào, thì tâm của địa có hơi  thở vào ra hiện ở trước, phải nói hơi thở hồi chuyển ra vào, là vì thân  nên hồi chuyển, hay vì tâm mà hồi chuyển?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì thân nên hồi chuyển. Các thuyết  nói: do thân hồi chuyển, nghĩa là do người sinh trong cõi Dục, tâm  trong cõi Dục hiện ở trước, thân nầy là cõi Dục, hơi thở ra vào cũng là  cõi Dục. Từ tâm cõi Dục hồi chuyển, tức là cảnh giới được quán của  tâm nầy. Sinh trong cõi Dục, tâm Sơ thiền hiện ở trước, thân là thuộc  cõi Dục, hơi thở ra vào là thuộc cõi Dục. Từ tâm Sơ thiền hồi chuyển,  tức là cảnh

* Trang 369 *
device

 giới sở quán của tâm ấy.
 Hỏi: Nếu vậy thì thuyết nầy nói làm sao hiểu? Như nói: Hơi thở  ra vào cõi Dục là diệt trong đạo vô ngại của Sơ thiền.
 Đáp: Hơi thở ra vào cõi Dục, hoặc từ tâm cõi Dục hồi chuyển,  hoặc từ tâm Sơ thiền hồi chuyển. Từ tâm cõi Dục hồi chuyển là diệt,  hoặc từ tâm Sơ thiền hồi chuyển thì hiện ở trước.
Lại có thuyết nói: Nói diệt là số diệt. Sinh trong cõi Dục, tâm  của Nhị thiền, Tam thiền hiện ở trước, thân là thuộc cõi Dục, hơi thở  ra vào là cõi Dục. Từ tâm của Nhị thiền, Tam thiền hồi chuyển, tức là  cảnh giới sở quán của tâm đó. Sinh Sơ thiền, tâm Sơ thiền hiện ở  trước, thân là Sơ thiền, hơi thở ra vào là Sơ thiền. Từ tâm Sơ thiền hồi  chuyển, tức là cảnh giới sở quán của tâm đó. Sinh Sơ thiền, tâm cõi  Dục hiện ở trước, thân là Sơ thiền, hơi thở ra vào là Sơ thiền. Từ tâm  cõi Dục hồi chuyển, chẳng phải cảnh giới sở quán của tâm đó. Sinh Sơ  thiền, tâm của Nhị thiền, Tam thiền hiện ở trước, thân là Sơ thiền, hơi  thở ra vào là Sơ thiền. Từ tâm của Nhị thiền, Tam thiền hồi chuyển,  tức là cảnh giới sở quán của tâm đó. Sinh trong Nhị thiền, tùy theo  tướng của Nhị thiền mà nói. Sinh trong đệ Tam thiền, tâm đệ Tam  thiền hiện ở trước, thân là Tam thiền, hơi thở ra vào là đệ Tam thiền.  Từ tâm đệ Tam thiền hồi chuyển, tức là cảnh giới sở quán của tâm đó.  Sinh trong Tam thiền, tâm cõi Dục hiện ở trước, thân là đệ Tam thiền,  hơi thở ra vào là đệ Tam thiền. Từ tâm cõi Dục xoay lại, chẳng phải  cảnh giới sở quán của tâm đó như thế, khởi tâm của Sơ thiền, Nhị  thiền hiện ở trước, như vậy thân là đệ Tam thiền, hơi thở ra vào là đệ  Tam thiền. Từ tâm xoay lại của Sơ thiền, Nhị thiền, chẳng phải cảnh  giới sở quán của tâm đó.
Các thuyết đều nói rằng: Hơi thở ra vào do thân, nên hồi chuyển,  nghĩa là hơi thở ra vào cõi Dục là cảnh giới do bốn loại tâm tạo ra. Hơi  thở ra vào của Sơ thiền là cảnh giới mà ba thứ tâm tạo ra. Hơi thở ra  vào của đệ Nhị thiền là cảnh giới của hai loại tâm tạo ra, hơi thở ra  vào của tam đệ thiền tức là cảnh giới của tam đệ thiền tạo ra.
Các thuyết nầy nói là: Vì tâm, nên hơi thở ra vào hồi chuyển.  Nghĩa là sinh trong cõi Dục, tâm cõi Dục hiện ở trước, thân là cõi Dục,  hơi thở ra vào là cõi Dục. Từ tâm cõi Dục xoay lại, tức là cảnh giới sở  quán của tâm kia. Nếu tâm Sơ thiền hiện ở trước, thân là cõi Dục hơi  thở ra vào thuộc Sơ thiền. Từ tâm Sơ thiền xoay lại tức là cảnh giới sở  quán của tâm đó. Nếu tâm của đệ nhị, đệ Tam thiền hiện ở trước, thân  ở cõi Dục, thì hơi thở ra vào là của đệ nhị, đệ Tam thiền. Từ tâm của  đệ nhị, đệ Tam thiền xoay lại, tức là cảnh giới sở quán của

