LOGO VNBET
 LUẬN A TỲ ĐÀM TỲ BÀ SA
 
QUYỂN 25
 
Chương 2: KIỀN-ĐỘ SỬ
 
Phẩm 1: BẤT THIỆN, Phần 1
 
 Ba kiết cho đến chín mươi tám sử, đều là kinh Phật nói, chỉ trừ  năm kiết chín mươi tám sử, phần nầy chẳng phải kinh Phật nói. Trong  chương nầy, lẽ ra trừ hai phần luận ấy.
Nghe nói Tôn giả Cù-sa nói rằng: Tất cả luận A-tỳ-đàm đều giải  thích kinh Phật, vì kinh nầy nên soạn luận như thế. Pháp nào trong các  kinh không nói, thì đều loại trừ. Hai phần luận ấy chẳng phải kinh nói,  cho nên phải bỏ năm kiết, nói năm kiết phần trên. Vì sao? Vì năm kiết  phần trên là do kinh Phật nói, trừ chín mươi tám sử, không còn nói gì  khác, vì chẳng phải kinh Phật.
Lại có thuyết nói: Năm kiết trong chương nầy không nên bỏ. Vì  sao? Vì Đức Phật đã nói trong năm pháp của tăng Nhất A-hàm, vì kinh  đã lâu, nên bị mất.
Tôn giả Ca-chiên-diên-tử đã vận dụng sức của nguyện trí, quán  sát trong A-tỳ-đàm, lại nói năm kiết. Nghe nói từ một pháp đến một  trăm pháp của tăng Nhất A-hàm, hiện nay chỉ còn từ một pháp đến  mười pháp, ngoài ra đều mất. Từ một pháp đến mười pháp đã bị mất  nhiều, pháp còn lại cũng ít. Như Tôn giả A-la-hán Xa-na-bà-tú Hoà  thượng của Tôn giả Kỳ-bà-ca, lúc nhập Nê hoàn là ngày bị mất hết  bảy vạn bảy ngàn kinh Bổn sinh, một vạn Luận A-tỳ-đàm. Từ đó về  sau, số kinh luận nầy không còn lưu hành nữa. Một Luận sư mất, cũng  thất thoát ngần ấy kinh luận, huống chi đã có nhiều Luận sư mất trong  pháp Phật.
Lại có thuyết nói: Hai luận nầy dù chẳng phải kinh Phật, nhưng  cũng không nên bỏ.
Hỏi: Nếu chẳng phải kinh Phật thì vì sao không bỏ?

* Trang 640 *
device

 Đáp: Vì người biên soạn kinh có ý muốn thế. Vì thể theo ý muốn  của tác giả đó, nên soạn luận nầy cũng không trái với pháp tướng.  Trong luận ấy nói Nhất thiết biến, nói chẳng phải Nhất thiết biến. Nói  nhất thiết biến chẳng phải nhất thiết biến vì Nhất thiết biến là ba kiết,  chẳng phải Nhất thiết biến là năm kiết.
Nhất thiết biến chẳng phải Nhứt thiết biến là chín kiết.
 Hỏi: Năm kiết có thể như vậy, còn chín mươi tám sử cũng chẳng  phải kinh Phật, vì sao không bỏ?
 Đáp: Tất cả A-tỳ-đàm đều giải thích rộng nghĩa kinh Phật. Nếu  đã giải thích rộng nghĩa kinh Phật tức là A-tỳ-hàm. Kinh Phật nói bảy  sử, do giới, do chủng, do hành khác nhau, nên có chín mươi tám sử,  cho nên hai luận nầy đều không nên bỏ.
Hỏi: Tôn giả kia soạn luận, vì sao lập chương trước?
 Đáp: Vì muốn làm rõ nghĩa của các môn. Vì sao? Vì nếu trước  không lập chương, thì nghĩa môn sẽ không sáng tỏ. Như người không  thể vẽ trong hư không, nếu khi muốn vẽ thì phải có chỗ tựa. Người  soạn luận kia cũng giống như thế.  Lại nữa, vì muốn có luận nầy ở lâu nơi đời, nên dù lập chương,  môn, soạn ra kệ, tụng, chế Kiền-độ đặt tên phẩm, trong trăm ngàn  chúng mới có một người có thể tụng trì đầy đủ A-tỳ-đàm, huống chi  không lập chương, môn, cho đến tên phẩm, mà có thể trì tụng đầy đủ  văn nầy.
Vì muốn cho không có lỗi như thế, nên phải lập chương trước.  
Hỏi: Vì sao Tôn giả kia do kinh Phật mà lập ra chương?
 Đáp: Vì tất cả A-tỳ-đàm đều giải thích rộng nghĩa kinh Phật. Lại  nữa, vì muốn thể hiện sáng tỏ kinh Phật có vô biên nghĩa, còn sách vở  của ngoại đạo chỉ có văn không có nghĩa, dù có nghĩa nhưng ít, như  sách La-ma-diên, văn sách ấy có đến một vạn hai ngàn bài kệ, mà chỉ  nói có hai việc:
1.         Nói về kiếp La-ma-diên, Tư-đà bỏ đi.
2.         La-ma-diên đem Tư-đà trở lại.
Tất cả kinh Phật đều là vô lượng, vô biên. Vô lượng là có vô  lượng, vô biên nghĩa là có vô biên văn. Cũng như biển cả là vô lượng,  vô biên. Vô lượng là sâu vô lượng, vô biên là rộng lớn vô biên.
Lại nữa, vì muốn thể hiện làm sáng tỏ kinh Phật có khả năng  nhận chịu sự vấn nạn, chuyển biến khéo léo, trong khi sách vở ngoại  đạo không thể chịu đựng vấn nạn. Nếu nêu vấn nạn thì trở nên không  bền chắc, không có vị nghĩa, như loài khỉ, vượn con không chịu nổi sự  đánh đập, nếu đánh đập, nó sẽ phóng uế dơ dáy. Kinh Phật có khả  năng chịu

* Trang 641 *
device

 đựng sự đả phá. Nếu khi đả phá, thì sẽ phát ra sắc giới thanh tịnh và  sự xúc chạm của căn thiện. Cũng như loại áo sản xuất ở Ba-la-nại, có  khả năng chịu đựng sự va chạm, đập mạnh, nếu tăng thêm sự đập  mạnh, va chạm thì sắc sáng càng đẹp, sinh ra sự xúc chạm diệu kỳ.  Người soạn luận kia cũng giống như thế.
Lại nữa, vì muốn làm sáng tỏ kinh Phật, phát ra thì mầu nhiệm.  Kinh Phật nói có ba việc, che lại thì hay, phát ra thì không hay, nghĩa  là người ngu, người nữ Bà-la-môn. Ba việc của sách phát ra thì hay,  che lại thì không hay, đó là người trí, mặt trời, mặt trăng và kinh Phật.
Lại nữa, vì muốn thể hiện rõ kinh Phật có thể chịu đựng sự tư  duy, mong cầu, chuyển biến một cách khéo léo. Như người ngó mặt  trời thì mắt bị hóa. Sách, vở của ngoại đạo lúc suy nghĩ, tìm kiếm, đã  làm cho mắt tuệ không sạch. Như người ngắm nhìn mặt trăng thì mắt  sẽ sáng, sạch. Kinh, luận của pháp Phật lúc tư duy, mong cầu điều  khiến cho mắt tuệ sáng, sạch.
Lại nữa, trước hết nói như vầy: Tất cả A-tỳ-đàm đều giải thích  rộng nghĩa kinh Phật. Vì việc ấy, nên Đức Như lai nói các nghĩa không  giống nhau, lập ra Kiền-độ Tạp, nói về nghĩa các kiết, lập Kiền-độ  Kiết, Sử, cho đến nói nghĩa của kiến, lập Kiền-độ Kiến, trong mỗi  kiền- độ đều phân biệt tất cả pháp.
 Hỏi: Tôn giả kia soạn luận, vì sao trước lập chương, sau tạo ra  môn?
 Đáp: Như người xây nhà, trước phải sửa sang mặt đất cho bằng  phẳng, rồi mới dựng nhà. Cũng thế, Tôn giả kia muốn xây ngôi nhà  pháp phải như pháp địa bình đẳng, trước phải lập chương, như cách  xây nhà, sau mới lập môn.
Lại nữa, như người trồng cây, trước phải xới đất rồi mới trồng.  Tôn giả kia cũng giống như thế, muốn trồng cây pháp như sửa sang  pháp đất, trước phải lập chương, như cách trồng cây, sau tạo ra môn.
Lại nữa, như người thợ chuyên làm tràng hoa và các học trò học  làm tràng hoa, khi muốn tạo ra các thứ tràng hoa, trước phải dùng chỉ  xỏ thành xâu hoa, sau đó mới dùng các thứ sắc hoa để trang sức.
Tôn giả kia cũng giống như thế, muốn làm tràng hoa pháp phải  như cách xỏ vòng hoa, trước lập chương, như dùng hoa để trang sức,  sau đó mới lập môn.
Lại nữa, như họa sĩ, vẽ đệ tử, lúc muốn vẽ thi trước sờ tượng, sau  đó bày các màu vẽ, tôn giả kia cũng giống như thế, như cách sờ tượng,  trước lập ra chương, như cách bày mầu vẽ, sau mới lập môn.

