LOGO VNBET
 LUẬN A TỲ ĐÀM TỲ BÀ SA
 
QUYỂN 28
 
Chương 2: KIỀN-ĐỘ SỬ
 
Phẩm 1: BẤT THIỆN, Phần 4
 
 Ba kiết nầy có bao nhiêu kiết là bất thiện, bao nhiêu kiết là vô  ký? Cho đến chín mươi tám sử, có bao nhiêu sử là bất thiện, bao nhiêu  sử là vô ký?
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Tất cả phiền não đều là bất thiện, vì  không có phương tiện thiện xảo giữ gìn, như phái Thí dụ giả nói: Vì  chấm dứt ý nghĩ như vậy, cũng nói phiền não là bất thiện, vô ký. Nếu  không có phương tiện thiện xảo giữ gìn là bất thiện thì các phiền não  lẽ ra phải nói là không có phương tiện khéo léo, không nên nói là bất  thiện. Vì sao? Vì không có phương tiện thiện xảo là không biết gìn giữ  sự tương ưng ấy, vì không thể tự thể lại tương ưng với tự thể.
Lại nữa, hoặc có thuyết nói: Các phiền não cõi Dục đều là bất  thiện, các phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc đều là vô ký.
Vì chấm dứt ý của thuyết như thế, cũng nói Thân kiến, Biên kiến  đều là pháp vô ký, nên soạn luận nầy.
Lại có thuyết nói: Sở dĩ soạn luận là vì nghĩa gì nên soạn luận?  
Đáp: Vì muốn cho nghĩa ấy được thành lập, nên soạn luận nầy. Cho  nên trước nêu câu hỏi: Vì nghĩa gì, Tôn giả kia soạn luận mà lập  chương trước?
 Đáp: Vì muốn hiện bày môn, nên nay vì muốn thể hiện môn, nên  soạn luận nầy. Trong ba kiết nầy, có bao nhiêu kiết bất thiện, bao nhiêu kiết vô ký?
 Đáp: Một kiết là vô ký, đó là thân kiến.  
Hỏi:  Vì sao thân kiến là vô ký?

* Trang 711 *
device

 Đáp: Nếu pháp nào là không hổ, không thẹn, thì pháp đó sẽ  tương ưng với không hổ, không thẹn (vô tàm, vô quý), từ không hổ  không thẹn sinh, làm quả y cho không hổ, không thẹn là bất thiện.  Thân kiến không tương ưng với không hổ không thẹn, không từ nơi  không hổ không thẹn sinh, không làm quả y cho không hổ không thẹn,  nên là vô ký.
Lại nữa, kiết nầy không hoàn toàn làm hư hoại tâm trông mong.  
Hỏi: Không hoàn toàn làm hư hoại tâm trông mong là sao?
 Đáp: Tức như nghĩa trên đã nói, lại nữa, vì kiết nầy không trái  với tu thí, giới, nên là vô ký. Nếu người chấp ngã, tu hành bố thí,  muốn cho ngã được vui, giữ giới, mong muốn cho ngã được sinh lên  cõi trời, tu tập, muốn cho ngã được giải thoát.
Lại nữa, kiết nầy ngu đối với tự thể, không gây bức xúc người  khác. Nếu người chấp ngã thì khi mắt thấy sắc, không nghĩ rằng: Mắt  có thể thấy sắc, sắc là thấy, mà nghĩ rằng ngã là sắc năng thấy, ngã sở  là bị thấy, cho đến ý biết pháp, không nghĩ rằng: Ý có thể biết pháp,  pháp là bị biết, nhưng nghĩ rằng ngã là chủ thể biết pháp, ngã sở là bị  biết.
Không gây bức xúc người khác: Các kiến điên đảo như thế v.v...  là không gây bức xúc người khác.
Lại nữa, vì thân kiến không sinh báo, nên là vô ký.  Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Vì sao kiến nầy là vô ký?
Đáp: Vì kiến nầy không thể khởi nghiệp, thân, miệng thô.
 Hỏi: Nếu vậy thì phiền não bất thiện cũng có thể không khởi  nghiệp thân, miệng thô phải không?
 Đáp: Lúc tham, giận dữ, ngu si thêm hưng thịnh, có thể khởi. Lại  nữa, vì kiến nầy không thể làm cho con người đọa vào đường ác.
 Hỏi: Nếu vậy thì phiền não bất thiện cũng không thể khiến con  người đọa vào đường ác?
 Đáp: Lúc tham lam, giận dữ, ngu si gia tăng mạnh, thì có thể làm  cho con người rơi vào đường ác. Còn khi kiến nầy hưng thịnh thêm, thì  không thể khiến làm cho con người đọa vào đường ác.
Lại nữa, kiến nầy chẳng thể sinh quả không ưa thích.
 Hỏi: Kiến nầy có thể sinh hữu sau, tức là sinh quả không ưa  thích. Vì sao? Vì như Đức Phật nói: Tỳ-kheo! Nếu khởi hữu sau, dù chỉ  một sát-na, thì ta không khen ngợi. Vì sao? Vì người khởi hữu là pháp  khổ! Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: chỗ chấp của kiến nầy là điên đảo  cũng sinh điên đảo, lẽ ra là bất thiện. Nếu chính thân kiến chẳng phải  bất thiện thì thế nào là bất thiện? Đức Thế tôn cũng nói: Cho đến cái ngu nhỏ cũng là bất thiện.

* Trang 712 *
device

Hai thứ là nên phân biệt:  
Hỏi: Vì sao nói phân biệt?
Đáp: Nghĩa nầy nên phân biệt là phần bất thiện, là phần vô ký.  
Lại nữa, vì nghĩa nầy cần phải phá trừ, nên nói là phân biệt.
Phái Tỳ-bà Xà-bà-đề nói lời: Vì nghĩa ấy nên giải thích rõ, nên  nói là phân biệt: Giới thủ, nghi, nếu ở cõi Dục là bất thiện, nếu ở cõi  Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.
Hỏi: Vì sao phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký?
 Đáp: Nếu pháp là không hổ, không thẹn cùng với không hổ,  không thẹn tương ưng với không hổ, không thẹn sinh ra, làm quả y cho  không hổ, không thẹn là bất thiện. Vì phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc  trái với trên, nên là vô ký.
Lại nữa, vì phiền não nầy không làm hư hoại tâm trông mong.  Không làm hư hoại tâm trông mong là sao? Vì nghĩa như đã nói ở trên.
Lại nữa, phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc không thể sinh báo, vì không thể sinh báo nên là vô ký.
Sở dĩ không thể sinh báo là vì bị bốn chi, năm chi định chế phục.  Giống như rắn độc đã bị chú thuật chế phục, thì nó sẽ không thể cắn  người. Phiền não kia cũng giống như thế.
Lại nữa, vì chẳng phải vật chứa đựng của báo, nên phiền não cõi  Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.
Nếu chính cõi Sắc, cõi Vô sắc có thể sinh báo, thì sẽ sinh báo  nào? Nên sinh khổ thọ. Khổ thọ là pháp cõi Dục, không thể do phiền  não cõi Sắc, cõi Vô sắc mà thọ báo trong cõi Dục.
Lại nữa, cõi Sắc, cõi Vô sắc chẳng phải hoàn toàn có thể sinh  điên đảo, chỉ có một chút pháp tương tự. Như tà kiến cõi Sắc, cõi Vô  sắc chê bai không có khổ, có một chút phần vui là kiến của kiến thủ.  Ấm cõi Sắc, cõi Vô sắc là bậc nhất. Tà kiến cõi Sắc, cõi Vô sắc kia có  phần ít kiến của giới thủ thứ nhất. Ở cõi Sắc, cõi Vô sắc có phần ít  tịnh, cũng có khả năng tịnh hóa đạo cõi Dục. Cõi Vô sắc có khả năng  tịnh hóa đạo cõi Sắc.
Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Vì sao các phiền não cõi Sắc, cõi Vô  sắc là vô ký?
Đáp: Vì không thể khởi nghiệp thân, miệng thô.
 Hỏi: Phiền não bất thiện cũng không thể khởi nghiệp thân miệng  thô thì sao?
Đáp: Lúc tham, giận, si thêm hưng thịnh, là có thể khởi nghiệp

