LOGO VNBET
 LUẬN A TỲ ĐÀM TỲ BÀ SA
 
QUYỂN 30
 
Chương 2: KIỀN-ĐỘ SỬ
 
Phẩm 1: BẤT THIỆN, Phần 6
 
 Năm người: Là Kiên tín, Kiên pháp, Tín giải thoát, Kiến đáo,  Thân chứng.
Người Kiên tín đối với ba kiết nầy, có bao nhiêu kiết thành tựu,  bao nhiêu kiết không thành tựu? Cho đến chín mươi tám sử, bao nhiêu  sử thành tựu, bao nhiêu sử không thành tựu? Cho đến Thân chứng, đối  với ba kiết nầy, có bao nhiêu kiết thành tựu, bao nhiêu kiết không  thành tựu? Cho đến chín mươi tám sử, có bao nhiêu sử thành tựu, bao  nhiêu sử không thành tựu?
 Hỏi: Vì sao Tôn giả kia, ở trong Kiền-độ Sử, do năm người mà  soạn luận, còn trong Kiền-độ Trí, Định lại do bảy người để soạn luận?
Đáp: Vì ý của người soạn luận kia muốn thế, cho đến nói rộng.  Lại nữa, Kiền-độ Sử nầy, do người có sử mà soạn luận. Còn  Kiền- độ Trí, Định do người có sử, không có sử, chỉ người có Trí, Định mới  soạn luận. Về có kiết nói cũng giống như thế.
Lại nữa, Tôn giả kia dùng con người làm chương, lấy phiền não  làm môn, người tuệ giải thoát, câu giải thoát, vì không có kiết nên  không lập môn. Trong Kiền-độ Trí, Định lấy con người làm chương,  lấy trí, định làm môn, người tuệ giải thoát, câu giải thoát, vì có trí,  định nên lập môn.
Do việc ấy, nên Tôn giả kia ở trong Kiền-độ Sử đã do năm người  để soạn luận, ở trong Kiền-độ Trí, Định đã do bảy người để soạn luận.
Bảy người: là Kiên tín, Kiên pháp, Tín giải thoát, Kiến đáo,  Thân chứng, Tuệ giải thoát, Câu giải thoát.
Thế nào là người Kiên tín? Giống như có một người cung kính  nhiều, tin nhiều, tịnh nhiều, ái nhiều, phần nhiều theo những pháp của

* Trang 761 *
device

  mình đã nghe hiểu biết rõ, không ưa tư duy, không lường xét nhiều,  không quan sát nhiều, không lựa chọn nhiều. Như ưa tin, cho đến phần  nhiều tùy pháp của mình đã nghe nhận hiểu rõ. Như nghe Phật và đệ  tử Phật giảng nói pháp, truyền dạy nói khổ, không, vô thường, vô ngã,  người kia sẽ nghĩ rằng: Chư vị đã có thể vì ta giảng nói khổ, không, vô  thường, vô ngã, thật là điều thích thú, ta nên tu hành pháp khổ, không,  vô thường, vô ngã!
Lúc người kia tu hành khổ, không, vô thường, vô ngã, có thể sinh  pháp Thế đệ nhất, kế là sinh khổ pháp nhẫn, biết các hành cõi Dục là  khổ, không, vô thường, vô ngã, cho đến đạo tỷ trí chưa sinh, gọi là  người Kiên tín. Người Kiên tín, hoặc chứng quả hướng Tu-đà-hoàn,  hoặc chứng quả hướng Tư-đà-hàm, hoặc chứng quả hướng A-na-hàm.  Nếu là ràng buộc đủ, hoặc dứt trừ năm thứ kiết, được chánh quyết  định, ở trong khoảng mười lăm tâm của kiến đạo, là người chứng quả  hướng Tu-đà-hoàn. Nếu đã dứt trừ sáu thứ kiết, cho đến dứt tám thứ  kiết, được chánh quyết định, ở trong khoảng mười lăm tâm của kiến  đạo, là người đã chứng quả hướng Tư-đà-hàm, lìa dục cõi Dục, cho  đến lìa dục của Vô sở hữu xứ, được chánh quyết định, ở trong khoảng  mười lăm tâm của kiến đạo, là người chứng quả hướng A-na-hàm.
Thế nào là người Kiên pháp? Giống như có một người tánh ưa tư  duy nhiều, lường xét nhiều, quán sát nhiều, lựa chọn nhiều, không ưa  tin nhiều, cho đến không ưa tùy pháp của mình đã nghe mà hiểu rõ.  Do tánh ưa tư duy nhiều, cho đến chọn lựa nhiều, nếu nghe Phật và đệ  tử Phật nói pháp truyền dạy, cho đến nói rộng như người Kiên tín, đó  gọi là người Kiên pháp.
Thế nào là người Tín giải thoát? Tức là người Kiên tín được Đạo  tỷ trí, bỏ tên gọi Kiên tín, được tên gọi Tín giải thoát.
Hỏi: Vì bỏ những gì?
 Đáp: Bỏ tên gọi được tên gọi, bỏ đạo được đạo. Bỏ tên gọi,  nghĩa là bỏ tên gọi Kiên tín. Được tên gọi nghĩa là được tên gọi Tín  giải thoát. Bỏ đạo là bỏ kiến đạo, được đạo là được tu đạo. Người Tín  giải thoát hoặc là Tu-đà-hoàn, hoặc là hướng Tư-đà-hàm, hoặc là Tư- đà-hàm, hoặc là hướng A-na-hàm, hoặc là A-na-hàm, hoặc là hướng  A-la-hán. Trụ quả Tu-đà-hoàn, không còn thắng tiến, gọi là Tu-đà- hoàn. Nếu thắng tiến gọi là hướng Tư-đà-hàm. Trụ quả Tư-đà-hàm  không thắng tiến, gọi là Tư-đà-hàm, nếu thắng tiến gọi là hướng quả  A-na-hàm. Nếu trụ quả A-na-hàm không thắng tiến, gọi là A-na-hàm,  nếu thắng tiến thì gọi là hướng quả A-la-hán.

* Trang 762 *
device

Thế nào là người Kiến đáo? Người Kiên pháp, được đạo tỷ trí,  bỏ tên gọi Kiên pháp, được tên gọi Kiến đáo.
Hỏi: Vì bỏ những gì, được những gì?
 Đáp: Bỏ tên gọi được tên gọi, bỏ đạo được đạo, cho đến nói  rộng, như người Tín giải thoát.
Thế nào là người thân chứng?
 Đáp: Nếu người do thân chứng tám giải thoát, chẳng phải do tuệ  dứt hết lậu khác, gọi là người thân chứng.
Thế nào là người tuệ giải thoát?
 Đáp: Nếu người không do thân chứng tám giải thoát, do tuệ dứt  hết lậu khác, đó gọi là người tuệ giải thoát.
Thế nào là người câu giải thoát?
 Đáp: Nếu người do thân chứng tám giải thoát, cũng dùng tuệ dứt  hết các lậu còn lại, đó gọi là người câu giải thoát.
Hỏi: Vì sao gọi là câu giải thoát?
 Đáp: Vì phiền não chướng là một phần, giải thoát chướng là một  phần, dứt trừ hai chướng nầy gọi là câu giải thoát.   Hỏi: Nếu được A-la-hán, sau được định diệt tận, khi lìa chướng  giải thoát, thì tâm hữu lậu được giải thoát hay tâm vô lậu được giải  thoát?   Đáp: Hoặc có thuyết nói: Tâm hữu lậu được giải thoát. Vì sao?  Vì khi không có tâm định nên được giải thoát.
Phê bình: Nên nói rằng: Tâm hữu lậu, tâm vô lậu được giải  thoát. Vì sao? Vì thân được giải thoát, thế gian được giải thoát. Nếu  lúc không được định diệt, tâm xuất định, nhập định không hiện hành ở  thân kia. Nếu đối với thân kia không hiện hành thì đối với thế gian  cũng không hiện hành. Nếu khi được định diệt, tâm nhập định, xuất  định, tức hiện hành ở trong thân. Vì hiện hành ở trong thân nên ở thế  gian cũng hiện hành. Như nói về nghĩa của người câu giải thoát, nghĩa  của người khác cũng nên nói như thế.
Hỏi: Vì sao gọi là người Kiên tín?
 Đáp: Vì người nầy dựa vào tín sinh tín, dựa vào tín hữu lậu sinh  tín vô lậu, dựa vào tín ràng buộc sinh Tín giải thoát, dựa vào tín lệ  thuộc sinh tín không lệ thuộc. Những người như thế với tánh tin nhiều,  nếu một lời nói: Nầy người nam! Ông nên làm ruộng, để tự nuôi sống.  Người kia nghe lời nói nầy, không nghĩ: là mình nên làm hay không  nên làm, có thể làm hay không thể làm? Có thích hợp hay không thích  hợp? Cứ nghe xong bèn làm.

