LOGO VNBET
LUẬN A TỲ ĐÀM TỲ BÀ SA 
 
QUYỂN 18 
 
Chương 1: KIỀN-ĐỘ TẠP 
 
Phẩm 4: ÁI KÍNH, Phần 3
 
Đức Thế tôn nói Vô học thành tựu thân giới, cho đến nói rộng.  
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Đây là kinh Phật. Trong kinh của Đức Phật nói: Vô học  thành tựu thân giới, dù nói như thế nhưng không phân biệt. Kinh Phật  là căn bản của luận nầy. Nay vì muốn giải thích rộng kinh Phật, nên  soạn luận nầy.
Lại nữa, sở dĩ soạn luận nầy là vì trước kia đã nói về cảnh giới  Niết-bàn của thân hữu dư, cảnh giới Niết-bàn của thân vô dư. Niết- bàn nên gọi là Học, Vô học, phi học phi Vô học. Như đấy đều nói là  quả A- la-hán vô vi. Nay nói quả A-la-hán hữu vi, nên soạn luận nầy.
Hỏi: Thế nào là thân giới Vô học?
 Đáp: Giới thân, giới khẩu và mạng tịnh củaVô học như thuyết  trong chi Vô học ở chỗ khác có nói. Chánh nghiệp tức là thân giới Vô  học trong đây. Chánh ngữ tức là giới khẩu. Chánh mạng là mạng tịnh.
 Hỏi: Như ngoài giới của thân, miệng, lại không có mạng tịnh, vì  sao đặt ra ba tên gọi nầy?
 Đáp: Vì tịnh, bất tịnh đối nhau, nên đặt ba tên, là bảy nghiệp bất  thiện, từ tham, sân, si sinh.
Từ tham sinh: đó gọi là tà mạng. Từ sân, si sinh: Thân nghiệp là  tà nghiệp, khẩu nghiệp là tà ngữ. Từ tham sinh: không còn tạo tác nữa,  là chánh mạng. Từ sân, si sinh: không còn tạo tác nữa. Thân nghiệp là  chánh nghiệp, khẩu nghiệp là chánh ngữ.
Lại có thuyết nói: Hoặc mạng hữu vi, hoặc vì vui chơi, hoặc vì  tâm oán ghét, nên khởi bảy nghiệp bất thiện. Nếu mạng, thì đó gọi là  tà mạng. Nếu không vì mạng, khởi thân nghiệp là tà nghiệp, khởi  khẩu

* Trang 456 *
device

nghiệp là tà ngữ.
Lại có thuyết nói: Hoặc mạng hữu vi, nên đã tạo các thứ phương  thuốc, chú thuật. Hoặc vì việc khác của hữu vi, như trước đã nói.
Lại có thuyết nói: Hoặc bốn thứ ái, nên đã gây ra các hành vi ác,  hoặc làm việc khác: nếu vì bốn thứ ái, tạo các hành vi ác, thì đó gọi là  tà mạng, ngoài ra như trước nói.
Lại có thuyết nói: Nếu làm năm việc dua nịnh, lừa dối v.v..., thì  đó gọi là tà mạng. Nếu vì việc khác, thì việc khác ấy như trước đã nói.
Lại có thuyết nói: Hoặc có tội già, hoặc có tội tánh, nếu gây ra  tội già, thì đó gọi là tà mạng, nếu gây ra tội tánh, như trước đã nói. Vì  sao? Vì tội già khó trừ.  Lại có thuyết nói: Có nghiệp bất thiện căn bản, có nghiệp bất  thiện phương tiện. Nếu hành nghiệp bất thiện phương tiện đó gọi là tà  mạng. Nếu gây ra nghiệp bất thiện căn bản đều như trước nói. Vì sao?  Vì nghiệp phương tiện khó trừ, nên trái với ở trên nói, đó gọi là chánh  mạng.
Vô học thành tựu thân giới, cho đến nói rộng.
 Hỏi Như học, phi học phi Vô học cũng thành tựu thân giới. Vì sao  chỉ nói Vô học?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Đây là Như lai giáo hóa hữu dư, lược  nói phần vượt hơn.
Lại có thuyết nói: Nói nghĩa vượt hơn. Vì sao? Vì nếu nói theo  pháp, thì pháp Vô học là hơn. Nếu nói theo người thì người Vô học  vượt hơn, nói rộng như trên pháp Vô học vượt hơn pháp Học.
Lại có thuyết nói: Đức Thế tôn hoặc khen ngợi nói đệ tử vượt  hơn, hoặn khen đệ tử trung bình, hoặc khen đệ tử bậc hạ. Khen ngợi  đệ tử vượt hơn như kệ nói:
A-la-hán vui nhất  
Vì không có khát ái
Cũng dứt trừ ngã mạn  
Xé rách lưới vô minh.
Khen đệ tử bậc trung, như khen ngợi bảy người thiện mà trong  kinh đã nói. Khen bậc hạ như trong kinh Trì dụ nói: Ở đây, chỉ nói  khen ngợi hàng đệ tử vượt hơn.
Hỏi: Thế nào là nghĩa Thi-la?
 Đáp: Nghĩa mát mẻ là nghĩa của Thi-la. Vì sao? Vì phá giới làm  cho thân tâm nóng bức, trì giới có công năng khiến thân tâm mát mẻ.
Lại có thuyết nói: Nghĩa học tập là nghĩa của Thi-la. Vì sao? Vì

* Trang 457 *
device

thường tu tập phước thiện.
Hỏi: Thế nào là thân định Vô học?
 Đáp: Là tam-muội Vô học không, tam-muội vô tướng, tam-muội  vô nguyện.
Hỏi: Thể của định là một, sao nói là ba?  
Đáp: Vì ba sự nên nói ba:
1.         Do đối trị.
2.         Do tâm có kỳ hạn.
3.         Do cảnh giới. Do đối trị nên nói không. Không là pháp đối trị gần đối với ngã kiến.
kiến.
 Hỏi: Thân kiến có hai thứ:
1.         Hành nơi ngã.
2.         Hành nơi ngã sở.  
Không có hai thứ:
1.         Hành nơi không.
2.         Hành vô ngã. Hành nầy làm đối trị gần cho hành nào?
Đáp: Hành vô ngã đối tri ngã kiến, hành Không là đối trị ngã sở
Lại nữa, hành vô ngã đối tri năm ngã kiến, hành Không đối tri mười lăm ngã sở kiến.
Lại nữa, hành vô ngã đối tri nơi kiến chấp của mình, hành Không  đối trị sở kiến của mình. Lại nữa, hành vô ngã đối trị thân ái của ngã.  Hành Không đối trị thân ái của ngã sở.
Lại nữa, ấm chẳng phải ngã là hành vô ngã. Trong ấm không có  ngã là hành không.
Lại nữa, nhãn nhập chẳng phải ngã, là hành vô ngã. Trong nhãn  nhập không có ngã là hành không. Cho đến ý nhập nói cũng giống như  thế.
Lại nữa, tánh không là hành vô ngã, không có sở hành là hành  không. Vì tâm mong mỏi, nên gọi là vô nguyện. Vô nguyện nghĩa là  không mong muốn ở hữu.
 Hỏi: Nếu do tâm mong muốn, không nguyện ở hữu, gọi là vô  nguyện. Cũng là tâm mong muốn, không nguyện nơi Thánh đạo cũng  gọi là vô nguyện chăng?
 Đáp: Tâm mong muốn không nguyện ở ấm, mà Thánh đạo dựa  vào ấm. Tâm mong muốn không nguyện đối với thế gian mà Thánh