* Trang 713 *
device

 thân miệng thô. Lúc các phiền não kia thêm hưng thịnh, thì không thể  khởi nghiệp thân, miệng thô.
Lại nữa, vì các phiền não kia không thể làm cho con người đọa  vào đường ác.
 Hỏi: Phiền não bất thiện cũng có khi không thể khiến con người  đọa vào đường ác phải không?
 Đáp: Lúc tham lam, giận dữ, si mê thêm hưng thịnh, thì có thể  làm cho con người đọa vào đường ác, khi các phiền não kia thêm hưng  thịnh thì không thể khiến cho con người đọa vào đường ác.
Lại nữa, các phiền não kia không thể sinh quả không ưa thích.  
Nếu sinh một chút hữu sau là quả không ưa thích, nói rộng như trên.
Tôn giả Phật Đà Đề Bà nói: Nếu gặp lúc phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc chẳng phải bất thiện, thì thế nào là bất thiện? Đức Thế tôn  cũng nói: Phiền não sinh ra nghiệp lẽ ra là bất thiện. Ba căn bất thiện  tức là bất thiện. Vì sao? Vì căn bất thiện nầy là phiền não bất thiện, là  pháp bất thiện, làm nhân, làm rễ, làm xuất xứ, làm gốc, làm hữu, làm  duyên, lập tập, làm chỗ sinh.
Ba lậu: Một là vô ký.  
Hai là nên phân biệt.
Một là vô ký là hữu lậu. Sở dĩ là vô ký, như đã nói ở trên.
Hai là nên phân biệt, nghĩa là dục lậu, vô minh lậu. Dục lậu hoặc  là bất thiện, hoặc là vô ký.
Vì sao dục lậu là bất thiện? Là vô tàm, vô quý (không hổ, không  thẹn) cũng tương ưng với vô tàm, vô quý: Là vô tàm, vô quý nên bất  thiện, tức là tự thể. Tương ưng với vô tàm, vô quý, nhận lấy ba mươi  bốn thứ: Hoàn toàn bất thiện có ba thứ. Phần ít, đó là thùy miên, trạo  cử tương ưng với vô tàm, vô quý là bất thiện.
Thế nào dục lậu là vô ký? Không tương ưng với vô tàm, vô quý.  Đây là nói thân kiến, biên kiến, cũng nói là phần ít của ba thứ, nghĩa  là thùy miên, trạo cử, tương ưng với thân kiến, biên kiến gọi là vô ký.
 Hỏi: Vô tàm không tương ưng với vô tàm, vô quý không tương  ưng với vô quý, có thể thuộc về dục lậu vô ký.
 Đáp: Văn ấy không nên nói rằng: Thế nào là vô ký, không thuộc  về vô tàm, vô quý, không tương ưng với dục lậu.
Vô tàm, vô quý không gồm nhiếp, tức là trừ vô tàm, vô quý  không tương ưng, tức là trừ vô tàm, vô quý tương ưng, mà không nói là  có ý gì?

* Trang 714 *
device

 Đáp: Mặc dù vô tàm không tương ưng với vô tàm, mà tương ưng  với vô quý, dù vô quý không tương ưng với vô quý, mà tương ưng với  vô tàm. Vì sao? Vì không lìa nhau. Cho nên chẳng thuộc về dục lậu vô  ký. Vô minh lậu hoặc là bất thiện, hoặc là vô ký.
Thế nào là vô minh lậu bất thiện? Vì tương ưng với vô tàm, vô  quý. Cũng thế, tức là nói vô minh, chỗ dứt của bốn thứ ở cõi Dục,  nghĩa là chỗ dứt của tu đạo, của tập, diệt, đạo và chỗ dứt của khổ đế.
Phần ít, nghĩa là ba kiến nghi, ái, giận dữ, mạn tương ưng với vô  minh và vô minh bất cộng.
Thế nào là vô minh lậu vô ký? Vì không tương ưng với vô tàm,  vô quý. Cũng thế tức là nói vô minh tương ưng với thân kiến, biên  kiến cõi Dục, vô minh chỗ dứt của năm thứ cõi Sắc, cõi Vô sắc.
 Hỏi: Vì sao trong mười triền, chỉ nói tương ưng với vô tàm, vô  quý (không hổ, không thẹn) mà không nói các thứ khác?
 Đáp: Vì người soạn luận có ý như thế, muốn như thế. Tùy ý  muốn của người soạn luận nầy, cũng không trái với pháp tướng.
Lại nữa, hai triền ấy hoàn toàn bất thiện, tương ưng với tất cả  phiền não bất thiện. Triền phẫn, triền phú, triền tật (ganh ghét) triền  san(keo kiệt) dù hoàn toàn bất thiện, nhưng không tương ưng với tất cả  phiền não bất thiện. Triền thùy, triền trạo cử, dù tương ưng với tất cả  phiền não bất thiện mà chẳng phải hoàn toàn bất thiện. Vì sao? Vì là  bất thiện và vô ký. Triền miên, triền hối chẳng phải hoàn toàn bất  thiện. Vì sao? Vì miên có thiện, bất thiện, vô ký, hối có thiện, bất  thiện, vô ký, còn vô tàm, vô quý thì hoàn toàn bất thiện, tương ưng với  tất cả phiền não bất thiện. Nên hễ có ngần ấy vô tàm, vô quý tương  ưng, thì có ngần ấy phiền não bất thiện. Hễ có ngần ấy phiền não bất  thiện, là có ngần ấy tương ưng với không hổ, không thẹn. Như hễ có  bao nhiêu cái hộp thì có bấy nhiêu cái nắp đậy. Phiền não kia cũng  giống như thế.
Bốn lưu: Một thứ là vô ký, là hữu lưu. Vì sao? Vì là pháp cõi  Sắc, cõi Vô sắc. Như nói phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký, hữu  lưu nầy cũng giống như thế. Ba thứ nên phân biệt, đó là Dục lưu, Kiến  lưu và Vô minh lưu.
Dục lưu hoặc bất thiện, hoặc vô ký.
Thế nào là bất thiện? Là vô tàm, vô quý (không hổ, không thẹn)  và tương ưng với dục lưu. Vô tàm, vô quý tức là nói thể của vô tàm, vô  quý. Tương ưng với dục lưu, chính là nói hai mươi bốn thứ hoàn toàn  bất thiện, và phần ít của ba thứ, nghĩa là thùy miên, trạo cử, tương ưng  với vô tàm, vô quý.

* Trang 715 *
device

 Thế nào là vô ký? Nghĩa là dục lưu không tương ưng với vô tàm,  vô quý. Cũng thế tức là nói phần ít của thùy miên, trạo cử tương ưng  với thân kiến, biên kiến cõi Dục.
Kiến lưu hoặc bất thiện, hoặc vô ký.
Thế nào là bất thiện? Ba kiến thuộc cõi Dục, nghĩa là tà kiến,  kiến thủ, giới thủ.
Thế nào là vô ký? Là hai kiến thuộc cõi Dục, đó là thân kiến,  biên kiến. Năm kiến lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc. Vô minh lưu, hoặc bất thiện, hoặc vô ký.
Thế nào là bất thiện? Nghĩa là vô minh lưu tương ưng với vô  tàm, vô quý.
Thế nào là vô ký? Nghĩa là vô minh lưu không tương ưng với vô  tàm vô quý. Như lưu, ách cũng giống như thế.
Bốn thủ: Một thứ là vô ký, là Ngã ngữ thủ. Vì sao? Vì là pháp  cõi Sắc, cõi Vô sắc. Như nói: Phiền não cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.  Thủ nầy cũng giống như thế.
Ba thứ nên phân biệt, là Dục thủ, Kiến thủ và Giới thủ.  
Dục thủ hoặc bất thiện, hoặc vô ký.
Bất thiện là sao? Là không hổ, không thẹn và tương ưng với dục  thủ. Vô tàm, vô quý (không hổ, không thẹn) là nói về tự thể, và tương  ưng với dục thủ, tức là nói hai mươi tám thứ hoàn toàn bất thiện cùng  phần ít của bốn thứ, đó là thùy, miên, trạo cử, vô minh tương ưng với  vô tàm, vô quý.
Thế nào là vô ký? Là dục thủ không tương ưng với vô tàm, vô  quý, tức là nói phần ít của bốn thứ: Thùy, miên, trạo cử, vô minh,  tương ưng với thân kiến, biên kiến lệ thuộc cõi Dục.
Kiến thủ, hoặc bất thiện hoặc vô ký. Bất thiện là thế nào? Hai  kiến lệ thuộc cõi Dục: là Tà kiến và kiến thủ. Thế nào là vô ký? Hai  kiến lệ thuộc cõi Dục: là Thân kiến và biên kiến: Bốn kiến cõi Sắc,  cõi Vô sắc. Giới thủ: Ở cõi Dục là bất thiện, cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.
Bốn phược: Hai phược là bất thiện: Là phược thân tham, phược  thân giận. Hai thứ nên phân biệt là phược kiến thủ thân và phược giới  thủ thân. Lệ thuộc cõi Dục là bất thiện. Lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc  là vô ký.
Năm cái: Chỉ là bất thiện.
Năm kiết: Ba thứ là bất thiện: kiết giận, kiết ganh ghét và kiết  keo