* Trang 763 *
device

 Nếu lại nói với người đó: Nầy người nam! Ông nên buôn bán,  học tập binh pháp, gần bậc vua chúa, học thư, toán, số, lấy sự nghiệp  nầy để tự nuôi sống. Người đó không nghĩ rằng: Ta nên làm hay  không nên làm, có thể làm hay không thể làm, có thuận tiện hay  không thuận tiện, hễ vừa nghe xong là làm.
Nếu lại nói: Nầy người nam! Ông nên xuất gia! Người kia không  nghĩ rằng: Ta nên xuất gia hay không nên xuất gia? Là có thuận tiện  hay không thuận tiện? Có thể gìn giữ phạm hạnh hay không thể gìn  giữ phạm hạnh? Nghe nói rồi là xuất gia ngay. Xuất gia rồi nếu lại  nói: Tỳ-kheo! Ông nên khuyến hóa! Người kia không suy nghĩ đối với  việc khuyến hóa, ta có năng lực chăng? Có khả năng biện minh hay  không nghe nói xong là làm ngay.
Nếu lại nói: Tỳ-kheo! Thầy nên học, tụng tập! Người kia không  nghĩ là mình có khả năng làm việc, tụng tập hay không là nên tụng tập  Tu-đa-la, hay Tỳ-ni, hay A-tỳ-đàm? Nghe xong là tụng tập ngay.
Nấu lại nói: Tỳ-kheo! Thầy nên cư trú chốn A-luyện-nhã, hành  pháp A-luyện-nhã. Người ấy cũng không nghĩ rằng: Mình có thể hay  không thể? Nghe xong là làm ngay.
Do nhân duyên nầy chuyển biến gần Thánh đạo, người kia, vào  thời gian sau sinh pháp Thế đệ nhất, kế là sinh khổ pháp nhẫn, cho  đến khi chưa được đạo tỷ trí, đối với khoảng mười lăm tâm của kiến  đạo, đó gọi là người Kiên tín.
Hỏi: Vì sao gọi là người Kiên pháp?
 Đáp: Người nầy do pháp sinh pháp, do pháp thế gian sinh pháp  xuất thế gian, do pháp hữu lậu sinh pháp vô lậu, do pháp ràng buộc  sinh ra pháp không ràng buộc.
Những người như thế v.v... với bản tánh ưa suy nghĩ, cân nhắc,  nếu Lại có người nói: nầy anh! Anh nên cày ruộng, để tự nuôi sống.  Người kia bèn tư duy, cân nhắc: ta có thể làm hay không, có thích hợp  hay không? Nói rộng như người Kiên tín.
Thảy đều tư duy lường xét, do nhân duyên nầy, chuyển gần  Thánh đạo, người ấy về sau sinh ra pháp Thế đệ nhất, kế là sinh khổ  pháp nhẫn, cho đến khi chưa sinh đạo tỷ trí, ở trong khoảng mười lăm  tâm của kiến đạo, đó gọi là người Kiên pháp.
 Hỏi: Người Kiên tín có ngần ấy tín, cũng có ngần ấy tuệ. Người  Kiên pháp có ngần ấy tuệ, cũng có ngần ấy tín, vì sao một người gọi  Kiên tín, còn một người gọi là Kiên pháp?
Đáp: Hoặc tin vào lời nói của người khác mà vào Thánh đạo,

* Trang 764 *
device

  hoặc bên trong tự suy nghĩ mà nhập Thánh đạo. Nếu người do tin theo  lời người khác mà nhập Thánh đạo, thì gọi là người Kiên tín. Nếu bên  trong tự tư duy mà nhập Thánh đạo, thì gọi là người Kiên pháp.
Lại nữa, hoặc có người do định mà vào đạo Thánh, hoặc có  người do tuệ mà nhập đạo Thánh. Nếu người do định mà vào đạo  Thánh, gọi là Kiên tín. Nếu người do tuệ mà vào đạo Thánh thì gọi là  Kiên pháp. Như do định, do tuệ, định nhiều, tuệ nhiều, ưa định, ưa tuệ,  căn tánh chậm lụt, căn tánh nhạy bén, sức nghe pháp từ người khác,  dựa vào sức tư duy bên trong, gần thiện tri thức, nghe chánh pháp, bên  trong tự suy nghĩ, như pháp tu hành, trước dùng định tu tâm, sau được  tuệ giải thoát, trước dùng tuệ tu tâm, sau được định giải thoát. Hoặc có  người được định nội tâm, không được tuệ, hoặc có kẻ được tuệ, không  được định nội tâm, nghiêng nhiều về không tham, nghiêng nhiều về  không si, nói cũng giống như thế.
Hỏi: Vì sao gọi là Tín giải thoát?
 Đáp: Dùng tín quán tín, từ tín được tín. Dùng tín quán tín, nghĩa  là dùng tín của kiến đạo để quán tín của tu đạo.
Từ tín được tín: Từ tín của hướng đạo, được tín của quả đạo, đó  gọi là Tín giải thoát.
Lại nữa, người nầy do niềm tin, nên đối với ba kiết, tâm được  giải thoát, đó gọi là Tín giải thoát.
Hỏi: Vì sao gọi là Kiến đáo?
 Đáp: Vì người nầy dùng kiến đến kiến, dùng kiến của kiến đạo,  đến kiến của tu đạo, dùng kiến thuộc về hướng đạo để hướng đến kiến  thuộc quả đạo.
Lại nữa, người nầy do kiến, nên đối với ba kiết, tâm được giải  thoát, gọi là Kiến đáo.   Hỏi: Như Tín giải thoát cũng có thể nói là Tín đáo, như Kiến đáo  cũng có thể nói là Kiến giải thoát. Vì sao một nói là Tín giải thoát,  một nói là Kiến đáo?
 Đáp: Nên nói như nói Tín giải thoát, cũng nên nói là Tín đáo.  Như nói Kiến đáo, cũng nên nói là Kiến giải thoát, nhưng không nói là  có ý gì?
Đáp: Vì muốn biểu hiện các thứ văn, cho đến nói rộng.  
Hỏi: Vì sao gọi là thân chứng?
 Đáp: Nếu Tín giải thoát, hoặc Kiến đáo được định diệt, bỏ tên  gọi Tín giải thoát, Kiến đáo, được tên gọi thân chứng.
Là bỏ những gì, được những gì? Pháp sư nước ngoài đã nói rằng:

* Trang 765 *
device

Bỏ tên gọi được tên gọi, bỏ đạo được đạo. Bỏ tên gọi nghĩa là bỏ tên  gọi Tín giải thoát, Kiến đáo. Được tên gọi nghĩa là được tên gọi Thân  chứng. Bỏ đạo nghĩa là bỏ đạo Tín giải thoát, Kiến đáo. Được đạo  nghĩa là được đạo thân chứng.
Sa-môn nước Kế-tân nói rằng: Bỏ tên gọi được tên gọi, nghĩa là  bỏ tên gọi Tín giải thoát, Kiến đáo, được tên gọi thân chứng. Nếu  không được định diệt mà được quả A-la-hán, thì gọi là Tuệ giải thoát.  Nếu được định diệt, được quả A-la-hán, thì gọi là Câu giải thoát.
 Hỏi: Như trong kiến đạo có hai người: Kiên tín và Kiên pháp.  Trong Tu đạo có hai người: Tín giải thoát và Kiến đáo, vì sao trong  đạo Vô học chỉ nói một người?
 Đáp: Hoặc có khi dùng đạo thế tục, lìa dục cõi Dục, cho đến lìa  dục của Vô sở hữu xứ, hoặc dùng đạo vô lậu, nếu khi lìa dục của Phi  tưởng Phi phi tưởng xứ, hợp thành một đạo, nên chỉ nói một người.
Lại nữa, hoặc có người nghiêng về hành tham, hoặc có người thì  không, nếu khi lìa dục của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, trong thân  không có tham, vì đồng một tướng nên chỉ nói một người.
Lại nữa, hoặc có người nghiêng về hành si, hoặc có người không,  nếu khi lìa dục của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, trong thân không có si,  vì đồng một tướng, nên chỉ nói một người. Đối với người nghiêng về  hành mạn, nói cũng giống như thế.
Lại nữa, vì giải thoát bình đẳng, như nói: Như lai Đẳng Chánh  Giác, đã được giải thoát dứt hết lậu và giải thoát mà Tỳ-kheo A-la- hán đã chứng được, hai giải thoát nầy đều bình đẳng, không có khác  nhau.
Lại nữa, vì đều cùng trừ bỏ ngọn núi phiền não của ba cõi, đều  cùng không muốn hữu của vị lai và đều cùng mở ra đường ra khỏi sau  cùng.
Lại có thuyết nói: Địa Vô học cũng nói hai hạng người:
1.         Thời giải thoát.
2.         Bất thời giải thoát.
 Hỏi: Nếu vậy thì bậc Thánh sẽ có sáu: Kiến đạo có hai người  Kiên tín và Kiên pháp. Tu đạo có hai người: Tín giải thoát, Kiến đáo.  Đạo Vô học có hai: Thời giải thoát và bất thời giải thoát. Sao Luận Thi Thiết nói có bảy người?
Đáp: Vì năm việc, nên Luận Thi Thiết nói có bảy người:
1.         Do phương tiện.
2.         Do căn.
3.         Do định.

