LOGO VNBET
LUẬN A TỲ ĐÀM TỲ BÀ SA
 
QUYỂN 20
 
Chương 1: KIỀN-ĐỘ TẠP
 
Phẩm 5: KHÔNG HỔ THẸN, Phần 2
 
Tất cả trạo cử đều tương ưng với hối chăng? Cho đến nói rộng.  
Hỏi: Vì sao soạn luận như thế?
 Đáp: Đức Thế tôn nói: Trạo cử và hối tạo ra một cái ,oặc nói là  ngoài trạo cử không Có khi hối, ngoài hối không có trạo cử.
Vì muốn nói ngoài hối có trạo cử, ngoài trạo cử Có khi hối, vì là  nghĩa quyết định, nên soạn luận như thế.
Tất cả trạo cử đều tương ưng với hối? Cho đến nói rộng thành  bốn trường hợp.
Thế nào là trạo cử không tương ưng với hối?
Đáp: Lúc chẳng phải hối, tâm không thôi nghỉ, cho đến nói rộng.  
Hỏi: Sự trạo cử kia là gì?
 Đáp: Tất cả trạo cử cõi Sắc, Vô sắc, đều là chỗ dứt của kiến đạo  cõi Dục. Bốn thứ trạo cử là chỗ dứt trừ của tu đạo. Trạo cử của năm  thức thân, trạo cử tương ưng với dục, giận, mạn, keo kiệt, ganh ghét  của địa ý thức.
Những trạo cử như thế không tương ưng với hối. Vì sao? Vì  không Có khi hối trong phẩm trạo cử kia.
Hỏi: Hối không tương ưng với trạo cử kia là sao?
 Đáp: Hối của tâm không nhiễm ô, cho đến nói rộng. Hối đó là  gì? Như Tỳ-kheo vì sợ giới cấm, cho nên hối. Hoặc không tự nêu lên,  hoặc khiến người khác nêu lên, ngọa cụ nằm ở ngoài trời. Hoặc tự  đóng, hoặc bảo người đóng cửa hành xử lớn, nhỏ, hoặc hối vì làm  phước. Thế nào là đúng? Có khi hối nhân nơi bất thiện mà hối cũng  bất thiện. Có khi hối bất thiện nhân nơi thiện. Có khi hối nhân nơi  thiện, nên hối cũng thiện. Có khi hối thiện nhân nơi bất thiện. Có khi  hối nhân nơi bất thiện,

* Trang 504 *
device

 nên hối cũng bất thiện: Giống như có người làm một điều ác, hối hận:  Điều ác mình đã làm ít quá, lẽ ra phải làm thêm nữa.
Có khi hối bất thiện nhân nơi thiện: Giống như có người đã làm  một việc thiện, về sau lại hối: Cớ sao ta lại làm việc thiện nầy?
Như cư sĩ nọ cúng thí thức ăn cho Bích-chi Phật. Về sau lại hối  hận nói: Thà ta đem thức ăn ấy cho kẻ tôi tớ, bố thí cho người nầy làm  gì?
Có khi hối nhân nơi thiện nên hối cũng thiện: Giống như có  người làm việc thiện, về sau lại hối hận nói: Ta đã làm việc thiện quá  ít, lẽ ra phải làm thêm. Như Tôn giả A-ni-lô-đầu nói rằng: Nếu ta biết  Đại đức nầy có oai thần như thế, thì ta đã cúng dường Đại đức ấy thức  ăn thêm.
Có khi hối thiện mà nhân bất thiện: Cũng như có người đối với  giới đã phạm, nói: Ta đã làm việc như thế, chẳng phải điều tốt. Như  không thâu cất đồ nằm ở ngoài trời. Các giới giống như thế v.v...
Trong bốn thứ nầy, hối thiện nhân nơi thiện, hối thiện nhân nơi  bất thiện, hối nầy không tương ưng với trạo cử.
Thế nào là trạo cử tương ưng với hối? Nghĩa là trạo cử của tâm  nhiễm ô, cho đến nói rộng.
 Hỏi: Vì sao hỏi trạo cử tương ưng với hối, mà đáp là hối tương  ưng với trạo cử?
 Đáp: Văn ấy nên nói như vầy: Thế nào là trạo cử tương ưng với  hối? Nếu khi tâm hối thì không thôi, không nghỉ, cho đến nói rộng  nhưng không nói là có ý gì?
 Đáp: Đây là nói về hối của tâm nhiễm ô tương ưng với lúc khởi  trạo cử. Các tâm nhiễm ô khác chỉ tương ưng và trạo cử, không tương  ưng với hối.
Lại có thuyết nói: Thể của hối và trạo cử đều là cái, nên đặt ra  câu hỏi nầy: Thế nào là trạo cử tương ưng với hối? hối tương ưng với  trạo cử là sao? Thế nào là trạo cử không tương ưng với hối? hối không  tương ưng với trạo cử? Trừ ngần ấy việc trên.
Các pháp đã đặt tên, đã được xưng gọi nên tạo ra trường hợp thứ  nhất, thứ hai, thứ ba. Nếu chưa đặt tên, chưa xưng gọi là tạo ra trường  hợp thứ tư, tương ưng với tất cả thùy miên phải không? cho đến nói  rộng.
Hỏi: Vì sao soạn luận như thế?
 Đáp: Đức Thế tôn nói: Thùy (nghỉ) và miên (ngủ) là một cái.  Hoặc cho rằng, ngoài thùy không có miên, ngoài miên không có thùy.  Nay vì muốn nói rõ nghĩa quyết định: Ngoài thùy có miên, ngoài miên

* Trang 505 *
device

  có thùy, nên soạn luận như thế.
Tất cả thùy miên tương ưng chăng? Cho đến nói rộng thành bốn  trường hợp: Thế nào là thùy không tương ưng với miên?
Nếu khi thân chưa cử động, thân nặng nề, là nói năm thức thân  ngủ nghỉ (Thùy), tâm nặng nề là nói thân ý thức nghỉ. Cả thân, tâm  đều cần nghỉ ngơi. Trường hợp khác cũng giống như thế.
Thùy kia là gì? Tất cả cõi Sắc, Vô sắc đều thùy, cõi Dục lúc  không miên, là thùy. Đây là nói thùy không tương ưng với miên.
Thế nào là miên không tương ưng với thùy? Miên của tâm không  nhiễm ô là mộng. Thân lay động, tâm không tán loạn, tâm không  hành. Năm thức ngủ trong ý thức, tâm không nhiễm ô: tâm thiện, tâm  không ẩn giấu vô ký. Đó gọi là miên không tương ưng với thùy. Thế nào là thùy tương ưng với miên?
 Đáp: Miên của tâm nhiễm ô là mộng, cho đến nói rộng. Trường  hợp còn lại đáp trường hợp còn lại như đã nói trong trạo hối ở trên.
Miên, nên gọi là thiện được chăng? Cho đến nói rộng.  
Hỏi: Vì sao soạn luận như thế?
 Đáp: Đây là nhân luận sinh luận, trước nói về miên của tâm  không nhiễm ô làm mộng, cho đến nói rộng. Không nói miên là thiện,  bất thiện, vô ký. Trong kinh kia không nói, nay vì muốn nói rõ, nên  soạn luận nầy.
Miên, nên gọi là thiện được không? Cho đến nói rộng?
 Đáp: Miên hoặc thiện, bất thiện, vô ký. Thế nào là thiện? Miên  của tâm thiện là mộng, gọi là thiện.
 Hỏi: Miên của tâm thiện sinh đắc, là mộng, hay miên của tâm  thiện phương tiện là mộng?
Đáp: Là thiện sinh đắc, chẳng phải thiện phương tiện.  
Hỏi: Những chúng sinh nào ngủ trong tâm thiện?
 Đáp: Là người lúc không ngủ thường tu hành việc thiện: Vì  thường tu hành việc thiện, nên lúc ngủ cũng thiện.
Như người tu hành lúc không ngủ, có nhớ nghĩ đến cảnh giới  thiện kia không?
Nghĩ nhớ đến cảnh giới mà ngủ, trong lúc ngủ, lại thấy cảnh giới  cũ: Tụng kinh, thí chủ cũng giống như thế. Chúng sinh như thế, là ngủ  trong tâm thiện.
Những chúng sinh nào ngủ trong tâm bất thiện?
 Đáp: Là người lúc không ngủ, thường làm việc ác, như kẻ giết  mỗ, thợ săn, ban ngày làm việc bất thiện, đêm ngủ, nằm mộng cũng  giống

* Trang 506 *
device

 như vậy. Như kẻ giết mỗ, thợ săn, kẻ trộm cướp, người dâm dục cũng  giống như thế. Chúng sinh như vậy là ngủ trong tâm bất thiện. Những chúng sinh nào ngủ trong tâm vô ký?
 Đáp: Là những kẻ lúc không ngủ, thường làm những việc vô ký,  cũng ngủ trong tâm vô ký, lại thấy báo của việc vô ký, cũng ngủ trong  tâm vô ký. Cũng ngủ trong tâm oai nghi, công xảo, lại làm những việc  oai nghi, công xảo. Cũng ngủ trong tâm ẩn giấu vô ký của thân kiến,  biên kiến, như ấm bản hữu, thường tu hành thiện, bất thiện, vô ký nên  cũng chết với tâm thiện, bất thiện, vô ký. Lúc không ngủ, thường là  những việc thiện, bất thiện, vô ký. Khi ngủ, cũng với tâm thiện, bất  thiện, vô ký.
Việc thiện làm trong giấc ngủ tăng ích, nên nói là xoay lại chăng? Cho đến nói rộng.
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Trước đã nói về ngủtrong tâm thiện, cho đến nói rộng.  Không nói chỗ tạo thiện tăng ích trong khi ngủ nên nói là xoay lại hay  không xoay lại?
Những gì trong kinh kia không nói, nay vì muốn nói nên soạn luận nầy.
Việc thiện đã làm trong khi ngủ tăng ích nên nói là xoay lại  chăng? Cho đến nói rộng.
Hoặc có thuyết nói: Đắc là tăng ích. Hoặc có thuyết nói: sinh là  tăng ích.
Sao nói đắc là tăng ích? Như nơi Kiền-độ Định đã nói: Vì sao? Vì  khi người phàm phu thối lui, thì phiền não do kiến đạo, tu đạo dứt trừ  được tăng ích,. Lúc đệ tử Phật thối chuyển, chỉ phiền não do tu đạo dứt  trừ được tăng ích.
Vì sao nói sinh là tăng ích? Như kinh Thi Thiết nói: Nếu người  phàm phu sinh khởi ái cõi Dục, thì sẽ sinh năm pháp là:
1.         Ái cõi Dục.
2.         tăng ích ái cõi Dục.
3.         Vô minh.
4.         Vô minh tăng ích.
5.         Trạo cử.
 Trong ấy, nói tư thiện, tư bất thiện, được quả ái, quả không ái,  gọi là tăng ích. Sự tăng ích đó sinh ra quả ái hay là sinh quả không ái?
Đáp: Nếu thiện thì sinh quả ái. Nếu bất thiện, thì sinh quả không ái.

