LOGO VNBET
 LUẬN A TỲ ĐÀM TỲ BÀ SA
 
QUYỂN 34
 
Chương 2: KIỀN-ĐỘ SỬ
 
Phẩm 3: NGƯỜI, Phần 1
 
Kiết có hai thứ, là kiết do kiến đạo dứt và kiết do tu đạo dứt. Cõi  Dục có hai thứ, cõi Sắc có hai thứ, cõi Vô sắc có hai thứ.
Có khi nào kiết, bị tu đạo dứt, kiến đạo cõi Dục dứt, được dứt trừ  ngay hay không? Cho đến nói rộng? Chương và giải thích nghĩa của  chương, ở đây, nên nói rộng Ưu-ba-đề-xá.
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Các phiền não ấy đã là sự ràng buộc lớn trong sinh tử,  không có lợi ích, đầy dẫy tai nạn nguy hiểm, giống như kẻ thù ẩn nấp  ở cõi Dục, chịu biết bao khổ não cõi Dục, chịu khổ não lớn cõi Sắc,  cõi Vô sắc, thường quanh quẩn trong sinh tử, ở chỗ tối tăm trong thai  mẹ, bị ép ngặt do sinh tạng, thục tạng. Không biết làm sao tìm kiếm  kiết nầy, thấy biết như thật mà dứt trừ chúng. Vì muốn cho biết nhiều,  giống như kẻ thù ẩn nấp, không biết, thì sẽ bị chúng hãm hại. Biết thì  có thể tránh khỏi, kiết kia cũng giống như vậy. Cho nên phải suy nghĩ,  xét lường quán sát những lời nói tốt, cho đến chỗ sinh mà không quên  mất. Như Tôn giả Di-đa-đạt-tử, khi mới sinh đã thốt lên lời nói nầy:  Kiết có hai thứ: Kiết do kiến đạo dứt và kiết do tu đạo dứt. Cõi Dục có  hai, cõi Sắc có hai, cõi Vô sắc có hai.
Hỏi: Vì sao Tôn giả kia lúc mới sinh lại nói như thế?
 Đáp: Vì Tôn giả kia lúc còn ở trong thai mẹ, đã bị các thứ khổ ép  ngặt mà nghĩ rằng: Vì sao chúng sinh thường ở trong thai mẹ chịu các  khổ như thế? Đều do hai thứ kiết nầy. Vì muốn nói đến lỗi lầm tai hại  của hai kiết ấy, nên khi vừa mới sinh, liền nói như trên. Kiết có hai thứ. Cõi Dục có hai, cho đến nói rộng.  
Hỏi: Vì sao gọi là thứ?

* Trang 863 *
device

 Đáp: Trong đây nói nhóm là thứ, như nhóm rất đông Tỳ-kheo,  gọi là thứ (loại) Tỳ-kheo. Như nhóm Bà-la-môn, gọi là thứ Bà-la-môn.  Kiết kia cũng giống như thế. Nói thứ, cũng có thể nói nhóm, cũng có  thể nói bầy đàn. Về nghĩa thật là một, danh có khác nhau, làm sao  thấy biết ngay chúng được?
Hỏi: Sao gọi là thấy biết được ngay?
Đáp: Thấy biết được ngay, gọi là cùng lúc.  Làm sao biết?
 Đáp: Có kinh nói: Vua Ba-tư-nặc đến chỗ Phật, diện kiến Đức  Thế tôn các thứ ngôn luận, ngồi qua một phía, rồi bạch Phật: Tôi nghe  Sa-môn Cù-đàm nói rằng: Ở quá khứ, vị lai và hiện tại không có Sa-  môn, Bà-la-môn nào có thể thấy biết đúng như thật tất cả pháp. Nếu  nói là thấy biết thì không có việc đó! Sa-môn Cù-đàm hãy nhớ lại  xem mình có nói như thế không?
Đức Phật đáp: Ta không nhớ lại!
Nhà vua lại hỏi: Sa-môn Cù-đàm! Ở đời nầy có người không  khéo thọ nhận nghĩa văn, nên khi họ nghe khác, vì người khác nói thì  khác. Chỉ mong Thế tôn nhớ lại việc nầy mà giải thích cho.
Phật đáp: Ta có nói rằng: Đối với quá khứ, vị lai, hiện tại, không  người nào thấy biết như thật được ngay tất cả pháp. Nếu nói thấy biết,  được ngay thì không có việc đó. Vì đều phải từ ba A-tăng-kỳ kiếp, dần  dần tu hành sáu Ba-la-mật, rồi mới biết, chứ chẳng phải trong nhất  thời mà biết. Do việc nầy nên biết được ngay là nhất thời.
Hỏi: Có khi nào kiết, do kiến đạo, tu đạo dứt, được ngay chăng?
 Đáp: Được ngay, người phàm phu lìa dục, kiết, do kiến đạo, tu  đạo thuộc cõi Dục dứt, đều làm một nhóm, như cách cắt cỏ, chín thứ  kiết được dứt trừ cùng lúc, dùng đạo vô ngại hạ hạ để dứt trừ kiết  phẩm thượng thượng, cho đến dùng đạo vô ngại thượng thượng để dứt  trừ kiết phẩm hạ hạ. Người phàm phu dùng kiết phẩm hạ hạ, đối với  không có dục kia thối lui, được ngay một thứ kiết, do kiến đạo, tu đạo  thuộc cõi Dục dứt, thối lui phẩm hạ trung, được ngay hai thứ, cho đến  dùng kiết phẩm thượng thượng thối lui, được ngay chín thứ kiết, do  kiến đạo, tu đạo thuộc cõi Dục dứt.
Ở cõi Sắc, cõi Vô sắc qua đời, lúc sinh cõi Dục, người phàm phu  đã dùng kiết phẩm hạ hạ, cho đến kiết thượng thượng, khiến cho sự  sinh nối tiếp nhau, được ngay chín thứ kiết, do kiến đạo, tu đạo thuộc  cõi Dục dứt, bỏ hay không?
Đáp: Bỏ. Người phàm phu khi lìa ái dục.