* Trang 766 *
device

 4.        Do giải thoát.
5.         Do định, do giải thoát.
Do phương tiện: Là Kiên tín, Kiên pháp.  
Do căn: Là Tín giải thoát, Kiến đáo.
Do định: Là thân chứng.
Do giải thoát: Là Tuệ giải thoát.
Do định, do giải thoát: Là Câu giải thoát.
Nên nói một người Kiên tín, như một người trong bảy người. Do  căn, nên nói ba người Kiên tín, nghĩa là căn thượng trung hạ. Do tánh  nên nói năm người Kiên tín, nghĩa là từ pháp lui sụt, cho đến tất thắng  tiến. Do đạo nên nói mười lăm người Kiên tín, nghĩa là từ Khổ pháp  nhẫn cho đến đạo tỷ nhẫn. Vì lìa dục, nên nói có bảy mươi ba người  Kiên tín: Cõi Dục có người ràng buộc đủ, có người lìa một thứ dục,  cho đến lìa chín thứ dục.
Sơ thiền lìa chín thứ dục, không có người ràng buộc đủ. Vì sao?  Vì đã lìa dục cõi Dục. Tức là ràng buộc đủ của Sơ thiền, cho đến lìa  một thứ dục cho đến chín thứ dục của Vô sở hữu xứ.
Thân là đối tượng nương dựa: Diêm-phù-đề có bảy mươi ba. Cù-  đà-di có bảy mươi ba. Phất Bà-đề có bảy mươi ba. Bốn Thiên vương  cho đến trời Tha Hóa Tự Tại, đều có bảy mươi ba. Nếu mỗi sát-na mỗi  thân, thì có vô lượng vô biên người Kiên tín. Trong đây nói chung là  một người Kiên tín. Người Kiên pháp nói cũng giống như thế, chỉ trừ  do tánh. Vì sao? Vì người ấy là tánh bất động.  Nên nói một hạng người Tín giải thoát, như một người trong bảy  người. Do căn nên nói ba, do tánh nên nói năm, do lìa dục nên nói tám  mươi hai.  Cõi Dục ràng buộc đủ, lìa một thứ dục cho đến lìa chín thứ dục,  cho đến lìa dục của Vô sở hữu xứ cũngnhư thế. Lìa một thứ dục của  Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, cho đến lìa tám thứ dục và khi dứt trừ dục  thứ chín.
Thân, đối tượng nương dựa: Ở cõi Dục có tám mươi hai Sơ thiền  có bảy mươi ba, đệ Nhị thiền có sáu mươi bốn, đệ Tam thiền có năm  mươi lăm, đệ Tứ thiền có bốn mươi sáu, Không xứ có ba mươi bảy,  Thức xứ có hai mươi tám, Vô sở hữu xứ có mười chín, Phi tưởng Phi  phi tưởng xứ có mười. Ràng buộc đủ dứt trừ tám thứ dục và khi dứt trừ  loại dục thứ chín, nếu do thân, do sát-na, thì có vô lượng vô biên Tín  giải thoát. Ở đây nói chung là một người Tín giải thoát. Như Tín giải  thoát, Kiến đáo nói cũng giống như thế, chỉ trừ do tánh. Vì sao? Vì  người ấy là tánh

* Trang 767 *
device

  bất động. Nên nói là một người thân chứng, như một người trong bảy người. Vì căn nên nói là ba, vì tánh nên nói sáu, vì lìa dục nên nói mười.
Phi tưởng Phi phi tưởng xứ ràng buộc đủ, lìa một thứ dục, cho  đến lìa tám thứ dục và khi dứt trừ loại dục thứ chín.
Thân là đối tượng nương dựa: Cõi Dục có chín, cõi Sắc có chín,  cõi Vô sắc có chín. Nếu do thân, do sát-na thì sẽ có vô lượng, vô biên.  Trong đây nói chung là một người thân chứng. Nên nói một người Tuệ  giải thoát, như một người trong bảy người, do căn nên nói ba, do tánh  nên nói sáu. Thân là đối tượng nương dựa: Có ba, dựa vào thân cõi  Dục, thân cõi Sắc, thân cõi Vô sắc. Nếu ở thân, do sát- na nên có vô  lượng vô biên. Ở đây nói chung là một người Tuệ giải thoát. Câu giải  thoát cũng giống như thế.
Người Kiên tín đối với ba kiết nầy, có bao nhiêu kiết thành tựu,  bao nhiêu kiết không thành tựu? Trước đã nói rằng: Tôn giả kia dùng  người làm chương, dùng phiền não làm môn. nay muốn dùng môn  phiền não để nói về người.
Người Kiên tín, khổ tỷ trí chưa sinh, đối với ba kiết nầy, tất cả  thành tựu, hoặc sinh hai thành tựu, là giới thủ và nghi, một không  thành tựu là thân kiến, phần còn lại nói rộng như kinh nầy. Cho đến lìa  ái sắc, diệt tỷ trí sinh cõi Dục, cõi Sắc, tất cả không thành tựu và chỗ  dứt của khổ, tập, diệt cõi Vô sắc, tất cả không thành tựu, pháp còn lại  là thành tựu.
Hỏi: Vì sao không nói đạo tỷ trí?
 Đáp: Nếu đạo tỷ trí sinh thì gọi là Tín giải thoát. Như Kiên tín,  Kiên pháp cũng giống như thế. Vì sao? Vì hai thứ nầy địa bình đẳng,  đạo bình đẳng, lìa dục bình đẳng, thân nương dựa bình đẳng, định bình  đẳng, nơi sinh bình đẳng, chỉ căn là có khác nhau. Nếu người căn tánh  chậm lụt gọi là Kiên tín, người căn tánh nhạy bén gọi là Kiên pháp.
Người Tín giải thoát đối với ba kiết nầy, tất cả không thành tựu,  nói rộng như kinh nầy. Như Tín giải thoát, Kiến đáo cũng giống như  thế. Vì sao? Vì hai người nầy địa đồng nhau, đạo đồng nhau, lìa dục  ngang bình đẳng, thân đối tượng nương dựa đồng nhau, định bình  đẳng, nơi sinh đồng nhau, chỉ có căn là khác nhau. Nếu người căn tánh  chậm lụt, gọi là Tín giải thoát, nếu người có căn tánh nhạy bén, gọi là  Kiến đáo.  
Người thân chứng đối với ba kiết nầy, tất cả không thành  tựu. Phần còn lại nói rộng như kinh nầy. Ở đây, nên lập luận.
Có bậc Thánh nào thành tựu chín mươi tám sử hay không?