* Trang 642 *
device

 Lại nữa, giống như người thợ khéo, đệ tử người thợ khéo, trước  phải lường khúc gỗ rồi mới khắc các chi tiết, tôn giả kia cũng giống  như thế. Như cách lường khúc gỗ, trước lập ra chương, như cách khắc  các chi tiết, sau tạo ra môn. Lại nữa, như hành giả quán pháp trước hết  quán sắc tạo bốn đại, sau quán sát-na của vi trần. Tôn giả kia cũng  giống như thế. Như phương pháp quán sắc tạo của bốn đại, trước lập ra  chương, như phương pháp quán sát-na của vi trần, sau tạo ra môn.
Lại nữa, Đức Thế tôn nói pháp cũng giống như thế, trước nói, sau  giải thích. Trước nói: Như nói sáu giới, sáu xúc, mười tám ý hạnh, bốn  xứ. Tỳ-kheo phải biết, đó gọi là người. Sau giải thích: đó gọi là sáu  giới, cho đến bốn xứ.
Tôn giả kia cũng giống như thế, trước lập ra chương, sau tạo ra môn.
Lại nữa, vì muốn biểu hiện hai thứ thiện, nên trước lập chương, nói lên giỏi về văn, sau tạo ra môn, nói lên giỏi về nghĩa. Như giỏi về  nghĩa văn, có năng lực đối với nghĩa văn, vô ngại đối với pháp, vô  ngại đối với nghĩa quả của pháp vô ngại, quả của nghĩa vô ngại, phải  biết cũng giống như thế.
Lại nữa, vì muốn thể hiện điều mình thấy biết không lầm lẫn.  Nếu sự thấy biết của con người đã lầm lẫn thì soạn kinh luận cũng lại  lầm lẫn, không thể khéo lập môn chương, môn, cho đến tên phẩm.  Nếu là người thấy biết không lầm lẫn thì soạn kinh, luận cũng không  lầm lẫn, khéo lập chương cho đến tên phẩm.
Cho nên, vì muốn chứng tỏ sự thấy biết của mình không lầm lẫn,  nên trước lập chương, sau tạo ra môn.
 Hỏi: Vì sao Tôn giả kia soạn luận, trước lập ba kiết làm chương,  sau mới đến chín mươi tám sử?
 Đáp: Vì người soạn luận có ý muốn như thế, vì tùy ý muốn của  người đó, nên soạn luận nầy. Cũng vì để không trái với pháp tướng  cho nên trước phải lập ba kiết làm chương, sau mới đến chín mươi tám  sử.
Tôn giả Ba-xa nói: Mặc dù tất cả chỗ đều sinh nghi, nhưng vẫn  không trái với pháp tướng. Nếu trước nói ba căn bất thiện, sau mới  đến chín mươi tám sử, thì cũng có nghi nầy.
Lại nữa, A-tỳ-đàm nên dùng tướng để cầu, không nên dùng thứ  lớp để cầu: Trước nói, sau nói đều không có lỗi.
Lại nữa, cũng có thể tùy ở nghĩa để nói theo thứ lớp của pháp  kia, do đó trước lập ba kiết làm chương, sau mới đến chín mươi tám sử.  Nếu mỗi A-tỳ-đàm đều tìm thứ lớp của pháp, thì văn luận sẽ trở nên  rối

* Trang 643 *
device

 rắm, rồi ai là người có thể thọ trì đầy đủ loại văn rườm rà, lộn xộn của  A-tỳ-đàm?
Lại nữa, vì thêm pháp, nên trước nói ba kiết, sau nói bốn, năm,  sáu, bảy, chín, cho đến chín mươi tám sử.
Lại nữa, vì muốn nói theo thứ lớp chứng đắc quả bốn Sa-môn:  Nếu dứt ba kiết thì được quả Tu-đà-hoàn, không dứt hết ba căn bất  thiện và dục lậu, thì được quả Tư-đà-hàm. Nếu dứt hết sẽ được quả A- na-hàm, dứt hẳn hữu lậu, vô minh lậu, thì chứng quả A-la-hán.
Các lưu ách ràng buộc cái, thủ, kiết phần dưới, kiết phần trên,  kiến thân, ái kiết sử còn lại đều là sự khác nhau của hữu lậu, tức phân  biệt rộng về lậu. Cho nên, vì muốn nói thứ lớp đạt được bốn quả Sa-  môn, nên trước lập ba kiết làm chương, sau mới đến chín mươi tám sử.
Ba kiết là thân kiến, giới thủ và nghi.  
Hỏi: Thể tánh của ba kiết nầy là gì?
 Đáp: Thể tánh của ba kiết nầy có hai mươi mốt thứ. Thân kiến,  là chỗ dứt của kiến khổ ba cõi có ba thứ. Giới thủ, là chỗ dứt của kiến  khổ, kiến đạo ba cõi có sáu thứ. Nghi, là chỗ dứt của kiến khổ, tập,  diệt, đạo ba cõi có mười hai thứ.
Hai mươi mốt thứ nầy là thể của ba kiết, là phần tánh, tướng của  vật, ngã.
Đã nói thể tánh của ba kiết. Về nguyên nhân của ba kiết, nay sẽ nói:
 Hỏi: Vì sao gọi là kiết? Kiết là nghĩa gì?
Đáp: Nghĩa ràng buộc là nghĩa kiết. Nghĩa hợp với khổ là nghĩa kiết. Nghĩa chất độc lẫn lộn là nghĩa kiết.
Nghĩa ràng buộc là nghĩa kiết: Sự ràng buộc tức là kiết. Vì sao  mà biết? Vì như kinh nói: Tôn giả Ma ha Câu-hy-la đến chỗ Tôn giả  Xá- lợi-phất, hỏi như thế nầy: sắc ràng buộc mắt hay vì mắt ràng buộc  sắc? Cho đến ý, pháp cũng hỏi như thế.
Tôn giả Xá-lợi-phất đáp Tôn giả Ma ha Câu-hy-la: Sắc không  ràng buộc mắt, mắt không buộc ràng sắc, ở đây ái dục là sợi dây ràng  buộc mắt, sắc kia. Ví như hai con bò trắng, bò đen, cùng mang một  chiếc ách do một sợi dây dài buộc, Tôn giả Câu-hy-la nầy, ý ông nghĩ  sao? Nếu có ai đó nói bò đen trói buộc bò trắng, hoặc bò trắng trói  buộc bò đen, có phải là nói đúng như pháp không?
Đáp: Không.
Tuy nhiên, sợi dây dài buộc ách kia là vật đã ràng buộc chúng  với nhau. Cũng thế, nầy Tôn giả Câu-hy-la! sắc không ràng buộc mắt,  mắt

* Trang 644 *
device

 không buộc ràng sắc, chỉ ở trong đó, ái dục là sự ràng buộc, cho đến ý  thức nói cũng giống như thế. Vì việc nầy, nên biết được kiết tức là  ràng buộc.
Nghĩa hợp với khổ là nghĩa kiết: Các kiết cõi Dục kết hợp với  khổ của chúng sinh cõi Dục. Các kiết cõi Sắc kết hợp với chúng sinh  khổ ở cõi Sắc. Các kiết cõi Vô sắc kết hợp với chúng sinh khổ ở cõi  Vô sắc.
Tướng trạng của các kiết cõi Dục hợp với khổ, không hợp với vui. Các kiết cõi Sắc, cõi Vô sắc hợp với khổ, không hợp với vui.
Vì việc nầy, nên hợp với nghĩa khổ là nghĩa kiết.
Nghĩa chất độc xen lẫn là nghĩa kiết: Tất cả sự thọ sinh, định hữu  lậu vi diệu, như vô lượng giải thoát, trừ nhập, Nhất thiết xứ, định v.v...,  các bậc Thánh xa lìa, vì chất độc phiền não xen lẫn, cũng như thức ăn  có lẫn chất độc, dù rất ngon nhưng người trí thường xa lánh nó. Kiết  kia cũng giống như thế.
Do sư việc nầy, nên nghĩa ràng buộc, nghĩa kết hợp với khổ,  nghĩa chất độc xen lẫn là nghĩa kiết. Kinh Phật nói: Nếu dứt trừ ba  kiết, được gọi là Tu-đà-hoàn, không đọa vào đường ác, quyết định  nhập đạo rốt ráo, chỉ thọ bảy hữu, bảy lần sinh lên cõi trời, trong loài  người, sẽ được dứt hết bờ mé khổ.   Hỏi: Như A-tỳ-đàm nói: Dứt tám mươi tám sử gọi là Tu-đà-hoàn.  Như Kinh Trì Dụ nói dứt vô lượng khổ gọi là Tu-đà-hoàn. Vì sao Đức  Thế tôn lại nói: Nếu dứt trừ ba kiết, thì được gọi là Tu-đà-hoàn?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Đây là thuyết chưa rốt ráo của Như lai.  Nói tóm lược, nói điều chủ yếu là vì người được Phật hóa độ, nên nói  như thế.
Lại nữa, vì con người, chúng đương, vì thời. Đức Như lai vì kẻ  được hóa độ, vì pháp khí. Vì sao? Vì chư Phật nói pháp đều vì người  được hóa độ. Trí có sâu, cạn, cũng quán tâm họ và kiết sử. Tâm của  người kia, gọi là căn thiện. Kiết sử là các phiền não. Quán sát tâm họ  và phiền não rồi, tùy phiền não của họ, nói pháp đối trị cũng không  nói ít, vì nếu nói ít thì sẽ không thể chữa khỏi chứng bệnh phiền não,  cũng không nói nhiều, vì nếu nói nhiều thì lời nói của Như lai không  có lợi. Ví như thầy thuốc trị bệnh, trước phải chẩn đoán xem chứng  bệnh của người kia và nguyên nhân gây ra bệnh, rồi mới cấp phát  thuốc để đối trị. Cũng không cho thuốc ít, vì nếu thuốc ít thì chứng  bệnh của người kia sẽ không lành. Cũng không cấp thuốc quá nhiều,  vì nếu cho thuốc nhiều quá, thì công dụng của thuốc sẽ luống uổng,  cần phải tùy thích ứng hợp với chứng bệnh của họ mà cho thuốc. Đối  trị bệnh phiền não