* Trang 864 *
device

Hỏi: Ai Bỏ tức khắc được không?
 Đáp: Là người phàm phu khi lìa ái dục, chín thứ kiết, do kiến  đạo, tu đạo thuộc cõi Dục dứt, đều là một nhóm, như cách cắt cỏ, chín  thứ kiết được cắt đứt cùng lúc.
 Hỏi: Dùng đạo vô ngại hạ hạ để dứt trừ kiết phẩm thượng, cho  đến dùng đạo vô ngại thượng thượng để dứt trừ kiết phẩm hạ hạ, kiết  hạ, do kiến đạo, tu đạo dứt, thuộc cõi Dục kia, bỏ tức khắc hay được  dần dần?
 Đáp: Không được. Vì sao? Vì nếu trước được kiết do kiến đạo  dứt trừ, sau được kiết do tu đạo dứt trừ. Nếu trước được kiết do tu đạo  dứt trừ, sau được kiết do kiến đạo dứt trừ thì không có việc nầy.
Hỏi: Bỏ dần dần chăng?
 Đáp: Bỏ. Đệ tử của Đức Thế tôn trước bỏ kiết, do kiến đạo dứt,  sau, bỏ kiết, do tu đạo dứt, kiết, do kiến đạo dứt. Dùng kiến đạo để dứt  trừ kiết, do tu đạo dứt, do tu đạo dứt trừ.
 Hỏi: Có kiết, bị kiến đạo, tu đạo thuộc cõi Sắc dứt được tức khắc  hay không?
 Đáp: Được tức khắc. Người phàm phu lìa ái sắc, đối với không có  dục kia thối lui.
Hỏi: Ai được ngay?
 Đáp: Người phàm phu khi lìa ái sắc, kiết, do kiến đạo, tu đạo  thuộc cõi Sắc dứt, đều là một nhóm, như cách cắt cỏ, chín thứ kiết dứt  bỏ cùng một lúc. Dùng đạo vô ngại hạ hạ để dứt trừ kiết phẩm thượng  thượng, cho đến dùng đạo vô ngại thượng thượng để dứt trừ kiết phẩm  hạ hạ, đối với không có dục kia, thối lui. Nếu người dùng kiết phẩm  hạ hạ thuộc cõi Sắc thì người đó sẽ được ngay một thứ kiết, do kiến  đạo, tu đạo thuộc cõi Sắc dứt. Thối lui phẩm trung hạ, được ngay hai  thứ, cho đến do kiết phẩm thượng thượng thối lui, được ngay chín thứ  kiết, do kiến đạo, tu đạo thuộc cõi Sắc dứt. Nếu do kiết phẩm hạ hạ  cõi Dục, cho đến kiết phẩm thượng thượng thối lui, thì lúc đó sẽ được  ngay chín thứ kiết, do kiến đạo, tu đạo thuộc cõi Sắc dứt.
Lại có thuyết nói: Văn ấy nên nói như vầy: Người phàm phu lìa  ái sắc, do kiết của địa Phạm thế cõi Dục thối lui.
Không nên nói như thế. Vì sao? Vì trong đây nói với giới được  ngay, không nói đối với địa được ngay. Nếu do kiết của đệ Tứ thiền  thối lui, thì lúc nầy sẽ được ngay kiết, do kiến đạo, tu đạo thuộc cõi  Sắc dứt trừ, lúc ở cõi Vô sắc qua đời, sinh xuống cõi Dục, cõi Sắc, sẽ  được ngay kiết, do kiến đạo, tu đạo thuộc cõi Sắc dứt trừ.