* Trang 507 *
device

Thế nào là thiện tăng ích? Như khi ngủ (miên) nằm mộng thấy  mình đang bố thí. Như người thường hành bố thí, người ấy khi ngủ  mộng thấy mình cũng làm việc nầy. Nếu ưa hành học rộng, đến lúc  ngủ, người ấy nằm mộng cũng thấy mình đang làm việc nầy. Đọc tụng  Tu-đa-la, A- tỳ-đàm. Giữ giới thiện, cũng giống như thế. Nếu ưa tu  định, thì lúc ngủ, người đó mộng thấy mình cũng đang làm việc nầy.  Như người tu quán bất tịnh v.v..., thì ngủ ngon lành. Đó gọi là thiện  tăng ích.
Thế nào là bất thiện tăng ích? Nếu người ưa làm việc xấu ác, lúc  ngủ, nằm mộng thấy mình cũng đang làm việc ác đó. Như thợ săn,  giết mỗ nằm mộng thấy mình đang làm việc sát hại. Trộm lấy tài sản  của người, người dâm, phạm nữ sắc của người. Đó gọi là bất thiện  tăng ích.
Không phải thiện tăng ích, chẳng phải bất thiện tăng ích là thế nào?
Như người ưa hành việc oai nghi, công xảo, khi ngủ, nằm mộng thấy mình cũng đang thực hành những việc ấy. Như người tu hành nằm  mộng thấy mình là nông phu đang trồng lúa. Như thợ đồng, sắt v.v...  nằm mộng thấy mình đang chế tạo vật dụng đồng, sắt v.v...
 Hỏi: Thiện tăng ích đã làm khi ngủ, thì vì sao Phật nói người ngu  lúc ngủ, không có quả báo?
 Đáp: Như người lúc không ngủ, có thể cày ruộng, trồng trọt  v.v..., vì ngủ nên không làm. Đức Phật nói người nầy gọi là không có  quả báo. Như người không ngủ, có thể đọc tụng kinh, có thể tu căn  thiện như quán bất tịnh v.v..., có thể sinh niệm xứ, có thể sinh căn  thiện đạt phần như: Noãn v.v... Có thể quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà- hàm, quả A- na-hàm, A-la-hán. Vì ngủ, nên không được quả báo như  vậy. Cho nên, Đức Phật nói là người ngu khi ngủ không có quả báo.
Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Vì lúc ngủ chỉ được một chút quả, nên  Phật nói: Không có quả. Trong kinh của Phật nói: Thà nên ngủ, chớ thức mà khởi ác.
 Hỏi: Nếu ngủ mà bất thiện tăng ích thì vì sao Đức Phật nói: Thà  nên ngủ, chứ không thức mà khởi ác?
 Đáp: Vì lúc không ngủ, thường khởi nhiều giác ác, khi ngủ thì ít.  Do việc nầy, nên Đức Phật nói: Thà nên ngủ, chứ không nên thức mà  khởi ác.
Hỏi: Lúc ngủ, có thể tạo ra nơi sinh, gây ra nghiệp chăng?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Có thể gây ra nghiệp, tạo ra nơi sinh  đường ác. Như loài trùng Bà-la-địa-ca, con lươn, con giun v.v..., thọ

* Trang 508 *
device

 thân mềm yếu.
Mộng gọi là pháp gì, cho đến nói rộng?  
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Trước nói về việc đã làm trong mộng, chưa nói về thể của  mộng. Nay muốn nói về thể của mộng, nên soạn luận nầy.
Lại nữa, kinh Phật nói: Khi ta làm Bồ-tát, nằm mộng thấy năm  việc. vua Ba-tư-nặc mộng thấy mười việc. Như Ưu-bà-tư, mẹ của Nan-  đà-ca, bạch Phật: Chồng con đã mất ứng hiện mộng cho con. Kinh  khác nói kệ:
Trong giấc mộng gặp người  
Thức rồi, không còn thấy  
Tất cả vật mình có
Chết rồi, cũng không thấy.
Kinh khác cũng nói: Các thầy nên bỏ pháp như chiêm bao. Pháp  như chiêm bao là sao? Là năm ấm cho đến nói rộng.
Kinh Phật dù có nhiều chỗ nói về mộng nhưng không phân biệt.  
Kinh Phật là phần căn bản soạn luận nầy. Trong kinh kia không nói,  nay vì muốn nói nên soạn luận nầy.
Lại có thuyết nói: Phái Thí dụ giả nói mộng chẳng phải pháp có thật.
 Hỏi: Vì sao phái kia nói như thế?
Đáp: Vì họ lấy việc hiện đời để nói như thế. Như người nằm mộng thấy mình ăn uống no nê, các căn tăng ích, đến khi thức giấc, thì vẫn  đói khát. Trong mộng, thấy mình trổi lên năm điệu nhạc, thức dậy đều  không còn thấy. Nằm mộng thấy bốn thứ binh đang bao vây, khi thức  giấc, chỉ một mình lẻ loi. Do việc nầy, nên biết mộng chẳng có thật.
Vì nhằm ngăn ý của người nói như thế, cũng nói mộng là pháp  có thật, nên soạn luận nầy.
Hỏi: Mộng gọi là pháp gì?
 Đáp: Lúc ngủ, pháp tâm, tâm sở tùy theo sở duyên của mình, đến  khi thức giấc, vẫn không quên, còn kể lại cho người khác nghe là mình  đã nằm mộng thấy những việc như thế, đó gọi là mộng.
 Hỏi: Như việc mình đã thấy trong mộng, khi thức giấc, nếu nhớ  mà không kể lại cho người khác nghe thì có phải là mộng không?
 Đáp: Đó cũng là mộng. Mộng nói ở đây là giấc mộng đầy đủ.  Mộng đầy đủ, là cảnh tượng đã thấy trong mộng, đến khi thức giấc,  không quên, cũng kể lại cho người khác nghe.
Hỏi: Thể tánh của mộng là gì?

* Trang 509 *
device

 Đáp: Thể tánh của mộng là ý. Vì sao? Vì sức của ý, nên pháp  tâm, tâm sở sinh.
Lại có thuyết nói: Thể tánh của mộng là pháp tâm, tâm sở. Vì  sao? Vì như kinh nầy đã nói: Tâm, pháp tâm sở, tùy theo sở duyên của  ý thức kia.
Lại có thuyết nói: Cảnh của pháp tâm, tâm sở là thể tánh của  mộng. Vì sao? Vì như kinh nầy đã nói: Tâm, pháp tâm sở, tùy theo sở  duyên kia.
Lại có thuyết nói: Thể tánh của mộng là năm ấm.  
Hỏi: Xứ nào có mộng?
Đáp: Cõi Dục, chẳng phải cõi Sắc, Vô sắc.
Hoặc có thuyết nói: Cõi Dục không phải đều có mộng, như  chúng sinh địa ngục. Vì sao? Vì bị đau khổ ép ngặt, nên không được  ngủ.
Lại có thuyết nói: Địa ngục cũng có lúc ngủ. Vì sao? Như nói  trong địa ngục Hoạt, đôi khi có gió lạnh thổi đến, họ reo lên như thế  nầy: Chúng sinh sống! Chúng sinh sống! Bấy giờ, các chúng sinh liền  được sống lại. Vì gió lạnh thổi, nên họ tạm thời được ngủ. Do việc  nầy, nên biết trong địa ngục cũng có ngủ, mộng. Súc sinh, ngạ quỷ,  con người cũng có ngủ, mộng.
Hỏi: Những người nào có mộng?
 Đáp: Phàm phu, bậc Thánh đều có mộng. bậc Thánh từ Tu-đà-  hoàn đến Bích-chi Phật đều có mộng, chỉ có Chư Phật không mộng. Vì  sao? Vì chỉ có Chư Phật không có hoài nghi, cũng lìa tất cả, không có  tập khí xảo tiện.
 Hỏi: Cảnh thấy trong mộng là việc đã từng trải hay chẳng phải  việc đã từng trải?
Đáp: Là việc đã từng trải qua, chẳng phải việc chư từng trải.
 Hỏi: Nếu vậy mộng thấy người có sừng thì ở chỗ nào đã từng  thấy con người có sừng?
 Đáp: Đây là loạn tưởng, nên ở chỗ khác thấy con người, ở chỗ  khác nữa thấy sừng, vì loạn tưởng, nên nói là một chỗ thấy người có  sừng
Lại có thuyết nói: Trong biển cả, có con sâu hình người, trên đầu  có sừng, vì từng thấy, nên nay cũng mộng thấy.
 Hỏi: Như Bồ-tát nằm mộng thấy năm việc là ở chỗ nào từng  thấy?
Đáp: Việc đã từng trải có hai thứ: 1.  Từng thấy.

* Trang 510 *
device

 2.        Từng nghe.
Chỗ mộng của Bồ-tát là từng nghe. Nghe ở chốn nào? Chốn của  Chư Phật quá khứ đã vì các đệ tử nói về năm điềm mộng nầy. Bồ-tát  đã ở chỗ Chư Phật kia nên được nghe. Vì từng nghe, nên nay cũng  mộng thấy.
Hỏi: Ai hiện ra mộng nầy?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Là các quỷ thần hiện ra việc tốt, không tốt.
Tôn  giả Hòa-tu-mật nói: Do năm việc nên hiện mộng, như kệ nói:
Do tâm nghi phân biệt  
Tập giác  nhân hiện việc  
Phi nhân đến nói  nhau,  
Nhân năm việc thấy  mộng.
Phương y nói, vì có bảy việc nên mộng, như kệ nói:
Hoặc đã nghe, thấy qua  
Chỗ  cầu vừa phân biệt  
Tập giác và  các họa  
Nhân bảy việc thấy  mộng.
Hỏi: Như ý thức hiện tại, không thể thấy sắc v.v..., sao nói mộng là lĩnh vực của ý mà có thể thấy sắc?
 Đáp: Vì thấy tướng mạo tốt, không tốt, nên nói là thấy. Các vị  tiên nói về mộng cũng giống như thế.
Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Lúc ngủ, năm thức không hiện ở  trước, nên không thể thấy sắc v.v... Như Ưu-bà-tư mẹ của Nan-đà-ca  nằm mộng, do thế lực của miên suy yếu, nên có thể thấy sắc v.v...
 Hỏi: Việc đã nhớ nghĩ trong mộng nhiều, hay việc mà trí túc  mạng của địa đệ Tứ thiền đã nhớ nghĩ là nhiều?
 Đáp: Việc đã nhớ nghĩ trong mộng là nhiều, chẳng phải việc mà  trí túc mạng của địa đệ Tứ thiền đã nhớ nghĩ nhiều. Do việc ấy, Nên  nói rằng.
Có khi nào không nhập thiền, không khởi thông hiện ở trước, mà  nhớ nghĩ được việc của A-tăng-kỳ kiếp hay không?
Đáp: Có, đó là đối tượng nhớ nghĩ trong mộng.
Theo sách mộng của người tiên đã nói, nêu con người nằm mộng  thấy việc như thế thì sẽ có quả như thế.
 Hỏi: Như biết việc của đời vị lai là cảnh giới của nguyện trí,  người đó không được nguyện trí, do đâu có thể biết được?