* Trang 716 *
device

 kiệt. Hai thứ cần phân biệt: kiết ái và kiết mạn. Lệ thuộc cõi Dục là  bất thiện. Lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.
Năm kiết phần dưới, có hai bất thiện: Kiết dục ái, kiết giận dữ.  Một thứ vô ký là thân kiến. Hai thứ nên phân biệt là giới thủ và nghi.  Lệ thuộc cõi Dục là bất thiện. Lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.  Năm kiết phần trên chỉ là vô ký.  Năm kiến có hai thứ vô ký là thân kiến, biên kiến. Ba thứ nên  phân biệt là tà kiến, kiến thủ và giới thủ. Lệ thuộc cõi Dục là bất  thiện. Lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.
Sáu ái thân có hai thứ bất thiện: Tỷ xúc sinh ái thân, thiệt xúc  sinh ái thân. Bốn thứ nên phân biệt: Nhãn xúc sinh ái thân, nhĩ xúc  sinh ái thân, thân xúc sinh ái thân. Lệ thuộc cõi Dục là bất thiện. Lệ  thuộc cõi Phạm thế là vô ký. Ý xúc sinh ái thân, lệ thuộc cõi Dục là  bất thiện. Lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô ký.
Bảy sử có hai thứ là bất thiện, là sử dục ái và sử giận dữ. Một  thứ là vô ký: sử hữu ái. Bốn thứ nên phân biệt, là sử mạn, sử vô minh,  sử kiến, sử nghi.
Sử mạn, sử nghi lệ thuộc cõi Dục là bất thiện, lệ thuộc cõi Sắc,  cõi Vô sắc là vô ký.
Sử vô minh hoặc bất thiện, hoặc vô ký. Thế nào là bất thiện? Sử  vô minh tương ưng với vô tàm, vô quý. Thế nào là vô ký? Là sử vô  minh không tương ưng với vô tàm, vô quý.
Sử kiến hoặc bất thiện, hoặc vô ký.
Bất thiện là sao? Ba kiến lệ thuộc cõi Dục. Vô ký là thế nào? Là  hai kiến lệ thuộc cõi Dục, năm kiến lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc.
Chín kiết có ba thứ bất thiện: Là kiết giận dữ, kiết keo kiệt, kiết  ganh tỵ. Sáu thứ nên phân biệt: Là kiết ái, kiết mạn, kiết thủ, kiết  nghi: lệ thuộc cõi Dục là bất thiện, lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc là vô  ký.
Kiết vô minh hoặc bất thiện, hoặc vô ký. Thế nào là bất thiện?  Vô minh tương ưng với vô tàm, vô quý. Thế nào là vô ký Vô minh  không tương ưng với vô tàm, vô quý.
Kiết kiến hoặc bất thiện, hoặc vô ký. Thế nào là bất thiện? Là tà  kiến lệ thuộc cõi Dục, thế nào là vô ký? Thân kiến, biên kiến lệ thuộc  cõi Dục, ba kiến lệ thuộc cõi Sắc, cõi Vô sắc.
Chín mươi tám sử có ba mươi ba thứ bất thiện, sáu mươi bốn thứ  vô ký, một thứ nên phân biệt là sử vô minh, do kiến khổ, lệ thuộc cõi  Dục dứt, hoặc bất thiện, hoặc vô ký.
Thế nào là bất thiện? Tương ưng với vô tàm, vô quý.

* Trang 717 *
device

 Vô ký là sao? Là không tương ưng với vô tàm, vô quý. Môn nầy,  Tỳ-bà-sa, Ưu-ba-đề-xá là nên phân biệt rộng.
Hỏi: Vì sao gọi là thiện, vì sao gọi là bất thiện, vì sao gọi là vô ký?
Đáp: Nếu đã khéo gìn giữ phương tiện thiện xảo sinh ra quả đáng ưa, yên ổn nên gọi là thiện.
Khéo gìn giữ phương tiện thiện xảo: Là Đạo đế.  
Sinh ra quả đáng ưa: Là phần ít của khổ, tập đế.
Yên ổn: Là Diệt đế. Nếu không gìn giữ phương tiện khéo léo,  sinh ra quả không đáng ưa, không an ổn là bất thiện. Đây là nói phần  ít của khổ đế, tập đế. Trái với đây là vô ký. Lại nữa, sinh quả ái, sinh  quả lạc thọ là thiện. Sinh quả không đáng ưa thích, sinh quả khổ thọ là  bất thiện. Trái với đây là vô ký.
Lại nữa, sinh chủng tử hữu đáng ưa thích là thiện. Sinh chủng tử  hữu không đáng ưa thích là bất thiện. Trái với đây là vô ký.
Lại nữa, sinh trong đường đáng ưa thích là thiện. Sinh trong cõi  không đáng ưa thích là bất thiện, trái với đây là vô ký.
Lại nữa, thể tánh nhẹ nhàng ở trong phần vắng lặng là thiện.  Thể tánh nặng chìm ở trong phần tăng thịnh là bất thiện. Trái với đây  là vô ký.
Tôn giả Bà-đa nói: Vì bốn việc nên gọi là thiện:
1.         Thể.
2.         Gần.
3.         Năng khởi.
4.         Thật nghĩa.
Thể là tự thể. Hoặc có thuyết nói: hổ, thẹn là tự thể.  
Hoặc có thuyết nói: Ba căn thiện là tự thể.
Gần: Là pháp tâm, tâm sở.
Năng khởi: Là có thể khởi nghiệp thân, miệng và tâm bất tương  ưng hành.
Thật nghĩa: Là Niết-bàn. Vì yên ổn nên nói là thiện. Phái Tỳ-bà  Xà-bà-đề đã nói rằng: Tự thể thiện là trí. Gần thiện là thức. Năng  khởi thiện là có thể khởi nghiệp thân, miệng. Thật nghĩa thiện: Là  Niết- bàn.
Vì bốn việc, nên gọi là bất thiện:
1.         Thể.
2.         Sự gần.
3.         Năng khởi.

* Trang 718 *
device

  4.       Thật nghĩa.
Thể, nghĩa là tự thể.
Hoặc có thuyết nói: Không hổ, không thẹn là tự thể.  
Hoặc có thuyết nói: Ba căn bất thiện là tự thể.
Gần: Là tâm, tâm pháp số.
Năng khởi: Là có thể khởi nghiệp thân, miệng và tâm bất tương  ưng hành.
Thật nghĩa: Vì sinh tử không yên ổn, nên nói là bất thiện. Là do  phái Tỳ-bà Xà-bà-đề nói rằng: Tự thể là ngu si.
Gần là thức.
Năng khởi: Là có thể khởi nghiệp thân, miệng.  
Thật nghĩa: Là sự sinh tử.
Tôn giả Ba-xa nói: Nếu pháp là chánh quán, thì sẽ tương ưng với  chánh quán. Từ chánh quán sinh ra quả y, quả giải thoát, đó gọi là  thiện. Nếu pháp chẳng phải chánh quán, cho đến không từ chánh quán  sinh ra quả y, thì đó gọi là bất thiện. Trái với việc nầy, gọi là vô ký.  Như chánh quán, không chánh quán, hổ, thẹn, không hổ thẹn, căn  thiện, căn bất thiện, năm căn như tín căn, v.v..., năm cái. nói cũng  giống như thế. Kinh Tập Pháp nói: Vì sao gọi là thiện?  
Đáp: Vì có quả  đáng ưa thích, quả tốt đẹp, quả thích hợp, quả vừa ý, nên gọi là thiện.  Về quả báo nói cũng giống như thế.
Hỏi: Vì sao gọi là bất thiện?
 Đáp: Vì có quả không yêu, quả không tốt đẹp, quả không tối  thượng, quả không vừa ý, nên gọi là bất thiện. Về quả báo nói cũng  giống như thế. Trái với việc nầy là vô ký.
 Hỏi: Đức Thế tôn nhất định ghi nhận khổ, nhất định ghi nhận  Tập, nhất định ghi nhận Diệt, nhất định ghi nhận Đạo, nói rộng mười  hai nhập, thiết lập giải thoát hiển hiện, vì sao nói vô ký?
 Đáp: Không vì lý do không giải thoát, nên nói vô ký, chỉ vì Đức  Thế tôn đối với pháp thiện, ghi nhận thiện, pháp bất thiện ghi nhận  bất thiện. Pháp nầy chẳng phải pháp thiện đã ghi nhận, chẳng phải  pháp bất thiện đã ghi nhận, nên nói là vô ký.
Lại nữa, Đức Thế tôn nói: Pháp thiện có quả đáng ưa thích, pháp  bất thiện có quả không đáng ưa thích. Pháp nầy không sinh quả đáng  ưa thích, không đáng ưa thích, nên nói là vô ký.
Lại nữa, vì hai việc, nên gọi là thiện:
1.         Do tự thể.
2.         Do có báo.

* Trang 719 *
device

Bất thiện cũng giống như thế. Vô ký dù có tự thể, nhưng không  sinh ra báo, nên nói là vô ký. Đức Thế tôn hoặc có khi không giải  thích, gọi là vô ký (Thiên-trúc âm vô ký là vô đáp). Như kinh nói: Sa- môn Cù-đàm! Thế giới là thường chăng? Đức Phật nói: Câu hỏi nầy  không nên đáp.
Hỏi: Vì sao Phật không đáp câu hỏi ấy?
 Đáp: Vì ngoại đạo chấp con người là thường. Các ngoại đạo kia  đi đến chỗ Phật, hỏi rằng: Sa-môn Cù-đàm! Con người là thường hay  là chẳng phải thường?
Đức Phật nghĩ: Không có nhân, ngã, đáp không có, thì các ngoại  đạo kia sẽ nói rằng: Tôi không hỏi về có, không.
Nếu nói thường, vô thường, vì không có pháp làm sao nói có  thường, vô thường? Như hỏi: Con của cô gái bất dục có cung kính,  hiếu thuận không? Ngoại đạo kia sẽ nghĩ rằng: Gái bất dục không có  con. Nếu ta đáp không thì họ sẽ nói rằng: Tôi chẳng hỏi về không, có.  Nếu nói cung kính, hiếu thuận thì họ sẽ nói: Gái bất dục không có con,  sao lại nói cung kính, hiếu thuận? Câu hỏi kia cũng giống như thế.
Biện luận nầy chẳng phải có, chẳng phải thật. Chính vì chẳng  phải có, chẳng phải thật, nên Đức Thế tôn không đáp. Có bốn cách đáp, như phẩm Trí trong Kiền-độ Tạp đã nói rộng.  Ba kiết nầy, bao nhiêu kiết có báo, bao nhiêu kiết không có báo? Cho đến chín mươi tám sử, bao nhiêu sử có báo, bao nhiêu sử không  có báo?
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Như phái Thí dụ giả nói: Trừ tư không có nhân báo, trừ thọ  không có quả báo.
Vì ngăn dứt ý của người nói như thế, đồng thời cũng biểu hiện  năm ấm là quả báo.
Lại nữa, vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Đã nhận nhân báo, thì không có tự thể.  Như Bộ Ca-Diếp-Duy nói rằng: Nghĩa của nhân cho đến báo chưa  thành thục, nếu khi báo đã thành thục thì báo ấy sẽ không có nghĩa  của nhân. Giống như hạt giống khi chưa sinh mầm thì có nghĩa hạt  giống. Nếu khi mầm đã mọc ra rồi, thì sẽ không có nghĩa của hạt  giống nữa. Nghĩa của nhân kia cũng giống như thế.
Vì ngăn dứt ý như đã nêu của bộ kia, cũng nói về báo, mặc dù là  nhân thành thục, nhưng vẫn có tự thể.
Lại có thuyết nói: Vì sao soạn luận nầy?  
Đáp: Vì ngoại đạo, như