* Trang 370 *
device

tâm kia. Sinh trong Sơ thiền, tâm Sơ thiền hiện ở trước, thân là Sơ  thiền, hơi thở ra vào là Sơ thiền. Từ tâm Sơ thiền xoay lại, tức là cảnh  giới sở quán của tâm đó. Nếu tâm của đệ nhị, đệ Tam thiền hiện ở  trước, thân là thuộc Sơ thiền, thì hơi thở ra vào là của đệ nhị, đệ Tam  thiền. Từ tâm của đệ nhị, đệ Tam thiền xoay lại, tức là cảnh giới sở  quán của tâm đó. Sinh trong đệ Nhị thiền nói cũng giống như thế. Sinh  trong đệ Tam thiền, tâm của đệ Tam thiền hiện ở trước, thân là đệ  Tam thiền, hơi thở ra vào là của đệ Tam thiền. Từ tâm của đệ Tam  thiền xoay lại, tức là cảnh giới sở quán của tâm đó. Nếu tâm cõi Dục  hiện ở trước, thân là ở đệ Tam thiền, hơi thở ra vào là cõi Dục. Từ tâm  cõi Dục xoay lại, tức là cảnh giới sở quán của tâm kia. Nếu tâm của  Sơ thiền, Nhị thiền hiện ở trước, thân là ở đệ Tam thiền, thì hơi thở ra  vào là của Sơ thiền, Nhị thiền. Từ tâm của Sơ thiền, Nhị thiền xoay  lại, chính là cảnh giới sở quán của tâm kia.
Các thuyết nói rằng: Hơi thở ra vào dựa vào tâm xoay lại, nghĩa  là hơi thở ra vào cõi Dục, tức là cảnh giới sở quán của tâm đó. Sơ  thiền tức Sơ thiền, Nhị thiền tức Nhị thiền, Tam thiền tức Tam thiền.
Bình luận: Không nên nói như thế, như thuyết trước nói là đúng.  
Hỏi: Hơi thở ra vào là số chúng sinh hay số phi chúng sinh?
Đáp: Là số chúng sinh
Hỏi: Là pháp nội hay pháp ngoại?  
Đáp: Là pháp ngoại.
Trong thân nầy cũng có gió trong, nhưng hơi thở ra vào là gió  ngoài, là nuôi lớn, là chỗ dựa hay là báo?
 Đáp: Là dựa vào thân nầy, cũng có gió báo, gió nuôi lớn, nhưng  hơi thở ra vào là nương. Như kinh nói: Phật bảo Tôn giả A-nan! Nếu  có thể làm cho hơi thở ra vào, như bắn tên các mũi tên nối tiếp nhau,  đó gọi là thức ăn khác lạ.
Hỏi: Thế nào gọi là thức ăn khác lạ?
 Đáp: Mặc dù dùng thức uống ăn thượng diệu để nuôi lớn thân  người, nhưng nếu không như hơi thở ra vào là phương tiện chính, thì sẽ  bức hại thân. Chớ như hơi thở ra vào của tà phương tiện, như bắn các  mũi tên nối tiếp nhau là nghĩa gì?
 Đáp: Như dùng mũi tên sau bắn vào mũi tên trước, đó gọi là  nghĩa các mũi tên nối tiếp nhau.
Lại có thuyết nói: Nghĩa nối tiếp nhau không dứt, là nghĩa các  mũi tên nối tiếp nhau.
Hỏi: Hơi thở ra vào là thở vào trước hay thở ra trước?

* Trang 371 *
device

 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Nói thở ra trước, là bên rún có gió  khởi, có thể mở ra các lỗ, rồi sau đó mới thở ra.
Lại có thuyết nói: Gió có thể mở ra các lỗ chân lông, chẳng phải  hơi thở ra vào, các lỗ đã mở ra rồi thì gió vào trước. Như người đói  khát, có chút thức ăn, giúp thân nuôi lớn. Khi chết, hơi thở sau cùng  thở ra không còn thở vào nữa, gọi là chết.
Lại có thuyết nói: Hơi thở sau cùng thở vào, không còn thở ra  nữa gọi là chết. Như nói: Khiến cho tôi thường được thở ra thở vào.  Lúc nhập đệ Tứ thiền thì thở ra, khi xuất đệ Tứ thiền thì thở vào. Như nói có A-na-ban-na, có niệm A-na-ban-na.
Sao gọi là A na? Thế nào gọi là Ban na? Thế nào gọi là tu niệm  A-na-ban-na?
Đáp: Hơi thở vào là A-na, các hơi thở ra là Ban-na.
Lại có thuyết nói: Hơi thở ra là A-na, hơi thở vào là Ban-na. Như  nói: Lúc Tỳ-kheo hít gió bên ngoài vào, gọi là A-na, như gió bên trong  tản ra gọi là Ban- na. Có thể duyên niệm kia, gọi là niệm A-na-ban - na. Pháp cộng hữu tương ưng với niệm tu hành rộng khắp, gọi là niệm  A- na-ban-na. Niệm A-na-ban-na có sáu việc, đó là:
1.         Sổ.
2.         Tùy.
3.         Chỉ.
4.         Quán.
5.         Chuyển.
6.         Tịnh.
Sổ có năm loại:
1.         Sổ.
2.         Sổ giảm.
3.         Sổ tăng.
4.         Sổ tu.
5.         Sổ tịnh.
Sổ (đếm) là từ một đến hai cho đến mười. Sổ giảm là từ ba trở  lại số một. Sổ tăng là từ một đến ba, bốn. Sổ nhóm là quán sáu hơi thở  vào, sáu hơi thở ra.
Lại có thuyết nói: Sổ nhóm: Quán hơi thở vào là ra, quán hơi thở  ra là vào. Sổ tịnh là: Quán năm hơi thở ra.
Hỏi: Là hơi thở vào của sổ trước hay hơi thở ra của sổ trước?
 Đáp: Là hơi thở vào của sổ trước. Vì sao? Vì thở vào lúc sinh, thở  ra lúc chết. Quán như thế, gọi là pháp quán thuận theo sinh tử, là vì