* Trang 458 *
device

đạo thì ở thế gian. Tâm mong muốn không nguyện đối với khổ mà  Thánh đạo dựa vào khổ. Tâm mong muốn không nguyện tăng trưởng  mà Thánh đạo dựa vào sự tăng trưởng.
Hỏi: Nếu vậy vì sao bậc Thánh tu đạo?
 Đáp: Vì muốn đến Niết-bàn. Vì sao? Vì bậc Thánh quán sát, trừ  Thánh đạo thì không còn có pháp nào có thể đến Niết-bàn, do vậy nên  tu đạo. Vì cảnh giới, nên nói vô tướng. Vô tướng, là không có mười  tướng, vì không có mười tướng, nên nói là vô tướng. Mười tướng là:  Sắc, thanh, hương, vị, xúc, nam, nữ, ba cõi. Niết-bàn không có tướng  như thế, nến định kia duyên Niết-bàn. Laị nữa, ấm là tướng của hữu, nên định kia duyên ấm.
Lại nữa, pháp trước sau là tướng của hữu, nên định kia duyên  không có trước, sau.
Lại nữa, nếu pháp có thượng, trung, hạ, thì đó gọi là tướng của  hữu, nên định kia duyên không có thượng, trung, hạ.
Lại có thuyết nói: do hành, nên nói có ba. Định không kia hành ở  hai hành, đó là hành không và hành vô ngã. Định vô nguyện hành ở  mười hành, nghĩa là hành khổ, vô thường, tập đế của đạo đế của định  vô tướng, hành ở bốn hành, nghĩa là bốn hành của diệt đế.
Lại có thuyết nói: Vì đối trị nên nói là ba. Hành không là đối trị  gần của ngã kiến. Vô nguyện là đối trị gần của giới thủ. Vô tướng là  đối trị gần của si.
Hỏi: Thế nào là thân tuệ Vô học?
 Đáp: Hoặc trí, hoặc kiến, hoặc minh, hoặc giác, hoặc hiện quán,  cho đến nói rộng.
Bình luận: Thuyết nầy có thể như vậy, nhưng ở đây, nói thân  chánh tuệ, không nói thân tuệ phân biệt. Văn ấy nên nói rằng: Thế  nào là thân tuệ Vô học?  
Đáp: Tận trí, trí vô sinh không gồm nhiếp tuệ  Vô học.
Hỏi: Thế nào là thân giải thoát Vô học?
 Đáp: Chánh quán Vô học tương ưng với giải thoát. Thời giải  thoát nầy là đại địa, là tận trí, trí vô sinh là chánh kiến Vô học tương  ưng với giải thoát.
Hỏi: Thế nào là thân giải thoát tri kiến Vô học?  
Đáp: Là tận trí, trí vô sinh.
Hỏi: Vì sao nói tận trí, trí vô sinh là thân giải thoát tri kiến Vô học,
Đáp: Là do sinh ra trong thân của người giải thoát.

* Trang 459 *
device

 Hỏi: Thân tuệ Vô học, thân giải thoát tri kiến Vô học có gì khác  nhau?
 Đáp: Khổ trí, tập trí Vô học, là thân tuệ Vô học. Vì sao? Vì hai  trí nầy duyên theo pháp ràng buộc diệt trí, diệt trí, đạo trí Vô học là  thân giải thoát tri kiến Vô học. Vì sao? Vì hai trí nầy duyên theo pháp  không có ràng buộc.
Lại nữa, khổ trí, tập trí, diệt trí Vô học là thân tuệ Vô học. Vì  sao? Vì ba trí nầy duyên theo giải thoát, không duyên theo duyên giải  thoát. Trí vô lậu, đạo trí Vô học là thân tri kiến giải thoát Vô học. Vì  sao? Vì đạo trí nầy duyên với giải thoát, cũng duyên theo duyên trí vô  lậu giải thoát. Giải thoát có hai thứ: giải thoát hữu vi, giải thoát vô vi.  Hữu vi là sở duyên của khổ trí, tập trí. Vô vi là sở duyên của diệt trí.  Kiến của trí giải thoát vô lậu là sở duyên của đạo trí. Cho nên, đạo trí  là thân giải thoát tri kiến Vô học, vì dùng đạo trí để duyên theo ba trí.
Lại có thuyết nói: Tuệ hoặc đối trị tà tuệ, hoặc đối trị với vô tri.  Nếu đối trị tà tuệ, là thân tuệ Vô học. Nếu đối trị với vô tri, là thân  giải thoát tri kiến Vô học. Như tà tuệ, vô tri, nhạy bén, chậm lụt, ngu,  trí cũng giống như thế.
Thân giới ở sáu địa, đó là Vị chí, Trung gian và bốn thiền căn bản. Thân khác ở chín địa.
 Hỏi: Phật, Bích-chi Phật, Thanh văn, năm thứ thân nầy có khác  nhau không?
 Đáp: Nếu theo địa, theo thể thì không có khác nhau. Nếu theo  căn thì có khác nhau. Người căn cơ nhạy bén, là nói về hơn. Người căn  cơ bậc trung, là nói trung bình, người căn cơ bậc hạ, là nói thấp. Như  Phật bảo các Tỳ-kheo: Một rốt ráo, chẳng phải nhiều rốt ráo, cho đến  nói rộng.
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Đây là kinh Phật, kinh Phật nói: Một rốt ráo, chẳng phải  nhiều rốt ráo. Dù kinh Phật nói một rốt ráo, nhưng không phân biệt là  vì phát tâm nên nói rốt ráo hay do việc thành tựu, nên nói rốt ráo.  Kinh Phật là chỗ căn bản cho luận nầy. Là điều kinh của chư Phật  không nói, nay vì muốn nói nên soạn luận nầy.
Hỏi: Cứu cánh có hai, vì sao Đức Thế tôn chỉ nói một?
Tôn giả Ba-xa đáp: Một rốt ráo, nghĩa là rốt ráo của phát tâm,  không có hai rốt ráo của phát tâm. Một việc thành tựu rốt ráo, không  có hai việc thành tựu rốt ráo. Đức Thế tôn cũng nói một đế, không có  hai đế, nghĩa là một khổ đế, không có khổ đế thứ hai, cho đến một đạo  đế,