* Trang 720 *
device

  ngoại đạo nói: Nghiệp thiện ác không có quả báo. Vì ngăn dứt ý nghĩ  như thế của họ, đồng thời cũng nói nghiệp thiện, ác luôn có quả báo.
Cho nên, ngăn dứt nghĩa của người khác, vì muốn làm sáng tỏ  nghĩa của mình, cũng nói nghĩa tương ưng của pháp tướng, nên soạn  luận nầy.
Nếu đừng vì ngăn dứt nghĩa của người khác, đừng vì làm sáng tỏ  nghĩa của mình, chỉ muốn nói nghĩa tương ưng của pháp tướng, nên  soạn luận nầy. Như văn của môn đầu đã nói, văn của môn nầy cũng  nên nói như thế.
Ba kiết, nếu bất thiện thì có báo, vô ký thì không có báo, cho  đến chín mươi tám sử cũng vậy.
Môn nầy là nói rộng, tức Ưu-ba-đề-xá-Tỳ-bà-sa.
 Hỏi: Vì báo của pháp mình đều có nên nói có báo, hay do báo  của pháp người khác đều có nên nói có báo? Nếu do báo của pháp  mình đều có nên nói có báo, vì sao nhân quả không đi chung? Cũng  trái với kệ đã nói, như nói:
Làm ác không báo ngay  
Như Tát-già ném sữa  
Không đốt ngay ngu, nhỏ  
Cũng như lửa dưới tro.
Có loại cỏ tên Tát-già, nếu cọ xát nhau là tan nát, bỏ vào sữa, thì  thành lạc. Nhân, quả thì không như thế. Vậy là thế nào?
 Đáp: Như lửa lẫn trong tro, mới đạp thì không nóng, đứng lâu  mới cảm thấy nóng. Cũng thế, nghiệp bất thiện nhân lúc sinh mừng  vui, khi biến đổi thành quả sinh ra ấm, giới, nhập của các đường ác.  Nếu dùng báo của pháp người khác, đều nói là có báo, Thánh đạo vô  lậu cũng đều có báo của pháp người khác, lẽ ra nói là có báo?
 Đáp: Nên nói rằng: Vì đi chung với báo của pháp mình, nên nói  là có báo.
 Hỏi: Nếu vậy thì sao nhân quả không đi chung? Cũng trái với kệ  đã nói?
Đáp: Đi chung có hai thứ:
1.         Có đều cùng.
2.         Cùng đều cùng.
Có đều cùng: Là có nhân, có quả, có duyên, có báo.
Có nhân, có quả: Như nhân đã gây ra trước kia trong trăm ức  kiếp, dù diệt làm nhân cho pháp đời sau, pháp này đối với nhân dù  cách xa vẫn gọi là có nhân. Pháp kia đối với quả dù cách xa vẫn gọi là  có quả.

* Trang 721 *
device

 Có duyên: Như mặt trời, mặt trăng cách quả đất nầy bốn ngàn  do- tuần, nếu mắt duyên đến, liền sinh nhãn thức, cảnh giới dù xa mà  vẫn sinh nhãn thức, gọi là đó là có duyên.
Có báo: Nghiệp đã gây ra trong trăm ức kiếp, dù đã diệt mất  trong sinh báo của thân hiện nay, nhưng nghiệp kia đối với báo nầy  tuy cách xa vẫn nói có báo.
Cùng đều cùng: Như có giác, có quán, có hỷ, có dụng.  
Có giác: Pháp tương ưng của giác.
Có quán: Pháp tương ưng của quán.  
Có hỷ: Pháp tương ưng của hỷ căn.
Có dụng: Thực hành pháp tương ưng quán.
Trong đây dùng “Có đều cùng” (Hữu câu) để soạn luận, không  dùng “Cùng đều cùng” (Tịnh câu).
Lại nữa, “Có đều cùng” có hai thứ:
1.         Có đều cùng.
2.         Đều cùng không lìa nhau.
Có đều cùng: Như nói: Có nhân, cho đến có báo.
Đều cùng không lìa nhau: Như nói: Có giác, cho đến có dụng.
Ở đây, dùng “Có đều cùng” để soạn luận, không nói Đều cùng  không lìa nhau.
Lại nữa, có ba thứ đều cùng:
1.         Đều cùng gần.
2.         Đều cùng xa.
3.         Đều cùng gần xa.
Đều cùng gần: Như nói có giác cho đến có dụng.  Đều cùng xa: Như nói có nhân cho đến có báo.
Đều cùng gần xa: Như nói có lậu, có sử, có duyên, có thể.
Có lậu, nghĩa là pháp hữu lậu, hoặc tương ưng với lậu, hoặc làm  sở duyên tương ưng với lậu. Làm duyên đều là hữu lậu. Như có lậu, có  sử cũng vậy.
Có duyên: Duyên có gần có xa. Duyên gần, duyên xa đều là có  duyên. Như có duyên thì tự thể cũng vậy. Trong đây dùng đều cùng xa  để soạn luận, không dùng đều cùng gần, không dùng đều cùng gần xa.
Hỏi: Vì sao gọi là báo?
 Đáp: Vì sinh ra pháp không giống nhau, nên gọi là báo. Báo có  hai thứ: giống nhau và không giống nhau. Giống nhau: Như nương  pháp thiện sinh pháp thiện, nương pháp bất thiện sinh pháp bất thiện,  nương pháp vô ký sinh pháp vô ký.

* Trang 722 *
device

 Không giống nhau: Như pháp thiện, bất thiện sinh ra báo vô ký. Nghĩa báo khác, như phẩm Trí trong Kiền-độ Tạp có nói rộng.
Ba kiết nầy có bao nhiêu kiết do kiến đạo dứt trừ? Bao nhiêu  kiết do tu đạo dứt trừ, cho đến chín mươi tám sử, có bao nhiêu sử do  kiến đạo dứt trừ, bao nhiêu sử do tu đạo dứt trừ?
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Phàm phu không thể lìa dục, bậc  Thánh không thể dùng đạo thế tục để dứt trừ kiết. Như phái Thí dụ  giả, Tôn giả Phật-Đà-Đề-Bà nói rằng: Hoặc người phàm phu không  thể dứt kiết mà có thể chế ngự triền. Nói như thế gọi là nói không che  giấu.
Hỏi: Vì sao Tôn giả kia nói như thế?
 Đáp: Vì dựa vào kinh Phật, kinh Phật nói: Tỳ-kheo phải biết, nếu  dùng tuệ Thánh để thấy, biết pháp thì gọi là dứt trừ. Người phàm phu  không có tuệ Thánh, vì không có tuệ Thánh, nên không gọi là dứt trừ.
 Hỏi: Nếu vậy làm sao hiểu được kinh nầy, như nói: Tỳ-kheo phải  biết! Uất-đầu-lam-phất đã dứt trừ dục ái, sắc ái, dứt bỏ ái của Không  xứ, cho đến ái của Vô sở hữu xứ, sinh Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, nên  cũng nói vị tiên ngoại đạo có thể lìa dục ái. Người kia đáp rằng: Kinh  nầy không dứt nói dứt, không lìa dục nói lìa dục. Kinh khác cũng nói:  Không dứt là dứt, không lìa dục là lìa dục. Không dứt là dứt, như kệ  nói:
Người chấp các vật là của ta  
Khi chết đều bỏ, không đem theo
Cũng thế người trí không nên chấp  
Đối với các vật nghĩ của ta.
Không lìa dục, nói lìa dục: Như nói: Như đồng nam, đồng nữ  trong thôn xóm, xây ngôi nhà đất. Nếu đối với ngôi nhà đất nầy, khi  chưa lìa dục, tâm chúng sinh khởi khát ái, sửa sang, gìn giữ chấp cho  là của mình. Nếu khi lìa dục, thì chúng sẽ hủy hoại, đập phá, rồi bỏ đi.  Như kinh nầy, không dứt nói dứt, kinh kia cũng vậy. Tuy nhiên, người  phàm phu không thể dứt trừ kiết. Nói người phàm phu đã lìa dục cõi  Dục, là dùng đạo thế tục để chế ngự, hàng phục phiền não cõi dưới,  trên duyên Sơ thiền, như cách bò đi của con sâu xà-lâu. Lìa dục cõi  Dục, cho đến lìa dục của Vô sở hữu xứ, Phi tưởng Phi phi tưởng xứ,  không còn có địa nào trên để có thể duyên lên trên. Được lìa dục của  Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, như người trèo lên cây, chuyền từ cành  nầy sang cành khác. Nếu chuyền đến ngọn cây, không còn nhánh  nhóc, bèn trèo trở xuống. Cũng thế, người phàm phu duyên theo pháp  của địa trên, có thể chế