* Trang 372 *
device

trước quán vào ra, cho đến nói rộng.
Tùy: Nghĩa là khi quán hơi thở đến cuống họng, tâm cũng đến  theo, đến tim, đến rún, cho đến ngón chân, tâm cũng đến theo.
Chỉ: Là lúc thở vào, dừng lại ở cuống họng, tâm cũng quán dừng  lại. Cũng thế đến tim, đến rún cho đến hơi thở dừng lại ở ngón chân,  tâm cũng quán dừng lại.
Lại có thuyết nói: Chỉ, nghĩa là quán gió dừng lại ở trong thân,  như xem trong hạt minh châu.
Quán: Nghĩa là không chỉ quán gió, vì lấy phong đại quán đồng  với bốn đại, không có sự khác nhau. Quán bốn đại nầy có thể sinh ra  vật gì? Biết sinh ra sắc tạo. Kế là quán sắc tạo, nghĩa là cái gì là chỗ  nương? Ai là người biết có tạo tác? Là pháp tâm, tâm sở. Do việc nầy nên đều quán năm ấm.
Chuyển: Là chuyển quán hơi thở vào nầy khởi thân niệm xứ. Kế,  là khởi thọ tâm pháp niệm xứ. Kế khởi Noãn, Đảnh, Nhẫn, pháp Thế  đệ nhất.
Tịnh: Là khổ pháp nhẫn.
Lại có thuyết nói: Các căn thiện nầy đều là phần tuệ. Sổ có hai việc:
1.         Đếm hơi thở ra vào.
2.         Có thể bỏ giác ác.  
Tùy  có hai việc:
1.         Có thể tùy hơi thở ra vào.
2.         Lìa bỏ giác dục.  
Chỉ  có hai sự:
1.         Có thể dừng hơi thở chót mũi.
2.         Không bỏ tam-muội.  
Quán  có hai sự:
1.         Có thể quán hơi thở ra vào dừng lại ở tướng khác.
2.         Có thể nắm giữ tướng của pháp tâm, tâm sở.  
Chuyển có hai sự:
1.         Có thể biết ấm.
2.         Có thể nhập Thánh đạo.  
Tịnh  có hai thứ:
1.         Có thể dứt kiết.
2.         Có thể làm thanh tịnh kiến.
Hỏi: Thể tánh của niệm A-na-Ban-na là gì?
Đáp: Là tuệ. Vì niệm trong phẩm tâm nầy nghiêng về nhiều, nên