* Trang 768 *
device

Đáp: Có. Người ràng buộc đủ, lúc trụ trong khổ pháp nhẫn.
Có người nào dứt tám mươi tám sử, không dứt mười sử mà không  được quả hay chăng?
 Đáp: Có. Người đã lìa sắc ái, được chánh quyết định, lúc diệt tỷ  trí, ba mươi sáu sử cõi Dục đã dứt, ba mươi mốt sử cõi Sắc, hai mươi  mốt sử, chỗ dứt trừ của khổ, tập, diệt đế cõi Vô sắc. Mười không dứt,  nghĩa là bảy sử, chỗ dứt của đạo đế ở cõi Dục, ba sử, chỗ dứt của Tu  đạo, người kia không được quả. Vì sao? Vì là hướng đạo.
Có khi nào chín mươi tám sử được dứt mà chẳng phải A-la-hán  chăng?
 Đáp: Có. Lìa dục của Vô sở hữu xứ, chưa lìa dục của Phi tưởng  Phi phi tưởng xứ, ba mươi sáu sử cõi Dục đã dứt, ba mươi mốt sử cõi  Sắc, ba mươi mốt sử cõi Vô sắc, Không xứ, Thức xứ, vô sở hữu xứ,  người đó chẳng phải A-la-hán. Vì sao? Vì người phàm phu cũng dứt.
Phê bình: Không nên lập luận như thế. Vì sao? Vì giới, nên lập  phiền não, không do địa.
Thân kiến, đối với thân kiến có bao nhiêu duyên?  
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Vì duyên không có tự thể, như phái Thí  dụ giả nói: Vì sao người kia nói như thế?
 Đáp: Vì người kia dựa vào kinh Phật. Kinh Phật nói: Vô minh  duyên hành, vô minh là hành của một tướng.
Là ngần ấy tướng, làm sao pháp của một tướng làm duyên cho  ngần ấy tướng?
Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Các sư đã nói: Duyên chỉ có danh mà  không có tự thể.
Vì ngăn dứt ý của thuyết như thế, cũng nói duyên có thật thể.  Nếu duyên không có tự thể, thì tất cả các pháp cũng không có tự thể.  Vì sao? Vì tất cả pháp hữu vi đều là nhân duyên, duyên Thứ đệ, trừ  tâm sau cùng của A-la-hán ở quá khứ, hiện tại, còn lại là tất cả pháp  tâm, tâm sở ơ quá khứ, hiện tại. Duyên cảnh giới, duyên oai thế, là tất  cả pháp.  Lại nữa, nếu duyên không có thể, thì tất cả các pháp đều không  có nghĩa sâu xa. Nếu các pháp không dùng tướng duyên để quán sát  thì cạn, gần dễ nhận biết. Ngược lại, nếu dùng tướng duyên để quán  sát các pháp, thì chúng sâu hơn bốn biển, chỉ có trí Phật mới biết được,  người khác chẳng thể biết.
Lại nữa, nếu duyên không có tự thể, thì không lập ba thứ Bồ-đề.  Nếu dùng trí phẩm thượng để quán sát tướng duyên, thì gọi là Bồ-đề

* Trang 769 *
device

của Phật. Nếu dùng trí phẩm trung để quan sát thì gọi là Bồ-đề của  Bích-chi Phật. Nếu dùng trí phẩm hạ, thì gọi là Bồ-đề của Thanh văn.
Lại nữa, nếu duyên không có tự thể, thì sẽ không có sự khác  nhau giữa giác ngộ thượng, trung, hạ. Người giác ngộ phẩm hạ thường  là giác phẩm hạ. Người giác ngộ phẩm trung thường là giác phẩm  trung. Người giác phẩm thượng, thường là giác phẩm thượng. Vì quán  tướng duyên, nên giác bực hạ có thể khiến thành bực trung, giác bậc  trung thành bậc thượng. Cho nên, Tôn giả Cù-sa nói: Nếu duyên  không có tự thể, thì thầy không thể dạy trao cho đệ tử, khiến tánh giác  tăng rộng. Do duyên có tự thể nên thầy dạy đệ tử, giác bậc hạ thành  bậc trung, giác bậc trung thành bậc thượng, xưa là học trò, về sau làm  thầy.
Vì việc nầy, nên biết duyên thật sự có thể tướng.
 Hỏi: Nếu duyên thật sự có thể, thì kinh do phái Thí Dụ giả nói,  làm sao hiểu?
 Đáp: Thể của vô minh dù là một tướng, nhưng đối tượng tác  động có ngần ấy, do có ngần ấy nghĩa môn nên làm duyên cho hành.  Giống như một người có năm khả năng, tuy là một mà có năm khả  năng, vô minh kia cũng giống như thế.
Lại nữa, sở dĩ soạn luận nầy là vì muốn tỏ bày tánh của tất cả  pháp hữu vi đều yếu kém, không có tự lực, do người khác, không tự  tại, không muốn tạo tác, nên soạn luận nầy.
Hoặc có thuyết nói: Tự tánh của pháp hữu vi yếu kém.
Hoặc có thuyết nói: Do nhân duyên sinh yếu kém, nên tánh yếu  kém, như nói: Tỳ-kheo phải biết! Sắc là vô thường, nhân duyên có thể  sinh ra sắc cũng là vô thường. Nhân duyên sinh, sắc, làm sao là  thường? Vì tánh của pháp hữu vi yếu kém: Hoặc có pháp từ bốn duyên  sinh, ba duyên sinh, hai duyên sinh, cho đến không có từ một duyên  nào sinh, huống chi là không có duyên. Như đa số người bệnh ốm yếu,  hoặc cần bốn người dìu đỡ, hoặc cần ba người, hoặc cần hai người, cho  đến không có một người nào dìu đỡ, huống chi là không người nâng đỡ  mà người bệnh có thể đứng dậy? Vô minh kia cũng giống như thế.
Không có tự lực, nghĩa là không còn thế dụng của sức mình mà  có thể sinh.
Do người khác: Nghĩa là nếu không có tự lực, thì gọi là do người  khác.  Không tự tại: Là chớ để cho Ngã sinh, chớ để cho ngã diệt,  không được tự tại.
Không có điều muốn tạo tác, nghĩa là không có tâm muốn làm  như

* Trang 770 *
device

thế, ai làm cho ta, ta sẽ làm, đâu muốn bày tỏ tánh của các pháp là  yếu kém. Cho đến vì không có điều muốn làm, nên soạn luận nầy.
Lại nữa, sở dĩ soạn luận như thế là vì muốn ngăn lỗi của pháp  duyên khởi. Hoặc cho rằng: Pháp duyên chỉ vô minh duyên hành, cho  đến sinh duyên già chết, lại không còn có pháp duyên khởi. Vì muốn  khiến cho nghĩa nầy được quyết định, nếu pháp từ duyên sinh, tức là  duyên khởi. Trong đây, nên nói dụ của Tăng-già-bà-tu.
Cho nên, vì muốn ngăn nghĩa của người khác, và hiển bày nghĩa  của mình, cho đến nói rộng.
Hỏi: Thân kiến đối với thân kiến, có bao nhiêu duyên?  
Đáp: Hoặc có bốn, ba, hai, một duyên.
 Hỏi: Vì sao Tôn giả kia soạn luận? Trong đây hỏi thân kiến đối  với thân kiến có bao nhiêu duyên?
 Đáp: Hoặc có bốn, ba, hai, một duyên. Như Kiền-độ Trí hỏi:  Pháp trí đối với Pháp trí có mấy duyên?  
Đáp: Nhân duyên, duyên thứ  đệ, duyên cảnh giới, duyên oai thế.
Vì ý của người soạn luận muốn thế, cho đến nói rộng.
Lại nữa, vì bày tỏ hai môn, hai tóm lược, cho đến nói rộng.  Thân kiến nầy đối với thân kiến có bao nhiêu duyên?
Đáp: Hoặc có bốn, ba, hai, một duyên.
 Hỏi: Pháp trí đối với pháp trí có bao nhiêu duyên? Lẽ ra cũng  giống như thế?
Đáp: Hoặc có bốn, ba, hai, một duyên. Pháp trí kia đối với pháp trí có bao nhiêu duyên?
 Đáp: Nhân duyên duyên thứ đệ, duyên cảnh giới, duyên oai thế.  Trong đây, thân kiến đối với thân kiến có bao nhiêu duyên, cũng nên  đáp như thế nầy: Nhân, thứ lớp, cảnh giới, oai thế.
Lại nữa, thuyết nầy là liễu nghĩa, thuyết kia chưa liễu nghĩa, cho  đến nói rộng. Thuyết nầy là thật đế, thuyết kia là thế đế.
Lại nữa, trong đây phân biệt bốn pháp.
1.         Phân biệt cõi.
2.         Phân biệt đời.
3.         Phân biệt sát-na.
4.         Phân biệt thứ lớp.
Thuyết kia chỉ phân biệt thứ lớp.
Thân kiến đối với thân kiến có bao nhiêu duyên?
 Đáp: Hoặc có bốn, ba, hai, một duyên, bốn duyên ấy là: Thân  kiến theo thứ lớp sinh thân kiến, tức duyên theo thân kiến đã sinh  trước.