* Trang 723 *
device

ngự, hàng phục phiền não của địa dưới mà không thể dứt trừ. Giống  như chó sói đi qua giữa đám lau sậy, cây gai, dù có thể đi qua, do  chúng nằm rạp xuống, nhưng không thể chặt đứt. Sự lìa dục kia cũng  giống như thế.
Vì ngăn dứt ý của người nói như thế, cũng nói người phàm phu  có thể lìa dục, đạo thế tục có thể dứt trừ kiết, nên soạn luận nầy.
Lại nữa, sở dĩ soạn luận nầy vì hoặc có thuyết nói: bậc Thánh  không dùng đạo thế tục để dứt trừ kiết. Vì sao? Vì bậc Thánh đâu thể  bỏ đạo vô lậu mà theo đạo thế tục.
Vì ngăn dứt ý của người nói như thế, cũng nói, bậc Thánh dùng  đạo thế tục dứt trừ kiết, nên soạn luận nầy.
Lại nữa, sở dĩ soạn luận nầy là vì để ngăn dứt ý nói Sa-môn dứt  trừ kiết tức khắc, vì có Sa-môn nói pháp dứt trừ kiết ngay, như định  Kim cương dụ dứt trừ tất cả kiết. Không có kiết nào không dứt, không  phá trừ, không nhập, không được bên kiết đó. Dụ như kim cương  không có vật nào không bị nó cắt đứt, đập vỡ, không nhập vào, không  được bên. Nghĩa là như răng sắt, ngọc Bối kha, Thạch ma-ni v.v...  Pháp dứt trừ kiết kia cũng giống như thế.
Thuyết ấy nói có bốn quả Sa-môn định Kim cương dụ dứt trừ tất  cả kiết.
 Hỏi: Nếu vậy thì đâu cần ba quả Sa-môn, người kia đáp rằng: Ba  quả Sa-môn, khi đã chế phục phiền não, định Kim cương dụ hiện ở  trước, dứt trừ tất cả kiết. Giống như nông phu, tay trái nắm lấy cỏ,  cùng một lúc tay phải dùng lưỡi hái cắt cỏ. Phép dứt trừ kiết kia cũng  giống như thế.
Vì nhằm dứt bỏ ý của thuyết như thế, cũng nói phiền não có hai  thứ, có hai thứ đối trị:
1.         Kiến đạo dứt.
2.         Tu đạo dứt.
Kiến đạo dứt: Dùng kiến đạo làm đối trị, tu đạo dứt: Dùng tu đạo  làm đối trị.
Lại nữa, vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Cùng lúc kiến đế, chứ chẳng phải kiến  đế theo thứ lớp.
Vì ngăn dứt ý của thuyết như thế, cũng nói kiến đế có thứ lớp. Vì  nếu cùng lúc kiến đế, chẳng phải theo thứ lớp thì trái với kinh Phật,  như kinh nói: Cư sĩ Cấp Cô Độc đi đến chỗ Phật, hỏi Phật: Bạch Đức  Thế tôn! Là cùng lúc kiến đế, hay theo thứ lớp kiến đế?

* Trang 724 *
device

Đức Phật đáp: Nầy Cư sĩ! Theo thứ lớp kiến đế, như pháp bước  lên cầu thang.
Lại nữa, sở dĩ soạn luận nầy, là muốn nói phiền não có hai thứ  đối trị:
1.         Loại do kiến đạo dứt.
2.         Loại do tu đạo dứt.
Kiến đạo làm đối trị cho loại do kiến đạo dứt, tu đạo làm đối trị  cho loại do tu đạo dứt.
Cho nên, vì nhằm ngăn nghĩa của người khác, vì muốn làm sáng  tỏ nghĩa của mình, cũng để nói lên nghĩa tương ưng của pháp tướng,  nên soạn luận nầy. Nếu đừng ngăn dứt nghĩa của người khác, cũng  không làm sáng tỏ nghĩa của mình, chỉ muốn nói về nghĩa tương ưng  của pháp tướng mà soạn luận nầy.
Ba kiết ấy có bao nhiêu kiết do kiến đạo dứt, bao nhiêu kiết do  tu đạo dứt? Kiến đạo ở trước có hai thứ. Thân kiến ở trước có hai thứ.  Hoặc kiến đạo dứt, hoặc kiến đạo, tu đạo dứt.
Hỏi: Ở trước là nghĩa gì?
Đáp: Nghĩa phần lập, nghĩa trước đáp là nghĩa ở trước.
Nghĩa phần lập: Trước lập phần chỗ dứt của kiến đạo, sau lập bất định.
Nghĩa đáp trước: Trước đáp về chỗ dứt của kiến đạo, sau đáp không nhất định:
Thế nào là kiến đạo dứt? Nếu thân kiến là lệ thuộc Phi tưởng Phi  phi tưởng xứ, hoặc Kiên tín, kiến pháp, thì dùng khổ nhẫn dứt. Thân  kiến ở cõi Dục, cho đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, có thể được dùng  đạo thế tục dứt thân kiến cõi Dục, cho đến Vô sở hữu xứ. Đối với Phi  tưởng Phi phi tưởng xứ, đạo thế tục dừng trụ lại không còn thế dụng,  nên lại khởi kiến đạo hiện ở trước, dứt trừ thân kiến của Phi tưởng Phi  phi tưởng xứ. Nếu nói thân kiến, tức là thể định. Nếu nói lệ thuộc Phi  tưởng Phi phi tưởng xứ, tức là địa định. Nếu nói Kiên tín, Kiên pháp,  tức người định. Nếu nói khổ nhẫn tức đối trị định. Nếu nói dứt trừ thì  việc mình đã làm là định. Đây là nói thân kiến, là đối trị không chung,  đối trị quyết định, bậc Thánh có thể dứt, phàm phu thì không thể dứt.  Dùng đạo vô lậu, không dùng đạo thế tục, chỉ dùng kiến đạo, không  dùng tu đạo, dùng nhẫn, không dùng trí. Trong đây nói thân kiến như  thế. Thân kiến khác hoặc phàm phu dứt, do tu đạo dứt. Đệ tử Đức Thế  tôn do kiến đạo dứt.
Thế nào là thân kiến khác? Từ cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ,  nếu

* Trang 725 *
device

  người phàm phu dùng tu đạo dứt, bậc Thánh dùng kiến đạo dứt, người  phàm phu thì dùng đạo thế tục để dứt, bậc Thánh dùng đạo vô lậu để  dứt, người phàm phu dùng trí dứt, bậc Thánh dùng nhẫn dứt. Người  phàm phu với chín thứ thân kiến tạo ra lúc dứt. Bậc Thánh với chín thứ  thân kiến, tạo ra một lúc dứt. Sự dứt trừ thân kiến của người phàm phu  có dừng, nghỉ. Sự dứt trừ thân kiến của bậc Thánh không có ngừng  nghỉ. Người phàm phu dứt, không kiến đế. bậc Thánh dứt thì kiến đế.  Cho nên đáp như vậy: Với thân kiến khác, nếu là người phàm phu thì  do tu đạo dứt, còn đệ tử Đức Thế tôn thì do kiến đạo dứt. Giới thủ,  nghi, do kiến đạo hiện ở trước có hai thứ: hoặc kiến đạo dứt, hoặc kiến  đạo, tu đạo dứt.
Nghĩa ở trước như trên đã nói.
Thế nào là kiến đạo dứt? Nếu giới thủ, nghi, lệ thuộc Phi tưởng  Phi phi tưởng xứ, hoặc Kiên tín, Kiên pháp, dùng các nhẫn dứt trừ giới  thủ, nghi. Từ cõi Dục cho đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, có thể được  đạo thế tục hiện ở trước, dứt trừ giới thủ, nghi cõi Dục, cho đến Vô sở  hữu xứ. Đạo thế tục đối với Phi tưởng Phi phi tưởng xứ bèn trụ, không  còn thế dụng, lại khởi kiến đạo hiện ở trước, dứt trừ giới thủ, nghi của  Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Nếu nói giới thủ, nghi, thì thể định. Nếu  nói lệ thuộc Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, tức địa định. Nếu nói về Kiên  tín, Kiên pháp là người định. Nếu nói các nhẫn, tức là đối trị định. Nếu  nói dứt trừ, thì việc đã làm là định. Đây là nói giới thủ, nghi, là đối trị  quyết định, đối trị không chung. Bậc Thánh có thể dứt, người phàm  phu không thể dứt. Dùng đạo vô lậu, không dùng đạo thế tục, chỉ dùng  kiến đạo, không dùng tu đạo, dùng nhẫn, không dùng trí. Trong đây, là nói giới thủ, nghi như thế.
Giới thủ, nghi khác, người phàm phu dứt dùng tu đạo dứt, đệ tử  Đức Thế tôn dùng kiến đạo dứt. Phần còn lại như trên đã nói.
Tham, giận dữ, ngu si và dục lậu, tu đạo hiện ở trước có hai thứ:  Hoặc do tu đạo dứt, hoặc do kiến đạo, tu đạo dứt.
Ở trước là nghĩa gì?
 Đáp: Nghĩa phần lập, nghĩa đáp trước là nghĩa ở trước. Nghĩa  phần lập: Trước lập phần tu đạo, sau lập không nhất định.
Nghĩa đáp trước: Trước đáp chỗ dứt của tu đạo. Sau đáp không  nhất định.
Thế nào là tu đạo dứt?
 Đáp: Tham, giận, si và học kiến tích của dục lậu do tu đạo dứt.  Tham, giận, si và dục lậu có năm thứ: Kiến khổ dứt chủng, cho đến tu