* Trang 511 *
device

 Đáp: Vì so sánh việc quá khứ, hiện tại với việc của đời vị lai,  nên có thể biết được. Như các vị tiên đã từng có mộng như thế, có quả  như thế. Nay có mộng như thế, cũng sẽ có quả như thế. Như đây đều  dùng so sánh mà biết.
Như kinh nói: Phải bỏ các pháp như mộng v.v... thế nào là pháp  như mộng?
Đáp: Là năm ấm v.v...
Hỏi: Vì sao nói năm ấm như mộng?
 Đáp: Vì không vừa ý con người, vì có tạm bợ không trải qua thời  gian lâu, nên nói ấm như mộng.
Hỏi: Ngủ ở chỗ nào?
 Đáp: Như kinh trước đã nêu: Trong năm cõi đều có ngủ, trong  trung ấm cũng có ngủ. Người có các căn đầy đủ khi còn ở trong thai  mẹ cũng ngủ, cho đến Phật Thế tôn cũng ngủ.
 Hỏi: Như thuyết của Tát-già-Ni-kiền đã nói: Nếu con người ngủ,  thì người ấy cũng ngu. Vì sao? Vì là cái (che lấp), vấn đề nầy làm sao  hiểu?
 Đáp: Không phải tất cả miên (ngủ) đều là cái. Có miên là cái, có  miên chẳng phải cái. Miên chẳng phải cái, như Phật khởi hiện ở trước  vì muốn tạo sự thích hợp nơi thân. Miên là cái: Phật không khởi hiện ở  trước. Vì sao? Vì đã lìa bỏ tất cả ngu.
Có năm cái (che lấp). Năm cái gồm nhiếp tất cả cái? Cho đến nói rộng.
 Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
Đáp: Kinh Phật nói về năm cái, hoặc cho rằng chỉ có năm cái, không còn cái nào khác.
Vì muốn nói ngoài năm cái còn có cái vô minh, nên soạn luận nầy.
Năm cái gồm nhiếp tất cả cái hay tất cả cái gồm nhiếp năm cái?  
Đáp:  Tất cả cái gồm nhiếp năm cái, chứ chẳng phải năm cái gồm nhiếp tất cả cái, cho đến nói rộng.
Năm cái: đã nói là đúng. Tất cả cái: Là cái vô minh thứ sáu. Tất  cả cái kia có thể gồm nhiếp năm cái, vì là nhiều. Năm cái không gồm  nhiếp tất cả, vì chưa rốt ráo. Như dùng chậu to úp lên chậu nhỏ thì  trùm khắp, còn chậu nhỏ úp lên chậu to thì không trùm khắp. Cái kia  cũng giống như thế. Tất cả gồm nhiếp năm, chẳng phải năm gồm  nhiếp tất cả. Không gồm nhiếp những gì? Đó là cái vô minh. Đức Phật nói vô minh che lấp, kiết ái trói buộc kẻ ngu tiểu được

* Trang 512 *
device

 thân nầy cho là thông minh cũng thế.
Hỏi: Như vô minh là cái, cũng là kiết, ái cũng là cái, cũng là kiết.
Vì sao chỉ nói vô minh che lấp, không nói ái che lấp?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì muốn biểu hiện các thứ văn, các thứ thuyết. Nếu có các thứ nghĩa văn, thì dễ hiểu.
Lại có thuyết nói: Nghĩa cái là nghĩa che lấp, lại không có kiết  che lấp tuệ nhãn của chúng sinh, như vô minh. Nghĩa trói buộc là  nghĩa của kiết, lại không có kiết trói buộc chúng sinh như kiết ái.  
Giống như một người có hai kẻ thù:
1.         Trói buộc tay, chân người ấy.
2.         Quẳng cát vào mắt họ.
Người nầy đã bị trói buộc, lại không có mắt, nên không thể đi  đâu được. Cũng thế, vô minh che lấp tuệ nhãn của chúng sinh. Kiết ái  trói buộc chúng sinh, không thể hướng về Niết-bàn. Vì việc ấy, nên  Tôn giả Cù-sa nói rằng: Vì vô minh che lấp, kiết ái trói buộc, nên  pháp bất thiện được sinh. Ở đây, lẽ ra phải nói:
1.         Gọi là Y-lợi-ma.
2.         Gọi là Ma-xá-thâu-tặc.
Tôn giả Phật Đa La Trắc nói: Đây là hiện bày hai môn, cho đến  nói rộng. Như nói: Vô minh che lấp, kiết ái trói buộc. Nói kiết ái che  lấp, vô minh trói buộc, cũng giống như thế. Vì vậy, nên muốn biểu  hiện nghĩa của hai môn, cho đến nói rộng.
Hỏi: Vì sao không nói cái vô minh trong năm cái?
 Đáp: Nghĩa che lấp là nghĩa của cái. Thế, dụng che lấp của năm  pháp nầy, so với thế dụng che lấp của vô minh nghiêng về nhiều.  Cũng thế dụng che lấp của một cái vô minh vượt hơn thế dụng che lấp  của cả năm cái.
Lại có thuyết nói: Vì thể của vô minh nặng, nên không lập cái vô  minh trong năm cái.
Các cái đều che lấp? Cho đến nói rộng.  
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Trước trong kinh đã giải thích năm cái không gồm nhiếp cái  vô minh. Nay muốn nói theo nghĩa của A-tỳ-đàm, tất cả phiền não đều  là cái. Vì sao? Vì tất cả phiền não đều che lấp thân nầy. Vì thế, nên  Tôn giả Ca-chiên-diên-tử đã đặt ra câu hỏi: Các cái đều che lấp  chăng? Cho đến nói rộng thành bốn trường hợp:
1.         Thế nào là cái chẳng phải che lấp? Đó là năm cái quá khứ, vị

* Trang 513 *
device

lai. Vì sao? Vì tướng mạo của cái nên nói là cái. Việc tạo tác của cái  quá khứ đã xong. Vì sở tác của cái vị lai chưa sinh, nên không gọi là  che lấp.
2.         Thế nào là che lấp mà chẳng phải cái. Trừ năm cái là các phiền  não khác hiện ở trước? Vì sao? Nghĩa là tất cả kiết cõi Sắc, Vô sắc, các  kiến, mạn, thuộc về cõi Dục không thuộc về cái vô minh lúc các triền  hiện ở trước.
3.         Thế nào là cái cũng che lấp? Năm cái xoay vần hiện ở trước.  Hoặc không phải cái miên dục, ái khi hiện ở trước. ba cái hiện ở trước:  là cái dục, ái, thùy, trạo cử. Lúc ngủ (miên) thì có bốn. tức tăng miên  cái. Giận dữ, nghi, hối, nói cũng giống như thế. Lúc không ngủ (miên),  cái thuỳ hiện ở trước thì có hai cái hiện ở trước, nghĩa là cái thùy và  trao cử. Lúc ngủ có ba cái hiện ở trước, tức tăng thêm miên.
4.         Thế nào là chẳng phải cái cũng chẳng phải che lấp? Tức trừ  ngần ấy việc trên.
Các pháp đã đặt tên, đã xưng gọi là tạo ra trường hợp thứ nhất,  thứ hai, thứ ba. Chưa đặt tên, chưa xưng gọi là tạo ra trường hợp thứ tư.  Thế nào là đúng?
Hành ấm, tạo ra bốn trường hợp nơi năm cái của ba đời. Phiền  não hiện tại không thuộc về năm cái. Pháp như thế, tạo ra trường hợp  thứ nhất, thứ hai, thứ ba. Các tương ưng, bất tương ưng khác hành ấm,  hoàn toàn là pháp vô vi của bốn ấm. Các pháp như thế v.v... tạo ra  trường hợp thứ tư.
 Hỏi: Như phiền não quá khứ, che lấp pháp quá khứ, phiền não vị  lai che lấp pháp vị lai, Phiền não hiện tại che lấp pháp hiện tại. Vì sao  chỉ nói phiền não hiện tại là che lấp, không nóí quá khứ, vị lai?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Nếu nói hiện tại, phải biết cũng là nói  quá khứ, vị lai.
Lại có thuyết nói: Phiền não hiện tại, có thể làm chướng ngại  Thánh đạo. Phiền não quá khứ, vị lai không thể làm chướng ngại  Thánh đạo.
Lại có thuyết nói: Phiền não hiện tại có thể nhận lấy quả của y  báo chánh báo chẳng phải quá khứ, vị lai.
Lại có thuyết nói: Phiền não hiện tại có thể nhận lấy quả, cho  quả, chẳng phải quá khứ, vị lai.
Lại có thuyết nói: Phiền não hiện tại, hiện tại có thể bị chê  trách. Sự nhiễm ô nơi thân nầy rơi vào chỗ sai trái, chẳng phải quá  khứ, vị lai.

* Trang 514 *
device

 Lại có thuyết nói: Phiền não hiện tại có thể sinh ra ngu của thế  gian và ngu trong duyên.
Lại có thuyết nói: Phiền não hiện tại có chỗ tạo tác.
Lại có thuyết nói: Phiền não hiện tại làm chướng ngại cho các  chỗ nương, hành trì, phan duyên.
Lại có thuyết nói: Hoặc là pháp hữu vi, hoặc là người hữu vi.  Nếu vì pháp mà nói thì pháp quá khứ đã bị phiền não quá khứ che lấp.  Pháp vị lai, hiện tại đã bị phiền não vị lai, hiện tại che lấp. Nếu nói  theo người thì phiền não hiện tại gọi là che lấp con người. Như người  đời nói: Ai bị phiền não che lấp? Nghĩa là người không được giải  thoát, vì bị phiền não che lấp. Ấm, giới, nhập hiện tại giả gọi là người,  ấm, giới, nhập quá khứ, vị lai giả gọi là pháp. Vì việc nầy, nên phiền  não hiện tại gọi là che lấp, chẳng phải quá khứ, vị lai. Tất cả sử vô minh, trói buộc ở cõi Dục đều là bất thiện phải  không?
Cho đến nói rộng.
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Tất cả kiết, sử đều là bất thiện. Như  phái Thí dụ nói rằng: Tất cả phiền não đều là bất thiện. Vì sao? Vì  không có phương tiện thiện xảo.
Vì muốn ngăn ý của người nói như thế, cũng muốn nói thân kiến,  biên kiến cõi Dục và vô minh tương ưng với tất cả kiết cõi Sắc, Vô sắc  đều là vô ký.
Lại có thuyết nói: Tất cả phiền não cõi Dục đều là bất thiện, tất  cả phiền não cõi Sắc, Vô sắc đều là vô ký.
Nay muốn nói thân kiến, biên kiến cõi Dục và tương ưng vô  minh cũng là vô ký.
Do việc nầy, vì muốn ngăn nghĩa của người khác, hiển bày nghĩa  của mình, cũng muốn nói về nghĩa tương ưng của pháp tướng, nên  soạn luận nầy.
Tất cả sử vô minh, ràng buộc cõi Dục đều là bất thiện phải  chăng?  
Đáp: các pháp bất thiện đều là sử vô minh ràng buộc. Có khi  nào sử vô minh cõi Dục, không là phải bất thiện hay chăng?
Đáp: Có sử, vô minh tương ưng với thân kiến, biên kiến cõi Dục.
 Hỏi: Vì sao vô minh tương ưng với thân kiến, biên kiến cõi Dục  chẳng phải bất thiện?
 Đáp: Nếu thể là không hổ, không thẹn tương ưng với không hổ,  không thẹn, từ không hổ, không thẹn sinh, là quả y của không hổ,  không thẹn, là bất thiện. Vì vô minh kia trái với quả y nầy, nên chẳng  phải bất