* Trang 865 *
device

Người phàm phu ở cõi Vô sắc qua đời, sinh trong cõi Dục, cõi  Sắc, do kiết phẩm hạ hạ, cho đến kiết phẩm thượng thượng, khiến cho  sự sinh nối tiếp nhau, sẽ được ngay chín thứ kiết, do kiến đạo, tu đạo  thuộc cõi Sắc dứt, là bỏ tức khắc hay chăng?
Đáp: Bỏ, khi người phàm phu lìa ái sắc.  
Hỏi: Ai bỏ ngay tức khắc?
 Đáp: Người phàm phu khi lìa ái sắc. Kiết do kiến đạo, tu đạo  thuộc cõi Sắc dứt trừ, gộp chung thành một nhóm, như cách cắt cỏ,  chín thứ kiết được dứt trừ cùng lúc. Dùng đạo vô ngại hạ hạ dứt trừ  kiết phẩm thượng thượng. Người phàm phu kia bỏ ngay tức khắc kiết,  do kiến đạo, tu đạo thuộc cõi Sắc dứt trừ, cho đến dùng đạo vô ngại  phẩm thượng thượng, để dứt trừ kiết phẩm hạ hạ, bỏ tức khắc kiết, chỗ  dứt của kiến đạo, tu đạo thuộc cõi Sắc.
Hỏi: Được dần dần được không?
 Đáp: Không được. Vì sao? Vì không bị kiết trước được kiến đạo  dứt trừ, sau được tu đạo dứt trừ.
Hỏi: Bỏ dần dần được không?
 Đáp: Bỏ. Đệ tử của Đức Thế tôn, trước bỏ kiết do kiến đạo dứt  trừ, sau bỏ kiết do tu đạo dứt trừ. Kiến đạo bỏ do kiến đạo, tu đạo dứt  bỏ do tu đạo dứt.
 Hỏi: Có khi nào được tức khắc kiết, chỗ dứt trừ của kiến đạo, tu  đạo thuộc cõi Vô sắc hay không?
 Đáp: Không được. Vì sao? Vì được ngay là cái được của người  phàm phu, không có người phàm phu nào có thể dứt trừ hết kiết cõi  Vô sắc, thối lui ở cõi đó, được tức khắc kiết, bị kiến đạo, tu đạo dứt  thuộc cõi Vô sắc dứt trừ.
Hỏi: Bỏ tức khắc được không?
 Đáp: Không xả. Vì sao? Vì bỏ ngay tức khắc tức khắc là hành  động của người phàm phu. Không có người phàm phu nào bỏ ngay tức  khắc.
Hỏi: Phiền não cõi Vô sắc được dần dần chăng?
 Đáp: Không được. Vì sao? Vì không có chuyện trước kiết, do  kiến đạo dứt, sau được kiết do tu đạo đoan, không có việc trước được  kiết do tu đạo dứt trừ, sau được kiết do kiến đạo dứt.
Hỏi: Bỏ dần dần phải không?
 Đáp: Bỏ. Đệ tử của Đức Thế tôn, trước bỏ kiết do kiến đạo dứt,  sau, bỏ kiết do tu đạo dứt. Kiến đạo bỏ kiết do kiến đạo dứt trừ, tu đạo  bỏ kiết do tu đạo dứt trừ.

* Trang 866 *
device

Có hành vi của thế tục.
 Hỏi: Người phàm phu khi dùng đạo thế tục để lìa dục, dứt trừ  chín thứ kiết, có bao nhiêu đạo vô ngại bỏ, bao nhiêu đạo giải thoát  bỏ? bậc Thánh dùng đạo vô lậu dứt trừ chín thứ kiết, có bao nhiêu đạo  vô ngại bỏ? Bao nhiêu đạo giải thoát bỏ?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Người phàm phu dứt chín kiết, đã dùng  ba đạo vô ngại, ba đạo giải thoát để dứt trừ, nghĩa là đạo vô ngại  phẩm hạ hạ, đạo giải thoát phẩm hạ hạ, dứt trừ ba thứ kiết phẩm  thượng. Đạo vô ngại phẩm trung hạ, đạo giải thoát phẩm trung hạ, để  dứt trừ ba thứ kiết của phẩm trung. Đạo vô ngại phẩm thượng hạ, đạo  giải thoát phẩm thượng hạ, nhằm dứt trừ ba thứ kiết phẩm thượng hạ.  bậc Thánh cũng giống như thế.
Lại có thuyết nói: Người phàm phu dứt trừ chín thứ kiết, đã dùng  một đạo vô ngại, một đạo giải thoát để dứt. bậc Thánh dứt ttrừ chín  thứ kiết, dùng ba đạo vô ngại, chín đạo giải thoát để dứt.
 Hỏi: Vì sao người phàm phu dứt bỏ chín thứ kiết, dùng một đạo  vô ngại, một đạo giải thoát, còn bậc Thánh dứt trừ chín thứ kiết lại  dùng đến chín đạo vô ngại, chín đạo giải thoát để dứt?
 Đáp: Vì đạo mà người phàm phu vận dụng chậm lụt đối với pháp  trước, không thể quán sát, tư duy, lường xét, mỗi mỗi phân biệt, còn  đạo mà bậc Thánh sử dụng mạnh mẽ đối với pháp trước, có thể tư duy,  lường xét, quán sát, mỗi mỗi phân biệt.
 Hỏi: Nếu nói rằng: Muốn cho người phàm phu là thấp kém mà  nói là vượt hơn, muốn cho bậc Thánh vượt hơn mà nói là thấp kém. Vì  sao? Vì người phàm phu chỉ dùng một đạo vô ngại, một đạo giải thoát  để dứt trừ chín thứ kiết, trong khi bậc Thánh dứt trừ chín thứ kiết, phải  dùng chín đạo vô ngại, chín đạo giải thoát để dứt, vậy thì người phàm  phu vượt hơn so với bậc Thánh, như con người vì đã uống nhiều chất  độc, nên nôn ra cùng một lúc, đâu không thể được?
Lời bình: Nên nói rằng: Để dứt trừ chín thứ kiết, người phàm phu  phải dùng chín đạo vô ngại, chín đạo giải thoát, bậc Thánh cũng thế.
 Hỏi: Nếu người phàm phu dứt trừ chín thứ kiết, đã dùng chín đạo  vô ngại, chín đạo giải thoát để dứt. bậc Thánh cũng thế, vậy giữa  người phàm phu và bậc Thánh có gì khác nhau?
 Đáp: Kiết của người phàm phu do kiến đạo, tu đạo dứt trừ được  gộp chung thành một nhóm, như cách cắt cỏ. Với chín thứ kiết cùng  lúc, dùng chín đạo vô ngại, ba đạo giải thoát để dứt trừ, của bậc  Thánh do kiến đạo dứt trừ chín thứ kiết, dùng một đạo vô ngại, một  đạo giải