* Trang 373 *
device

gọi là niệm A-na-ban-na. Vì nhận lấy pháp cộng hữu tương ưng của  niệm kia, nên nương thể cõi Dục, là tánh của bốn ấm, cõi Sắc là địa  của tánh năm ấm. Ở trong năm địa là vị trí cõi Dục, Sơ thiền, trung  gian, Vị chí của Nhị thiền, Vị chí của Tam thiền. Chỗ thân nương: là thân nương vào cõi Dục, vừa vào cõi Sắc. Nhưng lúc mới khởi, phải nương vào cõi Dục.
Hành là thể chẳng phải hành. Cảnh giới là cảnh giới. Phong  niệm xứ là: Chẳng phải niệm xứ căn bản, mà là phương tiện của niệm  xứ. Nếu nhận lấy quyến thuộc của niệm xứ, tức là thân niệm xứ. Vì  sao? Vì duyên theo sắc.
 Hỏi: Nếu vậy thì vì sao kinh Phật nói: Niệm A-na-Ban-na là bốn  niệm xứ?
Đáp: Vì phương tiện của niệm xứ nầy, nên gọi là bốn niệm xứ.
 Hỏi: Nếu vậy thì quán bất tịnh cũng là phương tiện của bốn niệm  xứ, vì sao không gọi là bốn niệm xứ?
 Đáp: Nếu có chúng sinh thích hợp nghe A-na-ban-na là niệm xứ,  thì Đức Thế tôn sẽ nói. Nếu có chúng sinh cần nghe bất tịnh là niệm  xứ mà được giác ngộ, thì Phật cũng nói cho họ nghe.
Lại có thuyết nói: Như trong kinh nầy cũng nói quán bất tịnh là  niệm xứ. Như kệ của kinh ấy nói:
Nếu quán sát sắc xanh  
Cũng quán sát hư nát  
Đây là thân niệm xứ  
Sinh tâm dục quán tịnh  
Trong đó cũng có thọ  
Gọi là thọ niệm xứ
Nên dùng tâm không giận  
Đó là tâm niệm xứ
Cũng dứt cả thọ, giận  
Gọi là pháp niệm xứ.
Lại nữa, vì sao nói niệm A-na-ban-na là niệm xứ, mà không nói  quán bất tịnh?
 Đáp: Vì quán niệm A-na-ban-na vững chắc đáng nương cậy, còn  pháp quán bất tịnh thì không như thế. Nếu khi hành giả thất niệm,  phiền não hiện ở trước thì hãy nhanh chóng quán trở lại, như người sợ  hãi nhanh chóng chạy vào thành, pháp quán kia cũng giống như thế.
Lại có thuyết nói: Niệm A-na-ban-na không chung quán bất tịnh  của ngoại đạo.

* Trang 374 *
device

Lại có thuyết nói: Quán bất tịnh có thể làm tăng trưởng tưởng  của chúng sinh. Vì sao? vì khi quán, phải quán xương của thân nam,  nữ, nên niệm A-na-Ban-na có thể làm tăng trưởng pháp tưởng. Vì sao?  Vì là căn bản của tam-muội Không, cho nên nói bốn niệm xứ.
Lại có thuyết nói: Niệm A-na-Ban-na duyên theo pháp gần là  quán không xen lẫn, chẳng phải quán thứ lớp, chẳng phải nhân quán  chúng sinh, không dụng công nhiều, quán bất tịnh thì không như vậy,  nên nói là niệm xứ, không nói quán bất tịnh.
Trí là một đẳng trí. Căn tương ưng là một căn tương ưng, đó là  căn xả. Đời là ba đời. Duyên đời là duyên theo ba đời. Thiện, bất  thiện, vô ký đó là thiện. Duyên thiện bất thiện, vô ký, nghĩa là duyên vô ký. Hệ thuộc cõi Dục, Sắc, vô sắc, nghĩa là thuộc về cõi Dục, Sắc.
Duyên lệ thuộc và không lệ thuộc ba cõi, nghĩa là duyên thuộc  về cõi Dục, Sắc.
Là Học, Vô học, phi học phi Vô học, nghĩa là phi học phi Vô học.
Duyên pháp Học, Vô học, phi học phi Vô học là duyên với phi  học phi Vô học.
Thấy đạo dứt, tu đạo dứt, không dứt, nghĩa là tu đạo dứt.  
Duyên thấy đạo, tu đạo, không dứt là duyên tu đạo dứt.  
Duyên danh duyên nghĩa: Là duyên nghĩa.
Duyên mình, duyên người: Là duyên mình và người.  
Như kinh nói kệ:
Nếu nơi niệm An- ban.  
Tu hành được đầy đủ  
Thứ lớp mà học tập  
Đúng như lời Phật dạy.
Hỏi: Trong kệ nầy nói: Ai đầy đủ, ai không đầy đủ?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Trong đó nói Phật đầy đủ, Thanh văn,  Duyên giác không đầy đủ.
Lại có thuyết nói: Bích-chi Phật, Phật là đầy đủ, Thanh văn là  không đầy đủ.
Lại có thuyết nói: A-la-hán trở lên là đầy đủ, người học, người  phàm phu là không đầy đủ.
Lại có thuyết nói: bậc Thánh là đầy đủ, phàm phu là không đầy đủ.
Bình luận: Nói như thế là đúng: Nếu đủ sáu việc trên, gọi là đầy