* Trang 460 *
device

 không có đạo đế thứ hai.
Lại có thuyết nói: Chỉ một rốt ráo, không có hai rốt ráo, nghĩa là  sự thành tựu rốt ráo. Phát tâm rốt ráo: đều vì việc thành tựu, nên phát  tâm.
Lại có thuyết nói: Các ngoại đạo v.v... đều tự đối với pháp mà  họ đã thực hành rồi nghĩ là rốt ráo. Phật nói rằng: Chỉ trong pháp khéo  nói, có pháp rốt ráo, trong pháp không khéo nói, không có pháp rốt  ráo.
Lại có thuyết nói: Ở đây không nói rốt ráo đệ nhất, chỉ muốn nói  về lỗi của các ngoại đạo. Người dứt kiến như các ngoại đạo v.v...,  chẳng phải đối với thường kiến, kẻ thường kiến chẳng phải đối với dứt  kiến. Phật nói rằng: Nếu kẻ thường kiến là rốt ráo, thì dứt kiến là  chẳng phải. Nếu kẻ dứt kiến là rốt ráo, thì thường kiến là chẳng phải?  Nhưng thường, dứt đều chẳng phải pháp rốt ráo.
Cho nên, vì muốn nói lỗi của ngoại đạo, nên nói là một rốt ráo,  chẳng phải mọi rốt ráo.
Như nói một rốt ráo, chẳng phải nhiều rốt ráo, cho đến nói rộng. Cứu cánh gọi là pháp gì?
Đáp: Đức Thế tôn hoặc nói đạo rốt ráo, hoặc nói Niết-bàn rốt ráo. Nói đạo rốt ráo là thế nào? Như kệ nói:
Nếu không biết đạo.  
Là mạn thông minh  
Chưa đến rốt ráo  
Không điều mà chết.
Không biết đạo: nghĩa là không thấy tám đạo. Là mạn của thông  minh, nghĩa là ngoại đạo, ngu tiểu tự cho là thông minh, mà sinh kiêu  căng, ngạo mạn. Chưa đến rốt ráo tức dù là phát ý nhưng không đến  rốt ráo.
Không điều mà chết: Như có phiền não mà sinh, có phiền não mà chết.
Như Kệ nói đạo rốt ráo, thế nào là Niết-bàn rốt ráo. Như kệ nói:
Đến rốt ráo không sợ  
Không  nói không ăn năn  
Nhổ hết mũi  tên hữu  
Thân nầy là bên sau.
Đến rốt ráo: Rốt ráo có hai thứ:
 1.        Phát tâm rốt ráo.
2.         Thành sự rốt ráo.
Là đến rốt ráo của sự thành tựu bậc nhất. Không sợ: Là khéo tu

* Trang 461 *
device

 tam-muội Không, vì hiểu sâu pháp duyên khởi, nên không sợ đường  ác và khổ sinh tử. Không nói: nghĩa là không như lời nói vô nghĩa của  các ngoại đạo nói về tà trí, tà kiến không hối hận: Tức là khéo dứt trừ  giới thủ, sinh trí rốt ráo. Giới thủ, sinh trí rốt ráo có thể nhổ hết các  mũi tên hữu, nghĩa là do khéo tu Thánh đạo, có thể làm cho hữu ái đã  dứt hết hẳn, vắng lặng, trụ trong pháp không lưu chuyển.
Thân nầy là biên sau: Vì đã dứt hết nhân của ái, hữu kia, nên  không còn sinh. Vì không còn sinh, nên thân nầy là bên sau:
Đây là rốt ráo nhất
Đạo vắng lặng vô thượng  
Dứt hết tất cả tướng  
Xuất ly đến không chết.
Đây là rốt ráo nhất: nói việc rốt ráo thành. Vắng lặng: là lìa ba  thứ lửa. Đạo là nơi trí đã an lập. Vô thượng: là không có chỗ nương.  Có thể dứt hết tất cả tướng: hiển hiện dứt trừ tất cả nghiệp, dứt tất cả  tướng phiền não. Xuất ly: Vì trừ diệt các phiền não, được thanh tịnh.  Đến không chết: Vì rốt ráo đến pháp bất diệt.
Như Bà-la-môn Số Mục-kiền-liên đến chỗ Phật, bạch Phật: Đệ  tử đã được Sa-môn Cù-đàm hóa độ, tất cả đều đạt đến rốt ráo.
Đức Thế tôn bảo: Bà-la-môn! Việc nầy không nhất định: Hoặc  có người đến, có người không đến. Trong đây nói Niết-bàn là sự thành  rốt ráo, có phát tâm, có rốt ráo phát tâm, có sự thành, có rốt ráo sự  thành.
Thế nào là rốt ráo phát tâm? Cho đến rốt ráo sự thành?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Đạo thế tục đó gọi là phát tâm, chẳng  phải rốt ráo. Thánh đạo gọi là phát tâm, cũng gọi là rốt ráo. Chỗ dứt  của đạo thế tục gọi là sự thành, không gọi là rốt ráo. Chỗ dứt của đạo  vô lậu gọi là sự thành, cũng gọi là rốt ráo.
Lại có thuyết nói: Đạo quả trung gian gọi là phát tâm, không gọi  là rốt ráo. Đạo quả Sa-môn căn bản gọi là phát tâm, cũng gọi là rốt  ráo. Chỗ dứt của đạo quả trung gian gọi là sự thành, không gọi là rốt  ráo. Chỗ dứt của đạo quả căn bản gọi là sự thành, cũng gọi là rốt ráo.
Lại có thuyết nói: Đạo học gọi là phát tâm, không gọi là rốt ráo.  Đạo Vô học gọi là phát tâm, cũng gọi là rốt ráo. Chỗ dứt của đạo Hữu  học gọi là sự thành, không gọi là rốt ráo. Chỗ dứt của đạo Vô học gọi  là sự thành, cũng gọi là rốt ráo. Như Đức Thế tôn nói: Có các ngoại đạo Phạm chí, cho đến nói rộng.
Hỏi: Vì sao tạo ra phần nầy?

* Trang 462 *
device

 Đáp: Đây là kinh Phật. Trong kinh của Phật nói: Có các ngoại  đạo Phạm chí biện luận như vầy: Ta đã dứt các chấp, cho đến nói  rộng. Kinh Phật dù nói như vậy, nhưng không phân biệt. Kinh Phật là  chỗ căn bản của luận nầy. Điều mà trong kinh của chư Phật không nói,  nay A-tỳ- đàm đều muốn nói nên soạn luận nầy.
Ở đây hỏi về ba việc
1.         Hỏi: Các ngoại đạo thật ra không dứt các chấp. Vì sao Phật  nói các ngoại đạo nói là họ đã dứt các chấp?
2.         Hỏi: Như các ngoại đạo không lập ra việc dứt các chấp, vì sao  nói là các ngoại đạo lập ra dứt dục thủ, giới thủ, kiến thủ?
3.         Hỏi: Như các ngoại đạo lập ra dứt dục thủ, giới thủ, kiến thủ,  không lập ra dứt ngã thủ?
Trong ba thứ hỏi nầy, Tôn giả Ca-chiên-diên-tử trước đáp câu  hỏi giữa:  Hỏi: Như các ngoại đạo không dứt các chấp, vì sao nói là họ  dứt dục thủ, giới thủ, kiến thủ, cho đến nói rộng?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Đây là lời nói pháp nho nhỏ của Thế  tôn. Lời nói nầy phải nên hiểu trái lại, không nên thuận theo. Vì sao?  Vì Đức Thế tôn nói pháp, không do không có nhân duyên, cũng không  do ít nhân duyên. Chư Phật giảng nói đều có nhân duyên, chẳng phải  không có nhân duyên, đều có chỗ tạo tác, chẳng phải không có chỗ  tạo tác, đều có đối tượng hóa độ, chẳng phải không có đối tượng hóa  độ. Nếu người khác không có duyên thì Đức Phật không bao giờ nói.
Lại có thuyết nói: Vì Đức Thế tôn thể hiện dứt phần ít các chấp,  Nên nói như thế. Lời nói nầy cũng nên hiểu ngược lại, không nên  thuận theo. Vì sao? Vì như người phàm phu dứt trừ giới thủ, kiến thủ  cõi Dục, cho đến dứt trừ giới thủ, kiến thủ của Vô sở hữu xứ. Phàm  phu cũng dứt ngã thủ của địa Sơ thiền, cho đến dứt ngã thủ của Vô sở  hữu xứ. Cho nên, lời nói nầy cũng không được dùng đúng. Tuy nhiên,  Phật, Thế tôn đã nói rộng các pháp, cho đến nói rộng thuyết nầy, là  nghĩa chân thật.
Vào thời kỳ Phật chưa ra đời, các phái di học ngoại đạo được  tiếng tăm, lợi dưỡng. Về sau, Phật xuất thế, che lấp các ngoại đạo,  cũng như sự sáng suốt mặt trời che lấp đốm lửa. Đệ tử của ngoại đạo  quy phục Đức Thế tôn, lợi dưỡng của ngoại đạo ngày càng giảm ít.
Bấy giờ, các ngoại đạo đều nhóm họp nơi một chỗ, để cùng nhau  bàn bạc: Sa-môn Cù-đàm khi chưa ra đời, tất cả tiếng tăm, lợi dưỡng  hiện có của thế gian đều quy về chúng ta. Nay Sa-môn Cù-đàm đã  xuất thế, những việc như thế v.v... ngày càng giảm ít. Tuy nhiên Sa- môn Cù-đàm kia không có thật đức, chỉ là do hình dung đoan chánh,  giỏi về