* Trang 867 *
device

thoát, do tu đạo dứt trừ chín thứ kiết, dùng chín đạo vô ngại, chín đạo  giải thoát để dứt. Phàm phu, bậc Thánh khác nhau ở chỗ đó.
 Hỏi: Lúc dùng đạo thế tục để dứt trừ kiết, đã dùng bao nhiêu  phương tiện, bao nhiêu lần nhập định?
 Đáp: Dùng ba phương tiện, ba lần nhập định, dùng phương tiện  ban đầu, dùng lần nậhp định đầu để dứt trừ ba thứ kiết phẩm thượng,  dùng phương tiện thứ hai, lần nhập định thứ hai, để dứt ba thứ kiết  phẩm trung. Dùng phương tiện thứ ba, dùng lần nậhp định thứ ba để  dứt bỏ ba thứ kiết phẩm hạ.
Hỏi: Là khởi định để dứt chăng? Hay không khởi định mà dứt?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Người phàm phu, không khởi định dứt  trừ kiết, bậc Thánh hoặc khởi định, hoặc không khởi định mà dứt.
Lời bình: Nên nói như vầy: Sự việc nầy không nhất định: Người  phàm phu hoặc không khởi định, bậc Thánh hoặc khởi định, hoặc  không khởi định người phàm phu hoặc khởi định, không khởi định.  Bậc Thánh hoặc không khởi định mà dứt kiết.
Lại có thuyết nói: Dứt trừ kiết cõi Dục, không khởi định, dứt trừ  kiết cõi Sắc, cõi Vô sắc, hoặc khởi định hoặc không khởi định.
Lại có thuyết nói: Đoạn trừ kiết cõi Dục, hoặc khởi định, hoặc  không khởi định, dứt kiết cõi Sắc, cõi Vô sắc, không khởi định.
Lời bình: Việc nầy không nhất định: Dứt trừ kiết cõi Dục, khởi  định, không khởi định, dứt trừ kiết cõi Sắc, cõi Vô sắc, không khởi  định, dứt trừ kiết cõi Dục không khởi định, dứt trừ kiết cõi Sắc, cõi Vô  sắc khởi định, không khởi định, đây là nói khi thắng tiến.
Người phàm phu lúc khởi kiết phẩm hạ thối lui, tạo thành ba thứ  kiết phẩm hạ. Khi khởi kiết phẩm trung thối lui, là đã thành tựu sáu  thứ kiết. Lúc khởi kiết phẩm thượng là đã tạo thành chín thứ kiết. Lúc  bậc Thánh khởi kiết phẩm hạ hạ, thối lui, là đã tạo thành kiết phẩm hạ  hạ, cho đến khi khởi kiết phẩm thượng thối lui, là đã tạo thành chín  thứ kiết.
Lại có thuyết nói: Người phàm phu khi khởi kiết phẩm hạ hạ,  cho đến khi khởi kiết phẩm thượng thối lui, là đã tạo thành chín thứ  kiết. bậc Thánh như trước đã nói.
 Hỏi: Vì sao người phàm phu khởi kiết phẩm hạ hạ thối lui, cho  đến lúc khởi kiết phẩm thượng thượng thối lui, là đã tạo thành chín thứ  kiết. Lúc bậc Thánh khởi kiết phẩm hạ hạ thối lui, là đã tạo thành kiết  phẩm hạ hạ. Khi khởi kiết phẩm trung hạ, thối lui là đã tạo thành hai  thứ kiết, cho đến khi khởi kiết phẩm thượng thượng thối lui, là đã tạo  thành chín