* Trang 375 *
device

đủ. Nếu không đủ sáu việc trên, thì gọi là không đầy đủ.
Như trong kinh chép: Phật nói: Ta nhập thiền định vào tháng hai,  hiện điềm lành như thế.
Hỏi: Thế nào là điềm lành?
 Đáp: Thế tôn tự trải giường mà ngồi, hóa thành Tỳ-kheo quyến  thuộc vây quanh, đó là điềm lành.
Lại có thuyết nói: Đức Thế tôn khiến cho đất rung động nhẹ, các  Tỳ-kheo thấy rồi liền đến chỗ Phật, đó cũng là điềm lành. Bấy giờ,  Đức Thế tôn bảo các Tỳ-kheo: Nếu có ngoại đạo Phạm chí đến hỏi  các thầy: Sa-môn Cù-đàm vào tháng hai nhập định gì? Các thầy nên  đáp: Nhập định A-na-ban-na.
 Hỏi: Nếu các Phạm chí ngoại đạo, cho đến họ không biết tên của  định A-na-ban-na, thì vì sao Phật nói như thế: Nếu các ngoại đạo hỏi,  thì các thầy đáp: Nhập định A-na-ban-na.
 Đáp: Vì muốn làm cho ngoại đạo sinh tưởng ít. Nếu các ngoại  đạo nghe đến tên định A- na-ban-na, thì sẽ sinh tưởng hy hữu, vì sinh  tưởng ít có, nên họ đã đến chỗ Phật. Vì duyên nầy nên họ nhập vào  pháp Phật nên nói như thế.
 Hỏi: Như Đức Thế tôn đều nhập các thiền định, tam-muội giải  thoát, vì sao chỉ nói nhập định A-na-ban-na?
Đáp: Vì định A-na-ban-na là pháp đứng đầu trong các thiền định. Như nói: Phải quán hơi thở ngắn, cho đến nói rộng
Hỏi: Hơi thở là trước ngắn sau dài, hay trước dài sau ngắn?  
Đáp: Trước quán ngắn, sau quán dài
Hỏi: Làm sao nhận biết?
 Đáp: Như nói: Đức Thế tôn nhập định không lâu, hơi thở ra vào  dao động nhanh chóng, nhập định thì vận chuyển lâu, an trụ hơi thở ra  vào. Như người vác nặng trèo lên chỗ hiểm nạn, thân thể mệt mỏi,  làm cho hơi thở ra vào chuyển động nhanh chóng. Nếu khi ngưng thở  thì hơi thở ra vào cũng dứt. Đức Phật cũng giống như thế, lúc thở vào  biết hơi thở tỏa khắp thân, khi thở ra, cũng biết khắp thân.
 Hỏi: Buộc ý niệm ở chót sống mũi, sao lại biết được hơi thở ra  vào đi khắp thân?
 Đáp: Tôn giả Hòa-tu-mật nói rằng: Biết khắp thân nầy là pháp  vô thường, mà không mất niệm.
Hỏi: Nếu vậy thì không gọi là khởi định?
 Đáp: Không gọi là khởi, vì không xả phương tiện kia, xoay vần  quán thân nầy như thế là khổ, không, vô ngã, ô uế, tánh bất tịnh. Nếu

* Trang 376 *
device

khi niệm A-na-ban-na nầy chưa thành, buộc niệm ở chót mũi, về sau,  nếu thành rồi, quán lỗ chân lông trong thân, giống như rễ ngó sen, gió  từ trong đó ra vào.
Hỏi: Nếu vậy thì sao không gọi là khởi định?
 Đáp: Vì tâm không bỏ phương tiện đã kỳ hạn, nên không gọi là  khởi định.
Tôn giả Bà-đàn-đà nói: Như khi Bồ-tát quán, trói buộc niệm ở  chỗ gió ra vào nơi các lỗ chân lông của thân, làm cho tâm không tán  loạn, cũng không bỏ phương tiện. Ngừng hơi thở là hành vi của thân  thở ra thở vào, cho đến nói rộng.
Hơi thở dừng lại là thân hành: Làm cho hơi thở ra vào vận  chuyển nhẹ nhàng, vắng lặng, hoặc lúc chẳng quán.
Lại có thuyết nói: Khi quán hơi thở ngắn, gọi là nhập Sơ thiền,  lúc quán hơi thở dài, là nhập đệ Nhị thiền, biết hơi thở đi khắp thân là  nhập đệ Tam thiền. Ngừng hơi thở lại là thân hành, nhập đệ Tứ thiền.  Bốn nghĩa như thế, cũng nên nói thế nầy: Hơi thở ra vào của giác hỷ,  nghĩa là Sơ thiền, Nhị thiền. Hơi thở ra vào của giác lạc, tức là quán  sát niềm vui nầy. Hơi thở ra vào của hành giác tâm nghĩa là quán sát  tư tưởng.
Lại có thuyết nói: Hoạt động của tâm giác nghĩa là quán tư duy  của ý nghiệp. Dừng hơi thở là ý hành. Hơi thở ra vào, nghĩa là khiến  cho ý hành, chuyển biến nhẹ nhàng vắng lặng, hoặc lúc không quán.
Hơi thở ra vào của tâm giác: Nghĩa là quán sát ở thức. Hơi thở ra  vào của tâm tùy hỷ giác, tâm định, tâm giải thoát là: Như lai không có  tâm tùy hỷ, không có tâm định, không có tâm giải thoát, quán sát tâm  giải thoát, tâm định tâm tùy hỷ mà Bồ-tát vốn thực hành.
Hơi thở ra vào của giác vô thường nghĩa là quán sát hơi thở ra  vào là vô thường. Giác dứt hơi thở ra vào: Quán sát dứt trừ phiền não quá khứ. Hơi thở ra vào của giác lìa dục: Quán sát dứt trừ phiền não ở vị lai.
Hơi thở ra vào của giác diệt: Quán sát dứt trừ phiền não trong hiện tại.
Lại  có thuyết nói: Hơi thở ra vào của giác vô thường: Quán sát pháp tâm, tâm sở là vô thường. Giác dứt hơi thở ra vào: Bỏ kiết ái,  quán sát dứt trừ các kiết khác.
Hơi thở ra vào của giác lìa dục: là quán sát dứt trừ các phiền não.  Hơi thở ra vào của giác diệt: Quán sát dứt trừ tất cả pháp kiết. Lại có thuyết nói: Giác vô thường là quán sát thân vô thường.