* Trang 645 *
device

 kia cũng giống như thế.
Lại nữa, nếu nói lược thì dứt ba kiết gọi là Tu-đà-hoàn. Nếu nói  rộng, thì phải dứt trừ tám mươi tám sử và vô lượng khổ mới gọi là Tu-  đà-hoàn. Như nói lược, nói rộng, không phân biệt hoặc phân biệt, nói  ngay tức khắc, nói theo thứ lớp, cũng giống như thế.
Lại nữa, vì người căn tánh nhạy bén, nói dứt trừ ba kiết, gọi là  Tu-đà-hoàn, vì người căn tánh chậm lụt, nói dứt trừ tám mươi tám kiết  và vô lượng khổ mới gọi là Tu-đà-hoàn. Như lợi căn, độn căn sức của  nhân, sức của duyên, sức trong, sức ngoài, dựa vào sức tư duy bên  trong, nương dựa sức giảng nói bên ngoài, trí nhanh, trí chậm, nói cũng  giống như thế.
Lại nữa, muốn nói pháp dễ thực hành, phải dùng phương pháp  khuyến dụ, tiến dẫn người được hóa độ, như kéo tay để họ đứng dậy.
Trong trường hợp nầy, nên nói thí dụ về Bạt-kỳ-tử. Nghe nói có  Bạt-kỳ-tử xuất gia trong pháp Phật. Bấy giờ, Đức Phật đã chế hai trăm  năm mươi giới để cho các đệ tử tùy theo chỗ ưa thích mà thực hành.  Người kia nghe Phật nói trong tâm lo nghĩ: Ai có thể giữ gìn các giới  như thế? Bèn đến chỗ Phật, Đảnh lễ dưới chân Phật bạch Phật rằng:  Đức Thế tôn đã chế hai trăm năm mươi giới để cho các đệ tử tùy chỗ  ưa thích mà vâng làm. Nay con không thể gìn giữ giới nầy.
Lúc ấy, Đức Thế tôn thị hiện dáng vẻ thân thiện, không quở  trách, dùng lời lẽ mềm mỏng để an ủi, vỗ về Bạt-kỳ-tử: Lành thay!  Lành thay! Bạt-kỳ-tử, ông có thể học được ba giới chăng? Nghĩa là  khéo học giới, khéo học tâm, khéo học tuệ.  Người kia vừa nghe Phật nói xong, trong tâm rất vui mừng, nói  rằng: Con có thể khéo học ba thứ giới nầy.  Vì học ba thứ giới, nên theo thứ lớp, có thể học tất cả các giới.  Nếu Đức Như lai nói dứt trừ tám mươi tám sử là chỗ dứt của kiến đạo  và vô lượng các khổ, được gọi là Tu-đà-hoàn, thì người được hóa độ,  tâm họ sẽ sinh lo nghĩ: Làm sao có thể nhổ nổi tám mươi tám cây  phiền não nầy? Lội qua tám mươi tám sông lớn phiền não, tát cạn tám  mươi tám biển cả phiền não? Đập tan tám mươi tám núi phiền não và  tu tám mươi tám đạo đối trị ấy? Nếu Phật nói dứt bỏ ba kiết, được gọi  là Tu- đà-hoàn, thì các vị được hóa độ sanh tâm rất vui mừng. Nếu  chặt đứt ba kiết, thì là việc dễ, nếu dứt trừ ba kiết, thì đó là dứt trừ tất  cả các sử của kiến đạo. Vì sao? Vì đồng một đối trị dứt. Do việc nầy,  nên nói pháp dễ thực hành, nói rộng như trên. Lại nữa, vì muốn nói pháp vượt hơn. Tức trong tất cả kiết do kiến

* Trang 646 *
device

đạo dứt, ba kiết nầy là vượt hơn hết. Cho nên Tôn giả Cù-sa nói rằng:  Ba kiết ấy là hơn hết trong tất cả phiền não do kiến đạo dứt. Các thứ  tùy phiền não khác sinh theo, như nhân kiến sinh ái, giận dữ, mạn  v.v...
Lại nữa, ba kiết nầy đứng đầu hết thảy phiền não do kiến đạo  dứt. Cũng như quân sĩ mạnh thường đi trước, sức của chúng, nên phiền  não khác sinh.
Lại nữa, vì ba kiết nầy là kẻ hù của công đức. Công đức là quả  Tu-đà-hoàn. Ai là kẻ thù kia? Đó là ba kiết
Lại nữa, ba kiết nầy là đối trị gần của ba Tam-muội, thân kiến là  đối trị gần của Tam-muội Không. Giới thủ là đối trị gần của Tam- muội Vô nguyện. Nghi là sự đối trị gần của Tam-muội Vô tướng.
Lại nữa, vì ba kiết nầy là gần người kiến đạo, thường tu hành.  Như trong Kiền-độ Tạp nói: Hành giả trụ nơi nhẫn, kiến, nghi không  đi theo, nếu có đi theo cũng lại không biết, vì trí kém, mà phiền não  thì vi tế.
Kiến là thân kiến, giới thủ. Nghi tức là nghi.
Lại nữa, vì ba kiết nầy khó dứt trừ, khó phá bỏ, khó vượt qua.  
Lại nữa, vì ba kiết nầy có tăng thêm nhiều lỗi lầm, trầm trọng.  
Hỏi: Thân kiến có tăng thêm lỗi gì?
 Đáp: Thân kiến là kiến gốc của sáu mươi hai kiến, là gốc của  các phiền não. Phiền não là cội rễ của nghiệp. Nghiệp là căn bản của  báo. Dựa vào báo nên sinh ra các pháp thiện, bất thiện, vô ký.
Hỏi: Giới thủ có thêm lỗi lầm gì?
Đáp: Từ giới thủ sinh các thứ khổ hạnh tà.  
Hỏi: Nghi có thêm nhiều lỗi gì?
 Đáp: Nghi là nghi ngờ đời quá khứ, vị lai, trong tâm do dự: Các  đời nầy là gì? Vì sao có đời nầy? Ai tạo ra đời nầy, đời nầy sẽ ra sao?  Chúng sinh nầy từ đâu đến? Sau khi chết sẽ đi về đâu?
Lại nữa, ba kiết nầy dù đã dứt, đã biết, nhưng A-la-hán vẫn còn  hành pháp tương tự. Khổ tỷ nhẫn của thân kiến đã dứt hẵn, dù dứt, dù  biết, nhưng A-la-hán vẫn còn chuyển vận pháp giống nhau, nói rằng:  Đây là y của ta, bát của ta, là đệ tử đồng phòng với ta, là đệ tử cận trụ  của ta. Đây là phòng của ta, là vật dụng giúp đỡ sự sống trong phòng  của ta, tương tự như chấp ngã.
Đạo tỷ nhẫn của giới thủ đã dứt hẳn, dù dứt dù biết, nhưng A-la-  hán vẫn còn hiện hành pháp tương tự, như rửa tay chân, trụ nơi A- luyện- nhã, chỉ chứa ba y, nói rộng ra là mười ba công đức thanh tịnh,  do công đức nầy mà được tưởng thanh tịnh rốt ráo.
Nghe nói nói Tôn giả Lung-ma-xa-hằng-kỳ-ca, dù là A-la-hán,

* Trang 647 *
device

nhưng hằng ngày vẫn xuống sông tắm gội, vì nghĩ là sạch.
Đạo tỷ nhẫn của nghi dứt hẳn, dù dứt dù biết, nhưng A-la-hán  vẫn còn hiện hành pháp tương tự: Trông thấy vật thể từ xa, ngờ vực  không biết là người hay gốc cây? Thấy hai con đường nghi ngờ chẳng  biết đường nào là đường đi, đường nào chẳng phải là đường đi. Nhìn  thấy hai y, hai bát, ngờ vực chẳng biết y bát nào là ý bát của ta?
Lại nữa, hành giả vì dứt trừ ba kiết, nên đã làm cho tất cả kiết,  chỗ dứt của kiến đạo cũng đều được dứt.
Lại nữa, hành giả vì dứt trừ ba kiết, nên cũng thấy, biết, giác,  thức được kiết do kiến đạo dứt.
Lại nữa, vì ba kiết nầy có ở cả ba cõi, nên cũng là phần dưới.  Dục, ái, giận dữ dù là kiết phần dưới, nhưng không ở khắp ba cõi.  Biên kiến, tà kiến, kiến thủ, ái, mạn, vô minh, dù ở cả ba cõi, nhưng  chẳng phải kiết phần dưới.
Lại nữa, trong bảy sử. Sử được dứt trừ hẳn, thì được nói ở đây.  Tu- đà-hoàn đã dứt hẳn dứt hẳn hai sử trong bảy sử, đó là sử kiến, sử  nghi. Lại nữa, dứt hẳn rốt ráo trong chín kiết, cho đến nói rộng. Tu-đà-  hoàn đã dứt hẳn ba kiết trong chín kiết, nghĩa là kiết kiến, kiết nghi và kiết thủ.
Do việc ấy, nên Tôn giả Cù-sa đã nói rằng: Kinh ấy lẽ ra phải  nói rằng: Đoạn trừ ba kiết, được quả Tu-đà-hoàn. Ba kiết đó là: Kiết  kiến, kiết nghi và kiết thủ.
Lại nữa, trong mười sử, dứt hẳn rốt ráo, cho đến nói rộng.
Mười sử: Năm kiến là ái, giận dữ, mạn, vô minh, nghi. Tu-đà-  hoàn đã dứt hẳn sáu sử, nghĩa là năm kiến và nghi. Trong sáu sử, chỉ  nói ba sử: Thân kiến, giới thủ và nghi, không nói ba sử là: Biên kiến,  tà kiến, kiến thủ. Vì sao? Vì sử nầy từ sử kia sinh. Thân kiến sinh biên  kiến, biên kiến từ thân kiến sinh ra. Giới thủ sinh ra kiến thủ, kiến thủ  từ giới thủ sinh. Nghi sinh tà kiến, tà kiến từ nghi sinh.
Đã nói về năng sinh, phải biết cũng nói sinh từ đâu?
Lại nữa, đây là hiện bày môn ban đầu, hiện bày nói tóm lược,  hiện bày bắt đầu nhập. Ở đây, Kiết do kiến đạo dứt, hoặc một thứ dứt,  hai thứ dứt, bốn thứ dứt. Nếu nói thân kiến, phải biết nói một thứ dứt.  Nếu nói giới thủ, phải biết là đã nói hai thứ dứt. Dù không có hai thứ,  tức giới thủ được gọi là hai thứ, nhưng pháp cùng có tương ưng với giới  thủ cũng được gọi là hai thứ. Nếu nói nghi, phải biết là đã nói bốn thứ  dứt.
Lại nữa, kiết do kiến đạo dứt, hoặc là nhất thiết biến của giới  mình, hoặc là nhất thiết biến của giới người. Nếu nói thân kiến, phải