* Trang 771 *
device

 Thân kiến đã sinh trước làm bốn duyên cho thân kiến sau, đó là nhân,  duyên thứ đệ, duyên cảnh giới, duyên oai thế. Như sát-na của một  thân kiến, kế sau, là sinh sát-na của thân kiến thứ hai. Nếu thân kiến  sinh sau duyên với thân kiến sinh trước, thì thân kiến sinh trước sẽ làm  bốn duyên cho thân kiến sinh sau, đó là nhân duyên, duyên thứ đệ,  duyên cảnh giới và oai thế.
Nhân duyên: Có hai nhân, là nhân tương tự và nhân nhất thiết biến.
Duyên Thứ đệ: Thân kiến sinh sau, kế là sinh sau của thân kiến trước.
Duyên cảnh giới: Thân kiến sinh sau, tức duyên theo thân kiến  đã sinh trước.
Nhân duyên: như pháp chủng tử.
Duyên Thứ đệ, như pháp mở mang, dẫn dắt.  
Duyên cảnh giới, như cách chống gậy đứng dậy.
Duyên oai thế, là pháp không chướng ngại nhau. Thân kiến sinh  sau vì thọ nhận oai thế bốn duyên của thân kiến sinh trước, nên có thể  chuyển vận ở đời, có thể nhận lấy quả, có thể có chỗ tạo tác có thể  biết cảnh giới.
Thế nào là ba?
 Đáp: Như thân kiến, theo thứ lớp sinh thân kiến, không duyên  với thân kiến trước. Thân kiến sinh trước đối với thân kiến sau là  nhân, thứ lớp, duyên oai thế, không có duyên cảnh giới. Như sát-na  của một thân kiến, kế sinh sát na của thân kiến thứ hai sinh, thân kiến  sinh sau dù không duyên với thân kiến sinh trước, nhưng hoặc duyên  theo sắc ấm, hoặc duyên thọ ấm, hoặc duyên tưởng ấm, hoặc duyên  thức ấm, trừ thân kiến, hoặc duyên với hành ấm còn lại. Thân kiến  sinh trước làm ba duyên cho thân kiến sinh sau, Thứ đệ, Oai thế,  không có duyên cảnh giới.
Nhân duyên: Có hai nhân: Nhân tương tự, Nhân nhất thiết biến.
Duyên Thứ đệ: Thân kiến sinh sau, thứ lớp sinh sau thân kiến  trước.
Không có cảnh giới do không duyên với thân kiến trước.  
Nhân duyên: Như pháp chủng tử.
Duyên Thứ đệ: như pháp mở mang, dẫn dắt.
Duyên oai thế: Là pháp không chướng ngại. Thân kiến sinh sau,  vì thọ nhận ba duyên của thân kiến trước, nên có thể hành ở đời, có  thể nhận lấy quả, có thể có sở tác, có thể biết duyên, có thể biết cảnh

* Trang 772 *
device

 giới.
Lại có ba duyên: Như thân kiến theo thứ lớp sinh tâm không  tương tự, sau lại sinh thân kiến, tức duyên với thân kiến trước, thân  kiến đã sinh trước và thân kiến sinh sau là nhân duyên duyên cảnh  giới, duyên oai thế, không có duyên thứ đệ. Như sau một sát-na của  thân kiến, bất sinh thân kiến của sát-na thứ hai, hoặc sinh biên kiến,  hoặc sinh tà kiến, hoặc sinh giới thủ, hoặc sinh kiến thủ, hoặc sinh  nghi, hoặc sinh ái, giận, mạn, vô minh, hoặc sinh thiện hữu lậu, tâm vô  ký không ẩn một, lại sinh thân kiến, tức duyên với thân kiến sinh  trước. Thân kiến đã sinh trước làm ba duyên cho thân kiến sinh sau,  nghĩa là nhân duyên duyên cảnh giới, duyên oai thế, không có duyên  thứ đệ, vì sinh tâm không tương tự.
Duyên cảnh giới: Vì duyên với thân kiến trước, nên thân kiến  sinh sau sẽ thọ nhận thế dụng của ba duyên thân kiến sinh trước, nên  có thể hành ở đời, cho đến nói rộng.
Thế nào là hai? Như thân kiến theo thứ lớp sinh tâm không tương  tự. Thân kiến sinh sau không duyên với thân kiến sinh trước. Thân  kiến sinh trước đối với thân kiến sinh sau là nhân duyên, duyên oai  thế, không có duyên cảnh giới, duyên thứ đệ. Như sau một sát-na của  thân kiến, không sinh sát-na của thân kiến thứ hai, hoặc sinh biên  kiến, cho đến sinh tâm thiện, vô ký không ẩn một, lại sinh thân kiến,  dù không duyên với thân kiến trước, hoặc duyên sắc ấm cho đến thức  ấm, trừ thân kiến, cũng duyên với hành ấm còn lại. Thân kiến sinh  trước làm hai duyên cho thân kiến sinh sau là Nhân duyên, Duyên oai  thế.
Nhân duyên: Có hai nhân, là nhân tương tự và nhân Nhất thiết biến.
Duyên oai thế: Vì không có chướng ngại, không có duyên cảnh giới, vì không duyên với thân kiến trước. Không có duyên Thứ đệ, vì  thân kiến sinh sau, không theo thứ lớp sinh sau thân kiến trước. Thân  kiến sinh sau, thọ nhận thế dụng nơi hai duyên của thân kiến trước,  nên có thể hiện hành ở đời, nói rộng như trên.
Thế nào là một? Thân kiến sinh sau, đối với thân kiến sinh trước,  nếu duyên là Duyên cảnh giới, duyên oai thế. Nếu không duyên thì  chỉ một Duyên oai thế.
Hỏi: Vì sao hỏi một duyên mà đáp hai duyên?
 Đáp: Các luận sư soạn luận, hoặc có khi tránh lỗi trước, rồi mới  đáp, có khi đáp trước rồi mới tránh lỗi.
Tránh lỗi trước, rồi mới đáp: Như thuyết nầy: Thân kiến sinh sau,

* Trang 773 *
device

đối với thân kiến sinh trước, nếu tạo ra cảnh giới tức là duyên cảnh  giới, duyên oai thế. Đó gọi là tránh lỗi, không tạo ra cảnh giới thì chỉ  một duyên oai thế, đó gọi là đáp.
 Đáp trước, rồi mới tránh lỗi: Như phẩm Nhất Hành nói: Nếu sinh  trước không dứt là lệ thuộc. Đó gọi là đáp. Nếu trước không sinh, sinh  nghĩa là đã dứt, là không lệ thuộc. Đó gọi là tránh lỗi.
Lại có thuyết nói: Đó gọi là đáp, không gọi là tránh lỗi, thân  kiến hoặc có một duyên, hoặc có hai duyên. Thân kiến vị lai đối với  thân kiến quá khứ, hiện tại, nếu tạo ra cảnh giới là duyên cảnh giới,  duyên oai thế. Nếu không tạo cảnh giới thì chỉ một duyên oai thế.  Thân kiến vị lai, hiện tại, đối với thân kiến quá khứ, nếu tạo ra cảnh  giới là duyên cảnh giới, duyên oai thế. Nếu không tạo ra cảnh giới, thì  chỉ một duyên oai thế. Nếu thân kiến quá khứ duyên theo thân kiến vị  lai, hiện tại, nên sinh, thân kiến vị lai, hiện tại đối với thân kiến quá  khứ, tạo ra hai duyên là duyên cảnh giới, duyên oai thế. Nếu thân  kiến quá khứ không duyên theo thân kiến vị lai, hiện tại mà sinh, thì  thân kiến vị lai, hiện tại đối với thân kiến quá khứ, sẽ tạo ra một  Duyên oai thế.
 Hỏi: Như các việc thân kiến tạo tác đã xong, không còn có khả  năng, vì sao nói như thế? Nếu duyên tạo ra duyên cảnh giới, Duyên  oai thế, nếu không duyên thì chỉ một Duyên oai thế?
 Đáp: Thân kiến quá khứ lúc ở đời hiện tại, duyên với thân kiến  vị lai, duyên rồi diệt mất, rơi vào quá khứ. Mặc dù diệt, rơi vào quá  khứ, nhưng lại không có chỗ tạo tác, tức do chỗ tạo tác trước mà nói.  Thân kiến cõi Dục đối với thân kiến cõi Sắc, chỉ một Duyên oai thế,  không có nhân duyên. Vì sao? Vì địa, do cõi, vì nhân đều khác, nên  không có duyên Thứ đệ. Vì sao? Vì không có tâm nhiễm ô, nên sau  khi qua đời sẽ sinh lên địa trên.
Không có duyên cảnh giới. Vì sao? Vì không duyên với phiền  não phẩm hạ. Có duyên oai thế, vì không chướng ngại nhau.
Thân kiến cõi Sắc đối với thân kiến cõi Dục, nếu tạo tác theo thứ  lớp, là duyên Thứ đệ, Duyên oai thế. Nếu không tạo tác theo thứ lớp,  thì chỉ một Duyên oai thế.
Trụ nơi thân kiến cõi Sắc, qua đời với tâm, do tâm đều có của  thân kiến cõi Dục, nên đã khiến cho sự sinh nối tiếp nhau.
Thân kiến cõi Sắc đối với thân kiến cõi Dục tạo ra hai duyên là  duyên Thứ đệ và Duyên oai thế.  Duyên Thứ đệ: Do thân kiến cõi Dục, kế là thân kiến cõi Sắc sinh sau.