* Trang 515 *
device

 thiện. Lại nữa, pháp nầy chẳng phải hoàn toàn hủy hoại tâm mong cầu.  Thế nào là chẳng phải hoàn toàn hủy hoại tâm mong cầu?
Đáp: Vì thể chẳng phải không hổ, thẹn v.v...
Lại nữa, pháp nầy không làm trở ngại cho bố thí, trì giới, tu định  v.v... Vì sao? Vì người chấp ngã kiến, vì sự ưa thích của ngã, nên thực  hành bố thí, vì ngã sinh đường thiện, nên thực hành trì giới, vì ngã  được giải thoát, nên tu định. Biên kiến theo sau thân kiến sinh. Vô  minh tương ưng biên kiến đó cũng thế.
Lại nữa, hai kiến nầy là ngu ở trong pháp của mình, không ép  ngặt người khác. Vì sao? Vì người chấp ngã không nói rằng: Mắt có  thể thấy sắc là có thể thấy họ nói rằng: ngã có thể thấy ngã sở là có  thể thấy. Cho đến ý biết pháp, nói cũng giống như thế. Kiến nầy  không hề gây ép ngặt người khác vì biên kiến theo sau thân kiến sinh,  nên tương ưng vô minh cũng thế.
Lại nữa, vì kiến nầy không thể sinh ra báo, nên Tôn giả Hòa-tu-  mật nói: Vì sao thân kiến, biên kiến là vô ký?  
Đáp: Vì không thể sinh  ra nghiệp thô của thân, miệng.
 Hỏi: Phiền não bất thiện cũng không thể sinh ra nghiệp khô của  thân, miệng nên có thể là vô ký?
 Đáp: Hiện tại dù không khởi, nhưng sau khi tăng ích, có thể khởi  nghiệp thô của thân, miệng, còn thân kiến, biên kiến thì không bao  giờ khởi.
Lại nữa, kiến nầy không thể khiến cho chúng sinh đọa vào đường ác.
 Hỏi: Phiền não bất thiện cũng không thể khiến cho chúng sinh đọa vào đường ác, nên có thể là vô ký chăng?
 Đáp: Phiền não bất thiện sau khi tăng trưởng, có thể khiến chúng  sinh đọa vào đường ác. Còn thân kiến, biên kiến thì hoàn toàn không  thể khiến chúng sinh đọa vào đường ác.
Lại nữa, kiến nầy không thể sinh ra quả không đáng ưa.
 Hỏi: Nếu có thể được Hữu của vị lai, tức sẽ sinh ra quả không  đáng ưa. Đức Thế tôn cũng nói: Tỳ-kheo! Ta không khen ngợi, cho  đến chỉ trong khoảng búng ngón tay, đã sinh ra hữu của vị lai. Vì sao?  Vì hữu đều là khổ. Biên kiến theo sau thân kiến sinh, tương ưng với vô  minh cũng thế.
Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Hai kiến nầy đều là điên đảo có thể  sinh ra các phiền não, vì chẳng phải pháp yên ổn, nên là bất thiện.  Nếu

* Trang 516 *
device

 thân kiến chẳng phải bất thiện thì thế nào là bất thiện? Đức Thế tôn  cũng nói: Tỳ-kheo! Nếu vô minh là bất thiện, thì biên kiến theo sau  thân kiến sinh, tương ưng với vô minh cũng thế. Tất cả sử vô minh cõi Sắc, Vô sắc đều là vô ký chăng?
 Đáp: Tất cả sử, vô minh cõi Sắc, Vô sắc đều là vô ký. Nói rộng  như kinh nầy.
Hỏi: Vì sao phiền não cõi Sắc, Vô sắc là vô ký?
 Đáp: Nếu thể của phiền não là không hổ, không thẹn, cho đến là  quả y của không hổ, không thẹn, là bất thiện. Vì phiền não cõi Sắc,  Vô sắc trái với quả y nầy, nên chẳng phải bất thiện
Lại nữa, các phiền não ấy không hoàn toàn hủy hoại tâm mong  cầu, như trên đã nói.
Lại nữa, vì không thể sinh báo, nên nhân luận sinh luận như thế. Vì sao các phiền não kia không thể sinh báo?
 Đáp: Các phiền não nầy vì đã bị bốn chi, năm chi tam-muội giữ  gìn, cũng như rắn độc đã bị chú thuật thâu giữ, nên không thể cắn  người. Phiền não kia cũng giống như thế.
Lại nữa, phiền não kia vì không có đồ chứa báo, nên phiền não  cõi Sắc, Vô sắc sẽ sinh báo thì nên sinh báo nào? Tất nhiên, sẽ sinh  báo khổ, Báo khổ cõi Dục, không thể do hành cõi Sắc, Vô sắc mà thọ  báo trong cõi Dục.
Lại nữa, phiền não kia chẳng phải hoàn toàn thọ nhận điên đảo.  Cũng có một chút nguyên nhân, như tà kiến chê bai khổ cõi Sắc, Vô  sắc. Vì phiền não kia đã có một chút vui, nên cũng có kiến chấp thứ  nhất của kiến thủ vượt hơn. Cũng có một chút giới thủ tịnh, kiến tịnh,  như đạo cõi Sắc có thể làm tịnh cõi Dục. Đạo cõi Sắc, Vô sắc có thể  làm tịnh cõi Sắc. Đạo cõi Vô sắc có thể làm tịnh cõi Vô sắc.
Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Vì sao phiền não cõi Sắc, Vô sắc là vô ký?
Đáp: Vì không thể sinh ra nghiệp thô của thân, miệng. Nói rộng như trên.
Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Nếu đúng là phiền não cõi Sắc, Vô  sắc chẳng phải bất thiện, thì thế nào là bất thiện? Đức Thế tôn cũng  nói: Phiền não sinh nghiệp. Tất cả sử, vô minh, sở đoạn của kiến khổ,  tập, đều là nhất thiết biến phải không?  Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?  Đáp: Nên nói như đối với nhân nhất thiết biến ở trên. Tất cả sử, vô minh, kiến khổ, kiến tập, dứt đều là Nhất thiết biến

* Trang 517 *
device

 sai sử phải không?
 Đáp: Các Nhất thiết biến đều là sử, vô minh, do kiến khổ, kiến  tập dứt.
Có khi nào sử, vô minh do kiến khổ, kiến tập dứt trừ mà chẳng  phải Nhất thiết biến hay không?
 Đáp: Có, không phải sử Nhất thiết biến tương ưng với vô minh.  Sao là đúng? Vì vô minh tương ưng với dục, giận, mạn v.v..., nên tùy  tướng mà nói.
Thế nào là sử, vô minh không chung?
 Đáp: Không nói khổ đối với khổ, không nhẫn, không được. Đế  khác cũng thế. Tâm nầy hoàn toàn ngu, hoàn toàn yếu kém, hoàn toàn  si. Cho nên, gọi là vô minh không chung.
Hỏi: Nếu vậy thì thế nào là chẳng phải tà kiến?
 Đáp: Vì tà kiến chê bai nói: Không có khổ. Tà kiến nầy không  muốn chịu khổ, giống như cách đêm không tiêu, còn ăn thêm sữa. Tà  kiến kia cũng giống như thế.
Hoặc có thuyết nói: ở trên đã nói thể của tà kiến, về sở hành của  tà kiến ra sao?
Đáp: Vô tri, đen tối, ngu si.
Lại có thuyết nói: Trước nói về sở hành của tà kiến. Như không  nói khổ, đối với khổ, không nhẫn, không thể.
 Hỏi: Nếu vậy thì kinh Ba-già-la-na nói, làm sao hiểu được? Như  nói: Sử vô minh sai sử là thế nào?
Đáp: Như vô tri, đen tối, ngu si.
 Đáp: Thuyết kia nói: Sở hành của vô minh không phải đều có sở  hành của phiền não trong kinh kia không nói.
Lại có thuyết nói: Không nói về khổ, v.v... là nói sở duyên của  vô minh.
Hỏi: Thế nào là nghĩa không chung?
 Đáp: Sa-môn nước Kế-tân nói rằng: Vì không tương ưng với  duyên phiền não của bốn đế, nên gọi là không chung.
Lại có thuyết nói: Sử nầy duyên với bốn đế, chỉ là đối tượng hoạt  động của phàm phu, nên gọi là không chung.
Tôn giả Bà- Dĩ nói: Vì không chung với các phiền não khác, nên  gọi là không chung. Vì sao? Vì xa lìa chỗ hành của phiền não đều  khác, vì không đối đãi với phiền não mà sinh, nên gọi là không chung.
Tôn giả Bà-ma-lặc nói: Vì khác với phiền não, không chung một  ý, nên gọi là không chung.

* Trang 518 *
device

 Lại có thuyết nói: Vì phương tiện không chung, khác nhau với  phiền não, nên gọi là không chung.
 Hỏi: Vô minh không chung, là chỗ dứt của năm thứ hay là chỗ  dứt của kiến dứt? Nếu là chỗ dứt của thấy đạo, thì điều nơi Luận Thức  Thân đã nói làm sao hiểu? Như nói: Tâm tương ưng của vô minh  không chung chỗ dứt của tu đạo. Nếu là năm thứ, thì trong đây vì sao  không nói?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Là chỗ dứt của thấy đạo.  
Hỏi: Nếu vậy thì luận Thức Thân nói làm sao hiểu?
 Đáp: Văn ấy, phải nói rằng: Vô minh không chung kia là tâm  tương ưng của sử vô minh, chỗ dứt của tu đạo, lẽ ra phải nói như vậy  mà không nói là có ý gì?
 Đáp: Thức Thân nói, không nói về sử, vô minh không chung.  Nếu do công sức của mình, không nhân nơi người khác mà sinh, là vô  minh không chung. Nếu sử, vô minh kia dù không tương ưng với phiền  não, nhưng không do công sức của mình, nhân nơi người khác mà sinh,  cho nên không là không chung. Lại có thuyết nói: Là năm thứ dứt.  
Hỏi: Vì sao trong đây không nói?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Nếu vô minh duyên vào bốn đế, không  tương ưng với sử khác, nên gọi là không chung. Còn vô minh, chỗ dứt  không tương ưng với phiền não thì không duyên bốn đế.
Lại có thuyết nói: Nếu không tương ưng với các sử, chỉ là đối  tượng hoạt động của phàm phu, thì trong đây, tức nói là chỗ dứt của tu  đạo kia, dù không tương ưng với phiền não, nhưng là sở hành của  phàm phu, bậc Thánh, cho nên không nói.
 Hỏi: Sử, vô minh không chung, chỗ dứt của tu đạo, bên những  tâm nào có thể được?
 Đáp: Mười địa đại tiểu phiền não cõi Dục, Siểm Phóng dật của  địa Sơ thiền, cõi Sắc, đệ Nhị thiền, cho đến phóng dật của Phi tướng,  phi phi tướng xứ, đều có.
Hỏi: Vào lúc nào hiện ở trước?
 Đáp: Hoặc người khởi chánh kiến, hoặc người khởi kiến, lúc tâm  mỏi mệt rồi, đôi khi khởi vô minh không chung như thế v.v... Vô minh  không chung không nói khổ, cho đến nói rộng.
 Hỏi: Như trong tất cả tâm đều có tuệ, vì sao lại nói không nhẫn  có thể khổ?
Đáp: Vì bị vô minh che lấp, nên tuệ kia không sáng, không rõ.  Có khi nào sử không bị câu sử sai khiến hay chăng?