* Trang 726 *
device

  đạo dứt chủng. Kiến đạo hiện ở trước dứt trừ khổ đế dứt, cho đến đạo  đế dứt. Tham, giận, si và dục lậu, đối với tu đạo dứt, tức trụ, không  còn thế dụng, nên lại khởi tu đạo hiện ở trước, dứt trừ tham, giận, si và  dục lậu vốn do tu đạo dứt. nếu nói tham giận si và dục lậu tức là thể  định. Nếu nói học kiến tích, thì là người định. Nếu nói tu đạo thì là đối  trị định. Nếu nói dứt trừ thì việc mình đã làm là định. Tham, giận, si  và dục lậu này là đối trị không chung, đối trị quyết định, là chỗ dứt  của bậc Thánh, chẳng phải của người phàm phu, là tu đạo dứt, chẳng  phải kiến đạo dứt, là trí dứt, chẳng phải nhẫn dứt.
Trong đây, thì nói tham, giận, si và dục lậu như thế. Pháp khác,  nếu người phàm phu dứt, là do tu đạo dứt, đệ tử Đức Thế tôn, là do  kiến đạo dứt.
Pháp khác là sao?
 Đáp: Pháp khác là có bốn thứ: Là chỗ dứt của kiến khổ, cho đến  kiến đạo. Nếu là người phàm phu dứt, thì do tu đạo dứt, đệ tử Đức Thế  tôn thì do kiến đạo dứt. Phần còn lại nói rộng như trên. Vì việc ấy, nên  nói rằng: Nếu là người phàm phu dứt, là tu đạo dứt, đệ tử Đức Thế tôn  thì do kiến đạo dứt.
 Hỏi: Nếu nói học kiến tích do tu đạo dứt trừ tham, giận, si và dục  lậu, tức là nói chỗ dứt của tu đạo trong thân bậc Thánh. Pháp khác nếu  nói người phàm phu dứt là do tu đạo dứt, nếu nói bậc Thánh dứt là do  kiến đạo dứt, thì đây là nói tham, giận, si và dục lậu, được dứt trừ do  kiến khổ, tập, diệt, đạo trong thân phàm phu bậc Thánh. Ở đây có  pháp khác nào chưa nói đến?
 Đáp: Tham, giận, si và dục lậu là chỗ dứt của tu đạo trong thân  người phàm phu.
Hỏi: Vì sao điều nầy không nói?
Đáp: Đáng lẽ nói mà không nói, phải biết là thuyết nầy chưa rốt ráo.
Lại nữa, đã nói trong thuyết ở trước. Vì sao? Vì chủng nên lập chủng phiền não, không do ở trong thân lập chủng phiền não.
Bằng với năm thứ, không có chủng thứ sáu, bậc Thánh do kiến  đạo dứt trừ, do kiến đạo dứt trừ chủng. Do tu đạo dứt trừ, do tu đạo dứt  trừ chủng. Người phàm phu, nếu do kiến đạo dứt, hoặc do tu đạo dứt,  đều nhóm họp do tu đạo dứt. Vì sao? Vì người phàm phu đối với phiền  não do năm thứ dứt, phải dùng tu đạo dứt, nghĩa nầy quyết định.
Vì việc nầy, nên biết đã nói trong thuyết trước đây.
Hữu lậu, vô minh lậu, kiến đạo ở trước, có ba thứ: Hoặc do kiến

* Trang 727 *
device

đạo dứt, hoặc do tu đạo dứt, hoặc do kiến đạo, tu đạo dứt. Nghĩa ở trước là sao?
 Đáp: Nghĩa phần lập, nghĩa đáp trước là nghĩa ở trước. Trước lập  kiến đạo dứt chủng , kế là lập tu đạo dứt chủng, sau là lập không nhất  định.  
Đáp trước: Trước đáp về kiến đạo dứt chủng, kế đáp về tu đạo  dứt chủng, sau đáp không nhất định.
Thế nào là kiến đạo dứt? Nếu hữu lậu, vô minh lậu lệ thuộc ở  Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, hoặc Kiên tín, Kiên pháp, dùng các nhẫn  dứt bỏ hữu lậu, từ Sơ thiền cho đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, có thể  dứt được vô minh lậu. Từ cõi Dục cho đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ  có thể được đạo thế tục hiện ở trước, dứt bỏ vô minh lậu, từ cõi Dục  cho đến Vô sở hữu xứ. Đoạn trừ hữu lậu từ Sơ thiền cho đến Vô sở  hữu xứ. Đối với Phi tưởng Phi phi tưởng xứ bèn trụ, không còn thế  dụng, nên lại khởi kiến đạo hiện ở trước, dứt trừ hữu lậu, vô minh lậu  của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ vốn do kiến đạo dứt.
Kiến đạo, đối với chỗ dứt của tu đạo, liền dừng trụ, không còn  thế dụng, nên lại khởi tu đạo hiện ở trước, dứt trừ hữu lậu, vô minh  lậu, vốn là chỗ dứt của tu đạo. Nếu nói hữu lậu, vô minh lậu tức là thể  định. Nếu nói Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, là địa định. Nếu nói Kiên  tín, Kiên pháp, tức người định. Nếu nói các nhẫn, tức đối trị định. Nếu  nói dứt, tức việc làm của mình đã định. Hữu lậu, vô minh lậu là đối trị  bất cộng, đối trị quyết định, là chỗ dứt của bậc Thánh, chẳng phải của  người phàm phu, do đạo vô lậu dứt, chẳng phải đạo thế tục, do kiến  đạo dứt chẳng phải tu đạo, do nhẫn dứt, chẳng phải trí.
Trong đây là nói hữu lậu, vô minh lậu như thế.  
Hỏi: Thế nào là tu đạo dứt trừ?
 Đáp: Hữu lậu, vô minh lậu, Học kiến tích, do tu đạo dứt. Hữu  lậu, vô minh lậu có năm thứ: là do thấy khổ mà dứt, cho đến do tu đạo  dứt. Kiến đạo dứt, khổ đế dứt, cho đến đạo đế dứt hữu lậu, vô minh  lậu. Kiến đạo đối với chỗ dứt của tu đạo bèn dừng trụ, không còn thế  dụng, nên lại khởi tu đạo hiện ở trước, dứt trừ hữu lậu, vô minh lậu,  vốn là chỗ dứt của tu đạo. Nếu nói hữu lậu, vô minh lậu, tức là thể  định. Nếu nói Học kiến tích, tức là người định. Nếu nói tu đạo tức là  đối trị định. Nếu nói dứt trừ tức là việc làm của mình định. Hữu lậu, vô  minh lậu, là đối trị bất cộng, đối trị quyết định là do bậc Thánh dứt  chẳng phải người phàm phu, là tu đạo dứt, chẳng phải kiến đạo, là đạo  vô lậu dứt, chẳng phải đạo thế tục, là trí dứt, chẳng phải nhẫn dứt.
Ở đây, là nói hữu lậu, vô minh lậu như thế. Pháp khác: Nếu phàm

* Trang 728 *
device

phu dứt thì do tu đạo dứt, đệ tử Đức Thế tôn thì do kiến đạo dứt.
Hỏi: Pháp khác là sao?
 Đáp: Vô minh lậu, cõi Dục có bốn thứ. Hữu lậu, vô minh lậu, từ  Sơ thiền cho đến Vô sở hữu xứ có bốn thứ. Ở đây, nếu là phàm phu  dứt trừ thì do tu đạo dứt, nếu bậc Thánh dứt trừ, thì do kiến đạo dứt.  Phần còn lại nói rộng như trên. Ở trước có ba thứ:
1.         Không chung.
2.         Rốt ráo.
3.         Đầu tiên.
Không chung ở trước: Như ba kiết.
Rốt ráo ở trước: Như tham, giận, si và dục lậu.  
Đầu tiên ở trước: Như hữu lậu, vô minh lậu.
Nếu phiền não là chỗ dứt của kiến đạo ba cõi, thì nên tạo ra hai  trường hợp ở trước của kiến đạo, như ba kiết. Nếu là chỗ dứt của năm  thứ cõi Dục, thì nên tạo ra hai trường hợp ở trước của tu đạo, như  tham, giận, si và dục lậu. Nếu là chỗ dứt của năm thứ ba cõi, thì nên  tạo ra ba thứ trường hợp ở trước của kiến đạo, như hữu lậu, vô minh  lậu. Thuyết nầy là nói tóm lược về Tỳ-bà-sa. Trong năm cái, hối là do  tu đạo dứt trừ. Nghi, nếu phàm phu dứt trừ là do tu đạo dứt, đệ tử Đức  Thế tôn dứt trừ là do kiến đạo dứt. Năm kiết phần trên là do tu đạo  dứt. Năm ái thân là do tu đạo dứt. Kiết ganh tỵ, kiết keo kiệt là do tu  đạo dứt. Hai mươi tám thứ trong chín mươi tám sử là do kiến đạo dứt  trừ. Mười sử là do tu đạo dứt. Số sử còn lại, nếu phàm phu dứt là do tu  đạo dứt trừ, đệ tử Đức Thế tôn dứt là do kiến đạo dứt trừ.
 Hỏi: Như kinh Ba-già-la-na chép: Trong chín mươi tám sử, tám  mươi tám sử là do kiến đạo dứt, mười thứ là do tu đạo dứt. Vì sao trong  đây lại nói hai mươi tám sử là do kiến đạo dứt, mười sử là do tu đạo  dứt?
 Đáp: Văn nầy là liễu nghĩa, văn của kinh kia là chưa liễu nghĩa.  Văn nầy là ý nêu trọn vẹn, văn kia là ý nêu chưa trọn vẹn. Văn nầy  không có lý do, văn kia có lý do. Văn nầy là thật nghĩa đế, văn kia là  tục đế.
Lại nữa, kinh Ba-già-la-na nói là thuận theo thứ lớp pháp: Nói  con người trói buộc đủ, chẳng phải người siêu việt. Ở đây không nói  thuận theo thứ lớp pháp, không nói là người trói buộc đủ, không nói  người siêu việt.
Lại nữa, trong kinh kia nói phàm phu, bậc Thánh lìa dục, Thánh  đạo tạo tác, đạo thế tục tạo tác. Ở đây nói bậc Thánh lìa dục, không  nói