* Trang 774 *
device

Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.
Không có nhân duyên. Vì sao? Vì địa, do cõi, vì nhân đều khác.  
Không có duyên cảnh giới, vì thân kiến không duyên cõi khác.
Nếu trong cõi Sắc, không trụ nơi thân kiến qua đời với tâm, do  tâm đi chung của thân kiến cõi Dục, khiến cho sự sinh nối tiếp nhau.
Thân kiến cõi Sắc đối với thân kiến cõi Dục có một duyên oai  thế, không có duyên Thứ đệ. Có duyên oai thế như trên đã nói.
Thân kiến cõi Dục đối với thân kiến cõi Sắc, có một duyên oai thế.
Thân kiến cõi Vô sắc đối với thân kiến cõi Dục, nếu tạo tác theo thứ lớp thì có duyên Thứ đệ, duyên oai thế, nếu không tạo tác theo thứ  lớp thì có một duyên oai thế, nói rộng như trên.
Thân kiến cõi Sắc đối với thân kiến cõi Vô sắc có một duyên là  duyên oai thế. Thân kiến cõi Vô sắc đối với thân kiến cõi Sắc, nếu tạo  tác theo thứ lớp thì có duyên Thứ đệ, Duyên oai thế. Nếu không tạo ra  theo thứ lớp, thì chỉ một Duyên oai thế, nói rộng như trên. Như thân  kiến đối với thân kiến, thân kiến đối với không Nhất thiết biến, không  nhất thiết biến đối với không nhất thiết biến, không nhất thiết biến đối  với nhất thiết biến, nghĩa là phẩm hạ đối với phẩm thượng, phẩm  thượng đối với phẩm hạ. Vì sao? Vì trong đây nói giới khác duyên với  nhất thiết biến là Nhất thiết biến.
Nói tóm lại, sử có mười thứ: Năm kiến, nghi, ái, giận, mạn, vô  minh. Mười sử nầy, năm là Nhất thiết biến, năm chẳng phải nhất thiết  biến.
Năm sử là nhất thiết biến: Tà kiến, kiến thủ, giới thủ, nghi, vô  minh.
Năm sử chẳng phải nhất thiết biến: Thân kiến, biên kiến, ái,  giận, mạn. Văn nầy nói: Giới khác duyên với nhất thiết biến. Thân  kiến, biên kiến ở trong không nhất thiết biến. Như thân kiến đối với  thân kiến như thế, thân kiến đối với không nhất thiết biến, là như thân  kiến đối với biên kiến, đối với ái, đối với giận, đối với mạn. Đó gọi là  thân kiến đối với không nhất thiết biến, không nhất thiết biến đối với  không nhất thiết biến là như biên kiến đối với biên kiến, đối với ái,  đối với giận, đối với mạn, đối với thân kiến. Ái đối với ái, đối với  giận, đối với mạn, đối với biên kiến, đối với thân kiến. Giận đối với  giận, đối với mạn, đối với ái, đối với thân kiến, đối với biên kiến.  Mạn đối với mạn, đối với thân kiến, đối với biên kiến, đối với ái, đối  với giận. Đó gọi là không nhất thiết biến đối với không nhất thiết  biến. Không nhất thiết biến đối với

* Trang 775 *
device

nhất thiết biến là như thân kiến đối với tà kiến, đối với kiến thủ, đối  với giới thủ, đối với nghi, đối với vô minh.
Như thân kiến, biên kiến, ái, giận, mạn, nói cũng giống như thế.
Đó gọi là không nhất thiết biến đối với nhất thiết biến.  
Thân kiến đối với giới thủ có bao nhiêu duyên?
 Đáp: Hoặc có bốn, ba, hai, một duyên. Thế nào là bốn duyên?  Như thân kiến theo thứ lớp sinh giới thủ, tức duyên theo thân kiến,  thân kiến sinh trước đối với giới thủ sinh sau là nhân duyên, duyên thứ  đệ, Duyên cảnh giới, duyên oai thế. Như sau sát-na của một thân kiến,  theo thứ lớp sinh sát-na của giới thủ. Nếu giới thủ sinh sau duyên theo  thân kiến trước, thì thân kiến sinh trước sẽ làm bốn duyên cho giới thủ  sinh sau, là có duyên: nhân, thứ lớp, cảnh giới, oai thế.
Nhân duyên có hai nhân: Nhân tương tự và nhân nhất thiết biến.  
Duyên Thứ đệ: Giới thủ, kế là thân kiến sinh sau.
Duyên cảnh giới: Giới thủ sinh sau vì duyên với thân kiến trước  nên sinh.
Nhân duyên: Như pháp chủng tử, cho đến duyên oai thế, là pháp  không chướng ngại nhau. Giới thủ sinh sau, thọ nhận thân kiến trước.  Vì thế dụng của bốn duyên nên có thể chuyển vận ở đời, nói rộng như  trên.
Thế nào là ba duyên?
 Đáp: Như thân kiến theo thứ lớp sinh giới thủ, không duyên với  thân kiến. Thân kiến sinh trước đối với giới thủ sinh sau là các duyên  nhân, thứ lớp, oai thế, không có duyên cảnh giới. Như sau sát-na của  một thân kiến, theo thứ lớp sinh sát-na của giới thủ. Mặc dù giới thủ  không duyên với thân kiến, hoặc duyên với sắc ấm, cho đến thức ấm,  hoặc duyên với hành ấm còn lại của thân kiến còn lại. Thân kiến sinh  trước đối với giới thủ sinh sau có ba duyên, không có duyên cảnh giới.  Nhân duyên: Có hai nhân: Nhân tương tự và nhân nhất thiết biến.
Duyên Thứ đệ: Giới thủ sinh sau, kế là thân kiến sinh trước là sinh sau.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.
Không có duyên cảnh giới: Giới thủ sinh sau, vì không duyên với thân kiến trước nên giới thủ sinh sau, thọ nhận thế dụng nơi ba duyên  của thân kiến sinh trước, nên có thể hiện hành ở đời, nói rộng như  trên.
Lại có ba duyên, hai duyên, một duyên, nói rộng như thân kiến.

* Trang 776 *
device

 Thân kiến cõi Dục đối với giới thủ cõi Sắc, có một duyên oai thế, nói  rộng như trên.
Thân kiến cõi Sắc đối với giới thủ cõi Dục, nếu tạo tác theo thứ  lớp, không tạo tác cảnh giới, có duyên Thứ đệ, duyên oai thế. Như trụ  nơi thân kiến cõi Sắc qua đời với tâm, do tâm đi chung của giới thủ cõi  Dục, khiến cho sự sinh nối tiếp nhau. Giới thủ cõi Dục không duyên  với thân kiến cõi Sắc, thân kiến cõi Sắc đối với giới thủ cõi Dục có  duyên Thứ đệ, duyên oai thế, nếu tạo cảnh giới, không tạo thứ lớp thì  có duyên cảnh giới, duyên oai thế. Nếu không trụ nơi thân kiến cõi  Sắc, qua đời, với tâm, thì với tâm đều cùng có của giới thủ cõi Dục, sẽ  làm cho sự sinh nối tiếp nhau, tức duyên với thân cõi Sắc. Thân kiến  cõi Sắc đối với giới thủ cõi Dục có hai duyên là duyên cảnh giới,  duyên oai thế. Nếu tạo ra duyên thứ đệ, duyên cảnh giới, duyên oai  thế, thì có duyên thứ lớp, cảnh giới, oai thế. Như trụ nơi thân kiến cõi  Sắc, qua đời với tâm, giới thủ cõi Dục với tâm đều cùng có, khiến cho  sự sinh nối tiếp nhau.
Giới thủ cõi Dục, tức duyên với thân kiến cõi Sắc. Thân kiến cõi  Sắc đối với giới thủ cõi Dục có ba duyên: Duyên thứ lớp, Cảnh giới,  oai thế.
Duyên Thứ đệ: Giới thủ cõi Dục, kế là sinh sau thân kiến cõi Sắc.
Duyên cảnh giới: Giới thủ cõi Dục vì duyên với thân kiến cõi Sắc nên sinh.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.
Không có nhân duyên, do giới, do địa, vì nhân đều khác. Nếu  không tạo ra duyên thứ lớp, không tạo ra duyên cảnh giới, thì chỉ một  duyên oai thế. Nếu không trụ nơi thân kiến cõi Sắc qua đời, với tâm,  do giới thủ cõi Dục, với tâm đều cùng có, khiến cho sự sinh nối tiếp  nhau. Vì không duyên với thân kiến cõi Sắc để sinh, thân kiến cõi Sắc  đối với giới thủ cõi Dục, có một duyên oai thế, không có nhân duyên,  do giới, do địa, nhân đều khác.
Không có duyên thứ đệ, do không kế sinh sau thân kiến cõi Sắc.  Không có duyên cảnh giới, vì không duyên theo thân kiến cõi Sắc. Do  không chướng ngại nhau, nên chỉ một duyên là duyên oai thế.
Thân kiến cõi Dục đối với giới thủ cõi Vô sắc là một duyên oai  thế. Thân kiến cõi Vô sắc đối với giới thủ cõi Dục, nói rộng như trên.
Thân kiến cõi Sắc đối với giới thủ cõi Vô sắc, nói rộng như trên.  
Thân kiến cõi Vô sắc đối với giới thủ cõi Sắc, nói rộng như trên. Như