* Trang 377 *
device

Giác dứt là: Quán sát dứt trừ vô minh. Giác lìa dục là: Quán sát lìa ái  dục. Giác diệt là: Quán sát Niết-bàn là vắng lặng.
Tôn giả Bà-đàn-đà nói: Giác vô thường là: Quán sát-năm thủ  ấm. Giác dứt: Quán sát-năm thủ ấm là không, vô ngã. Giác lìa dục:  Quán sát-năm thủ ấm là khổ. Giác diệt: Quán sát-năm thủ ấm là pháp  bất sinh vắng lặng. Ta nghĩ rằng: Trụ như thế đều là định thô, ta nên  trụ rộng trong định vi tế.
Hỏi: Thế nào là định vi tế?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Là đệ Tứ thiền.
Lại có thuyết nói: Là định Diệt tận. Lúc ấy là ban đêm có ba vị  trời cõi Dục đến chỗ Bồ-tát:
1.         Hạ căn.
2.         Trung căn.
3.         Thượng căn.
Vị trời căn cơ bậc hạ, thấy không có hơi thở ra vào, lại không lay  động, không có tư tưởng vận hành, nói rằng: Sa-môn Cù-đàm nầy nay  đã chết.
Vị trời căn cơ bậc trung, thấy thân Bồ-tát vẫn còn ấm, dù trải qua  thời gian lâu mà không hư hoại bèn nói rằng: nay dù chưa chết, nhưng  về sau sẽ chết.
Trời căn bậc thượng kia từng thấy chư Phật và đệ tử Phật nhập  pháp thiền, bèn nói rằng: Nay chẳng phải đã chết, cũng chẳng phải sẽ  chết, vì trụ ở pháp định nầy là như thế.
Nếu có người hỏi: Thế nào là Thánh trụ? Thế nào là Thiên trụ?  Thế nào Phạm trụ? Thế nào là học trụ? Thế nào là Vô học trụ? Thế  nào là Như lai trụ? Thì phải đáp: Là niệm A-na-ban-na. Nói như thế  gọi là đáp chính đáng.
 Hỏi: Như niệm A-na-ban-na là phi học phi Vô học, vì sao nói là  học trụ, Vô học trụ?
 Đáp: Vì từ bên Học, Vô học mà đắc, nên gọi là Học, Vô học. Vì  có thể nhập pháp Học, Vô học, nên gọi là Học, Vô học.
Lại có thuyết nói: Vì không có phiền não, nên gọi là Thánh  thanh tịnh. Trời hiện có, gọi là trời không não hại, nên gọi là phạm. Vì  hiện có học, nên gọi là học. Vì có thể được pháp học, nên gọi là học.  Vì hiện có Vô học, nên gọi là Vô học, vì có thể sinh ra pháp Vô học,  nên gọi là Vô học.
Như lai trụ là A-la-hán trụ gọi là Như lai trụ. Chưa được mà được  là thắng tiến. Đã từng được nghĩa là:

* Trang 378 *
device

1.         Thọ niềm vui hiện pháp.
2.         Đã đến bất động.
Lại có thuyết nói: Vì bậc Thánh hiện có, nên gọi là Thánh trụ.  Có thể sinh pháp Thánh, nên gọi là Thánh trụ. Vì sở hữu của trời, nên  gọi là thiên trụ. Vì có thể sinh lên cõi trời, nên gọi là Thiên trụ. Cho  đến vì là sở hữu của Như lai, nên gọi là Như lai trụ. Vì có thể sinh ra  pháp Như lai, nên gọi là Như lai trụ.
Chưa được mà được, nghĩa là A-la-hán đã được thọ nhận hiện  pháp lạc:  Hiện pháp lạc có bốn loại:
1.         Vui xuất gia.
2.         Vui rảnh rang.
3.         Vui vắng lặng.
4.         Vui ba Bồ-đề. Như chúng sinh cõi Sắc, vì dựa vào thân, nên tâm hồi chuyển,  cho đến nói rộng.
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Như chúng sinh cõi Dục, cõi Sắc vì dựa vào sắc, nên tâm  hồi chuyển. Vô sắc cõi Vô sắc, hoặc là tâm kia không có chỗ nương  mà hồi chuyển.
Vì muốn cho ý của người kia được quyết định, nên soạn luận  nầy, để nói là có chỗ nương.
Hỏi: Người kia đã dựa vào chỗ nào?
 Đáp: Chỗ mạng căn thọ thân. Các tâm, tâm khác, tâm bất tương  ưng hành như thế v.v... Những gì gọi là bất tương ưng hành? Nghĩa là  tánh của phàm phu, không thành tựu đắc, sinh, trụ, già, diệt.
Hỏi: Vừa dựa vào tâm hồi chuyển vì sao chỉ nói có thân?
 Đáp: Vì thân thô nên nói thân. Nhãn căn và tâm diệt theo thứ  lớp, làm chủ thể nương, chỗ nương cho nhãn thức, sinh ra nhãn căn.  Thân căn bốn đại sinh thân căn bốn đại. Mạng căn thọ thân xứ: đắc,  sinh, trụ, già, diệt.
Các pháp như thế làm chủ thể nương không làm chỗ nương. Nhĩ  thức, tỷ thức, thiệt thức, thuyết minh cũng giống như thế. Thân căn và  tâm theo thứ lớp diệt làm chủ thể nương và chỗ nương cho thân thức,  sinh thân căn bốn đại. Mạng căn thọ thân xứ, đắc, sinh, trụ, già, diệt. Các pháp như thế tạo ra chủ thể nương, không tạo ra chỗ nương.
Tâm diệt theo thứ lớp trước ý thức làm chủ thể và chỗ nương cho  ý thức. Thân căn, sinh thân căn bốn đại. Mạng căn cho thân xứ: đắc,  sinh, trú, già, diệt. Các pháp như vậy làm chủ thể nương không làm  chỗ

* Trang 379 *
device

  nương.
Lại có thuyết nói: Nhãn căn và tâm theo thứ lớp diệt làm chủ thể  nương và chỗ nương cho nhãn thức, sinh ra nhãn căn bốn đại. Thân  căn sinh ra thân căn bốn đại, sắc, hương, vị, xúc, mạng căn thọ thân  xứ: đắc, sinh, trụ, già, diệt.
Các pháp như thế làm chủ thể nương, không làm chỗ nương. Nhĩ  thức, tỷ thức, thiệt thức, cũng nói như thế.
Thân căn và tâm theo thứ lớp diệt làm chủ thể và chỗ nương cho  thân thức, sinh thân căn bốn đại: Sắc, hương, vị, xúc, mạng căn thọ  thân xứ: đắc, sinh, trụ, lão diệt.
Các pháp như thế làm chủ thể không làm chỗ nương. Tâm theo  thứ lớp diệt của tiền ý thức làm chủ thể nương, không làm chỗ nương  cho ý thức.
Thân căn sinh thân căn bốn đại: Sắc, hương, vị, xúc, mạng căn  thọ thân xứ: Đắc, sinh, trụ, già, diệt. Các pháp như thế làm chủ thể không làm chỗ nương dựa.
Lại có thuyết nói: Nhãn căn và tâm thứ lớp diệt làm chủ thể và  chỗ nương cho nhãn thức. Bốn ấm câu sinh làm chủ thể, không làm  chỗ nương. Nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức cũng giống như thế. Tiền ý thức,  tâm theo thứ lớp diệt làm chủ thể và chỗ nương cho ý thức. Bốn ấm  câu sinh làm chủ thể nương dựa không làm chỗ nương dựa.
 Hỏi: Như thế là nói người sinh cõi Dục, cõi Sắc, còn người sinh  lên cõi Vô sắc thế nào?
 Đáp: Tâm theo thứ lớp diệt tiền ý thức làm chủ thể nương, chỗ  nương cho ý thức, ba ấm câu sinh tạo ra chủ thể nương, không tạo ra  đối tượng nương dựa.
 Hỏi: Thể của mạng căn là một hay nhiều? Nếu là một thì lúc  chặt tay, chân, vì sao mạng không dứt? Nếu là nhiều thì lúc chặt tay  chân của mạng căn, vì sao ở trong tay chân không có mạng?
 Đáp: Nên nói rằng: thật thể là một, vì một mạng căn ở trong  thân, nên gọi là có mạng. Như có một thọ gọi là có thọ, như có một tư  gọi là có tư, vì có một tâm nên gọi là có tâm, vì một tâm diệt, nên gọi  là vô tâm. Vì có một mạng như thế, nên gọi là có mạng.
Hỏi: Nếu vậy thì vì sao lúc chặt dứt tay chân, con người không chết?
Đáp: Vì mạng là chỗ nương của thân có hai thứ: Có đầy đủ, không đầy đủ. Nếu khi chặt dứt tay chân thì phần thân đầy đủ đã diệt, phần  thân không đầy đủ vẫn nối tiếp nhau sinh. Chỗ thân nương đầy đủ, trụ