* Trang 463 *
device

kinh, luận. Dáng dấp của chúng ta thô tục, đâu đủ để so sánh. Nhưng  kinh pháp do ông ấy giảng nói khó hiểu được. Nay chúng ta phải làm  cách nào để được kinh pháp của ông ta. Nếu được thì hầu hết lợi  dưỡng thế gian đều sẽ trở về với chúng ta. Họ lại bàn bạc: Như Ma- nạp Tô- Thi, v.v... trong chúng của ta rất thông minh, căn tánh nhạy  bén, lại có sức nhớ nghĩ, tất nhiên có thể thọ trì kinh pháp do Sa-môn  Cù-đàm đã nói. Nay hãy sai anh ta qua đó để làm đệ tử của Sa-môn  Cù-đàm. Cù- đàm sẽ vì anh ta giảng nói rộng kinh pháp. Sau khi tụng  đọc xong, anh ta sẽ giải thích cho chúng ta nghe. Bàn bạc như thế xong, khi ấy, ngoại đạo liền nói với Ma- nạp Tô -Thi, v.v... Anh hãy đi đến trụ xứ của Sa-môn Cù-đàm xin làm đệ tử  cho đến xuất gia trong pháp Phật, để được nghe kinh pháp, rồi hãy thọ  trì.
Lúc ấy, Đức Như lai dùng mười lực, bốn vô sở úy, ở trong đại  chúng, rộng vì hàng người, trời giải thích các pháp, có cả các ngoại  đạo ở bên cạnh đại chúng, rón rén đi lại để trộm nghe pháp, ôm lòng  lo sợ. Vì lo sợ, thọ trì thì ít mà quên thì nhiều.
Do nghĩa nầy, phải biết, Đức Thế tôn đã nói rộng các pháp. Các  ngoại đạo v.v... chỉ tụng dứt trừ ba thọ, quên dứt trừ ngã thọ.
Lại có thuyết nói: Đức Thế tôn nói pháp, hoặc có đầy đủ hoặc  không đầy đủ, nhưng mọi việc Đức Thế tôn đã làm đều đầy đủ. Như  kinh nói bốn niệm xứ, về nghĩa của niệm xứ, tức là đầy đủ, như nói  một niệm xứ, gọi là không đầy đủ. Như nói chúng sinh trụ nơi thân,  quán thân chỉ như đất dính trên móng tay còn không trụ nơi thân, quán  thân, như đất của quả đất. Như nói năm cái, bảy chi giác, sáu giới. Ở  đây cũng là nói không đầy đủ. Như nói mười cái, mười bốn chi giác,  mười tám giới, đó gọi là đầy đủ, do việc ấy nên nơi các việc đã làm  thảy đều đầy đủ.
Nói pháp có đầy đủ, không đầy đủ. Có các dị học ngoại đạo tiếp  nhận danh từ của pháp Phật, cho đến nói rộng, vì để làm chứng mà  dẫn kinh Phật. Như kinh nói: Có các ngoại đạo Phạm chí đến giảng  đường, nơi các Tỳ-kheo đang tập hợp, nói rằng: Các Trưởng già! Như  Sa-môn Cù-đàm, thầy của các ông, đã vì các đệ tử nói rằng: Phải dứt  năm cái, làm yên tịnh tâm mình ở bốn niệm xứ, tu bảy giác chi. Chúng  ta sẽ vì các đệ tử, cũng nói pháp như thế, cho đến nói rộng.
Các ngoại đạo kia cùng sinh, cùng tử với cái, mà còn không nhận  thức được cái, huống chi là biết thấy. Niệm xứ, giác chi còn không  nghe được mùi hương, huống chi là biết vị. Tuy nhiên, Đức Phật giảng  nói rộng các pháp, cho đến nói rộng. Như Phạm chí Ma-kiền-đề đến  chỗ

* Trang 464 *
device

Phật, mặc Uất-đa-la-tăng, lấy tay sờ vào y nầy, ra vẻ như bệnh, như  thân bị mụt nhọt, bị trúng tên, bị ghẻ lở, rồi nói rằng: Sa-môn Cù- đàm! Thân nầy không bị bệnh, tức là Niết-bàn. Thân Phạm chí kia  không bị bệnh, thường được uống ăn. Vì thân không bị bệnh, nên nói  thân không bị bệnh, vì được uống ăn, nên nói là Niết-bàn. Phạm chí  kia còn không nhận thức được bốn đại điều hòa nên không bệnh,  huống chi là biết kiết hết tức là Niết-bàn?
Lại có thuyết nói: Không bị bệnh là đạo, Niết-bàn là quả của  đạo. Phạm chí kia còn không nhận thức được về đạo không bệnh,  huống chi là quả của đạo không bệnh. Nhưng Đức Phật đã giảng nói  pháp rộng rãi, cho đến nói rộng. Về câu hỏi của ngoại đạo kia, nay sẽ nói:
Hỏi: Vì sao Phạm chí ngoại đạo không lập ngã thủ?
 Đáp: Như kinh nầy nói: Phạm chí ngoại đạo đêm dài sinh tử chấp  ngã, chấp chúng sinh, cho đến nói rộng.
Lại có thuyết nói: Dị học ngoại đạo đối với ngã thủ (chấp ngã )  tâm sinh sợ hãi, như người đứng ở đỉnh núi cao sợ hãi nhìn xuống.  Ngoại đạo kia cũng giống như thế.
Lại có thuyết nói: Sợ bỏ kiến chấp của mình, chạy theo kiến  chấp của người. Ngoại đạo dị học lấy ngã kiến làm căn bản cho kiến  chấp của mình mà không muốn xả.
Lại có thuyết nói: Vì sợ cắt đứt mạng sống của mình.
Lại có thuyết nói: Sợ bị người đồng phạm hạnh khinh thường.  
Về câu hỏi trước đây của ngoại đạo, nay sẽ nói:
 Hỏi: Như các ngoại đạo không biết dứt trừ các chấp, vì sao lại  nói dứt trừ các chấp?
 Đáp: Đây là Đức Thế tôn đã nói theo thế gian, vì làm chứng, nên  dẫn kinh Phật. Như nói: Có các chúng sinh thấy diệt dứt hoại. Trong  thật nghĩa không có chúng sinh, vì tùy ngoại đạo thế tục mà nói nên  nói có chúng sinh, ở đây cũng giống như thế, cho đến nói rộng.
Có hai trí:
1.         Trí dứt.
2.         Trí biết, cho đến nói rộng.  
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Vì trước nói dị học ngoại đạo lập ra dứt các chấp, không lập  ra dứt ngã thủ. Mặc dù nêu ra như thế, nhưng không phân biệt trí dứt  hay là trí biết. Nay vì muốn giải thích, nên soạn luận nầy. Có hai trí, nghĩa là trí dứt và trí biết.