* Trang 648 *
device

 biết là đã nói nhất thiết biến giới mình. Nếu nói của giới thủ, nghi,  phải biết đã nói đến nhất thiết biến của giới người.
 Hỏi: Vì sao nhất thiết biến của giới mình, nói một kiết, còn nhất  thiết biến của người khác, lại nói hai kiết?
Đáp: Vì giới của người khác duyên hữu lậu, cũng duyên vô lậu.
Nếu nói giới thủ, phải biết là đã nói sử duyên hữu lậu. Nếu nói  nghi, phải biết là đã nói vô lậu duyên sử.
Như nhất thiết biến của giới mình, nhất thiết biến của giới người,  nhất thiết biến của địa mình, nhất thiết biến của địa người, duyên giới  mình, duyên giới người, duyên ở địa mình, duyên địa người, nên biết  cũng giống như thế.
Lại nữa, kiết do kiến đạo dứt hoặc duyên hữu lậu hoặc duyên vô  lậu. Nếu nói thân kiến, giới thủ, phải biết đã nói sử duyên hữu lậu.  Nếu nói nghi, phải biết đã nói vô lậu duyên sử.
Hỏi: Vì sao nói hai duyên hữu lậu nói một duyên vô lậu?
 Đáp: Duyên hữu lậu: Hoặc duyên giới mình, hoặc duyên giới  người. Nếu nói thân kiến, phải biết là đã nói duyên của giới mình.  Nếu nói giới thủ, phải biết là đã nói duyên giới người. Như duyên hữu  lậu, duyên vô lậu, duyên thế, duyên xuất thế, duyên vị, duyên không  có vị, duyên trụ, duyên xuất, duyên trói buộc, duyên không trói buộc,  duyên kiết, duyên chẳng phải kiết, duyên thọ, duyên chẳng phải thọ,  duyên triền, duyên chẳng phải triền, nên biết cũng giống như thế.
Lại nữa, kiết, là chỗ dứt của kiến đạo, hoặc duyên hữu vi, hoặc  duyên vô vi. Nếu nói thân kiến, giới thủ, phải biết đã nói duyên hữu  vi. Nếu nói nghi, phải biết đã nói duyên vô vi. Như duyên hữu vi,  duyên vô vi, duyên hữu thường, duyên vô thường, duyên có hằng,  duyên không có hằng, nên biết cũng giống như thế.
Lại nữa, kiết do kiến đạo dứt, hoặc tánh là kiến, hoặc tánh chẳng  phải kiến. Nếu nói thân kiến, giới thủ, phải biết đã nói về tánh kiến.  Nếu nói nghi, phải biết đã nói chẳng phải tánh kiến. Như tánh kiến,  chẳng phải tánh kiến, nhìn, không nhìn, chuyển hành, không chuyển  hành, cầu, không cầu, thay đổi tâm, không thay đổi tâm, phải biết  cũng giống như thế.
Lại nữa, kiết do kiến đạo dứt trừ, hoặc bất thiện, hoặc vô ký.  Nếu nói giới thủ, nghi, phải biết đã nói về bất thiện. Nếu nói thân  kiến phải biết đã nói vô ký. Như bất thiện, vô ký, có báo, không có  báo, sinh một quả, sinh hai quả, tương ưng với không hổ, không thẹn,  không tương ưng với không hổ, không thẹn, phải biết cũng giống như  thế.

* Trang 649 *
device

Lại nữa, kiết, là chỗ dứt của kiến đạo có hai thứ: Hoặc tánh ưa  vui mừng, hoặc tánh lo buồn. Nếu nói thân kiến phải biết đã nói về  vui mừng. Nếu nói giới thủ, nghi, phải biết đã nói về lo buồn.
Lại nữa, ba kiết nầy hủy hoại ba thứ thân: Thân kiến làm hư hoại  thân giới. Giới thủ gây hư hoại thân định. Nghi phá hoại thân tuệ.
Lại nữa, ba kiến nầy có thể làm hư hoại tám chánh đạo. Thân  kiến làm hư hoại chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng. Giới thủ phá  hoại chánh niệm, chánh định. Nghi làm hư hoại chánh kiến, chánh  giác, chánh phương tiện.
Lại nữa, vì muốn cho người nghi ngờ được quyết định. Người đời  thường rất ưa đắm ngã, ngã sở, rất ưa đắm về lành, không lành, rất  hay do dự. Đức Phật nói: Nếu chúng sinh thực hành pháp như thế thì  không gọi là Tu-đà-hoàn, nếu không thực hành pháp như thế, thì gọi  là Tu-đà- hoàn.
 Hỏi: Vì đắc đạo đầu tiên gọi là Tu-đà-hoàn, hay vì đắc quả đầu  tiên được gọi là Tu-đà-hoàn? Nếu người đắc đạo đầu tiên được gọi là  Tu-đà-hoàn, thì người thứ tám lẽ ra là Tu-đà-hoàn. Người thứ tám gọi  là Kiên tín, Kiên pháp. Vì sao? Vì người được đạo đầu tiên nếu được  quả đầu tiên thì gọi là Tu-đà-hoàn, nếu lìa nhiều phần dục, nếu lìa dục  cõi Dục, lúc sẽ được đạo tỷ trí chánh quyết định, lẽ ra là Tu-đà-hoàn.  Vì sao? Vì đắc quả đầu tiên.
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì đắc đạo đầu tiên nên gọi là Tu-đà-  hoàn.
 Hỏi: Nếu vậy thì người thứ tám lẽ ra là Tu-đà-hoàn. Vì sao? Vì  được đạo đầu tiên?
 Đáp: Vì đắc đạo đầu tiên nên gọi là Tu-đà-hoàn, nhưng người  kia đã được đạo phải duyên với đạo, là Tu-đà-hoàn. Người thứ tám dù  được đạo ban đầu, vì duyên về khổ nên không gọi là Tu-đà-hoàn.
Lại nữa, vì được đạo đầu tiên nên gọi là Tu-đà-hoàn. Đạo kia  chủ yếu là đạo thuộc về quả của đạo tỷ trí là Tu-đà-hoàn.
Lại nữa, vì được đạo đầu tiên, nên gọi là Tu-đà-hoàn. Đạo kia  chủ yếu có ba việc:
1.         Được đạo không hề được.
2.         Bỏ đạo từng được.
3.         Đồng một vị dứt trừ kiết.
Được đạo không hề được: Là tu đạo. Bỏ đạo từng được: Là kiến  đạo. Đồng một vị dứt trừ kiết: Kiết, chỗ dứt của kiến đạo đều đồng  một vị chứng đắc. Lại nữa, đắc đạo đầu tiên nên gọi là Tu-đà-hoàn.  Đạo kia

* Trang 650 *
device

chủ yếu có năm việc:
1.         Được đạo không hề được.
2.         Xả bỏ đạo đã từng được.
3.         Dứt kiết, đồng một vị chứng đắc.
4.         Được ngay tám trí.
5.         Tu đủ mười sáu hành.
Lại nữa, đầu tiên đắc đạo, nên gọi là Tu-đà-hoàn. Lúc trụ đạo  ấy, kiết do kiến đạo dứt hết hẳn không còn, dứt hẳn duyên đảo kiết,  dứt hẳn kiết do nhẫn đối trị, dứt hẳn tà kiến.
Lại nữa, đầu tiên đắc đạo, nên gọi là Tu-đà-hoàn. Khi trụ đạo  ấy, người kia có thể cùng bàn bạc, có thể giả đặt có tướng.
Lại nữa, đầu tiên đắc đạo, gọi là Tu-đà-hoàn. Lúc trụ đạo ấy, có  chứa sinh tử.
Lại có người nói: Mới đắc quả, nên gọi là Tu-đà-hoàn.
 Hỏi: Nếu thế thì dứt trừ nhiều phần dục, dứt hết kiết cõi Dục, lúc  đạo tỷ trí đạt được chánh quyết định, nên là Tu-đà-hoàn. Vì sao? Vì là  đầu tiên đắc quả?
 Đáp: Đầu tiên đắc đạo, nên gọi là Tu-đà-hoàn, phải thuận theo  thứ lớp sự trói buộc đầy đủ, chẳng phải người siêu vượt.
Lại nữa, đầu tiên đắc đạo nên gọi là Tu-đà-hoàn, là đầu tiên  được giải thoát, là đầu tiên được độ, là người được quả đầu tiên.
Lại nữa, đầu tiên đắc quả, gọi là Tu-đà-hoàn, phải không do đạo  thế tục nên dứt một loại kiết mà được quả.
Lại nữa, đầu tiên được quả, nên gọi là Tu-đà-hoàn, là quả đầu  tiên của bốn quả Sa-môn.
Lại nữa, đầu tiên đắc quả, nên gọi là Tu-đà-hoàn, phải là bốn  hướng bốn quả.
Lại nữa, đầu tiên đắc quả, nên gọi là Tu-đà-hoàn, là “tám người  bốn đôi”.
Lại nữa, đầu tiên đắc quả, nên gọi là Tu-đà-hoàn, lúc trụ đạo ấy,  cũng không hoại địa, cũng không hoại đạo.
Quả Tư-đà-hàm dù không hoại địa mà vẫn hoại đạo. Vì sao? Vì  đạo hữu lậu, vô lậu đều có thể đạt được, nên quả A-na-hàm vừa hoại  địa, vừa hoại đạo. Hoại địa, là người dựa vào sáu địa mà được. Hoại  đạo: Là đạo hữu lậu, vô lậu đều có thể được. Quả A-la-hán dù không  hoại đạo mà hoại ở địa. Vì sao? Vì dựa vào chín địa đạt được, nên địa  của quả Tu-đà-hoàn vừa không hoại đạo, vừa không hoại địa. Không  hoại địa là người dựa vào địa Vị chí, được đạo không hoại, chỉ do đạo