* Trang 868 *
device

thứ kiết phải không?
 Đáp: Người phàm phu dùng định thế tục, tự gìn giữ tánh của định  ấy yếu kém, bậc Thánh dùng định vô lậu, tự giữ gìn, định đó rất bền  chắc. Nên nói rằng: Người phàm phu không uống thuốc độc mà chết.
Lời bình: Nên nói rằng: Người phàm phu khởi kiết phẩm hạ hạ,  thối lui, lại tạo thành kiết phẩm hạ hạ, cho đến khởi kiết phẩm thượng  thượng thối lui là tạo thành chín thứ kiết.
 Hỏi: Nếu vậy thì giữa người phàm phu và bậc Thánh đâu có  khác nhau gì nhau?
 Đáp: Nếu người phàm phu khởi kiết phẩm hạ hạ, thối lui, là đã  tạo thành kiết phẩm hạ hạ, do kiến đạo, tu đạo dứt, cho đến khởi kiết  phẩm thượng thượng thối lui, là đã tạo thành chín thứ kiết, do kiến  đạo, tu đạo dứt. bậc Thánh lại khởi kiết phẩm hạ hạ thối lui, là đã tạo  thành kiết phẩm hạ hạ, do tu đạo dứt, cho đến lúc khởi kiết phẩm  thượng thượng thối lui, là đã tạo thành chín thứ kiết được tu đạo dứt  trừ, không tạo thành kiết do kiến đạo dứt. Đây là sự khác nhau giữa  phàm phu và bậc Thánh.
Bậc Thánh ở cõi Dục có ba việc:
1.         Rốt ráo lìa dục mà qua đời.
2.         Thối lui rồi là qua đời.
3.         Lìa dục dần rồi qua đời.  
Người phàm phu có hai việc:
1.         Rốt ráo lìa dục rồi qua đời.
2.         Thối lui rồi rồi qua đời.
bậc Thánh ở cõi Sắc có hai việc:
1.         Rốt ráo lìa ái sắc mà qua đời.
2.         Lìa dục dần, rồi qua đời, không thối lui.
Vì sao? Vì ở cõi Sắc không có người thối lui. Người phàm phu có  một sự, là rốt ráo lìa ái sắc mà qua đời, không thối lui. Vì sao? Vì ở  cõi Sắc không có sự thối lui, không có ai lìa dục dần mà qua đời.
 Hỏi: Vì sao bậc Thánh có lìa dục dần mà qua đời, còn người  phàm phu thì không như vậy?
 Đáp: Vì bậc Thánh đã dùng đạo vô lậu, tự gìn giữ, đạo ấy rất  bền chắc. Người phàm phu dùng đạo thế tục, tự giữ gìn, đạo ấy rất yếu  kém.
Lại nữa, vì bậc Thánh thành tựu phần định tuệ, nên dứt dần kiết  mà qua đời. Người phàm phu vì không thành tựu phần định tuệ, nên  không thể dứt dần kiết mà qua đời.

* Trang 869 *
device

Lại nữa, bậc Thánh vì thành tựu phần vô lậu, nên dứt dần kiết  mà qua đời. Người phàm phu vì không có phần vô lậu, nên không thể  dứt bỏ dần kiết rồi qua đời.
Lại nữa, bậc Thánh có sức của nghiệp, sức đạo, vì sức của  nghiệp, nên có thể dứt dần kiết mà qua đời, vì sức đạo, nên có thể rốt  ráo lìa dục mà qua đời, thì thối lui.
Lại nữa, trong phần bậc Thánh cõi Dục, có người lìa dần dục,  nếu dứt ba thứ, bốn thứ kiết, thì gọi là Gia gia. Nếu dứt trừ sáu thứ kiết  thì gọi là Tư-đà-hàm. Nếu dứt bảy thứ, tám thứ kiết, thì gọi là một  chủng tử. Cho nên thế gian có người lìa dần dục mà qua đời, trong  phần vị người phàm phu, trụ tâm nối tiếp nhau, trở lại tạo thành kiết  vốn đã dứt trừ.
Lời bình: Không nên nói như thế, như thuyết trước nói là tốt.  
Hỏi: Dùng đạo thế tục, khi lìa dục đạo vô ngại có bao nhiêu  hạnh, đạo giải thoát có bao nhiêu hạnh?
 Đáp: Đạo vô ngại có ba hạnh: hạnh như thô, hạnh khổ, hạnh như  thô hư hoại. Đạo giải thoát có ba hạnh, đó là hạnh như chỉ, hạnh diệu,  hạnh lìa.
 Hỏi: Nếu trong đạo vô ngại có hạnh như thô, thì trong đạo giải  thoát kia sẽ có hạnh như chỉ? Nếu trong đạo vô ngại có hạnh khổ, thì  trong đạo giải thoát kia sẽ có hạnh diệu? Nếu trong đạo vô ngại có  hạnh như thô, hư hoại, thì trong đạo giải thoát kia có hạnh lìa?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Như đã hỏi, nếu đạo vô ngại có hạnh  như thô, thì đạo giải thoát kia sẽ có hạnh như chỉ. Vô ngại có hạnh  khổ, thì đạo giải thoát kia sẽ phải có hạnh diệu. Nếu đạo vô ngại có  hạnh như thô, hư hoại thì đạo giải thoát kia sẽ có hạnh lìa.
Lời bình: việc nầy không nhất định. Nếu có hạnh như thô trong  đạo vô ngại, thì ba hạnh trong đạo giải thoát kia sẽ xoay vần hiện ở  trước. Nếu trong đạo vô ngại có hạnh khổ, hạnh như thô hoại, thì ba  hạnh trong đạo giải thoát sẽ xoay vần hiện ở trước.
 Hỏi: Lúc dùng đạo thế tục để lìa ái dục, thì đạo vô ngại vì duyên  theo pháp nào? Đạo giải thoát vì duyên theo pháp nào?
 Đáp: Chín đạo vô ngại duyên cõi Dục, chín đạo giải thoát duyên  Sơ thiền.
 Hỏi: Nếu vậy thì với thuyết của Kiền-độ Căn khéo hiểu, như nói:  Có khi nào tư duy pháp cõi Sắc có thể biết cõi Dục chăng?
Đáp: Có thể biết.
 Hỏi: Thế nào là không duyên trái ngược, lầm lẫn, hành trái  ngược, lầm lẫn. Nếu duyên hạnh trái ngược, lầm lẫn thì sao không có  pháp lìa