* Trang 465 *
device

 Thế nào là trí biết? Nếu thấy biết, minh, giác, hiện quán, là trí  biết. Trí đối với không có trí, kiến (thấy) đối với tà tuệ, minh đối với  vô minh, giác đối với tà kiến, hiện quán đối với tà quán.
Lại có thuyết nói: Ở đây nói trí biết vô lậu. Vì sao? Vì không có  đạo thế tục nào có thể hiện quán. Do việc nầy, nên chỉ nói trí biết vô  lậu.
Lại có thuyết nói: Trong đây cũng nói trí biết hữu lậu, vô lậu. Vì  sao biết? Vì trí thế tục cũng có tướng tri kiến, minh, giác, hiện quán.
 Hỏi: Đạo thế tục không có nghĩa hiện quán và sao nói là hiện  quán?   Đáp: Quán hiện ở trước rõ ràng là nghĩa của quán hiện tiền, tức  đạo thế tục cũng có công năng hiện quán.
Hỏi: Nếu vậy là nói các thế tục nào có trí biết?
 Đáp: Trừ hiện quán rỗng lặng tương ưng với tuệ, đó là vô lượng  giải thoát thứ nhất, thứ hai, thứ ba, tám thắng xứ, mười Nhất thiết xứ,  trừ các quán ấy, v.v... tương ưng với tuệ.
Các quán về tướng chung, tướng riêng trừ ngu trong duyên, trừ  ngu nơi thể của vật. Các quán thật khác, như văn, tư, tu, Noãn, Đảnh,  Nhẫn, pháp Thế đệ nhất như thế, v.v...
Hỏi: Làm sao biết nhất định tuệ thế tục là hiện quán?
 Đáp: Như nói nghĩa nhận biết rõ ràng của quán hiện tiền là nghĩa  của hiện quán, tuệ thế tục cũng có thể hiện quán nhận biết rõ ràng. Vì  sao biết? Vì như kinh thành dụ nói: Ta chưa thành tựu Tam Bồ- đề,v.v..., cũng có thể sinh hiện quán nầy. Do việc nầy, nên biết được  tuệ thế tục cũng có thể tạo ra hiện quán. Thế nào là trí dứt?
 Đáp: Nếu tất cả tham ái, giận dữ, ngu si đều dứt, tất cả phiền não  đều dứt trừ, thì gọi là trí dứt.
 Hỏi: Như dứt không có sở duyên còn trí có sở duyên, vì sao nói  dứt là trí?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì dứt là quả của trí nên dứt được gọi  là trí. Như A-la-hán là quả của trí, lấy tên của trí để nói. Như thiên  nhãn, thiên nhĩ là quả chung, dùng tên chung để gọi. Như sáu nhập là  quả của nghiệp, dùng tên của nghiệp để nói. Như sáu nhập nầy là  nghiệp gốc vì dứt trừ như thế là quả của trí, cho nên gọi là trí đoạn.
 Hỏi: Như dứt trong tu đạo là quả của trí, dứt trong thấy đạo là  quả của nhẫn, vì sao nói là trí dứt?
Đáp: Vì dứt kia là quả của trí thế tục. Nếu dùng đạo thế tục lìa  dục

* Trang 466 *
device

cõi Dục, cho đến lìa dục của Vô sở hữu xứ, thì cõi Dục kia, cho đến lìa  dục của Vô sở hữu xứ là quả của trí thế tục.
 Hỏi: Xứ có công của đạo thế tục thì có thể như thế. Đạo thế tục  không có công sức đối với Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, chỗ dứt của  thấy đạo nơi Phi tưởng Phi phi tưởng xứ đều là quả của nhẫn. Làm sao  dứt của thấy đạo kia lại là trí dứt?
Tôn giả tăng-già-bà-tu đáp: Có hai trí dứt:
1.         Là quả của tuệ.
2.         Là quả của trí. Trí dứt kia là quả của tuệ.  Bình luận: Không nên nói như thế. Vì sao? Vì Đức Thế tôn nói  hai trí:
1.         Là trí dứt.
2.         Là trí biết.  
Không nói tuệ dứt.
Lại có thuyết nói: Trí dứt là quả công dụng của trí biết vô lậu. Vì  sao? Vì như Tu-đà-hoàn, do đạo vô lậu, sẽ được quả Tư-đà-hàm. Đạo  vô ngại thứ sáu sẽ chứng chung với chỗ dứt của thấy đạo nơi ba cõi và  sáu phẩm Kiết là chỗ dứt của tu đạo cõi Dục. Tư-đà-hàm do đạo vô  lậu, sẽ chứng được quả A-na-hàm. Đạo vô ngại thứ chín sẽ chứng  chung chỗ dứt của thấy đạo ba cõi và chỗ dứt của tu đạo cõi Dục. A- na-hàm sẽ chứng được định kim cương dụ của quả A-la-hán, sẽ chứng  chung với chỗ dứt của thấy đạo, tu đạo ba cõi nên dứt là quả công  dụng của định kim cương dụ. Do việc nầy nên dứt là quả công dụng  của trí biết vô lậu.
Tôn giả Phật-đà-la-trắc nói: Nên nói là pháp dứt. Vì sao? Vì đây  là đạo của các bậc Thánh, pháp vượt hơn bậc nhất, thích ứng bậc nhất  rốt ráo bậc nhất.
Tôn giả Cù-sa nói: Ở đây phải nói là dứt xả. Vì sao? Vì xả tất cả  pháp sinh tử có được dứt nầy. Hơn nữa, vì từ trong chủng trí sinh ra,  nên nói là trí dứt. Như sinh trong họ Cù-đàm nên gọi là Cù-đàm. Đoạn  kia cũng giống như thế.
Lại có thuyết nói: Đoạn kia dù không có sở duyên nhưng trụ ở  tướng trí, như mắt của quá khứ, vị lai dù không thể thấy mà là tướng  thấy, như thọ của quá khứ, vị lai, dù không có sở giác, nhưng là tướng  của thọ, cho đến nói tuệ cũng giống như thế. Như vậy, dù dứt không  có sở duyên mà là tướng của trí, cho nên gọi là trí dứt.
Hỏi: Như dứt một kiết của thân kiến, cũng gọi là trí dứt, vì sao nói