* Trang 519 *
device

Đáp: Có, là duyên theo sử đã dứt là sử, vô minh không chung.  Có khi nào sử không bị sử sai khiến hay chăng?
Đáp: Có. Tức đã nêu ở trước. Có khi nào sử không thể sai khiến hay chăng?
Đáp: Có. Đó là duyên vô lậu với sử vô minh không chung.  Thế nào là triền trạo cử không chung?
Đáp: Không có triền trạo cử không chung.  
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Vì nhằm ngăn kẻ hoài nghi. Như có sử, vô minh không  chung, không tương ưng với phiền não nên cũng cho là có triền trạo cử  không chung. Vì dứt ý ngờ vực như thế. Nên đáp: Không có triền trạo  cử không chung. Vì sao? Vì trong tất cả tâm nhiễm ô đều có sử, vô  minh.
Lại nữa, như có sử, vô minh không chung, không tương ưng với  phiền não, có người cũng cho là có triền trạo cử không chung, không  tương ưng với triền.
Vì ngăn dứt ý nghi như thế, nên đáp: Không có triền trạo cử  không chung. Vì sao? Vì tất cả tâm nhiễm ô đều có thùy, trạo cử. Do  việc đó, nên soạn luận nầy.
 Hỏi: Như thùy, trạo cử, chung với năm thứ dứt của ba cõi, tất cả  tâm nhiễm ô của sáu thức thân đều có thể được, vì sao không hỏi về  thùy, mà chỉ hỏi về trạo cử?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì ý người soạn kinh muốn thế, cho  đến nói rộng.
Lại có thuyết nói: Vì trạo cử có nhiều lỗi buông lung sinh ra các  tội lỗi. Do nhiều lỗi lầm, nên kinh Ba-già-la-na lập trạo cử là địa đại  phiền não. Trong kinh nầy hỏi: Thế nào là triền trạo cử không chung?  Cũng lập thành kiết phần trên. Luận Thi Thiết cũng nói: Lúc phàm  phu khởi sử ái dục, năm pháp hiện ở trước, nghĩa là sử ái dục tăng ích  cho sử ái dục, sử vô minh tăng ích cho sử vô minh. Vì trạo cử, thùy  không có lỗi như trên v.v... nên không hỏi.
Lại nữa, trạo cử có thể phát động tâm giác của bốn chi, năm chi  định. Thùy thuận theo của tam-muội, tương tự với tam-muội. Nếu lúc  thùy hiện ở trước, thì như người nhập thiền. Lại nữa, thùy bị vô minh  che lấp, giống với việc thực hành của vô minh, ngu, nhỏ, không bén  nhạy. Trạo cử không giống với vô minh, mà bén nhạy, cho nên, hỏi  trạo cử, không hỏi về thùy.
Lại nữa, thùy dựa vào vô minh. Nếu nói vô minh, phải biết là đã  nói về thùy.

* Trang 520 *
device

Lại có thuyết nói: Lúc tu thiện, trạo cử có thể làm cho xa cách  việc thiện, lui sụt mất. Vì làm cho tâm người lui sụt, nên phát khởi  Thùy thì không thế.
Lại có thuyết nói: Trạo cử có thể làm cho pháp tâm, tâm sở trong  tam-muội bị tán loạn, cũng dời động đối với sự của sở duyên, còn thùy  thì không như vậy.
Lại có thuyết nói: Cũng nên hỏi về thùy. Văn ấy nên nói rằng:  Thế nào là triền thùy không chung?
 Đáp: Không có triền thùy không chung, mà không nói, phải biết  thuyết nầy chưa rốt ráo.
Lại có thuyết nói: Nếu nói trạo cử phải biết là cũng nói về thùy. Vì sao? Vì tất cả xứ đều có chung.
-----------------------

* Trang 521 *
device

Phẩm 6: SẮC

 Sắc pháp sinh, trụ, già, vô thường, nên nói là sắc? Cho đến nói rộng.
Chương nầy và giải thích nghĩa của chương ở đây, nên nói rộng Ưu-ba-đề-xá.
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Đây là kinh Phật, trong kinh của Phật nói Phật bảo các Tỳ-  kheo: Có ba tướng hữu vi, do không hiểu nghĩa lý sâu xa của kinh ấy,  nên các nhà đều tạo ra các thứ dị thuyết với ý nghĩa không đồng. Như  phái Thí dụ giả nói: Ba tướng hữu vi không có thể thật. Vì sao? Vì ba  tướng ấy là thuộc về hành ấm bất tương ưng. Hành ấm bất tương ưng  không có thật thể.
Vì ngăn dứt ý của thuyết như thế, cũng nói ba tướng hữu vi là  pháp thật có, nên soạn luận nầy.
Lại có thuyết nói: Pháp nầy là pháp vô vi. Như Tỳ-bà Xà-bà-đề  nói rằng: Nếu pháp nầy là hữu vi, thì tánh nó rất yếu kém. Vì yếu  kém, nên không thể sinh pháp, trụ Pháp, diệt pháp. Pháp vô vi có sức,  vì có sức, nên có thể làm cho pháp sinh, trụ, diệt.
Hoặc có thuyết nói: Hai pháp nầy là hữu vi, một là vô vi. Như Bộ  Đàm-ma-quật nói rằng: Hai pháp là hữu vi, đó là sinh, trụ. Một pháp  là vô vi, đó là diệt. Nếu pháp nầy là hữu vi, thì tánh của nó yếu kém,  không thể là pháp diệt. Vì là vô vi, nên có thể là pháp diệt.  Vì nhằm ngăn ý của người nói như thế, vì muốn nói ba pháp nầy  là hữu vi.
Lại có thuyết nói: Pháp nầy là tương ưng. Vì nhằm ngăn ý của  người nói như thế.
Lại có thuyết nói: Vì nhằm ngăn ý của Sa-môn nơi pháp kia, nói  rằng: Sắc pháp sinh, trụ, già, vô thường, tức là thể của sắc, cho đến  thức cũng giống như thế.
Vì nhằm ngăn ý của thuyết như thế v.v... và muốn làm sáng tỏ  nghĩa của mình, cũng muốn nói về nghĩa tương ưng của pháp tướng,  nên soạn luận nầy. Sắc pháp sinh, trụ, già, vô thường nên gọi là sắc hay chẳng phải sắc?
 Đáp: Nên nói chẳng phải sắc.
Hỏi: Chẳng phải là sắc nhập có hai thứ, là ý nhập, pháp nhập, là thuộc về ý nhập, hay là thuộc về pháp nhập?

* Trang 522 *
device

 Đáp: Thuộc về pháp nhập, chẳng phải sắc pháp. Nên nói chẳng  phải sắc, tức thuộc về pháp nhập. Pháp có thể thấy nên nói là không  thể thấy. Pháp không thể thấy có mười một nhập, trừ sắc nhập. Pháp  kia chẳng phải nhãn nhập, cho đến thuộc về ý nhập, là thuộc về pháp  nhập. Pháp không thể thấy, nên nói không thể thấy, tức thuộc về pháp  nhập.
Pháp hữu đối nên nói là vô đối. Vô đối là hai nhập, đó là ý nhập  và pháp nhập, Chẳng phải thuộc về ý nhập, là thuộc về pháp nhập.
Pháp vô đối, nên nói vô đối, tức thuộc về pháp nhập. Pháp hữu  lậu phải nói tức là hữu lậu. Từ đây về sau, lại tương tự với pháp hữu  lậu đó. Pháp vô lậu tức là vô lậu, hữu vi tức là hữu vi.
Vì nghĩa nầy, là để ngăn ý của người nói tướng hữu vi là vô vi.  Pháp vô vi không có quá khứ, vị lai, hiện tại, nên nói tức quá khứ, vị  lai, hiện tại.
 Hỏi: Vì sao pháp quá khứ chung cả ba đời, còn sinh, trụ, già, vô  thường chỉ là quá khứ?
 Đáp: Pháp quá khứ được một quả không đồng với quá khứ kia là  hành không chung là cùng lìa, không theo nhau, đối với nhóm quá khứ  kia là chẳng phải nhóm, như vỏ cây lìa cây. Sinh v.v... không như thế,  đồng một quả với quá khứ kia, cho đến nói rộng. Như quá khứ, vị lai,  hiện tại, nói cũng giống như thế.
Thiện, bất thiện, vô ký, phải nói tức thiện, bất thiện, vô ký, lệ  thuộc không lệ thuộc ba cõi.
Học, Vô học, phi học phi Vô học, chỗ dứt của kiến đạo, chỗ dứt  của tu đạo, không dứt, nói cũng giống như thế. Thế nào là già, thế nào là tử, thế nào là vô thường?  
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Trước đã nói về nghĩa chân thật của tướng hữu vi. Nay  muốn nói đến tướng hữu vi theo giả danh.
Lại có thuyết nói: Trước đã nói về vô thường của sát-na. Nay  muốn nói về vô thường của một đời, nên soạn luận nầy. Thế nào là già, cho đến nói rộng?
Hỏi: Vì sao trong đây không hỏi về sinh?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì ý của người soạn kinh muốn thế,  cho đến nói rộng.
Lại có thuyết nói: Nếu pháp nầy đối với pháp kia không có tăng  ích, khiến cho pháp kia tan hoại, thì ở đây sẽ hỏi về sự sinh ra pháp  kia, có thể khiến được tăng ích, đầy đủ. Cho nên không hỏi. Lại có thuyết nói: Nếu pháp có thể làm cho pháp kia lìa nhau thì

* Trang 523 *
device

 trong ấy sẽ hỏi về sự sinh có thể làm cho pháp kia gần nhau, theo  nhau. Cho nên không hỏi.
Hỏi: Thế nào là già?
 Đáp: Tóc bạc rụng, da nhăn, dần dần hao hụt, hình dáng gầy gò,  hơi thở ngắn, ít, thân trổ đồi mồi, cũng như bức họa sơn màu, đi đứng  phải chống gậy, bệnh hoạn liên tục, các căn yếu kém, ngày càng suy  nhược, toàn thân run rẩy. Đó là già. Thế nào là chết?
Đáp: Các hành phân tán, tiêu diệt. Đó gọi là chết.  Như nói: Hoặc chết, tức là vô thường phải không?  Vì sao chết là vô thường?
Thế nào là vô thường, chẳng phải chết?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Mạng căn sau cùng diệt trong một sát-  na, đó gọi là chết, cũng gọi là vô thường. Lúc khác, ấm tan hoại, đó  gọi là vô thường, không gọi là chết.
Lại có thuyết nói: Năm ấm cùng diệt với mạng căn sau cùng, đó  gọi là chết, cũng gọi là vô thường. Lúc khác, ấm phân tán, tiêu diệt,  đó gọi là vô thường, không gọi là chết.
Lại có thuyết nói: Mạng căn trong một đời ly tán, hoại diệt, đó  gọi là chết, cũng gọi là vô thường. ấm còn lại, phân tán, tiêu diệt, đó  gọi là vô thường, không gọi là chết.
Lại có thuyết nói: Trong một đời, năm ấm cùng với mạng căn  tiêu tan, đó gọi là chết, cũng gọi là vô thường. Ấm còn lại phân tán  mất, đó gọi là vô thường, không gọi là chết.
Lại có thuyết nói: Ấm của số chúng sinh tiêu tan mất, đó gọi là  chết, cũng gọi là vô thường. Ấm của số phi chúng sinh tiêu tan mất, đó  gọi là vô thường, không gọi là chết.
Hỏi: Sức của nghiệp mạnh hay sức của vô thường mạnh?
 Đáp: Sức của nghiệp mạnh, chẳng phải vô thường. Nghiệp là  Thánh đạo, vô thường tức là vô thường. Đức Thế tôn nói: Hoặc nói  đạo là thọ, hoặc nói là tưởng, hoặc nói là tư, hoặc nói là ý, hoặc nói là  ngọn đèn sáng, hoặc nói là tín, tiến, niệm, định, tuệ, hoặc nói là chiếc  bè, là đá, là nước, là hoa. Hoặc nói đạo là từ, bi, hỷ, xả... Chỗ nào nói  đạo là thọ. Như nói: Ta thật sự giác ngộ về Thánh đế khổ. Chỗ nào  nói đạo là tưởng? Như nói: Tỳ-kheo tu hành rộng khắp về tưởng vô  thường, có thể dứt bỏ ái dục, cho đến nói rộng. Chỗ nào nói đạo là tư?  Như nói: Có nghiệp không có báo đen, không có báo trắng, có thể dứt  hết nghiệp. Chỗ nào nói là ý? Như kệ nói:

* Trang 524 *
device

Ý đốt cháy nhà cửa. Cũng chẳng nhiễm nơi duyên  
Tức Phật, thầy người, trời  
Xứng đáng nhận cúng dường.
Chỗ nào nói đạo là ngọn đèn? Như kệ nói:
Ông chớ khởi phóng dật  
Dùng giới tự điều phục  
Ngọn đèn sáng như thế  
Nối tiếp không thể tắt.
Chỗ nào nói đạo là tín? Như kệ nói:
Tín qua được sông lớn  
Không buông lung cũng thế  
Tinh tiến trừ các khổ
Tuệ đến bờ giải thoát.
 Chỗ nào nói đạo là tinh tiến? Như nói: Phật bảo Tôn giả A-nan:  Tinh tiến có thể tăng trưởng Bồ-đề.
Chỗ nào nói là đạo niệm? Như nói: Phật bảo Tỳ-kheo: Ta nói  niệm vượt qua tất cả khổ. Đệ tử Thánh của ta đầy đủ niệm lực, gìn giữ  căn môn, lìa pháp bất thiện, có thể tu pháp thiện.
Chỗ nào nói đạo là định? Như nói: Có định là Thánh đạo, không  có định là tà đạo. Có tâm định được giải thoát, chẳng phải không định,  như thế v.v...
Chỗ nào nói đạo là tuệ Như kệ nói:
Tuệ là trên thế gian  
Hướng về nơi chí chân  
Nếu chánh tri việc ấy  
Thì sẽ hết già chết.
Chỗ nào nói đạo là chiếc bè? Như nói: Tỳ-kheo nên biết: Bè tức  là tám Thánh đạo.
Chỗ nào nói đạo là tảng đá? Như nói: Tỳ-kheo nên biết! Đây là  núi đá lớn chánh kiến.
Chỗ nào nói đạo là nước? Như nói: Tỳ-kheo phải biết. Thánh  đạo nầy là nước tám vị.
Chỗ nào nói đạo là hoa? Như nói: Bảy đóa hoa giác ý nầy.
Chỗ nào nói đạo là từ, bi, hỷ, xả? Như nói: Tu tam-muội tâm từ,  được quả A-na-hàm. Bi, hỷ, xả cũng giống như thế.
Ở đây nói đạo là nghiệp, cho nên nói sức của nghiệp mạnh,  chẳng phải vô thường mạnh. Nghiệp có thể tiêu diệt hành quá khứ, vị  lai,

* Trang 525 *
device

hiện tại, diệt ấy là số diệt. Vô thường diệt hành hiện tại, diệt nầy là  vô thường diệt.
Hoặc có thuyết nói: Sức của vô thường mạnh, chẳng phải sức của  nghiệp mạnh. Vì sao? Vì nghiệp có thể tiêu diệt hành quá khứ, vị lai.  Còn vô thường có thể tiêu diệt nghiệp đó. Nếu người có thể giết chết  hàng ngàn kẻ địch, thì người ấy gọi là kẻ đã địch với hai ngàn người.  Vô thường kia cũng giống như thế. Cho nên, sức vô thường mạnh,  chẳng phải sức của nghiệp mạnh.
Như nghĩa của ngã: Sức của nghiệp mạnh, chẳng phải sức của vô  thường mạnh. Vì sao? Vì nghiệp có thể khiến cho cảnh giới của hành  vi quá khứ, vị lai, hiện tại không hiện hữu còn vô thường đâu có diệt  cái gì?
Lại có thuyết nói: Nghiệp gọi là hòa hợp. Vô thường gọi là phá  hoại sự hòa hợp. Vậy sức của nghiệp mạnh hay sức của vô thường  mạnh?
Đáp: Sức của nghiệp mạnh, chẳng phải sức của vô thường mạnh. Vì sao? Vì sự hòa hợp thì khó còn phá hoại hòa hợp thì dễ.
Lại có thuyết nói: Sức của vô thường mạnh, chẳng phải sức của  nghiệp mạnh. Vì sao? Vì sự hòa hợp kia sẽ có ly biệt, như nghĩa của  ngã. Sức của nghiệp mạnh, chẳng phải sức của vô thường mạnh. Vì  sao? Vì việc hòa hợp thì khó, còn phá hoại hòa hợp thì dễ. Như khi  con người nắn chiếc bình thì khó, còn làm vỡ bình thì dễ.
Lại có thuyết nói: Nếu nghiệp có thể tác động vào sự gây ra  nghiệp chỗ thọ sinh trong năm đường thì sức của nghiệp nầy mạnh,  chẳng phải sức của vô thường mạnh.
Lại có thuyết nói: Sức của vô thường mạnh, chẳng phải sức của  nghiệp mạnh. Vì sao? Vì nghiệp kia cũng bị vô thường hủy hoại, như  nghĩa của ngã. Sức của nghiệp mạnh, chẳng phải sức của vô thường  mạnh. Vì sao? Vì lúc tạo ra pháp khó, khi phá hoại thì dễ. Ở đây cũng  nên nói thí dụ chiếc bình.
Đức Thế tôn nói: Ba tướng hữu vi.  
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
Đáp: Vì nhằm ngăn nghĩa của người khác. Như phái Thí dụ giả  không muốn cho trong một sát-na có ba tướng hữu vi. Họ nói như thế:  Nếu trong một sát-na có ba tướng hữu vi, thì một pháp, một thời gian,  tức sinh, tức già, tức vô thường.
Hỏi: Nếu vậy thì nghĩa ấy ra sao?
Đáp: Thời gian đầu của pháp, gọi là sinh, thời gian sau gọi là vô

* Trang 526 *
device

 thường, khoảng giữa hai thời gian nầy gọi là già. Người nói như thế  tức là trong một sát-na không có ba tướng hữu vi. Thuyết nầy không  phân biệt như thật. Vì sao? Vì chỉ nói pháp tương tự trong một đời.  Trong một đời, mới sinh, gọi là sinh, sau cùng gọi là vô thường,  khoảng giữa của hai thời gian nầy gọi là già. Nếu lập ra thuyết ấy, thí  trong một pháp không có ba tướng.
Vì nhằm ngăn ý của thuyết như thế, cũng nói một pháp có ba  tướng.
Hỏi: Nếu một pháp có ba tướng thì sao không là một pháp, một  thời gian, tức sinh, tức già, tức vô thường?
Đáp: Vì việc làm khác. Vì sao? Vì lúc pháp sinh, sinh có chỗ  làm, khi pháp diệt, thì già, vô thường có chỗ làm. Vì thứ lớp của chỗ  làm đều khác, nên không có lỗi.
Cho nên, vì nhằm ngăn nghĩa của người, muốn làm sáng tỏ nghĩa  của mình, cũng muốn nói nghĩa tương ưng của pháp tướng, nên soạn  luận nầy.
Ba tướng hữu vi nầy, tức pháp hữu vi có sinh, có diệt, có trụ và  biến đổi. Thế nào là pháp hữu vi trong một sát-na có sinh, có diệt, có  trụ biến đổi?
 Đáp: Lúc pháp khởi là sinh, tức sinh ra pháp kia, khi pháp diệt là  diệt, tức diệt pháp kia. Trụ biến đổi là già, già có thể làm chín muồi  pháp biến đổi kia.
Hỏi: Nếu vậy thể của pháp là sự biến đổi, thế sao pháp không xả  tự thể? Nếu không đổi khác thì vì sao lại nói trụ, biến đổi là già?
Đáp: Nên nói rằng: Thể của pháp không có thay đổi.  
Hỏi: Vì sao nói tru, biến đổi là già?
Đáp: Đây là già, gọi là già, gọi là già, cũng gọi là trụ, biến đổi.
Lại có thuyết nói: Vì thể của pháp kia không khác, nên gọi là  không đổi khác. Vì chỗ làm khác, nên gọi là đổi khác. Vì sao? Vì lúc  pháp sinh, chỗ làm khác, khi diệt, chỗ làm khác, thế nào là lúc sinh,  chỗ làm khác, khi diệt thì chỗ làm khác?
 Đáp: Lúc pháp sinh có sức, có công năng, có pháp được tạo tác.  Khi pháp diệt, thì suy yếu, thối lui, tan hoại. Vì nghĩa nầy, nên nói có  đổi khác.
Lại có thuyết nói: Vì pháp hiện nhanh chóng nên sinh, vì pháp  hiện chậm, nhỏ, nên diệt. Vì ẩm ướt, thấm nhuần nên sinh, vì héo khô,  nên diệt.
Lại có thuyết nói: Vì trải qua ba đời nên đổi khác. Vì sao? Vì  pháp