* Trang 380 *
device

ở trong pháp bất sinh. Phần thân không đầy đủ, nghĩa là hễ gặp duyên  liền sinh.
 Hỏi: Vì sao chặt đứt tay chân thì không chết, mà chặt đầu, chặt  lưng là chết?
 Đáp: Nếu chặt đứt tay chân, và phần thân còn lại, thì không làm  hư hoại nhiều nhập. Còn khi chém dứt đầu, chặt ngang lưng thì sẽ gây  hư hoại nhiều nhập. Lại nữa, nếu khi chặt đứt tay chân, không gây hư  hoại nhiều nhập, thì nhân cũng không phá hoại duyên. Nếu khi chém  dứt đầu, chặt ngang lưng thì sẽ làm hư hoại nhiều nhân của nhập, cũng  gây tan rã duyên của nhập kia, khiến nhiều nhập trú trong pháp bất  sinh. Lại nữa, vì đầu là chỗ hội nhóm của các căn, vì lưng là chỗ ở của  hơi thở ra vào, nên nếu bị hư hại thì chết, còn phần thân, tay, chân,  v.v... chẳng phải nơi tu tập của các căn, cũng chẳng phải chốn dừng lại  của hơi thở ra vào, cho nên chặt đứt thì không chết.
Lại có thuyết nói: Thể của mạng căn là nhiều pháp, khác với tay  chân, trong các phần thân còn lại như thế, cũng khác.
 Hỏi: Nếu vậy chặt dứt tay chân, vứt bỏ chỗ khác, vì sao không có  mạng?
 Đáp: Mạng trong tay chân dù tánh đều khác, nhưng vẫn thuộc về  thân, nếu lìa thân, thì sẽ không còn thuộc về thân nữa, cho nên không  sống. Hơn nữa, vì lìa chỗ nương và duyên nuôi lớn cho nên không  sống.
Hỏi: Thế nào là chỗ thọ thân?
 Đáp: Pháp tương tự của chúng sinh, với chỗ thọ thân cũng là một  thể, là vô ký không ẩn một, vừa là báo vừa là chỗ dựa. Báo, nghĩa là  nói sự giống nhau của các đường. Như chúng sinh địa ngục xoay vần  giống nhau, cũng thế cõi khác, sự sinh khác, phải biết cũng xoay vần  tương tự. Chỗ dựa, nghĩa là nói sự tương tự của giới. Như cõi Dục lại  giống cõi Dục. Cõi Sắc, Vô sắc, cũng nói như thế. Như giới tương tự  cũng thế, về phương hướng, dòng họ, tại gia, Tỳ-kheo, Bà-la-môn,  Học, Vô học như vậy, cũng phải tùy tướng mà nói.
Lại có thuyết nói: Báo, nghĩa là sở đắc lúc mới sinh. Chỗ dữa là  sở đắc về thời gian sau. Như Sa-môn lại giống Sa-môn, Bà-la-môn lại  giống Bà-la-môn. Pháp tương tự nầy có được, có xả. Xả, nghĩa là hoặc  lúc khi thân chết rồi xả, hoặc vì việc khác nên xả. Việc khác là như  được chánh quyết định, xả tương tự của phàm phu, được tương tự của  bậc Thánh. Lúc A-la-hán nhập Niết-bàn, xả mà không đắc. Lại có thuyết nói: Pháp tương tự của chúng sinh có ba thứ, đó là

* Trang 381 *
device

thiện, bất thiện, vô ký. Như pháp tương tự của “Tám người” là thiện.  Pháp tương tự của người năm nghiệp Vô gián là bất thiện. Các pháp  tương tự của người khác là vô ký.
 Hỏi: Những người chết ở nơi nầy, sinh vào chỗ khác, đều bỏ chỗ  thọ thân chăng? Nếu bỏ chỗ thọ thân, có phải đều chết ở đây, sinh ở  kia chăng? Cho đến nói rộng thành bốn trường hợp:
1.         Chết nơi nầy, sinh chỗ khác, không xả chỗ thọ thân, nghĩa là  chết trong địa ngục, lại đọa vào địa ngục, cho đến chết trên cõi trời,  sinh lại cõi trời, là xả chỗ thọ thân.
2.         Không phải chết ở đây sinh ở kia: Nghĩa là người được chánh  quyết định.
3.         Chết ở chỗ nầy sinh chỗ khác, cũng xả chỗ thọ thân: Nghĩa là  chết trong địa ngục, sinh vào đường khác, cho đến chết trên cõi trời,  sinh trong đường khác.
4.         Không chết ở đây, sinh ở kia, cũng không xả nơi thọ thân là: Trừ  ngần ấy việc trên.
?????

* Trang 382 *
device

Đại Tập 95 - Bộ Tỳ Đàm VII - Số 1546 (Quyển 1-40)