* Trang 467 *
device

tất cả kiết dứt đều gọi là trí dứt?
 Đáp: Vì dứt một thân kiến, cũng là trí dứt. Ở đây nói dứt tất cả  kiết, đều là trí dứt, không nói là trí dứt trừ dần dần.
Lại nữa, Đức Thế tôn hoặc nói trí là trí biết hoặc nói trí là trí dứt,  thế nào trí là trí biết? Như kệ nói:
Hiền nầy, người tuổi trẻ  
Muốn lợi ích thế gian  
Ái sinh ra các khổ
Biết được là thông minh.
vua Đa-cầu là chỗ căn bản của luận nầy. Nghe nói có vì vua tên  là Đa-cầu bẩm tánh bạo ác, bị người khinh thường, thường cướp đoạt  các thứ của cải của dân chúng. Bấy giờ, dân chúng khắp nơi đều nhóm  họp, cùng bàn bạc bắt vua thoái vị, lập người em kế của vua lên làm  vua.
Khi đó, vua Đa-cầu đến vùng thôn ấp cạnh nước láng giềng cư  ngụ, hằng ngày bện cỏ làm dép để tự kiếm sống. Một hôm vua em hỏi  các quan: Ta có người anh cả nay đang ở đâu? Các quan tâu: Nghe nói  hiện ở thôn nọ bên cạnh nước kia, bệnh cỏ làm dép, kiếm sống qua  ngày. vua em nghe tâu chuyện nầy, tâm sinh buồn sầu, nghĩ rằng: Ta  chỉ có một người anh đang sống khổ sở như thế, nay ta đâu cần ngôi  vua nầy. Liền sai sứ đến tận nơi để triệu người anh về nước, rồi cấp  cho một ngôi làng.
Thời gian nầy, dân chúng gần, nương rất đông. Ngôi làng được  cấp không cung cấp đủ thức ăn cần dùng. vua em lại cấp hai làng, ba  làng, cho đến nửa nước, cũng cố tình cho là không đủ, thế là vua anh  đem nhân lực của nửa nước khởi binh giết chết em, tự lên làm vua.
Bấy giờ, Đế-thích nghĩ rằng: Nay quốc vương nầy đã không biết  ơn nghĩa, gây ra tội ác như thế. Ta sẽ đến đó đánh lừa để làm cho vua  phải khổ não. Rồi Đế-thích tự hóa thân thành một người Bà-la-môn,  đầu vấn búi tóc, thân mắc áo thô, tay trái cầm bình, tay phải cầm gậy  pháp, đi đến chỗ vua khen ngợi vua, rồi đứng qua một phía. vua hỏi:  Đại Bà-la-môn từ đâu đến đây?
Bà-la-môn đáp: Tôi từ ngoài biển đến.
vua lại hỏi: Ngoài biển có việc gì lạ không?
Bà-la-môn nói: Ta thấy có một nước, dân chúng sung túc vô  cùng.
vua lại hỏi: Như ta ngày nay quân binh rất đông, nếu đem quân  thảo phạt có thể thắng hay không?
Bà-la-môn nói: Đến đó tất nhiên có thể được.

* Trang 468 *
device

  vua lại hỏi: Ai sẽ đi trước dẫn đường cho ta?  Bà-la-môn nói: Tôi sẽ dẫn đường.
vua lại hỏi: Nếu được như vậy thì bao nhiêu ngày nữa ông sẽ chỉ  đường cho ta?
Bà-la-môn nói: Bảy ngày nữa. Nói xong rồi bèn đi.
Ngày qua ngày, vua tính ra đã tới ngày hẹn. Đến ngày thứ bảy,  từ sáng sớm nhà vua cho người đi khắp nơi tìm kiếm vị Bà-la-môn  hôm trước nhưng chẳng thấy đâu cả. Do không tìm thấy, nên vua cảm  thấy buồn khổ, ngồi trong tĩnh thất.
Bấy giờ, Bồ-tát Thích -Ca sống trong làng Bà-la-môn thuộc quốc  vương ấy, vì có chút việc nên đến thành vua, nghe nói vua buồn khổ  khôn nguôi, nên nói với các quan: Tôi có thể trừ bỏ nỗi buồn khổ  trong tâm của vua. Các quan liền đưa Bồ-tát đến chỗ vua. Thời gian  nầy, vì quốc vương, Bồ-tát đã nói các nghĩa của kinh kệ:
Đuổi tìm năm dục  
Nếu khi được rồi  
Cho là vừa ý
Sẽ sinh vui mừng.
Cho đến nói hết kệ của phẩm nhiễm dục. Khi Bồ-tát tụng xong  kệ nầy, tâm vua sinh ra ý tưởng nhàm chán, lìa được ái dục. Vì lìa  được dục, nên Bồ-tát lại nói bài kệ nầy:
Nên làm, nói là chánh  
Không làm, đâu được nói  
Nếu nói không thể làm  
Không gọi là người trí.
Bồ-tát nói một kệ nầy, một nửa là vì Đế-thích, một nửa là vì  quốc vương. Nếu không thể làm thì không nên hứa với người. Nếu đã  hứa với người, thì phải làm ngay, mà không làm, là việc không tốt.  Ông cũng phải trù tính, lường xét xem người kia có thể đi, hay không?  Lại vào thời gian nào, từng thấy có người từ ngoài biển đến, mà tin  theo lời họ nói? Thời gian nầy, quốc vương ở chỗ Bồ-tát, tâm sinh vui  mừng, bèn nói kệ:
Người hiền tuổi trẻ nầy  
Muốn lợi ích thế gian  
Ái sinh ra các khổ
Biết được là thông minh.
Do kệ nầy nên nói trí là trí biết.
Nói trí là trí dứt, là thế nào? Như nói: Phật bảo các Tỳ-kheo: Nay

* Trang 469 *
device

ta sẽ nói pháp mà trí nhận biết là trí pháp, trí thành tựu:  Thế nào là pháp mà trí nhận biết?
Đáp: Là năm ấm.
Hỏi: Như trí nhận biết tất cả pháp, vì sao chỉ nói nhận biết năm ấm?
Đáp: Nếu nêu ra câu hỏi nầy, thì như lời đáp của chương dưới. Do đấy chỉ biết khổ. Ở đây nên đều nói hết.
Bình luận: Không nên nói như thế. Vì sao? Vì ở đây nói trí dứt,  không nói trí biết, biết về năm ấm, không biết tất cả pháp.
 Hỏi: Nếu vậy nên soạn luận nầy: Như năm ấm là chỗ nhận biết  của hai trí: Trí biết và trí đoạn, vì sao Đức Thế tôn nói bỏ trí biết, nói  trí dứt?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì nhờ năm ấm nầy mà đạt được trí  dứt, trí biết, vì thế phần dưới đây, sẽ đáp về trí biết, diệt trí v.v... Ở  đây đều nên nói: Thế nào là trí?  
Đáp: Tất cả kiết hết, cho đến nói  rộng.
 Hỏi: Như Đức Phật nói: Tất cả hành dứt hết đều gọi là trí dứt. Ở  đây, vì sao nói tất cả kiết hết là trí dứt?
 Đáp: Đây là lời nói lược về chỗ vượt hơn để giáo hóa hàng hữu  dư của Như lai.
Lại có thuyết nói: Nếu nói kiết đã hết, phải biết là nói về tất cả  hành hữu lậu đều dứt trừ, như trên đã nói.
Nếu là quá khứ thì tất cả đều tận diệt? Lời đáp trong câu hỏi đó,  ở đây, đều nên nói: Thế nào là trí thành tựu?
Đáp: Là A-la-hán lậu tận.
 Hỏi: Như người học, chỗ nào cũng đều có trí, vì sao chỉ nói A-la-  hán là người trí?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Đây là nói về hữu dư của Như lai, cho  đến nói rộng.
Lại có thuyết nói: Vì là vượt hơn, nên đáp như trên. Người Vô  học vượt hơn người Hữu học, trong đây nên nói rộng.
Lại có thuyết nói: Người học tùy thuộc vào chỗ mình biết, chẳng  cần phải bỏ hữu. Người Vô học tùy theo chỗ nhận biết của mình, đều  có thể xả hữu. Trong đây cũng nói: Thế nào là nói?  
Đáp: Tất cả kiết  đã dứt hết. Ai dứt hết tất cả kiết? Chỉ là người Vô học. Lại có thuyết nói: Văn ấy nên nói rằng: Thế nào là trí biết?
Đáp: Nếu tri, kiến, minh, giác, hiện quán v.v..., cho đến nói rộng. Cũng như nói về người hiền, tuổi trẻ v.v..., cho đến nói rộng. Thế nào là trí dứt?