* Trang 527 *
device

  quá khứ khác với pháp vị lai, hiện tại.
Hỏi: Tướng nầy là tướng chung hay tướng riêng? Nếu là tướng  riêng thì làm sao một pháp mà có bốn tướng? Còn nếu là tướng chung,  thì các pháp đều có tự tướng, làm sao là tướng chung?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Tướng nầy là tướng riêng.  
Hỏi: Nếu vậy làm sao một pháp mà có bốn tướng?
Đáp: Tự tướng nói ở đây, chẳng phải như lửa nóng. Tự tướng nầy  như thọ tự có sinh, trụ diệt thọ. Sinh, trụ, diệt không thể sinh, cho đến  thức, cho nên nói tướng. Các pháp mỗi mỗi đều tự có tướng riêng. Như  sắc, là tự không lâu sẽ tan hoại như bệnh, như ung nhọt, ghẻ lở, như  mũi tên v.v... có một trăm bốn mươi thứ tướng. Tướng có hai thứ:
1.         Tướng cũ.
2.         Tướng khách.
Sinh v.v... đối với pháp kia là tướng khách, chẳng phải tướng cũ.  Tướng của vật khác nhóm hợp, tướng của tự thể xưa cũng giống như  thế.
Lại có thuyết nói: Là tướng chung.
Hỏi: Nếu vậy thì các pháp đều có tự tướng, sao là tướng chung?
 Đáp: Là tướng tương tự. Như một pháp có ba tướng, tất cả pháp  cũng có ba tướng.
Lại có thuyết nói: Chẳng phải tướng riêng, cũng chẳng phải  tướng chung. Vì sao? Vì chẳng phải tự thể, nên chẳng phải tướng  riêng. Vì mỗi pháp đều có tướng nên chẳng phải tướng chung.
Hỏi: Nếu đấy chẳng phải tướng chung, chẳng phải tướng riêng,  thì nên nói là pháp gì?
 Đáp: Đây là ấn nêu của các pháp. Nếu pháp có ấn nêu ấy là hữu  vi, không có là vô vi. Như tướng mạo của người lớn chẳng phải thể  của người lớn. Nếu có tướng mạo ấy, thì gọi là người lớn. Nếu không  có tướng mạo ấy thì không gọi là người lớn. Pháp hữu vi kia cũng  giống như thế.
Bình luận: Không nên nói như thế. Nói tướng chung là tốt.
Hỏi: Lúc pháp sinh, trừ tự thể của nó, tất cả pháp khác đều có  thể sinh ra pháp nầy. Vì sao chỉ nói năng sinh, sinh ra pháp nầy?
Đáp: Khi pháp sinh, của pháp khác dù có công, nhưng không gọi  là năng sinh, chỉ thể của sinh, mới là chủ thể sinh. Như lúc cô gái sinh,  các cô gái khác dù gắng sức phụ giúp, nhưng không gọi là sinh, chỉ  người mẹ mới gọi là sản (sinh). Pháp sinh kia cũng giống như thế. Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Chỉ có sinh mới có khả năng sinh ra pháp

* Trang 528 *
device

 kia, chứ chẳng phải pháp khác. Vì sao? Vì nếu vô sinh thì pháp kia sẽ  không sinh.
Nhưng không có pháp khác, thì pháp kia sẽ bất sinh. Lại nữa,  nếu có sinh pháp kia thì sinh chẳng phải vô sinh.
Hỏi: Cũng có pháp khác làm duyên khiến cho pháp nầy sinh,  chẳng phải không có duyên của pháp khác?
Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Khi pháp sinh, vì thế mạnh của sinh  hơn nhiều, nên được gọi tên là sinh, pháp khác thì không như vậy. Như  làm người có tài, họa sĩ, cách thức nhuộm. Khi người có tài làm việc  chẳng phải không kẻ có tài giúp sức như Tỳ-đầu-sảo v.v..., nhưng  người có tài được thành, tức người có tài kia thành thầy, được mang  tên mình. Như vẽ, chẳng phải không nhận nơi bút, mực, giấy v.v...,  nhưng người được đặt tên. Lúc vẽ, chẳng phải không nhân các thứ  màu sắc, mà người được đặt tên. Lúc nhuộm, chẳng phải không nhờ  bồn chậu, nước v.v... nhưng người nhuộm được tên. Pháp sinh kia cũng  giống như thế.
Hỏi: Tướng sinh có tướng sinh hay không? Nếu có, làm sao  chẳng phải vô cùng? Vì sinh kia lại có sinh? Nếu không thì cái gì sinh  ra sinh nầy?
Đáp: Nên nói rằng: Tướng sinh lại có tướng sinh.  
Hỏi: Nếu vậy sao chẳng phải vô cùng?
 Đáp: Vô cùng có lỗi gì? Đời vị lai rộng, không có chỗ trụ sao?  Lại sinh tử là pháp vô cùng. Do việc ấy, nên khó trừ, khó vượt qua, có  thể sinh ra vô lượng vòng mat xích khổ của chúng sinh.
Lại nữa, hai pháp nầy đồng ở trong một sát-na, nên chẳng phải  vô cùng. Hai pháp sinh sinh trong một sát-na kia:
1.         Pháp sinh.
2.         Sinh ra sinh sinh. Sinh sinh chỉ là sinh sinh.
Hỏi: Vì sao hai pháp sinh sinh, sinh sinh chỉ là sinh sinh?
 Đáp: Cũng thế, cũng không có lỗi. Giống như cô gái có người  sinh một con, có người sinh đôi.
Lại có thuyết nói: Tướng sinh, sinh ra tám pháp. Nghĩa là sinh  sinh của pháp kia là già, sau già là trụ, sau trụ là vô thường, sau vô  thường là sinh sinh. Sinh một pháp nghĩa là sinh.
Hỏi: Vì sao sinh, sinh ra tám pháp, sinh sinh chỉ là sinh sinh?
 Đáp: Việc nầy cũng không có lỗi., giống như heo, chó, lang sói  v.v... hoặc sinh một con, hoặc sinh nhiều con.
Hỏi: Các hành là có tướng trụ chăng? Nếu có thì ở trong tướng  hữu

* Trang 529 *
device

  vi vì sao không nói? Kinh nầy làm sao hiểu? Như nói: Các hành không  trụ, cũng như hành của thọ mạng cho đến nói rộng? Nếu không, thì  văn nầy làm sao hiểu. Như nói: Sắc pháp sinh, già, trụ, vô thường, nên  nói sắc chăng? Cho đến nói rộng.
Kinh Ba-già-la-na cũng nói: Thế nào là trụ? tức các hành sinh  không tan hoại?
Đáp: Nên nói rằng: Các hành có tướng trụ.
 Hỏi: Các hành có tướng trụ, nghĩa là trong tướng hữu vi, vì sao  không nói?
 Đáp: Nên nói pháp hữu vi có bốn tướng. Nếu không nói, phải  biết là nghĩa nầy chưa trọn vẹn. Lại nữa, vì trụ tương tự pháp vô vi  nên không nói là tướng hữu vi. Lại nữa, nếu tướng có thể làm cho các  hành trải qua nơi đời thì đây là tướng hữu vi. Như sinh di chuyển hành  vị lai ở đời hiện tại. Già, vô thường dời đổi hành hiện tại ở đời quá  khứ. Trụ vướng mắc với pháp sinh kia, không có lúc nào lìa bỏ.
Lại nữa, lúc phân biệt các tướng, ba tướng đều rơi vào trong bộ  hữu vi, còn tướng trụ rơi vào bộ vô vi.
Lại nữa, nếu tướng có thể khiến cho các hành không tăng ích, chỉ  tan hoại, thì nói là tướng hữu vi. Trụ có thể làm cho các hành tăng ích,  không tan hoại, nên không nói là tướng hữu vi.
 Hỏi: Nếu vậy thì sinh có thể giúp cho các hành tăng ích không  tan hoại, vì sao nói là tướng hữu vi?
 Đáp: Sinh có thể làm cho các hành tăng ích, tan hoại đối với già,  vô thường. Vì sao? Vì nếu sinh chẳng sinh ra các hành ở hiện tại, thì  già, vô thường không thể tan hoại, do sinh sinh ra các hành ở đời hiện  tại, già làm cho suy vi, vô thường có thể hủy hoại. Cũng như có người  dù ở chỗ bền chắc nhưng có ba kẻ thù: Một người ở chỗ bền chắc, kéo người kia ra khỏi nơi đó.  Hai người cùng giết người ấy.
Ba người nầy đều cùng làm chuyện không lợi ích đối với người  kia. Nếu một người không ở chỗ bền chắc kéo người kia ra khỏi nơi  đó, thì hai người sẽ không có cách nào giết người kia. Sự sinh kia cũng  giống như thế.
Hỏi: Nếu các hành có tướng trụ, thì kinh Phật làm sao hiểu?
 Đáp: Kinh Phật nói bất trụ là không có tướng trụ lâu, chứ không  nói là một sát-na, như mạng căn, v.v...
Lại nữa, nói vô trụ, nghĩa là không có trụ trong thời gian lâu dài. Tướng trụ, nghĩa là trụ nơi một chút thời gian.

* Trang 530 *
device

Lại nữa, tướng trụ trong sát-na là rất vi tế, chỉ Phật mới biết  được. Vì sao? Vì như Phật dùng thần túc, chỉ trong khoảng thời gian co  duỗi cánh tay, từ đây ẩn mất, là đã đứng trên đỉnh núi Tu-di, trong thời  gian giữa đó, có rất nhiều sát-na nối tiếp nhau, chứ chẳng phải không  nối tiếp nhau. Cho nên nói: Từ đây đến kia.
Các tướng như thế v.v..., chỉ là cảnh giới Phật, chẳng phải đối  tượngnhận biết của người khác. Cho nên kinh nói: Không có tướng trụ.  Lại có thuyết nói: Mặc dù có trụ trong thời gian ngắn, nhưng nhanh  chóng bị già làm suy nhược, bị tiêu diệt do vô thường. Do tướng trụ có những lỗi lầm như thế, nên kinh Phật không nói.
Lại có thuyết nói: Các hành không có tướng trụ, là vì trong tướng  hữu vi không nói.
Kinh Phật khéo hiểu, nhưng văn nầy làm sao hiểu. Như nói: Sắc  pháp sinh, già, trụ, vô thường, cho đến nói rộng?
 Đáp: Văn ấy nên nói rằng: Sắc pháp sinh, già, vô thường, cho  đến nói rộng.
Không nên nói trụ, nếu nói trụ thì có ý gì?
 Đáp: Trụ nầy là tên khác của già. Như sinh, gọi là sinh, cũng gọi  là xuất hiện, vô thường, gọi là vô thường, cũng gọi là Diệt tận. Già gọi  là già, cũng gọi là trụ.
Bình luận: Nên nói rằng: Các hành có tướng trụ. Nếu các hành  không có tướng trụ, thì không thể có sở duyên. Vì muốn không có lỗi như thế, nên nói các hành có tướng trụ.  
Hỏi: Sao gọi là đổi khác? Vì diệt nên hư hoại hay là vì bị đổi  thay, nên nói là biến đổi?
 Đáp: Do diệt nên nói làbiến đổi. Vì trạng thái đổi khác nầy cùng  một thể với diệt. Pháp hữu vi chỉ có hai tướng: nếu do hư hoại, thì  pháp sẽ xả tự tướng. Nếu do biến đổi, thì sao không giúp thành nghĩa  của ngoại đạo nói rằng: Các pháp đều biến đổi?
Đáp: Nên nói rằng: Vì thế suy yếu, nên nói là biến đổi. Vì sao? Vì thế các hành mạnh nên sinh, thế suy yếu nên biến đổi.
Lại nữa, vì các hành có năng lực, nên sinh, vì yếu kém, nên biến đổi.
Lại  nữa, vì các hành chưa thành thục, gọi là sinh, đã thành thục, gọi là biến đổi.
Lại nữa, vì các hành kém dần, nên gọi là biến đổi.
Lại nữa, vì các hành mới, nên gọi là sinh, vì cũ, nên gọi là biến