* Trang 651 *
device

vô lậu, không do đạo hữu lậu mà được.
Lại có thuyết nói: Vì không do đầu tiên được đạo, nên gọi là Tu-  đà-hoàn. Vì không do đầu tiên được quả, nên gọi là Tu-đà-hoàn,  nhưng vì quả Tu-đà-hoàn, nên người kia được gọi là Tu-đà-hoàn.  Nhân pháp đặt tên, cũng như nước thuốc, lấy thuốc đặt tên, bình bơ,  bình dầu cũng giống như thế.
Hỏi: Vì sao gọi là Tu-đà-hoàn?
 Đáp: Tu-đà dịch là dòng Thánh đạo, Hoàn dịch là nhập, vì nhập  dòng Thánh đạo nên gọi là Tu-đà-hoàn.
 Hỏi: Nếu vậy thì Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán cũng gọi là  Tu- đà-hoàn. Vì sao? Vì cũng nhập dòng Thánh đạo?
 Đáp: Vì đây là đầu tiên được tên, vì đầu tiên được đạo. Tên của  quả còn lại đều tự có nghĩa riêng.
Không đọa vào đường ác, là không đọa vào ba đường ác.
 Hỏi: Như Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, cũng không đọa vào  đường ác, vì sao chỉ nói Tu-đà-hoàn không đọa vào đường ác?
Đáp: Lẽ ra nên nói mà không nói, phải biết thuyết nầy chưa trọn vẹn.
Lại nữa, quả Sa-môn đều tự có nghĩa. Như Tu-đà-hoàn không đọa vào đường ác là vượt hơn, nên nói không đọa đường ác. Tư-đà-hàm  một lần trở lại nhân gian là vượt hơn, nên gọi là Nhất lai. A-na-hàm  không trở lại cõi Dục là hơn, nên gọi là Bất hoàn. A-la-hán không còn  thọ thân nữa là hơn, nên gọi là lại không còn thọ thân. Vì mỗi quả Sa- môn đều tự có nghĩa, nên tùy nghĩa đặt tên.
 Hỏi: Người phàm phu cũng có người không đọa vào đường ác, vì  sao không nói?
Đáp: Nên nói mà không nói, phải biết thuyết nầy chưa trọn vẹn.
Lại nữa, người phàm phu hoặc có người bị đọa vào đường ác,  hoặc có người không bị đọa đường ác, do đó nên không nói, còn bậc  Thánh vì chắc chắn không đọa đường ác, nên nói.
Quyết định: Vì trụ nơi chánh quyết định, nên gọi là quyết định.  Nghĩa Tu-đà-hoàn nên nói là quyết định nhập Niết-bàn. Vì sao? Vì có  nhân duyên nhập Niết-bàn. Ví như từ trên lầu ba tầng, ném cái chén  xuống đất, trong khi chưa rơi tới đất, phải nói là nó sẽ vỡ. Nghĩa quyết  định nhập Niết-bàn của Tu-đà-hoàn kia cũng giống như thế.
Nhập đạo rốt ráo: Tận trí, vô sinh trí gọi là đạo. Người kia đã có  dục như thế, tâm trông mong như thế, khả năng như thế, ưa thích như  thế, gần với ý như thế. Vì chuyển gần với đạo kia, nên nói nhập đạo  rốt

* Trang 652 *
device

ráo, chỉ thọ bảy hữu.
 Hỏi: Nên thọ mười bốn hữu, hoặc hai mươi tám hữu. Nếu nói  theo bản hữu, thì trong cõi người có bảy, trong cõi trời có bảy, nên có  mười bốn. Nếu nói theo bản hữu trung hữu, thì trong cõi trời bản hữu  có bảy, trung hữu có bảy. Trong cõi người bản hữu có bảy, trung hữu  có bảy, nên phải có hai mươi tám hữu, vì sao chỉ có bảy hữu?
 Đáp: Vì đây là pháp bảy số, không quá bảy. Trong cõi người  cũng bảy, trên cõi trời cũng bảy, bản hữu cũng bảy, trung hữu cũng  bảy.
Kinh khác cũng nói “ba thuyết, bốn đế”, có mười hai hành một  đế, có mười hai hành bốn đế nên có bốn mươi tám hành. Ba thuyết  khổ đế có mười hai hành, cho đến ba thuyết đạo đế có mười hai hành,  nên có bốn mươi tám hành, vì sao chỉ nói có mười hai hành?
Vì đây là pháp mười hai số, vì không lìa ba chuyển mười hai  hành. Kinh khác cũng nói: Nghĩa của ba thứ quán, bảy xứ thiện của  Tỳ-kheo, nhanh chóng đối với Thánh pháp, có thể dứt hết hữu lậu, Tỳ- kheo kia không nên chỉ có bảy, phải có ba mươi lăm xứ thiện, hoặc vô  lượng xứ thiện, vì sao chỉ nói có bảy xứ thiện?
 Đáp: Vì đây là pháp bảy số, không lìa bảy quán. Một sắc ấm có  bảy thứ, cho đến thức ấm cũng có bảy thứ. Kinh khác cũng nói: Tỳ-  kheo! Nay ta sẽ nói hai pháp. Thế nào là hai pháp? Là mắt, sắc cho  đến ý pháp, đó gọi là hai pháp. Pháp nầy chẳng phải một, hai, nên  gọi là sáu, hai chỉ là pháp của hai số, nên không lìa hai. Pháp bảy số  nầy không lìa bảy, cũng giống như thế, nói rộng như trên.
Hỏi: Vì sao Tu-đà-hoàn chỉ thọ bảy hữu, không thêm, không bớt?
 Đáp: Tôn giả Ba-xa nói: Nếu thêm, hoặc bớt, thì người thọ hữu  đều cũng sinh nghi. Vì không do nghi, nên trái với pháp tướng. Lại nữa, có ngần ấy nhân báo, lại thọ ngần ấy quả báo.
Lại nữa, vì sức của nghiệp nên chỉ thọ bảy hữu. Vì sức của đạo,  nên không thọ hữu thứ tám. Như người bị rắn bảy bước cắn, nhờ sức  của bốn đại nên có thể đi bảy bước. Vì sức của nộc độc rắn, nên  không bước đến bước thứ tám.
Lại nữa, nếu thọ hữu thứ tám thì trong thân người kia lẽ ra là  không, chẳng có Thánh đạo thì trước kia là kiến đế, nay chẳng phải  kiến đế. Xưa là được chánh quyết định, nay không được chánh quyết  định. Xưa là bậc Thánh nay chẳng phải bậc Thánh.
Lại nữa, nếu thọ hữu thứ tám, thì đối với chư Phật nhiều như số  cát sông Hằng trong quá khứ, là người ngoài, chẳng phải thân thuộc  bên trong, cũng như tướng bảy đời của người thế gian đối với thân  thuộc.

* Trang 653 *
device

Nếu đến đời thứ tám tức là người ngoài. Hữu kia cũng giống như thế.  Lại nữa, lúc trụ trong nhẫn tăng thượng, trừ bảy phần sinh của  Cõi Dục, phần sinh của mỗi xứ ở cõi Sắc, cõi Vô sắc, tất cả phần sinh khác  đều được phi số diệt. Nếu pháp được phi số diệt thì lại không khởi  hiện ở trước.
Lại nữa, vì chỉ có bảy xứ sinh, nên chỉ thọ bảy hữu. Bảy xứ sinh,  nghĩa là cõi người, sáu tầng trời cõi Dục, là chỗ sinh của Tu-đà-hoàn,  mà sinh trong đó.
Lại nữa, Tu-đà-hoàn kia đã tu đầy đủ bảy thứ đạo trong bảy hữu  dứt hẳn bảy sử, do việc như cho nên chỉ thọ bảy hữu không thêm,  không bớt.
Cũng thế, nói thọ bảy hữu nơi Tu-đà-hoàn trên cõi trời có bảy  hữu, trong cõi người có bảy hữu, nhưng Tu-đà-hoàn đều có khác nhau:  Hoặc có khi trên trời bảy người sáu, trời sáu người năm, trời năm  người bốn, trời bốn người ba, trời ba người hai, trời hai, người một.  Hoặc có khi cõi người bảy, cõi trời sáu, cho đến người hai, trời một,  nói cũng giống như thế.
Trong đây vì chỉ nói có bảy hữu, nên nói Tu-đà-hoàn thọ bảy hữu.
 Hỏi: Tu-đà-hoàn thọ bảy hữu, là ở trên cõi trời hay ở trong cõi người thọ hữu thứ bảy?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Ở đời nầy được Tu-đà-hoàn, tức tính  đời nầy là bảy.
Hoặc có thuyết nói: Không ở số bảy: Nếu như số thì ở đây nói  đắc đạo trong cõi người, đầy đủ bảy lần trên cõi trời, nơi kia Nhập  Niết-bàn. Nếu đắc quả trên cõi trời, đủ bảy trong cõi người, liền Nhập  Niết-bàn. Nếu không tính số, thì đắc quả trong cõi người, lại đủ bảy  hữu trong cõi người, liền Nhập Niết-bàn. Trên cõi trời đắc quả, lại đầy  đủ bảy hữu trong cõi trời, liền Nhập Niết-bàn.
Bình luận: Không nên tính lần đắc đạo đầu tiên sinh trong bảy  hữu. Vì sao? Vì lúc hữu trong lần sinh kia là phàm phu, chẳng phải bậc  Thánh. Nếu tính thì chỉ có hai mươi bảy hữu, chẳng phải hai mươi tám  hữu. Nếu chỉ hai mươi bảy hữu thì trái với luận Thi Thiết, như nói: Tu-  đà-hoàn trải qua hai mươi tám lần sinh, tất đã cùng tận bờ mé khổ. Vì  muốn cho không có lỗi như thế, nên không nói lần đắc đạo đầu tiên  sinh trong bảy hữu.
 Hỏi: Thọ bảy hữu, Tu-đà-hoàn ở trong sáu lần sinh trước, có khởi  Thánh đạo ở trước hay không?