* Trang 729 *
device

phàm phu, nói Thánh tạo tác, không nói đạo thế tục.
Lại nữa, trong kinh kia nói lìa dục cõi Dục, cho đến lìa dục của  Vô sở hữu xứ, được chánh quyết định, nghĩa là trước dùng đạo thế tục  để dứt trừ phiền não cõi Dục, cho đến Vô sở hữu xứ. Kiến đạo kia dứt  trừ phiền não, giải thoát được tác chứng khác nhau. Vì sao? Vì được  giải thoát kia là do kiến đạo nên có sai khác. Do việc ấy, nên kinh kia  nói rằng: Tám mươi tám sử là do kiến đạo dứt, mười sử là do tu đạo  dứt.
Cho nên Tôn giả Cù-sa đã nói rằng: Hai mươi tám sử là do kiến  đạo dứt, mười sử là do tu đạo dứt.
Vì sao kinh Ba-già-la-na nói rằng: Tám mươi tám sử là do kiến  đạo dứt trừ, mười sử là do tu đạo dứt trừ? Kinh ấy đáp: Hai mươi tám  thứ quyết định là do kiến đạo dứt, mười thứ là do tu đạo dứt, sáu mươi  thứ là bất định. Bất định, nghĩa là ở trong kiến đạo mà có khác nhau.
Kinh Ba-già-la-na nói: Vì theo thứ lớp, nên nói tám mươi tám thứ  do kiến đạo dứt, mười thứ là do tu đạo dứt. Môn nầy là Tỳ-bà-sa đã  phân biệt rộng.
 Hỏi: Vì sao gọi là kiến đạo dứt? Vì sao gọi là tu đạo dứt? Như  kiến không lìa tu, tu không lìa kiến. Trong kiến đạo tu như thật cũng  có thể được. Trong tu đạo kiến như thật cũng có thể được. Kiến được  gọi là tuệ, tu gọi là không buông lung. Như thật là nghĩa gì?
 Đáp: Nghĩa luôn luôn, nghĩa chú trọng riêng là nghĩa như thật.  Trong kiến đạo tuệ nhiều, không buông lung ít. Trong tu đạo không  buông lung nhiều, tuệ ít.
Lại nữa, nghĩa cùng lường xét là nghĩa như thật.
Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Thấy bốn chân đế là dứt trừ các phiền não.
Làm sao phân biệt được đâu là kiến đạo dứt, đây là tu đạo dứt?  
Đáp:  Do kiến dứt do kiến chế phục, do kiến làm nôn ra các phiền não, nên nói là kiến đạo dứt.
Lại có thuyết nói: Phiền não, chỗ dứt của kiến đạo, cũng nên nói  là chỗ dứt của tu đạo. Vì sao? Vì trong kiến đạo tu như thật có thể  được, nên như nghĩa của ngã, do kiến dứt, do kiến chế phục, do kiến  nôn ra các phiền não, gọi là kiến đạo dứt.
Hỏi: Vì sao gọi là tu đạo dứt?
 Đáp: Tùy đạo đã được, tu hành rộng khắp, dứt các phần sinh, dứt  trừ lượng, dứt trừ chủng, khiến sử mỏng dần, khiến dứt rốt ráo, nên gọi  là tu đạo dứt.
Lại có người nói rằng: Tu đạo dứt phiền não, cũng có thể nói là

* Trang 730 *
device

  kiến đạo dứt. Vì sao? Vì trong tu đạo cũng có kiến như thật, như nghĩa  ngã, tùy đạo đã được, tu hành rộng khắp, dứt các phần sinh, dứt lượng  của sinh dứt, chủng của sinh, khiến sử dần dần mỏng, khiến cho dứt  rốt ráo, nên gọi là tu đạo dứt.
Hỏi: Đây là nghĩa gì?
 Đáp: Kiến đạo là đạo mạnh mẽ. Nếu khi duyên kiến đạo kia, thì  chín thứ phiền não đều được dứt trừ cùng lúc. Tu đạo là đạo không  mạnh mẽ, thường phải tu tập thì chín thứ phiền não trong chín thời  gian mới dứt trừ được. Ví như dao bén, dao lụt, dùng cắt đồ vật. Dao  bén chỉ xuống một nhát, dao lụt thì phải cứa đi cứa lại mới đứt. Tu đạo  kia cũng giống như thế.
Lại nữa, nếu dùng kiến riêng nhiều về đạo dứt, thì gọi là kiến  đạo dứt. Nếu do tu riêng nhiều về đạo dứt thì gọi là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu dùng hai tướng đạo dứt thì gọi là kiến đạo dứt. Hai  tướng: là tướng kiến và tướng tuệ. Nếu dùng ba tướng đạo dứt thì gọi  là tu đạo dứt. Ba tướng: là tướng kiến, tướng tuệ và tướng trí.
Lại nữa, nếu dùng bốn tướng đạo dứt thì gọi là kiến đạo dứt. Bốn  tướng đó là: Mắt, sự sáng suốt, giác và tuệ. Nếu dùng năm tướng đạo  dứt thì gọi là tu đạo dứt. Năm tướng đó là: Mắt, sự sáng suốt, giác, tuệ  và trí.
Lại nữa, nếu dùng nhẫn để dứt, tức là kiến đạo dứt, dùng trí để  dứt, tức là tu đạo dứt.
Lại nữa, chín kiết được dứt trừ cùng lúc là kiến đạo dứt. Chín thứ  kiết được dứt trừ trong chín thời gian là tu đạo dứt.
Lại nữa, do vị tri dục tri căn dứt là kiến đạo dứt. Do tri căn dứt là  tu đạo dứt.
Lại nữa, lúc dứt như đá nứt ra là kiến đạo dứt, lúc dứt như ngắt  đứt ngó sen là tu đạo dứt.
Lại nữa, trái với phát ý là kiến đạo dứt. Trái vơi phương tiện là  tu đạo dứt.
Lại nữa, không hề kiến đế, mà kiến đế dứt là kiến đạo dứt. Đã  từng kiến đế, mà quán lần nữa để dứt là tu đạo dứt.
Lại nữa, dùng một nhân đạo dứt là kiến đạo dứt. Dùng hai do  đạo dứt là tu đạo dứt.
Lại nữa, như lực sĩ mặc áo giáp dứt là kiến đạo dứt. Như người  không có chân đi dứt là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu lúc dứt, tức chỗ nhận biết của trí kia là hành tu đạo,  là kiến đạo dứt. Nếu khi dứt, là trí khác, chỗ nhận biết khác, hành tu