* Trang 531 *
device

  đổi.
Hỏi: Nếu vậy sao không giúp thành nghĩa của ngoại đạo?
 Đáp: Các hành thường nối tiếp nhau, không dừng. Khi ngoại đạo  chấp có trụ, trụ diệt gọi là biến đổi. Như sữa thành lạc, như củi thành  tro, không nói thế của sát-na suy kém, nên biến đổi khác. Ở đây nói  thế của sát-na suy yếu, biến đổi, không nói lúc trụ biển đổi khác.
 Hỏi: Tướng hữu vi nầy và sở tướng là một hay khác? Nếu là một,  thì sao là một pháp mà không là nhiều pháp? Nếu là khác, thì năng  tướng và sở tướng là khác, sao không lấy tướng khác làm tướng?
 Đáp: Nếu nói rằng: Năng tướng và sở tướng không phải một, cho  nên một không là ba, ba không là một.
Hỏi: Nếu vậy sao không dùng tướng khác làm tướng?
 Đáp: Tùy theo chỗ sở tác của tướng, là năng tướng sở tướng, cho  nên, không có lỗi.
Lại nữa, năng tướng và sở tướng thường không lìa nhau. Nếu  chúng lìa nhau, thì có thể lấy tướng khác làm tướng. Vì chủ thể tướng  và đối tượng tướng không lìa nhau, nên không có lỗi như thế. Như vậy, ly, hợp không lìa nhau, nói chung cũng giống như thế.  Lại nữa, tướng từ sở tướng sinh, năng sinh khác với sở sinh, như  khói dù từ lửa sinh, nhưng khói và lửa đều khác. Tướng sinh kia cũng  giống như thế.
Lại nữa, tướng là lỗi của sở tướng. Như bệnh là lỗi của người,  người khác với bệnh. Nếu không khác, thì khi người bệnh lành, lẽ ra  không có người. Pháp khác cũng giống như thế.
Lại nữa, Đức Phật nói: Tướng nầy là tướng hữu vi. Do lời nói ấy  của Phật, nên phải biết, năng tướng khác với sở tướng. Như nói: Ngôi  nhà của người nầy, cũng giống như thế.
 Hỏi: Trong tất cả sát-na đều có già, vì sao không phải trong tất  cả thời gian, đầu đều mọc tóc bạc?
 Đáp: Không nên đặt ra câu hỏi có tóc bạc, không có tóc bạc như  thế. Người cao tuổi và người tráng niên, hoặc có trở ngại nhau, hoặc  không trở ngại nhau: Trở ngại nhau, thì không mọc tóc bạc, không trở  ngại nhau, đầu sẽ mọc tóc bạc.
Lại nữa, hoặc có bốn đại suy kém thì nhiều, bốn đại mạnh, khỏe  thì ít, hoặc bốn đại mạnh khỏe thì nhiều, bốn đại suy kém thì ít, hoặc  bốn đại suy yếu thì nhiều, bốn đại mạnh khỏe thì ít, đầu mọc tóc bạc,  hoặc bốn đại mạnh khỏe thì nhiều, bốn đại suy yếu thì ít, không mọc  tóc bạc, mạnh khỏe, yếu đuối cũng như thế.

* Trang 532 *
device

 Lại có thuyết nói: Tóc bạc chẳng phải già, vì tóc bạc là sắc, còn  già chẳng phải sắc. Chỉ thời gian sau của thân nầy, sinh ra pháp không  tốt, là cặn bã của báo như thế. Giống như dầu mè, cũng như rượu gạo,  sau khi sắp cạn, sẽ sinh ra cặn đục. Trạng thái già kia cũng giống như  thế.
Hỏi: Ở xứ nào có tóc bạc nầy?
 Đáp: Về cõi: thì ở cõi Dục có, chẳng phải người cõi Sắc, Vô sắc.  Về đường: Trong đường người, súc sinh, ngạ quỷ đều có tóc bạc.  Phương: ba phương có, chẳng phải châu Uất-đơn-việt. Vì sao? Vì tóc  bạc là tội báo, châu Uất-đơn-việt kia, chẳng phải nơi thọ tội báo.
Hỏi: Ai có tóc bạc nầy?
 Đáp: Phàm phu. bậc Thánh đều có. Bậc Thánh từ Tu-đà-hoàn  đến Bích-chi Phật, chỉ trừ Phật. Thế tôn. Vì sao? Vì phật không có tóc  bạc, rụng dần, da nhăn, má cóp, giọng nói thay đổi hư hoại. Khi nhập  diệt các chi tiết không rã lìa, tâm đau đớn không lầm lẫn, căn không  diệt dần, mà diệt cùng lúc. Đây là pháp của thân Phật.
Hỏi: Vì sao Phật, Thế tôn không có tóc bạc rụng dần, da nhăn, má cóp?
Vì đây là sắc xấu ác, Phật, Thế tôn đã xa lìa hẳn sắc xấu ác.  
Hỏi: Đức  Phật đã gây ra nghiệp gì mà không có báo như thế?   Đáp: Phật, Thế tôn  khi xưa làm Bồ-tát, đã tu hành pháp thiện, với tâm tin vững chắc, không hề suy kém, thối lui, vì đã thực hành nhân  tương tự, nên được thọ quả tương tự như thế. Do việc nầy, nên không  có tóc bạc rụng dần. Da nhăn, má cóp.
 Hỏi: Nếu trong tất cả sát-na đều là vô thường, thì vì sao không  thấy trong tất cả thời gian đều có thây chết hiện ra?
 Đáp: Không nên hỏi về việc có thây chết hay không có thây  chết. Vì sao? Vì pháp có tướng khác với pháp có tướng, pháp vô tướng  khác với pháp vô tướng. Có tâm, không tâm, nói cũng giống như thế.
Lại có thuyết nói: Vì pháp của căn diệt, sinh ra pháp có căn, do  đó không có thây chết. Pháp có căn diệt, sinh ra pháp không có căn,  cho nên có thây chết. Có tâm, không tâm, số chúng sinh, số phi chúng  sinh, pháp trong, pháp ngoài, nói cũng giống như thế.
Lại có thuyết nói: Vì sức nghiệp của chúng sinh, cho nên có. Vì  sức của nghiệp của chúng sinh, cho nên không có thây chết.
Do nghiệp lực của chúng sinh, cho nên có: Chúng sinh cần da,  thịt, gân, xương, răng, móng, lông, sừng v.v... để làm công cụ giúp cho  sự sống cho nên có. Vì nghiệp lực của chúng sinh, cho nên không có:  Một

* Trang 533 *
device

  ngày một đêm, hai mươi không đầy, có sáu mươi lăm trăm ngàn sát- na, mỗi sát-na đều có năm ấm sinh, diệt. Nếu ngay nơi mỗi sát-na đều  có thây chết, thì thây chết của một chúng sinh sẽ đầy dẫy ở thế gian.  Do nghiệp báo của chúng sinh, cho nên không có.
Hỏi: Chúng sinh hóa sinh, vì sao không có thây chết?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì khi sinh, liền được các căn. Lúc  chết, liền bỏ các căn. Như người tạm ở dưới nước, tạm thời trồi lên, rồi  chìm xuống, không biết chìm đến chỗ nào, trồi lên, từ đâu.
Lại có thuyết nói: Chúng sinh hóa sinh, thân chúng nhẹ nên nổi,  giống như ngọn lửa, gió thổi đến hư không, chẳng biết chỗ đi. Mây,  sương mù, sám sét cũng giống như thế.
Lại có thuyết nói: Người bốn đại nhiều thì có thây chết. Vì sắc  tạo của người kia nhiều, nên không có thây chết.
Lại có thuyết nói: Người thọ thân, chẳng phải pháp căn nhiều thì  có thây chết. Người thọ thân chẳng phải pháp căn ít, không có thây  chết.
Lại có thuyết nói: Người thọ thân với pháp đáng bỏ là nhiều, thì  có thây chết, thọ thân, với pháp đáng bỏ là ít thì không có thây chết.  Pháp đáng bỏ là: Tóc, lông, móng, răng v.v...
 Hỏi: Pháp hữu vi vì thể là sinh, cho nên sinh, hay vì hợp với sinh,  cho nên sinh? Nếu thể là sinh, thì tướng sinh đâu có chỗ tạo tác? Nếu  hợp với sinh mà sinh, thì vì sao không hợp với pháp vô vi để khiến cho  pháp vô vi sinh?
Đáp: Nên nói rằng: Thể là tướng sinh.
Hỏi: Nếu vậy tướng sinh có chỗ tạo tác là gì?
 Đáp: tuy thể là sinh, nhưng do tướng sinh, nên thể được hiện bày  sáng tỏ. Giống như trong bóng tối có các vật như chậu sành, bình  v.v..., do đèn phát sáng, nhưng không từ đèn sinh. Tướng sinh kia cũng  giống như thế.
Lại có thuyết nói: Vì hợp với sinh, nên sinh.
 Hỏi: Nếu vậy thì vì sao không hợp với pháp vô sinh, để pháp vô  vi sinh?
 Đáp: Vì không có nghĩa hợp. Nếu có, thì cũng nên sinh. Về vô  thường, nói cũng giống như thế.
 Hỏi: Như pháp hữu vi có ba tướng hữu vi, pháp vô vi có ba tướng  vô vi hay không? Nếu có thì vì sao pháp vô vi không pháp là pháp  nhóm? Nếu không có, thì với thuyết của kinh Ba-già-la-na nói, làm  sao hiểu? Như nói: Thế nào là pháp bất sinh?  Đáp: Là pháp vô vi, vì  là

* Trang 534 *
device

 tướng vô sanh. Thế nào là pháp bất trụ?  Đáp: Là pháp vô vi, vì là  tướng vô trụ.
Thế nào là pháp bất diệt?
Đáp: Là pháp vô vi, vì không có tướng diệt.
Đáp: Nên nói rằng: Pháp vô vi không có tướng của pháp vô vi.  
Hỏi: Nếu vậy thì với kinh Ba-già-la-na đã nói, làm sao hiểu?  
Đáp: Vì đối lập với pháp hữu vi, nên như pháp hữu vi có sinh,  trụ, diệt, pháp vô vi vì không có sinh, trụ, diệt, nên nói như thế.
Kinh Phật nói: Tỳ-kheo các thầy! Tức xuất hiện, tức sinh, tức  mất, tức diệt.
 Hỏi: Xuất hiện và sinh có gì khác nhau? Mất và chết có gì khác  nhau?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Không có khác nhau. Vì sao? Vì xuất  hiện tức là sinh, mất tức là chết, đồng là tánh sát-na.  Tôn giả Ba-xa nói: Thọ thân trung ấm, đó gọi là xuất hiện, thọ  thân sinh ấm, đó gọi là sinh. Thân trung ấmhoại đó gọi là mất, hoại  thân sinh ấm, đó gọi là chết.  Lại nữa, chúng sinh thuộc Noãn sinh, Thai sinh, thấp sinh, lúc thọ  sinh là xuất hiện. Vì sao? Vì các căn như nhãn v.v... xuất hiện dần.  Chúng sinh hóa sinh, thọ thân là sinh. Vì sao? Vì tức khắc được các  căn như nhãn v.v… xả thân Noãn, thai thấp sinh, đó gọi là chết. Vì sao?  Vì có thây chết. chúng sinh hóa sinh, bỏ thân, đó gọi là mất. Vì sao?  Vì không có thây chết.
Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Lúc vào thai mẹ, gọi là sinh, khi ra khỏi  thai gọi là xuất hiện, thay đổi các ấm, đó gọi là mất. Ấm khi chết, đó  gọi là tử.
Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Lúc thọ thân đầu tiên trong các  đường, gọi là sinh. Các ấm đã ở trong đường, gọi là xuất hiện. Chết  trong trung ấm, hướng về sinh ấm, đó gọi là mất, khi xả mạng căn, ấm  gọi là chết.
 ?????

* Trang 535 *
device

Đại Tập 95 - Bộ Tỳ Đàm VII - Số 1546 (Quyển 1-40)