* Trang 654 *
device

 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Không khởi. Vì nếu phải khởi, lẽ ra  phải Nhập Niết-bàn.
Hoặc có thuyết nói: Có khởi hiện ở trước.
Hỏi: Nếu vậy thì vì sao không Nhập Niết-bàn?  
Đáp: Vì sức nơi nghiệp nên không Nhập Niết-bàn.
 Hỏi: Nếu khi đầy đủ hữu thứ bảy, đời không có Phật, tại gia có  chứng đắc quả A-la-hán hay chăng?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Không đắc. Mặc dù không có pháp  Phật, nhưng phải ở trong pháp khác xuất gia, thọ lãnh pháp phục của  người kia, sau đó mới được.
Hoặc có thuyết nói: Tại gia cũng được, nhưng khi đã được A-la-  hán rồi, không trụ ở nhà, phải ở pháp khác xuất gia, thọ pháp phục  của người đó.
Cũng thế, so sánh có năm trăm Bích-chi Phật trụ trong núi của vị  tiên, vốn là Thanh văn.
Trên cõi trời, trong cõi người: Trời sanh xuống cõi người, người  sanh đến cõi trời, giống như người đời từ rừng đến trong vườn, từ vườn  đến trong rừng. A-la-hán kia cũng giống như thế.
Sinh: Sinh trong trung hữu bản hữu.
Được tận cùng bờ mé khổ.  Hỏi: Bờ mé khổ là ở trong khổ hay ở  ngoài khổ? Nếu ở trong khổ thì không nên nói là bờ mé khổ. Nếu ở  ngoài khổ, thì thí dụ hiện có của thế gian làm sao hiểu được? Giống  như thẻ vàng, đầu cũng là vàng, giữa cũng là vàng, sau cũng là vàng.  Khổ cũng giống như thế, ban đầu cũng là khổ, giữa, sau cũng là khổ?  Vậy thế nào là bờ mé của khổ?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Ấm sau cùng của A-la-hán là bờ mé khổ.
Hoặc có thuyết nói: Niết-bàn diệt tận là bờ mé khổ.
Nếu nói rằng: ấm sau cùng của A-la-hán là bờ mé khổ ấy, không nên nói là bờ mé khổ. Vì sao? Vì tận cùng của thể là khổ?
 Đáp: Vì việc nầy, nên nói là bờ mé khổ. Vì sao? Vì không còn  sinh khổ nữa, lại không nối tiếp với khổ, lại không gây ra nhân khổ,  cho nên gọi là bờ mé khổ.
Nếu nói rằng: Niết-bàn diệt tận là bờ mé khổ, thì ví dụ thẻ vàng  ròng của thế gian làm sao hiểu được?
 Đáp: Thí dụ ấy chẳng cần phải hiểu. Vì sao? Vì thí dụ ấy chẳng  phải tu-đa-la, Tỳ-ni, A-tỳ-đàm, nên không thể dùng hiện dụ của thế  gian để vấn nạn pháp Hiền Thánh. Vì sao? Vì pháp Hiền Thánh khác,

* Trang 655 *
device

 pháp thế gian khác.
Ba căn bất thiện: Căn bất thiện tham, căn bất thiện giận, căn bất  thiện si.
Hỏi: Thể tánh của ba căn bất thiện là gì?
 Đáp: Có mười lăm thứ. Căn bất thiện tham thuộc năm hành ở cõi  Dục dứt ái, chung cho sáu thức thân. Căn bất thiện giận thuộc sân mà  năm hành dứt trừ, chung cho sáu thức thân. Căn bất thiện si thuộc vô  minh bốn hành cõi Dục dứt trừ. Bốn thứ hành đó là: Tập, diệt, đạo, tu  đạo. Hạt giống mà khổ đế dứt trừ nên phân biệt: Khổ đế dứt vô minh  có mười thứ, đó là: Ái, giận dữ, mạn, nghi tương ưng với năm kiến và  tám pháp không chung là căn bất thiện, hai chẳng phải căn bất thiện,  nghĩa là tương ưng với thân kiến, biên kiến cõi Dục. (Đoạn nầy, đối  chiếu với bản của Pháp sư Huyền Tráng dịch thì ở đây dịch hoàn toàn  sai lạc).
 Hỏi: Nhân là nghĩa của căn, vô minh tương ưng với thân kiến,  biên kiến, là nhân của tất cả pháp bất thiện, vì sao không gọi là căn?
 Đáp: Nếu thể của pháp là bất thiện, vì tất cả pháp bất thiện làm  nhân, thì lập căn. Thân kiến, biên kiến tương ưng với vô minh, dù làm  nhân cho tất cả pháp bất thiện, nhưng thể của chúng chẳng phải bất  thiện mà là vô ký. Cho nên, căn bất thiện si hoàn toàn là bốn thứ cõi  Dục. Nghĩa là tập, diệt, đạo, tu đạo dứt trừ, cùng khổ đế dứt trừ tám  thứ, chung cho vô minh của sáu thức thân. Mười lăm thứ nầy chính là  thể của ba căn bất thiện, cho đến nói rộng.
Đã nói thể tánh của ba căn bất thiện. Về lý do nay sẽ nói:  
Hỏi: Vì sao gọi là căn bất thiện? Căn bất thiện là nghĩa gì?
 Đáp: Nghĩa sinh, nghĩa nuôi nấng, nghĩa tăng trưởng, là nghĩa  của căn bất thiện. Nghĩa sung túc, nghĩa làm lợi ích, nghĩa thấm  nhuần, tràn đầy, rót chảy bất thiện, là nghĩa của căn bất thiện.
Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Thế nào là nghĩa của căn bất thiện?  
Đáp: Nghĩa của nhân bất thiện là nghĩa của căn bất thiện.
Lại nữa, nghĩa chủng tử bất thiện là nghĩa của căn bất thiện.  
Lại nữa, nghĩa phát khởi bất thiện là nghĩa của căn bất thiện.
Lại nữa, nghĩa đã sinh bất thiện, giúp sinh bất thiện, tăng ích bất  thiện, là nghĩa của căn bất thiện.
Tôn giả Phù-đà-đề-bà nói: Cội gốc bất thiện có thể sinh bất  thiện, giúp bất thiện, nghĩa tăng ích bất thiện, là nghĩa của căn bất  thiện.
 Hỏi: Nếu nghĩa của nhân là nghĩa của căn bất thiện thì năm ấm  bất thiện đời trước làm nhân cho năm ấm bất thiện đời sau. Mười  nghiệp bất thiện đời trước làm nhân cho mười nghiệp bất thiện đời  sau. Ba mươi

* Trang 656 *
device

bốn sử bất thiện đời trước làm nhân cho ba mươi bốn sử bất thiện đời  sau. Pháp bất thiện như thế v.v... lẽ ra đều là căn bất thiện. Ba thứ nầy  có tướng gì khác nhau mà lập căn bất thiện?
Tôn giả Hòa-tu-mật đáp: Đây là thuyết nêu chưa trọn vẹn của  Như lai, nói tóm lược, chủ yếu vì người được hóa độ, nên nói như thế.
Tôn giả Ba-xa nói: Phật quyết định biết căn pháp, cũng biết thế  dụng, điều mà người khác không biết. Nếu pháp có tướng của căn bất  thiện thì sẽ lập căn bất thiện, không có thì không lập.
Tôn giả Cù-sa nói: Phật biết ba pháp nầy làm nhân cho pháp bất  thiện, vì chúng nhanh chóng nghiêng nặng về gần, cho nên ba pháp  nầy lập căn bất thiện. Pháp bất thiện khác không có ba tướng ầy nên  không lập căn.
Lại nữa, ba căn bất thiện nầy đứng đầu tất cả pháp bất thiện,  cũng như vị tướng mạnh mẽ hơn hẳn các quân sĩ, thường đi trước. Do  thế lực của ba thứ kia, nên pháp bất thiện khác sinh ra.
Lại nữa, pháp nào là hơn hết trong tất cả pháp bất thiện? ( Vì ba  pháp nầy, trong tất cả pháp bất thiện, về danh cũng hơn, về nghĩa  cũng vượt hơn, cho nên lâp căn.
Lại nữa, căn bất thiện tham là pháp đối oán gần của căn thiện  không tham. Căn bất thiện giận dữ, căn bất thiện si, là pháp đối oán  gần của căn thiện không giận dữ, không ngu si.
Lại nữa, vì ba pháp nầy là kẻ thù của công đức. Công đức là ba  căn thiện.
Lại nữa, vì ba căn bất thiện nầy làm nhân, làm căn, làm chủ, làm  gốc tạo tác, làm thế lực, làm duyên, làm tăng ích, làm nhóm họp, làm  chỗ khởi cho tất cả pháp bất thiện.  Làm nhân: Cũng như hạt giống. Làm căn: Khiến cho bền chắc. Các pháp còn lại, tùy theo tướng mạo mà nói.
Lại nữa, ba căn bất thiện nầy có công năng gìn giữ pháp bất  thiện, có thể khiến cho đi đến, làm sinh ra, nuôi nấng, làm tăng  trưởng.
Lại nữa, vì ba căn bất thiện nầy khi lìa dục cõi Dục, đa số tạo ra  khó khăn, gây ra chướng ngại, như người giữ cửa không cho ai vào.
Lại nữa, vì ba căn bất thiện nầy thuộc năm thứ dứt, chung cho  sáu thức thân, là tánh của sử, có thể khởi nghiệp thân, miệng, lúc dứt  căn thiện có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc. Năm thứ dứt là thấy khổ  mà dứt cho đến tu đạo dứt. Chung cho sáu thức thân là tương ưng với  nhãn thức, cho đến tương ưng với ý thức. Tánh của sử: Tham là sử dục  ái, giận dữ là sử giận dữ, si là sử vô minh. Có thể khởi nghiệp thân  miệng,