* Trang 470 *
device

Đáp: Tất cả kiết đã dứt hết. Cũng như nói: Nay ta sẽ giảng nói  về pháp trí, cho đến nói rộng. Nếu quy hướng về Phật, người kia sẽ  quy hướng ở đâu? Cho đến nói rộng.
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Vì chẳng phải chỗ quy hướng, sinh ra tưởng về chỗ quy  hướng. Vì muốn biểu thị chỗ quy hướng chân thật, nên soạn luận nầy.  Như kệ nói:
Thường có quy hướng  
Núi, sông, rừng, cây  
Vườn, lầu tháp, miếu  
Vì sợ người khác.
Quy nầy chẳng an  
Quy nầy chẳng hơn  
Về chỗ quy hướng  
Không thể khỏi khổ.  
Nếu quy hướng Phật  
Pháp và chúng tăng  
Đối bốn Thánh đế  
Dùng tuệ để thấy.
Hướng nầy là yên  
Hướng nầy thù thắng  
Hướng nầy vượt khỏi  
Tất cả các khổ.
Cho nên, chẳng phải chỗ quy hướng mà nghĩ là quy hướng. Vì  muốn hiển bày chỗ quy hướng chân thật, nên soạn luận nầy.
Lại có thuyết nói: Vì nhằm ngăn chúng sinh ngu si quy hướng  chúng sanh hoặc cho rằng, quy hướng Phật, nghĩa là quy hướng thân  Như lai do cha mẹ sinh ra với các phần đầu, chân v.v... Vì nhằm ngăn  ý tưởng như thế. Nếu người quy hướng Phật, thì phải quy hướng về  Bồ-đề của Phật là pháp Vô học.
Nếu quy hướng về pháp, nghĩa là quy hướng về pháp thiện, bất  thiện, vô ký và việc tu hành của các Tỳ-kheo là pháp nên làm, không  nên làm. Nếu quy hướng về pháp, phải quy hướng sự yêu kính trọng  pháp Niết-bàn. Nếu quy hướng về tăng, nghĩa là quy hướng người xuất  gia bốn họ, vì muốn cho chúng sinh đều được quyết định ở trong pháp  nầy. Nếu người quy hướng tăng, phải quy hướng pháp Hữu học, Vô  học. Cho nên, vì muốn ngăn chúng sinh ngu quy hướng nên soạn luận

* Trang 471 *
device

nầy.
Hỏi: Nếu quy Phật, người kia quy thế nào?
 Đáp: Phật, nghĩa là thật có pháp nầy. Vì có pháp nầy, nên lập ra  nên ngôn ngữ như thế, danh xưng như thế, tư tưởng như thế, gọi là  Phật, cho đến nói rộng.
 Hỏi: Vì sao nói thế nầy: Phật, nghĩa là thật có pháp nầy, vì có  pháp nầy, nên lập ra ngôn ngữ như thế, danh xưng như thế, tư tưởng  như thế, gọi là Phật.
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Phật không chỉ có lập ra danh xưng, tạo  ra ngôn ngữ như thế, danh xưng như thế, tư tưởng như thế gọi là Phật,  mà còn không có thật.
Vì nhằm ngăn ý tưởng như thế, nên nói rằng: Phật, nghĩa là thật  có pháp nầy, cho đến nói rộng. Nếu người quy hướng, thì quy hướng  về pháp Bồ-đề Vô học của Phật như thế.
 Hỏi: Nếu pháp Bồ-đề Vô học là Phật chân thật, thì kinh nầy nói  làm sao hiểu? Như: Cư sĩ Tu Đạt hỏi: Sao gọi là Phật? Người kia đáp:  Phật nghĩa là có người mang dòng họ Thích, do tin tưởng xuất gia, cạo  bỏ tóc râu, thân mặc y nhuộm, đó gọi là Phật.
 Đáp: Đây là nói về chỗ nương của Phật, nếu nói về chỗ nương,  phải biết cũng là nói chủ thể nương.
 Hỏi: Nếu nói pháp Bồ-đề Vô học là Phật chân thật, thì vì sao với  tâm ác làm thân Phật chảy máu mà mắc tội nghịch?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Do tâm oán ghét pháp Bồ-đề Vô học,  là vì tâm ác làm thân Phật chảy máu nên mắc tội nghịch.
Lại có thuyết nói: Vì làm hư hoại chỗ nương của Bồ-đề Vô học,  hoặc phá hoại chỗ nương, thì cũng phá hoại chủ thể nương. Do đó  phạm phải tội nghịch.
Nếu quy hướng pháp, thì người kia sẽ quy hướng thế nào?
 Đáp: Nếu quy hướng pháp, tất nhiên phải quy hướng Niết-bàn đã  dứt hết ái.
Hỏi: Nếu quy hướng tăng, thì người kia sẽ quy hướng như thế nào?
 Đáp: Tăng, là người thật có pháp nầy, cho đến nói rộng, đó gọi là tăng.   Hỏi: Thế nào là quy? Thế nào là hướng? Quy hướng là nghĩa gì?  
Đáp:  Quy, nghĩa là phần ít của diệt đế, Đạo đế. Hướng là lời nói ở miệng.
Lại có thuyết nói: Hướng, nghĩa là có thể khởi tâm để miệng nói