* Trang 777 *
device

 thân kiến đối với giới thủ, đối với tà kiến, đối với kiến thủ, đối với  nghi, đối với vô minh, nói cũng giống như thế. Đó gọi là thân kiến đối  với nhất thiết biến. Nhất thiết biến đối với nhất thiết biến: Nghĩa là  như tà kiến đối với tà kiến, đối với kiến thủ, đối với giới thủ, đối với  nghi, đối với vô minh. Kiến thủ đối với kiến thủ, đối với giới thủ, đối  với nghi, đối với vô minh, đối với tà kiến.
Giới thủ đối với giới thủ, đối với nghi, đối với vô minh, đối với tà  kiến, đối với kiến thủ. Nghi đối với nghi, đối với vô minh, đối với tà  kiến, đối với kiến thủ, đối với giới thủ. Vô minh đối với vô minh, đối  với tà kiến, đối với kiến thủ, đối với giới thủ, đối với nghi. Đó gọi là  nhất thiết biến đối với nhất thiết biến.
Không nhất thiết biến đối với nhất thiết biến, như thân kiến đối  với giới thủ, đối với tà kiến, đối với kiến thủ, đối với nghi, đối với vô  minh cũng giống như thế. Như thân kiến, biên kiến, ái, giận, mạn, nói  cũng giống như thế. Đó gọi là không nhất thiết biến đối với nhất thiết  biến.
Nếu hỏi về các pháp gồm nhiếp, nên dùng nhập để quán sát.  Nếu hỏi về trí, nên dùng đế để quán sát. Nếu hỏi về thức, nên dùng  giới để quán sát. Nếu hỏi về phiền não, nên dùng chủng để quán sát.
Nếu quán sát như thế, thì thể tướng của pháp sẽ dễ biết, dễ thấy.  Trong đây, hỏi về phiền não, nên dùng chủng loại để quán sát. Pháp  có năm loại: Loại do thấy khổ mà dứt, cho đến loại do tu đạo dứt. Chỗ  dứt của kiến khổ có hai thứ:
1.         Nhất thiết biến.
2.         Không Nhất thiết biến.
Chỗ dứt của kiến tập cũng giống như thế. Chỗ dứt của kiến diệt  có hai thứ:
1.         Duyên hữu lậu.
2.         Duyên vô lậu.
Chỗ dứt của kiến đạo cũng giống như thế. Chỗ dứt của tu đạo  chẳng phải Nhất thiết biến. Chỗ dứt của kiến khổ là Nhất thiết biến.  Đối với Nhất thiết biến, mà kiến khổ dứt trừ là nhân duyên, duyên  Thứ đệ, Duyên cảnh giới, Duyên oai thế.
Nhân duyên: Có bốn nhân: Nhân tương ưng, Nhân cộng sinh,  Nhân tương tự, Nhân Nhất thiết biến.
Duyên Thứ đệ: Nhất thiết biến, chỗ dứt của kiến khổ, theo thứ  lớp sinh Nhất thiết biến, chỗ dứt của kiến khổ.
Duyên cảnh giới: Nhất thiết biến, chỗ dứt của kiến khổ, tức duyên

* Trang 778 *
device

 theo Nhất thiết biến, đối tượng của kiến khổ.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau. Nhất thiết biến do  kiến khổ dứt trừ chỗ dứt trừ của kiến khổ là không Nhất thiết biến làm  bốn duyên: Nhân duyên, duyên Thứ đệ, Duyên cảnh giới, Duyên oai  thế. Nhân duyên: Có hai nhân: Nhân tượng tự, Nhân Nhất thiết biến.
Duyên Thứ đệ: Nhất thiết biến kiến khổ dứt trừ, theo thứ lớp sinh  ra không Nhất thiết biến là chỗ dứt trừ của kiến khổ.  Duyên cảnh giới: Không Nhất thiết biến, do kiến khổ dứt trừ,  duyên theo Nhất thiết biến do thấy khổ mà dứt trừ.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau. Nhất thiết biến do  kiến khổ dứt trừ, đối với Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ, làm bốn  duyên: nhân, thứ lớp, cảnh giới, Oai thế.
Nhân duyên: Một nhân, đó là nhân Nhất thiết biến.
Duyên Thứ đệ: Nhất thiết biến do thấy khổ mà dứt trừ, theo thứ  lớp sinh Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ.
Duyên cảnh giới: Nhất thiết biến chỗ dứt trừ của kiến tập, duyên  Nhất thiết biến do thấy khổ mà dứt trừ.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau. Nhất thiết biến do  kiến khổ dứt trừ, đối với không Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ,  thấy diệt mà đoạn trừ, kiến đạo dứt trừ, tu đạo dứt trừ là: Nhân, Thứ  đệ, oai thế, không có duyên cảnh giới.
Nhân duyên: Một nhân là nhân Nhất thiết biến.
Duyên Thứ đệ: Nhất thiết biến kiến khổ dứt trừ, theo thứ lớp sinh  các sử kia.
Duyên cảnh giới: Các sử kia duyên theo tự chủng, không duyên  theo chủng người khác.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau. Không Nhất thiết  biến do kiến khổ dứt. Đối với không Nhất thiết biến do thấy khổ mà  dứt trừ làm bốn duyên: nhân, thứ lớp, cảnh giới, oai thế.
Nhân duyên: Có ba nhân: Nhân tương ưng, nhân tương tự và  nhân cộng sinh.
Duyên Thứ đệ: Không Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ. Sau,  theo thứ lớp sinh không Nhất thiết biến do thấy khổ mà dứt trừ.
Duyên cảnh giới: Không Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ,  duyên với không Nhất thiết biến, do kiến khổ dứt trừ. Duyên oai thế:  Vì không chướng ngại nhau. Không nhất thiết biến do kiến khổ dứt,  đối với Nhất thiết biến, do kiến khổ dứt làm bốn duyên: nhân, thứ lớp,  cảnh

* Trang 779 *
device

 giới, oai thế.
Nhân duyên: Có một nhân, là Nhân tương tự.
Duyên Thứ đệ: Không Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ. Sau,  theo thứ lớp sinh Nhất thiết biến do thấy khổ mà dứt trừ.
Duyên cảnh giới: Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ, duyên với  không Nhất thiết biến do kiến khổ mà dứt trừ.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.
Không Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ, đối với Nhất thiết  biến do kiến tập dứt trừ, làm ba duyên: Thứ đệ, Cảnh giới, Oai thế,  không có nhân duyên.
Duyên Thứ đệ: Không Nhất thiết biến là chỗ dứt của kiến khổ. Sau, theo thứ lớp sinh Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ.
Duyên cảnh giới: Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ, duyên với  không Nhất thiết biến do thấy khổ mà dứt trừ.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau. Không có nhân  duyên. Vì sao? Vì không có sử nhất thiết biến, không vì chủng của  người khác làm nhân. Không Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ, đối  với không Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ.
Chỗ dứt của kiến diệt, chỗ dứt của kiến đạo, chỗ dứt của tu đạo  làm hai duyên: Thứ đệ, oai thế, không có nhân duyên, không có duyên  cảnh giới.
Duyên Thứ đệ: Không Nhất thiết biến, chỗ dứt của kiến khổ, sau  theo thứ lớp sinh các sử kia.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau, nên không có nhân  duyên. Vì sao? Vì không làm nhân cho chủng của người khác.
Không có duyên cảnh giới. Vì sao? Vì không làm sở duyên cho  chủng của người khác.
Như Nhất thiết biến, không Nhất thiết biến do kiến khổ dứt trừ,  Nhất thiết biến, không Nhất thiết biến do kiến tập dứt trừ, nói cũng  giống như thế.
Hữu lậu duyên sử do thấy diệt mà đoạn trừ, đối với duyên hữu  lậu do thấy diệt mà đoạn trừ làm bốn duyên: nhân, thứ lớp, cảnh giới,  oai thế.
Nhân duyên: Có ba nhân: Nhân tương ưng, nhân cộng sinh, nhân  tương tự.
Duyên Thứ đệ: Hữu lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ, sau theo  thứ lớp sinh hữu lậu duyên sử do thấy diệt mà đoạn trừ.
Duyên cảnh giới: Hữu lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ, duyên