* Trang 657 *
device

nghĩa là tham khởi từ tham, sinh ra nghiệp thân, miệng. Giận khởi từ  giận dữ, sinh ra nghiệp thân, miệng. Si khởi từ si, sinh ra nghiệp thân  miệng.
Khi dứt căn thiện, có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc. Như Kinh  Thi Thiết nói: Lúc dứt căn thiện, làm sao dứt, dùng việc gì để dứt?  
Đáp: Cũng như có người nghiêng nặng về tham dục, nghiêng nặng về  giận dữ, nghiêng nặng về ngu si, có thể dứt bỏ căn thiện.
Sở dĩ nói năm thứ dứt, là vì muốn loại trừ năm kiến và nghi. Sở  dĩ nói chung cho sáu thức thân là vì muốn trừ bỏ mạn. Sở dĩ nói là tánh  của sử vì muốn loại trừ các triền.
 Hỏi: Như tà kiến có thể dứt trừ căn thiện, vì sao không lập căn  bất thiện?
 Đáp: Lúc căn bất thiện dứt bỏ căn thiện, thế lực khi tạo phương  tiện là hơn, thời gian của việc thành cũng hơn. Tất cả pháp thiện, bất  thiện, lúc vận dụng phương tiện và công dụng, thế lực khó khăn, đến  khi việc đã thành thì công dụng, thế lực dễ dàng.
Nghe nói Bồ-tát thấy khổ sinh, già, bệnh, chết của thế gian, nên  đầu tiên phát tâm cầu đạt đạo vô thượng không lui sụt. Từ đây về sau,  suốt ba A-tăng-kỳ kiếp, tâm nầy không trụ, không lui sụt, không ai có  thể gây khó khăn, chướng ngại. Tâm nầy rất khó, chẳng phải lúc được  tận trí, căn thiện của ba cõi được tu ở vị lai, lúc tà kiến hình thành với  thế dụng hơn, chẳng phải lúc của phương tiện hơn, cho nên không lập  căn bất thiện.
Lại nữa, khi pháp bất thiện dứt bỏ căn thiện, nếu có thể sinh ra  pháp bất thiện, giúp sự sinh bất thiện, nên lập căn bất thiện. Tham,  giận, si, có thể sinh ra pháp bất thiện giúp sự sinh pháp bất thiện. Còn  tà kiến dù giúp sinh ra pháp bất thiện, nhưng không thể sinh ra pháp  bất thiện.  Lại có tà kiến có thể đứt căn thiện: Vì dùng sức của các căn bất  thiện, các căn bất thiện, trước làm cho căn thiện suy kém, mỏng manh,  khiến cho căn thiện khốn đốn, không có thế lực, sau đó tà kiến mới  dứt bỏ căn thiện được.
Lại nữa, trước đã nói như vầy: Năm thứ dứt nên lập căn bất  thiện. Tà kiến chẳng phải do năm thứ dứt, không chung cho sáu thức  thân, chỉ ở ý địa. Tà kiến dù là tánh của sử, nhưng không thể khởi  nghiệp thân, nghiệp. Vì sao? Vì tâm do kiến đạo dứt ấy, không cùng  khởi nghiệp thân khổ nên không thuộc về các căn bất thiện. Năm ấm  bất thiện không có năm sự nầy. Sắc ấm bất thiện chẳng phải năm thứ  dứt, không

* Trang 658 *
device

chung cho sáu thức thân, chẳng phải tánh của sử, không thể khởi  nghiệp thân, nghiệp. Lúc dứt căn thiện, không có phương tiện mạnh  mẽ, bền chắc. Thọ ấm, tưởng ấm, thức ấm bất thiện, hành ấm tương  ưng không thuộc về phiền não. Mặc dù tà kiến nầy là chỗ dứt của năm  hành, chung cho sáu thức thân, nhưng chẳng phải tánh sử, dù có thể  khởi nghiệp thân nghiệp, nhưng khi dứt bỏ căn thiện, nó không có  phương tiện mạnh mẽ, bền chắc. Hành ấm bất tương ưng dù là do năm  thứ dứt, nhưng vì không chung cho sáu thức thân, chẳng phải tánh của  sử, nên không thể khởi nghiệp thân, nghiệp. Lúc dứt bỏ căn thiện,  không có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc. Năm kiến trong phiền não  và nghi chẳng phải do năm thứ dứt, không chung cho sáu thức thân, dù  là tánh sử, nhưng không thể khởi nghiệp thân, nghiệp. Vì sao? Vì tâm  ấy là chỗ dứt của kiến đạo, không đều khởi nghiệp thân nghiệp. Lúc  dứt căn thiện, không có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc.
Mạn, dù là do năm thứ dứt, nhưng không chung cho sáu thức  thân, dù là tánh sử, có thể khởi nghiệp thân nghiệp, nhưng khi dứt căn  thiện thì không có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc.
Triền có mười thứ: Triền phẫn, triền phú, triền thùy, triền trạo,  triền miên, triền hối, triền tật, triền san, triền không hổ (vô tàm) và  triền không thẹn (vô quý).
Thùy, trạo, không hổ, không thẹn, bốn triền nầy dù là do năm  thứ dứt, nhưng chẳng phải tánh của sử, dù có thể dấy khởi nghiệp  thân, nghiệp, nhưng lúc dứt căn thiện, chúng không có phương tiện  mạnh mẽ, bền chắc.
Miên dù do năm thứ dứt, nhưng không chung cho sáu thức thân,  chẳng phải tánh sử, nên không thể dấy khởi nghiệp thân, nghiệp. Lúc  dứt căn thiện, cũng không có phương tiện mạnh mẽ, bền chắc. Các  triền còn lại, chẳng phải do năm thứ dứt, không chung cho sáu thức  thân, chẳng phải tánh sử, đôi khi có dấy khởi nghiệp thân, nghiệp,  nhưng lúc dứt căn thiện, chúng không có phương tiện mạnh mẽ, bền  chắc.
Hận, ngận, siểm, cuống, kiêu, hại: Sáu triền nầy là cấu uế của  sử, dựa vào sử mà sinh, chẳng phải sử căn bản. Vì không có năm việc  trên, nên không lập căn bất thiện.
Lại nữa, ba căn bất thiện nầy, được nói là nghiệp gốc, nghiệp  tập. Như nói: Ca-lam-ma nên biết, tham là gốc nghiệp của chúng sinh,  là tập nghiệp của chúng sinh. Giận dữ, ngu si cũng là gốc nghiệp của  chúng sinh, là tập nghiệp của chúng sinh.
Lại nữa, ba căn bất thiện nầy dứt hết, thì nghiệp cũng hết. Như

* Trang 659 *
device

nói: Tham hết, nghiệp cũng hết. Giận dữ hết, ngu si hết, nghiệp cũng  hết.
Lại nữa, ba căn bất thiện nầy xoay vần sinh nhau xoay vần giúp  sinh. Như nói: Từ tham sinh giận dữ, từ giận dữ sinh tham. Ở trong hai  thứ nầy cũng sinh ra vô minh.
Lại nữa, ba căn bất thiện nầy khiến cho sinh ba thọ. Như nói:  Tham khiến cho lạc thọ, giận dữ khiến cho khổ thọ, si khiến cho bất  khổ bất lạc thọ.
Hỏi: Như ba sử ấy đều sai khiến ba thọ, vì sao lại nói như thế?
 Đáp: Vì từ phần nhiều, nên nặng về tham khiến sinh lạc thọ,  nặng về giận dữ khiến sinh khổ thọ, nặng về si khiến sinh bất khổ bất  lạc thọ.
Lại nữa, tham từ lạc thọ sinh, dùng lạc thọ làm căn bản, vì phần  nhiều gây ra nghiệp ác, nên sinh ra khổ nhiều. Sự giận dữ sinh ra từ  khổ thọ, lấy khổ thọ làm căn bản, vì tạo nhiều nghiệp ác, nên sinh ra  nhiều khổ. Si sinh ra từ bất khổ, bất lạc, dùng bất khổ, bất lạc thọ làm  căn bản, vì gây ra nhiều nghiệp ác, nên sinh ra nhiều khổ.
Lại nữa, ba căn bất thiện nầy được nói là yêu, ghét. Vì yêu, ghét,  nên chúng sinh thường xảy ra sự tranh tụng. Trời, A-tu-la thường đánh  nhau, giết hại nhiều chúng sinh. Yêu là tham, ghét là giận dữ.
Hỏi: Vì sao trong đây không nói ngu si?
 Đáp: Đã nói ở trong hai thứ nầy. Nếu chính chúng sinh là người  có trí, thì cho dù cảnh giới các tầng trời cõi Dục hiện ra trước, cũng  không tranh chấp nhau, huống chi là dục ác của nhân gian.
Lại nữa, dùng hai thứ nầy để hiện bày khái quát của môn đầu  mới nhập. Các phiền não đều từ ba phần sinh: Hoặc từ phần ái sinh,  hoặc từ phần giận dữ sinh. Hoặc từ phần ngu si sinh.
Kinh Phật nói: Bà-la-môn phải biết! Nếu con người dùng hai  mươi mốt phiền não, làm xúc não tâm, thì cho dù có tu hành tâm tịnh,  sinh tưởng tịnh đi nữa, cũng phải bị đọa vào đường ác.
Nghe nói Tôn giả Đàm-ma-đa-la nói: Tất cả phiền não được lập  thành ba phần: Là phần tham, giận dữ, ngu si. Đây là phần tham, đây  là phần giận dữ, đây là phần ngu si. Nếu nói tham phải biết là đã nói  phần tham. Nếu nói giận dữ, phải biết là đã nói phần giận dữ. Nếu nói  ngu si, phải biết là đã nói phần si. Như phần ái, giận, si, phần thân,  phần oán, phần không thân, phần không oán, phần có ơn, phần không  ơn, phần có vừa ý, phần không có vừa ý, phần không có vừa ý, chẳng  phải không có vừa ý, nên biết cũng giống như thế.