* Trang 870 *
device

dục, gây ra chướng ngại, khó khăn?
 Đáp: Dù khiến cho duyên theo hành trái ngược, lầm lẫn mà  không thể vì pháp lìa dục tạo ra chướng ngại. Vì sao? Vì đối với pháp  lìa dục kia, đã khéo tu tập con đường tắt, đã thành tựu, như trong kiến  đạo, duyên trí nhẫn cõi Dục, về sau duyên trí nhẫn cõi Sắc, cõi Vô sắc  hiện ở trước, duyên trí nhẫn cõi Sắc, cõi Vô sắc, về sau duyên trí nhẫn  cõi Dục hiện ở trước.
Như vậy, mặc dù duyên hạnh sai trái, lầm lẫn nhưng không vì  được chánh quyết định mà tạo ra chướng ngại, khó khăn. Vì sao? Vì  đối với kiến đạo kia, đã khéo tu tập con đường tắt đã thành tựu. Pháp  lìa dục kia cũng giống như thế.
Lại có thuyết nói: Chín đạo vô ngại, tám đạo giải thoát duyên  cõi Dục, sau cùng, đạo giải thoát duyên Sơ thiền, như dùng diệt trí,  đạo trí lìa ái của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Chín đạo vô ngại, tám  đạo giải thoát kia duyên diệt, đạo, sau cùng đạo giải thoát duyên bốn  ấm của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Đạo vô ngại kia cũng giống như  thế.
Lại có thuyết nói: Nếu khi lìa ái dục khởi định, dứt trừ một thứ  kiết xong mà vẫn trụ ở một đạo vô ngại kia duyên theo cõi Dục, một  đạo giải thoát duyên Sơ thiền. Nếu đã dứt đi hai thứ kiết xong mà trụ  ở hai đạo vô ngại kia, thì một đạo giải thoát duyên cõi Dục, một đạo  giải thoát duyên Sơ thiền. Nếu cho đến dứt tám thứ kiết rồi nhưng ở  tám đạo vô ngại kia thì bảy đạo giải thoát sẽ duyên cõi Dục, đạo giải  thoát thứ tám duyên Sơ thiền.
Lại có thuyết nói: Chín đạo vô ngại, chín đạo giải thoát đều  duyên cõi Dục, như lúc dùng khổ trí, tập trí lìa ái dục, thì chín đạo vô  ngại, chín đạo giải thoát đều duyên cõi Dục. Khổ trí, tập trí kia cũng  giống như thế.
 Hỏi: Nếu vậy thì không duyên hạnh sai trái, lầm lẫn đối với pháp  lìa dục, không gây ra chướng ngại, khó khăn đối với thuyết của kiền- độ Căn đã nói, làm sao hiểu được? Như nói: Có khi nào suy nghĩ pháp  cõi Sắc mà biết được cõi Dục hay không?
Đáp: Biết được.
 Đáp: Thuyết nầy, trước đã quán sát phân biệt về thời gian, hành,  nghĩa là trước đã tạo ra sự phân biệt, quán sát như thế, cõi Dục là thô,  Sơ thiền là chỉ.
 Hỏi: Theo thuyết của Kiền-độ Căn nói làm sao hiểu được? Như  nói: Có khi nào tư duy pháp cõi Vô sắc, mà biết được cõi Dục hay  không?