* Trang 731 *
device

khác, là tu đạo dứt.  Lại nữa, nếu người hướng về quả không thành tựu để dứt là kiến  đạo dứt. Nếu người hướng về quả thành tựu để dứt là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu Kiên tín, Kiên pháp dứt, là kiến đạo dứt. Nếu Tín  giải thoát, Kiến đáo, thân chứng dứt là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu đầu tiên phát khởi đạo dứt là kiến đạo dứt. Nếu  thường phát khởi đạo dứt đó là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu dứt là thuộc về bốn quả Sa-môn đó là kiến đạo dứt.  Nếu dứt thuộc về hoặc ba, hoặc hai, hoặc một quả Sa-môn, đó là tu  đạo dứt.
Lại nữa, nếu duyên theo vô sở hữu mà sinh là kiến đạo dứt. Nếu  duyên theo hữu mà sở hữu sinh là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu dứt xong không lui sụt là kiến đạo dứt. Nếu dứt rồi,  hoặc lui sụt, hoặc không lui sụt, là tu đạo dứt.
Lại nữa, dứt rồi lại không còn buộc, không còn trói là kiến đạo  dứt. Dứt rồi hoặc buộc, hoặc lệ thuộc là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu khi dứt, nhẫn là đạo vô ngại, trí là đạo giải thoát, là  kiến đạo dứt. Nếu khi dứt, trí là đạo vô ngại, trí là đạo giải thoát, là tu  đạo dứt.
Lại nữa, nếu khi dứt, trí làm đạo phương tiện, nhẫn tạo đạo vô  ngại, trí tạo đạo giải thoát là kiến đạo dứt. Nếu lúc dứt, trí làm đạo  phương tiện, đạo vô ngại, đạo giải thoát là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu trước được phi số diệt, là kiến đạo dứt. Nếu trước  hoặc đã được phi số diệt, sau được số diệt, hoặc trước được số diệt, sau  được phi số diệt, hoặc cùng lúc được số diệt, phi số diệt là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu khi dứt, duyên một đế tu đạo là kiến đạo dứt. Nếu  khi dứt, duyên đạo tu bốn đế là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu khi dứt tu bốn hành đạo là kiến đạo dứt. Nếu khi  dứt tu mười sáu hành đạo là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu khi dứt, tu đạo tương tự là kiến đạo dứt. Nếu khi  dứt, tu đạo tương tự, không tương tự, là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu khi dứt, hoặc tu một Tam-muội là kiến đạo dứt.  Nếu khi dứt, hoặc tu ba Tam-muội là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu khi dứt không dấy khởi, là kiến đạo dứt. Nếu khi  dứt, hoặc dấy khởi hoặc không dấy khởi là tu đạo dứt.
Ba kiết nầy, có bao nhiêu kiết do thấy khổ mà dứt, bao nhiêu  kiết do tu đạo dứt, cho đến chín mươi tám sử có bao nhiêu sử do thấy  khổ mà dứt, có bao nhiêu sử do tu đạo dứt.

* Trang 732 *
device

Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Môn trước ngăn dứt ý của thuyết Sa-môn dứt trừ tức khắc,  không ngăn dứt ý của thuyết một lúc kiến đế, cũng không nói thứ lớp  kiến đế.
Nay vì muốn ngăn ý của thuyết kiến đế cùng lúc, cũng nói kiến  đế theo thứ lớp, nên soạn luận nầy.
Lại có thuyết nói: Môn trước ngăn dứt ý của thuyết cho kiến đế  cùng lúc, cũng nói về kiến đế theo thứ lớp, mà không nói thô hiện.
Nay vì muốn từ thô hiện rõ ràng, ngăn ý của thuyết cho kiến đế  cùng lúc, cũng nói kiến đế theo thứ lớp, nên soạn luận nầy.
Lại nữa, vì muốn biểu hiện rõ năm thứ dứt phiền não và năm  pháp đối trị. Năm thứ dứt phiền não: Là thứ do thấy khổ mà dứt cho  đến thứ do tu đạo dứt.
Năm pháp đối trị: Khổ nhẫn, khổ trí là pháp đối trị của thấy khổ  mà dứt, cho đến đạo nhẫn, đạo trí, là pháp đối trị của kiến đạo dứt. Trí  là pháp đối trị của tu đạo dứt.
Vì các việc như thế, nên soạn luận nầy.
Ba kiết nầy có bao nhiêu kiết do thấy khổ mà dứt, cho đến nói rộng.
 Đáp: Một do thấy khổ mà dứt là thân kiến.  
Hỏi: Vì  sao thân kiến chỉ do thấy khổ mà dứt?
Đáp: Vì duyên theo khổ mà sinh, nên lại do thấy khổ mà dứt.
Lại nữa, kiến nầy duyên theo quả sinh, nếu khi dùng tuệ quán quả thì kiến nầy liền dứt.
Lại nữa, thân kiến là tánh điên đảo, tất cả điên đảo đều do thấy  khổ mà dứt. Nếu khi điên đảo dứt rồi, thì kiến nầy sẽ dứt ngay. Vì  sao? Vì đồng một đối trị.
Lại nữa, phiền não này là thô, nên đầu tiên dùng đạo Vô ngại để  dứt. Các phiền não khác thì vi tế, nên sau dùng định Kim cương dụ để  dứt. Ví như dính nhơ không bám chắc, phủi mạnh thì rớt xuống. Nếu  bụi nhơ bám chắc, dĩ nhiên phải dùng nước gụt và dùng nhiều sức, thì  mới sạch. Cũng như đồ đựng bằng sành, chất béo không thấm vào,  dùng nước rửa liền sạch. Nếu chất béo thấm vào đồ đựng, phải dùng  nước nóng để rửa, thì mới sạch. Thân kiến kia cũng giống như thế.
Lại nữa, vì rễ của kiến nầy không ăn sâu vào địa của sở duyên.  Do không ăn sâu vào nên tánh nó kém, vì tánh chất kém, nên đầu tiên  là dùng đạo vô ngại dứt. Rễ của các phiền não khác ăn sâu vào địa  nơi sở duyên, nên sau đạo vô ngại, cho đến định Kim cương dụ dứt trừ.  Ví

* Trang 733 *
device

 như rễ cây không ăn sâu vào đất, thì khi cơn gió nhẹ thổi qua, thì có  thể khiến ngã rạp. Nếu rễ cây ăn sâu vào lòng đất, thì dù bị gió lớn  thổi, cũng không thể làm cho cây ngã. Thân kiến kia cũng giống như  thế.
Tôn giả Hòa-tu-mật nói: Vì sao thân kiến chỉ do thấy khổ mà dứt?
Đáp: Vì thân kiến duyên theo năm ấm, về sau, khi như thật thấy năm ấm, thân kiến liền dứt.
Lại nữa, kiến nầy sinh ra từ tưởng thường, tưởng lạc, tưởng tịnh,  tưởng ngã. Nếu thấy được tưởng vô thường, tưởng khổ, tưởng bất tịnh,  tưởng vô ngã, thì kiến nầy liền dứt.
Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Vì kiến nầy từ thân mình sinh, nên  gọi là thân kiến. Nếu nhận thấy thân mình vô ngã thì kiến nầy sẽ dứt  trừ.
Giới thủ hoặc do thấy khổ mà dứt, hoặc do kiến đạo dứt.
Hỏi: Vì sao giới thủ chẳng phải do kiến tập, thấy diệt mà đoạn?
 Đáp: Vì ngoại đạo, hành vi của họ trái với khổ, đạo, không trái  với tập, diệt. Vì sao? Vì ngoại đạo chấp tập như cấu uế, chấp diệt như  chỗ tắm gội, vì cầu mong chỗ tắm gội nên thực hành các thứ khổ  hạnh. Vì thực hành các thứ khổ hạnh, nên vết nhơ của phiền não càng  nhiễm vào tâm thêm. Như người vì muốn rửa bỏ vết nhơ, lại lội xuống  vũng nước đục để tắm gội thì càng nhơ bẩn thêm. Ngoại đạo kia cũng  giống như thế.
Lại nữa, vì từ khổ sinh, nên lại do thấy khổ mà dứt, từ đạo sinh,  nên lại do kiến đạo dứt.
Lại nữa, từ cấu uế sinh nên là thấy khổ mà dứt, từtịnh sinh là  kiến đạo dứt.
Lại nữa, là sở hành của nội đạo là thấy khổ mà dứt, sở hành của  ngoại đạo là kiến đạo dứt.
Lại nữa, chẳng phải nhân chấp là nhân, là thấy khổ mà dứt.  Chẳng phải đạo, chấp là đạo, là kiến đạo dứt. Nghi do kiến khổ, tập, diệt, đạo dứt.
Hỏi: Vì sao trong tu đạo dứt không có nghi?
 Đáp: Nếu khi chưa thấy thể của đạo, tâm sinh do dự. Khi đã thấy  thể của đạo rồi, thì tâm sinh quyết định. Cho nên chỗ dứt của tu đạo  không có nghi.
Ba căn bất thiện, ba lậu, do thấy khổ mà dứt trừ, cho đến do tu  đạo dứt. Nói chung là năm thứ dứt. Hoặc có một thứ, hai thứ, bốn thứ,  năm thứ dứt, nghĩa là môn khác, nói rộng như kinh nầy. Môn nầy là  nói rộng Ưu-ba-đề-xá, Tỳ-bà-sa.

* Trang 734 *
device

 Hỏi: Vì sao gọi là kiến đạo dứt, cho đến gọi là tu đạo dứt?
 Đáp: Nếu duyên quyết định, đối trị quyết định, gọi là kiến đạo  dứt. Nếu duyên không quyết định, đối trị không quyết định thì gọi là tu  đạo dứt.
Lại nữa, nếu xứ sở quyết định, hoặc duyên quyết định, hoặc đối  trị quyết định, gọi là kiến đạo dứt. Nếu xứ sở không quyết định, duyên  không quyết định, đối trị không quyết định, thì gọi là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu dùng khổ nhẫn, khổ trí làm đối trị, cho đến đạo  nhẫn, đạo trí làm đối trị, gọi là kiến đạo dứt. Nếu dùng trí đối trị thì  gọi là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu thấy khổ mà dứt, gọi là thấy khổ mà dứt. Nếu kiến  đạo dứt, gọi là kiến đạo dứt. Nếu hoặc kiến khổ, hoặc kiến tập, hoặc  kiến diệt, hoặc kiến đạo dứt, thì gọi là tu đạo dứt.
Lại nữa, nếu trái với khổ, gọi là thấy khổ mà dứt, cho đến nếu  trái với đạo, gọi là kiến đạo dứt. Nếu trái với khổ, tập, diệt, đạo dứt,  gọi là tu đạo dứt.
?????

* Trang 735 *
device

Đại Tập 95 - Bộ Tỳ Đàm VII - Số 1546 (Quyển 1-40)