* Trang 660 *
device

Lại nữa, vì ba căn bất thiện khởi mười nghiệp ác, nên đọa vào  mười xứ ác.
Hỏi: Thế nào là ba căn bất thiện khởi mười nghiệp ác?
 Đáp: Kinh Phật nói: Sát sinh có ba thứ: Hoặc từ tham sinh, hoặc  từ giận dữ sinh, hoặc từ ngu si sinh, cho đến tà kiến cũng giống như  thế.
Luận Thi Thiết cũng nói: Ba căn bất thiện là nhân gốc của mười  nghiệp ác, nói rộng như trên.
Thế nào là mười nghiệp ác sinh ra mười xứ ác? Kinh Phật nói:  Gây ra rộng khắp nghiệp sát sinh sẽ đọa vào địa ngục, súc sinh, ngạ  quỷ, cho đến tà kiến cũng giống như thế.
Luận Thi Thiết cũng nói rằng: Gây ra rộng khắp nghiệp sát sinh  tăng thượng, sẽ đọa vào địa ngục A-tỳ. Tội nhỏ, nhẹ hơn đọa vào địa  ngục Đại nhiệt. Chuyển nhẹ sẽ đọa vào địa ngục Nhiệt. Chuyển nhẹ  sẽ đọa vào địa ngục Đại Khiếu Hoán. Chuyển nhẹ sẽ đạo vào địa  ngục Khiếu hoán. Chuyển nhẹ hơn sẽ đọa vào địa ngục Chúng hợp.  Chuyển nhẹ hơn sẽ đọa vào địa ngục Hắc Thằng. Chuyển nhẹ hơn sẽ  đọa vào địa ngục Hoạt. Chuyển nhẹ hơn sẽ đọa vào loài súc sinh.  Chuyển nhẹ hơn đọa vào loài ngạ quỷ, cho đến tà kiến nói cũng giống  như thế. Đó gọi là tạo mười nghiệp ác, đọa vào mười chỗ ác.
Lại nữa, ba căn bất thiện gọi là cấu uế bên trong, như nói tham  là cấu uế bên trong, giận dữ là cấu uế bên trong. Ngu si là cấu uế bên  trong. Như cấu uế bên trong, oán bên trong, hiềm nghi bên trong, phải  biết cũng giống như thế.
Lại nữa, ba căn bất thiện nầy vừa gọi là tăng, vừa gọi là giảm.  Như nói: Thế nào là tham gia tăng? Thế nào là giận dữ gia tăng? Ngu  si gia tăng là sao? Thế nào là tham giảm? Thế nào là giận dữ giảm?  Ngu si giảm ít là sao?
Lại nữa, ba căn bất thiện nầy có thể là kẻ lui sụt, tạo ra nhân  nặng, duyên nặng. Như nói: Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, tự biết tâm dục  hừng cháy, tâm giận dữ sôi sục, tâm ngu si tột độ, không thể tự kìm  hãm, Tỳ- kheo, Tỳ-kheo-ni nên biết, ta đối với pháp thiện, tức là suy  vi, lui sụt.
Lại nữa, ba căn bất thiện nầy gọi là phiền não chướng, như nói:  Thế nào là phiền não chướng?  
Đáp: Giống như có một người riêng  nặng về tham, nghiệp nặng về giận dữ, nghiệp nặng về ngu si. Đó gọi  là phiền não chướng.
Lại nữa, ba căn bất thiện nầy, gọi là bụi, như nói: bụi tham, bụi  giận dữ, bụi ngu si. Như vết nhơ của bụi, mũi tên, lửa, dao nhọn, thuốc  độc, bệnh, phải biết cũng giống như thế.

* Trang 661 *
device

Hỏi: Sự hoạt động của ba căn bất thiện nầy thế nào?
 Đáp: Nếu tâm có tham thì tâm nầy không có giận dữ. Nếu tâm  có sự giận dữ thì tâm nầy không có tham. Còn ngu si thì đều có. Vì  sao? Vì mọi hoạt động của chúng đều khác nhau. Hành động của tham  thì biểu lộ cử chỉ vui mừng, hớn hở. Hành động của giận dữ thì lo  buồn.
Lại nữa, khi tâm dục dấy khởi mạnh, thì sẽ làm cho thân mềm  mại, nhuần thấm tăng ích. Lúc tâm giận dữ dấy khởi mạnh, sẽ làm cho  thân trở nên thô lỗ, mạnh bạo, tổn giảm.
Lại nữa, tâm dục làm cho thân mềm mại, không hại duyên trước,  tâm giận dữ làm cho thân thô kệch, mạnh bạo, có thể gia hại duyên  trước.
Hỏi: Thế nào là tâm dục làm cho thân mềm mại?  
Đáp:  Lúc tâm dục biểu hiện ở trước, tự thân mềm mại.  
Hỏi:  Thế nào là không hại duyên trước?
 Đáp: Nếu đối với người đối diện đã sinh lòng yêu mến, thì suốt  ngày đêm ngắm nhìn họ không biết chán.
Hỏi: Tâm giận dữ khiến cho thân thô kệch, mạnh bạo là sao?  
Đáp: Lúc tâm giận dữ biểu hiện ở trước, sẽ làm cho thân thô bạo.  
Hỏi: Thế nào là gia hại duyên trước?
 Đáp: Nếu có tâm giận dữ với người đối diện, thì thậm chí không  thèm để mắt tới họ.
Ba căn bất thiện nầy là do năm thứ dứt, chung cho sáu thức thân.  Thế nào là năm dứt? Nếu phải do kiến đạo dứt, chẳng phải do tu đạo  dứt, thì tâm do tu đạo dứt sẽ trở thành không có căn. Nếu phải do tu  đạo dứt, chẳng phải kiến đạo dứt, thì tâm do kiến đạo dứt sẽ trở thành  không có căn. Vì sao chung cho sáu thức thân? Nếu ở tại ý địa, không  ở nơi năm thức thân, thì tâm của năm thức nầy là không có căn? Nếu ở  tại năm thức thân, không ở nơi ý địa thì tâm của ý địa nầy trở thành  không có căn. Tất cả tâm bất thiện đều lấy ý địa nầy làm căn, tâm đi  chung với dục bất thiện.
Có hai thứ căn là tham và vô minh tương ưng. Tâm có sự giận dữ  cũng giống như thế. Tâm có si và tâm đều có phiền não khác, có một  căn, nghĩa là vô minh.
 Hỏi: Căn có nhiều tên: Hoặc nói thân kiến là căn, hoặc nói Đức  Thế tôn là căn, hoặc nói dục là căn, hoặc nói không buông lung là  căn, hoặc nói tự thể là căn.
Hỏi: Tên của các căn nầy có gì khác nhau?
Đáp: Thân kiến là căn, vì thân kiến nầy chấp ngã, ngã sở, liền

* Trang 662 *
device

sinh ra các kiến.
Đức Thế tôn là căn: Vì lời của Đức Thế tôn đã nói, mặc dù phiền  não nầy đã ra khỏi, giải thoát sự ràng buộc, tăng trưởng tịch diệt.
Các pháp v.v... như thế đều sinh ra từ Phật, cho nên Đức Thế tôn  là căn.
Dục là căn: Vì có thể gom góp các pháp thiện. Vì sao? Vì nếu có  tâm mong muốn, thì sẽ có thể nhóm họp các pháp thiện, nếu không có  tâm mong muốn, thì sẽ không thể nhóm họp pháp thiện, cho nên lấy  dục làm căn.
Không buông lung là căn: Vì có thể giữ gìn pháp thiện. Nếu  người buông lung, đương nhiên không thể gìn giữ pháp thiện, cho nên  không buông lung là căn. Tự thể là căn: Vì tự thể không bỏ tự tánh, cho nên tự thể là căn.
 Hỏi: Nếu vậy thì pháp vô vi vừa là căn của tự thể. Vì sao? Vì  không bỏ tự tánh?
 Đáp: Nếu lấy nghĩa nầy thì không bỏ tự tánh là căn, pháp vô vi  cũng không bỏ tự thể, là căn, thì có lỗi gì? Lại có ý muốn loại bỏ lỗi  như thế, nên nói rằng: Tự thể là căn, nghĩa là do nhân tương tự là căn  của tự thể, vì có thể sinh ra cái khác.
 Hỏi: Nếu vậy thì khổ pháp nhẫn và quyến thuộc đều thành  không có căn. Vì sao? Vì không có nhân tương tự?
 Đáp: Mặc dù không từ nhân tương tự sinh, nhưng vẫn có thể làm  nhân tương tự cho người khác. Pháp vô vi cũng không từ nhân tương tự  sanh ra, cũng không thể làm nhân tương tự cho người khác
Bình luận: Nên nói rằng: Vì không bỏ tự tánh, nên gọi là căn tự  tánh, căn thân kiến, cho đến căn tự thể. Đây là sự khác nhau giữa các  căn.
?????

* Trang 663 *
device

Đại Tập 95 - Bộ Tỳ Đàm VII - Số 1546 (Quyển 1-40)