* Trang 871 *
device

Đáp: Không thể biết.
 Hỏi: Hành cũng là phân biệt, quán sát, mà đối tượng quán là xa,  chẳng phải đối với sau quán sát như thế mà có thể lìa dục được sao?
 Đáp: Lại có thuyết nói: Chín đạo vô ngại, chín đạo giải thoát đều  duyên Sơ thiền.
 Hỏi: Nếu vậy thì thuyết của kiền-độ Căn nói là khéo hiểu, như  nói: Vả chăng tư duy pháp cõi Sắc có thể biết cõi Dục?
Đáp: Có thể biết, cũng chẳng phải duyên, hành vi sai trái, lầm lẫn.
 Hỏi: Thế nào là duyên ở chỗ khác, lìa dục ở chỗ khác?
Đáp: Nếu duyên chỗ khác, lìa dục ở chỗ khác, thì điều nầy cũng không có lỗi, vì như dùng diệt trí, đạo trí duyên diệt, đạo mà lìa dục,  do khổ, tập dứt. Chỗ duyên lìa kia cũng giống như thế. Thuyết nói như  vậy, đều vì sinh ý giác của đệ tử. Nhưng nghĩa nầy vượt hơn thuyết  đầu. Chín đạo vô ngại duyên cõi Dục, chín đạo giải thoát duyên Sơ  thiền là tốt đẹp.
 Hỏi: Trong đạo vô ngại tu bao nhiêu hạnh, trong đạo giải thoát tu  bao nhiêu hạnh?
 Đáp: Người phàm phu khi lìa ái dục, trong đạo vô ngại, tu ba  hạnh như thô v.v... Trong tám đạo giải thoát, tu sáu hạnh, nghĩa là ba  hạnh như thô v.v..., ba hạnh như chỉ v.v... Trong đạo giải thoát sau  cùng, thì tu sáu hạnh nầy, cũng tu vô lượng hạnh của Vị chí, Sơ thiền,  cho đến lìa ái của Vô sở hữu xứ cũng giống như thế. Lúc bậc Thánh  lìa ái dục, đã tu mười chín hạnh trong đạo vô ngại, nghĩa là ba hạnh  như thô v.v..., mười sáu hành Thánh hữu lậu, vô lậu. Tu hai mươi hạnh  trong tám đạo giải thoát nghĩa là ba hạnh như thô v.v..., ba hạnh như  chỉ v.v..., mười sáu hành Thánh hữu lậu, vô lậu. Trong đạo giải thoát  sau cùng, tức tu hai mươi hai hạnh nầy, cũng là tu vô lượng hạnh của  Vị chí, Sơ thiền.
Lúc bậc Thánh lìa dục của Sơ thiền, đã tu mười chín hạnh trong  đạo vô ngại, nghĩa là ba hạnh như thô v.v..., mười sáu hành Thánh chỉ  tu vô lậu, chẳng phải hữu lậu. Tu hai mươi hai hạnh trong tám đạo giải  thoát, nghĩa là ba hạnh như thô, v.v..., ba hạnh như chỉ, v.v... và mười  sáu hành Thánh, chỉ tu vô lậu chẳng phải hữu lậu. Đạo giải thoát sau  cùng, tức tu hai mươi hai hạnh nầy, cũng tu vô lượng hạnh của Vị chí,  Sơ thiền, cho đến lìa ái của Vô sở hữu xứ cũng giống như thế.
 Hỏi: Vì sao bên Sơ thiền, tu hạnh hữu lậu, vô lậu, còn bên địa  trên, chỉ tu vô lậu, không tu hữu lậu?
Đáp: Vì bên cạnh Sơ thiền có hạnh Thánh hữu lậu, vô lậu, cho  nên