* Trang 780 *
device

 với hữu lậu duyên sử do thấy diệt dứt trừ.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau, nên hữu lậu duyên  sử do kiến diệt mà đoạn trừ. Đối với vô lậu duyên sử làm ba duyên:  nhân, thức đệ, oai thế, không có duyên cảnh giới. Nhân duyên có một nhân là nhân tương tự.
Duyên Thứ đệ: hữu lậu duyên sử do kiến diệt dứt trừ, sau theo  thứ lớp sinh vô lậu duyên sử.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau, không có duyên  cảnh giới. Vì sao? Vì sử duyên kia là sử vô lậu, là hữu lậu, chỗ dứt của  kiến diệt. Hữu lậu duyên sử, đối với kiến khổ, kiến tập dứt trừ Sử nhất  thiết biến làm ba duyên: Thứ đệ, Cảnh giới, oai thế, không có nhân  duyên.
Duyên Thứ đệ: Hữu lậu duyên sử do kiến diệt mà đoạn trừ, sau  theo thứ lớp sinh Sử nhất thiết biến do kiến khổ, kiến tập dứt trừ.
Duyên cảnh giới: Sử nhất thiết biến do kiến khổ, kiến tập dứt trừ,  duyên với hữu lậu duyên sử do thấy diệt mà đoạn trừ.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.
Không có nhân duyên: Hữu lậu duyên sử do thấy diệt mà đoạn  trừ, vì chẳng phải Nhất thiết biến, nên đối với kiến khổ, kiến tập dứt  trừ Sử không nhất thiết biến. Đối với Nhất thiết sử hữu do kiến đạo  dứt trừ, tu đạo dứt trừ làm hai duyên là Thứ đệ, Oai thế.
Duyên Thứ đệ: Hữu lậu duyên sử do thấy diệt mà đoạn trừ, sau  theo thứ lớp sinh sử không nhất thiết biến do kiến khổ, kiến tập dứt  trừ, là Sử nhất thiết biến do kiến đạo dứt trừ, tu đạo dứt trừ.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.  
Không có nhân duyên: như trên đã nói.
Không có duyên cảnh giới: Vì các sử kia chẳng phải Nhất thiết  biến, nên không duyên với chủng của người khác. Vô lậu duyên sử do  thấy diệt mà đoạn trừ, đối với vô lậu duyên sử do thấy diệt mà đoạn  trừ làm ba duyên là nhân, thứ lớp, oai thế, không có duyên cảnh giới.
Nhân duyên: Có ba nhân: Nhân tương ưng, nhân cộng sinh, nhân  tương tự.
Duyên Thứ đệ: Vô lậu duyên sử được kiến diệt dứt trừ, sau theo  thứ lớp sinh vô lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ.
Duyên  oai thế: Vì không chướng ngại nhau.
Không có duyên cảnh giới: Sử kia duyên với sử vô lậu, là hữu  lậu, nên vô lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ, đối với hữu lậu duyên  sử, do kiến diệt dứt trừ làm bốn duyên: Nhân, Thứ đệ, Cảnh giới, Oai  thế.
Nhân duyên: Có một nhân là nhân tương tự.

* Trang 781 *
device

 Duyên Thứ đệ: Vô lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ, về sau theo  thứ lớp, sinh hữu lậu duyên sử do kiến diệt dứt trừ.
Duyên cảnh giới: Hữu lậu duyên sử do kiến diệt trừ duyên với vô  lậu duyên sử do kiến diệt dứt trừ.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau, nên đối với Sử nhất  thiết biến do kiến khổ, kiến tập dứt trừ làm ba duyên: Thứ đệ, Cảnh  giới, oai thế, không có nhân duyên.
Duyên Thứ đệ: Vô lậu duyên sử do kiến diệt dứt trừ, sau, theo  thứ lớp, sinh ra sử Nhất thiết biến, do kiến khổ, kiến tập dứt trừ.
Duyên cảnh giới: Sử nhất thiết biến do kiến khổ, kiến tập dứt trừ,  duyên với vô lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ.
Duyên  oai thế: Vì không chướng ngại nhau.
Không có nhân duyên là: Vô lậu duyên sử do kiến diệt dứt trừ, vì  chẳng phải Nhất thiết biến, nên không duyên với chủng người khác.  Đối với sử không nhất thiết biến, do kiến khổ, kiến tập dứt trừ, chỗ dứt  của kiến đạo, do tu đạo, có hai duyên: duyên Thứ đệ, Duyên oai thế,  không có nhân duyên, duyên cảnh giới.
Duyên Thứ đệ: Vô lậu duyên sử do kiến diệt dứt trừ, về sau theo  thứ lớp sinh ra sử không nhất thiết biến, chỗ dứt của kiến khổ, kiến  tập. Kiến đạo dứt trừ, tu đạo dứt trừ tất cả sử.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.
Không có nhân duyên: Vô lậu duyên sử, do kiến diệt dứt trừ, vì  chẳng phải Nhất thiết biến, nên không làm nhân cho chủng người  khác.
Không có duyên cảnh giới: Sử không nhất thiết biến do kiến khổ,  kiến tập dứt trừ. Kiến đạo, tu đạo dứt trừ tất cả sử, không duyên với  chủng khác. Như hữu lậu duyên sử. Vô lậu duyên sử, do kiến diệt dứt  trừ, thì hữu lậu duyên sử, vô lậu duyên sử, chỗ dứt của kiến đạo, nói  cũng giống như thế.
Sử, chỗ dứt trừ của Tu đạo, đối với sử được tu đạo dứt trừ, có bốn  duyên: Nhân, Thứ đệ, Cảnh giới, Oai thế.
Nhân duyên: Có ba nhân: Nhân tương ưng, nhân cộng sinh, nhân  tương tự.
Duyên Thứ đệ: Sử, do Tu đạo dứt trừ, về sau theo thứ lớp sinh sử  do tu đạo dứt trừ.
Duyên  cảnh giới: Sử do tu đạo dứt trừ duyên với sử do tu đạo dứt trừ.
Duyên  oai thế: Vì không chướng ngại nhau, nên sử, chỗ dứt của

* Trang 782 *
device

 tu đạo, đối với Sử nhất thiết biến do kiến khổ, kiến tập dứt trừ, có ba  duyên: Thứ đệ, Cảnh giới, Oai thế, không có nhân duyên.
Duyên Thứ đệ: Sử, chỗ dứt của Tu đạo, sau theo thứ lớp sinh Sử  nhất thiết biến, được kiến khổ, kiến tập dứt trừ.
Duyên cảnh giới: Sử nhất thiết biến, do kiến khổ, kiến tập dứt  trừ, duyên với sử, do Tu đạo dứt trừ.
Duyên oai thế: Vì không chướng ngại nhau.
Không có nhân duyên: Sử do tu đạo dứt trừ chẳng phải Nhất thiết  biến, nên không làm nhân cho chủng người khác. Đối với sử không  nhất thiết biến, do kiến khổ, kiến tập dứt trừ, tất cả sử là do kiến diệt,  kiến đạo dứt trừ, có hai thứ duyên là Thứ đệ, Oai thế, không có nhân  duyên, không có duyên cảnh giới.
Duyên Thứ đệ: Sử, do Tu đạo dứt trừ, về sau theo thứ lớp sinh ra  sử không Sử nhất thiết biến, do kiến khổ, kiến tập dứt trừ. Tất cả sử là  do kiến diệt, kiến đạo dứt trừ.
Duyên  oai thế: Vì không có chướng ngại nhau.
Không có nhân duyên: Sử do tu đạo dứt trừ vì chẳng phải Nhất  thiết biến, nên không cho làm nhân chủng người khác.
Không có duyên cảnh giới: Các sử kia vì chẳng phải Nhất thiết  biến, nên không duyên với chủng người khác.
Nhân Nhất thiết biến nói trong đây, như phẩm Trí thuộc Kiền-độ  Tạp đã nói rộng.
?????

* Trang 783 *
device

Đại Tập 95 - Bộ Tỳ Đàm VII - Số 1546 (Quyển 1-40)