* Trang 472 *
device

ra lời. Lại có thuyết nói: Tin chắc pháp nầy, đó gọi là hướng.
Bình luận: Nói như thế là đúng: Có thể khởi miệng, lời nói, tâm  và thể của năm ấm nơi pháp cùng có, là hướng. Thế nào là nghĩa quy hướng?
Đáp: Nghĩa cứu giúp, là nghĩa quy hướng.
 Hỏi: Nếu nghĩa cứu giúp là nghĩa quy hướng thì sao Đề-bà-đạt- đa cũng quy hướng Phật, Pháp, tăng, mà vẫn bị đọa vào đường ác,  không được cứu giúp?
 Đáp: Nếu là người quy hướng, thì không phá giới hạnh, không  vượt qua giới phần, có thể được cứu giúp. Nếu người đã quy hướng mà  phá giới hạnh, vượt qua giới phần, thì sẽ không được cứu giúp. Như  người vì sợ kẻ thù, nên quy hướng ở vua, cầu mong được vua cứu giúp.  vua nói với người kia: Nếu ngươi ở trong nước của ta, không vượt qua  giới phần, thì ta sẽ cứu giúp ngươi, nếu vượt qua giới phần của ta, thì  ta sẽ không thể cứu giúp ngươi.
Chúng sinh như thế, vì sợ đường ác, nên quy hướng Phật. Phật  nói: Nếu quy hướng ta, thì không nên phá hủy giới hạnh, vượt qua giới  phần. Nếu phá giới hạnh, vượt qua giới phần, thì ta không thể cứu  giúp. Cho nên, nghĩa cứu giúp là nghĩa quy hướng.
Lại có thuyết nói: Tùy thuộc vào ngần ấy quy hướng, thì sẽ có  ngần ấy cứu giúp, vì nhân duyên quy hướng, nên được ra khỏi đường  ác.
 Hỏi: Nếu người quy hướng Phật là quy thú một vị Phật hay quy  hướng chư Phật nhiều như số cát sông Hằng v.v...? Nếu quy hướng một  Phật, thì sao không là quy hướng phần? Nếu quy hướng Chư Phật như  số cát sông Hằng, thì vì sao chỉ nói quy hướng một vị Phật? Và kinh  nầy nói làm sao hiểu? Như nói: Ta là đệ tử Phật Tỳ-bà-thi, ta là đệ tử  Phật Thi-khí? Hoặc cho đến nói: Ta là đệ tử Phật Thích-ca Mâu-ni?
Bình luận: Nên nói rằng: Quy hướng Chư Phật nhiều như số cát  sông Hằng v.v...
Hỏi: Nếu vậy tại sao lại nói quy thú một Phật?
 Đáp: Văn nầy lẽ ra nói rằng: Ta quy hướng Chư Phật, nhưng  không nói. Nếu quy hướng một vị Phật thì phải biết cũng là quy hướng  chư Phật.
Nói ta là đệ tử của một Phật: nghĩa là lễ thấy chỗ chân đế của  Phật kia thì nói: Ta là đệ tử của vị Phật đó.   Hỏi: Nếu người quy hướng pháp, là vì quy hướng các ấm diệt của  thân mình, hay vì quy hướng các ấm diệt của thân người, hay vì quy

* Trang 473 *
device

hướng các ấm diệt của thân mình và thân người? Nếu quy hướng các  ấm diệt của thân mình, thì sao không là quy hướng nơi phần? Nếu quy  hướng nơi người, thì làm sao nghĩa nghĩa cứu giúp là nghĩa quy hướng?  
Đáp: Nếu quy hướng, nghĩa là quy hướng thân mình và thân người.
Hỏi: Nếu vậy thì sao lại nói nghĩa cứu giúp là nghĩa quy hướng?
 Đáp: Mặc dù đối với ta không có cứu giúp, nhưng về tánh là cứu  giúp, cho nên, nghĩa cứu giúp là nghĩa quy hướng.
 Hỏi: Nếu quy hướng tăng là quy hướng một vị Phật hay quy  hướng chư Phật? Nếu quy hướng một vị Phật thì sao không là quy  hướng theo phần? Nếu quy hướng chư Phật thì sao lại nói là quy hướng  một Phật? Kinh nầy nói làm sao hiểu? Như nói: Phật bảo người đi  buôn: Ông phải quy hướng tăng của đời vị lai.
Bình luận: Nên nói rằng: Quy hướng chư Phật tăng.
Hỏi: Nếu vậy vì sao lại nói quy hướng tăng của một Phật?
 Đáp: Văn ấy lẽ ra phải nói rằng: Quy hướng tăng của Chư Phật,  mà không nói. Nếu quy hướng tăng của một Phật, tức là vì quy hướng  tăng của chư Phật.
Như kinh nầy nói làm sao hiểu? Nghĩa là do không có tăng bảo  hiện ở trước.
Lại có thuyết nói: Vì tăng bảo khó đạt được. Vì sao? Vì có Phật  ra đời mà không có tăng bảo.
Hỏi: Chỗ nào có quy hướng nầy?
 Đáp: Nếu đi chung với giới, thì chỉ có ở loài người. Nếu không đi  chung với giới, thì các đường khác đều có.
 Hỏi: Có thọ giới mà không thọ quy hướng, người nầy có đắc giới  không?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Không đắc giới. Vì sao? Vì nếu muốn  thọ giới, trước phải thọ quy hướng.
Lại có thuyết nói: Nếu kẻ nào do tâm tự đại kêu mạn, mà không  quy hướng, tất nhiên kẻ đó sẽ không đắc giới. Nếu người nào không  biết là thọ giới trước, hay thọ quy hướng trước, bèn không thọ quy  hướng mà thọ giới, thì người nầy sẽ đắc giới, nhưng người truyền giới  đắc tội.
 Hỏi: Nếu không cầu thọ quy hướng thì có được quy hướng hay  không?
Đáp: Không được.
 Hỏi: Nếu không được quy hướng, hoặc có trẻ sơ sinh hoặc còn  nằm trong bụng mẹ mà cũng thọ quy hướng, thì điều nầy làm sao  hiểu?
Đáp: Trường hợp nầy là thuận theo giới. Người nầy về đời trước

* Trang 474 *
device

vốn hay ban cho người khác thọ giới đầy đủ. Nếu khi còn ở trong bụng  mẹ, hoặc lúc mới sinh, cha mẹ đã vì chúng thọ quy hướng. Về sau, khi  lớn khôn, làm chuyện phi pháp, người ta bèn trách: Lúc còn ở trong  bụng mẹ và hồi mới sinh, ông đã thọ quy hướng rồi, nay sao lại làm  chuyện phi pháp! Sau khi nghe lời quở trách người ấy vội tránh xa  điều ác, tu việc thiện. Cho nên thuận theo vì giới, mà thọ quy hướng,  chứ thật ra thì không được.
Lại có thuyết nói: Vì muốn cho chúng sinh tin Phật, chư thiên sẽ  vì đấy mà ủng hộ.
 Hỏi: Nếu người khác cầu thọ quy hướng dùm, thì người ấy có  được hay không?
Đáp: Không được.
 Hỏi: Nếu không được thì khi Phật sắp Niết-bàn, Tôn giả A-nan  bạch Phật: Có một số người ở thành Câu Thi xin quy hướng Thế tôn,  cũng quy Pháp, tăng v.v… làm sao hiểu lời nầy?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Nhờ năng lực oai thần của Phật, nên  khi sắp nhập Niết-bàn, đã khiến cho các lực sĩ của thành Câu-thi đồng  với người khác vì cầu mà được giới.
Lại có thuyết nói: Tôn giả A-nan đi vào thành Câu-thi vì nhiều  lực sĩ mà truyền trao quy hướng và giới, rồi trở lại bạch Phật: Thế tôn!  Lại có chúng đệ tử sau cùng như thế.
Lại có thuyết nói: Được. Như nàng Ca-thi là người câm không  nói được, nếu nói: Nếu quy hướng Phật, sẽ không bị đọa vào đường  ác.
 Hỏi: Những người quy hướng Phật đều không bị đọa vào đường  ác chăng?
Đáp: Đây là vì người có được niềm tin không hư hoại, Nên nói rằng.
Lại có thuyết nói: Vì người có tâm quy hướng sâu xa, Nên nói rằng.
Hỏi: Như  Pháp bảo là vượt hơn Phật, vì sao khi quy hướng lại quy hướng Phật trước, rồi mới quy hướng pháp?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì Đức Phật là bậc tôn quý ở trong  giáo pháp, nên trước phải quy hướng Phật.  Lại có thuyết nói: Cũng như người bệnh, trước phải nương vào  thầy thuốc, sau đó mới uống thuốc. Đức Phật người thầy thuốc sư sáng  suốt, Pháp như thuốc hay, tăng như người cho thuốc.
?????

* Trang 475 *
device

Đại Tập 95 - Bộ Tỳ Đàm VII - Số 1546 (Quyển 1-40)