* Trang 872 *
device

tu. Bên cạnh hạnh trên chỉ có hạnh vô lậu, không có hữu lậu, cho nên  chỉ tu hạnh vô lậu.
Lại có thuyết nói: Người phàm phu khi lìa ái dục, tu chín hạnh  trong chín đạo vô ngại, nghĩa là ba hạnh như thô v.v..., từ, bi, hỷ, xả  quán bất tịnh, niệm an ban. Tu mười hai hạnh trong tám đạo giải thoát,  tức chín hạnh trên và ba hạnh như chỉ v.v... Trong đạo giải thoát sau  cùng, tức tu mười hai hạnh nầy, cũng tu vô lượng hạnh của Vị chí, Sơ  thiền. Lúc bậc Thánh lìa ái dục, đã tu hai mươi lăm hạnh trong đạo vô  ngại, nghĩa là ba hạnh như thô v.v..., từ, bi, hỷ, xả, quán bất tịnh, niệm - ban, và mười sáu hành Thánh hữu lậu, vô lậu. Tu hai mươi tám hạnh  trong tám đạo giải thoát, tức hai mươi lăm hạnh nầy và ba hạnh như  chỉ v.v... Trong đạo giải thoát sau cùng, tức tu hai mươi tám hạnh nầy  và tu vô lượng hạnh của Vị chí, Sơ thiền. Bên địa trên, như trên đã  nói.
 Hỏi: Vì sao bên Sơ thiền, tu các hạnh như thế,v.v… còn bên địa  trên thì không tu?
 Đáp: Do bên Sơ thiền có các thứ căn thiện, nên tu các hạnh như  thế v.v..., còn bên địa trên, vì căn thiện ít, nên không tu các hạnh như  thế v.v...
Lại nữa, vì cõi Dục có các thứ phiền não, nên tu các thứ đối trị,  còn ở địa trên vì không có các thứ phiền não, nên không cần các thứ  đối trị. Các hạnh đã nói trong đây, tồn tại ở hiện tại, đều cùng chuyển  vận, gánh vác nặng đồng sở duyên, như trên đã nói.
Hỏi: Đối tượng tu hành của đời vị lai là sở duyên nào?
 Đáp: Khi lìa ái dục, người tu ba hạnh như thô v.v..., trong chín  đạo vô ngại, duyên với cõi Dục. Người tu ba hạnh như thô v.v... trong  tám đạo giải thoát, duyên Sơ thiền cõi Dục, người tu ba hạnh chỉ v.v...  duyên Sơ thiền. Người tu ba hạnh như thô v.v... trong đạo giải thoát  sau cùng duyên duyên với Sơ thiền, cho đến Phi tưởng Phi phi tưởng  xứ. Khi lìa dục Sơ thiền, tu hành ba hạnh như hạnh thô, v.v… trong chín  đạo Vô ngại thì duyên với Sơ thiền. Tu ba hạnh như thô, v.v… trong  tám đạo giải thoát thì duyên với Sơ thiền, Nhị thiền. Tu ba hạnh như  chỉ, v.v… thì duyên với Nhị thiền. Tu ba hạnh như thô, v.v… trong đạo  giải thoát sau cùng thì duyên với ba cõi, tu hạnh như hạnh như chỉ,  v.v… thì duyên với Nhị thiền cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Lìa dục đệ Nhị thiền, dục đệ Tam thiền, nên tùy tướng nói.
Khi lìa dục đệ Tứ thiền, người tu ba hạnh như thô v.v... trong chín  đạo vô ngại, duyên đệ Tứ thiền. Người tu ba hạnh như thô v.v... trong  tám đạo giải thoát, duyên đệ Tứ thiền và Không xứ. Người tu ba hạnh

* Trang 873 *
device

như chỉ v.v... duyên Không xứ. Người tu ba hạnh như thô v.v..., ba  hạnh như chỉ v.v... trong đạo giải thoát sau cùng duyên Không xứ, cho  đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ.
 Hỏi: Nếu khi lìa dục của đệ Tứ thiền, người tu ba hạnh như thô  v.v... trong tám đạo giải thoát, duyên đệ Tứ thiền và Không xứ. Kinh  Thức Thân đã nói, làm sao hiểu? Như nói: Có khi nào tâm lệ thuộc cõi  Vô sắc, có thể biết cõi Sắc, cõi Vô sắc hay chăng?   Đáp: Không biết. Trong kinh kia, ngăn một khoảng sát-na, không  thường nối tiếp. Nếu trong khoảnh một sát-na mà có thể được cõi Sắc,  cõi Vô sắc thì không có việc đó. Đạo giải thoát kia khởi hiện ở trước,  người tu hành ở vị lai, hoặc duyên cõi Sắc, cõi Vô sắc là không có  việc đó. Đạo giải thoát kia khởi hiện ở trước, người tu hành ở vị lai,  hoặc duyên cõi Sắc, hoặc duyên cõi Vô sắc. Cho nên trong một  khoảng sát- na không biết, thường nối tiếp nhau thì biết. Hai thuyết  đều khéo hiểu!
Khi lìa dục của Không xứ, người tu ba hạnh như thô v.v... trong  chín đạo vô ngại, duyên với Không xứ. Người tu ba hạnh như chỉ, v.v…  duyên với Thức xứ. Người tu ba hạnh như thô v.v... trong tám đạo giải  thoát, duyên ở Không xứ, Thức xứ. Người tu ba hạnh như thô v.v..., ba  hạnh như chỉ v.v... trong đạo giải thoát sau cùng, duyên thức xứ, cho  đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ lìa dục của Thức xứ, lìa dục của Vô sở  hữu xứ, nên tùy tướng mạo nói.
 Hỏi: Vì sao các hạnh đã tu trong thiền, đều duyên với ba cõi, còn  các hạnh đã tu trong Vô sắc, chỉ duyên cõi Vô sắc?
 Đáp: Thiền có thể duyên khắp, có thể duyên địa mình, có thể  duyên địa dưới, cũng duyên ở địa trên, còn định Vô sắc thì không thể  duyên khắp, chỉ có thể duyên địa mình, và duyên địa trên, không  duyên ở địa dưới. Do việc nầy, nên các hạnh đã tu trong thiền có thể  duyên ba cõi.
Các hạnh đã tu trong Vô sắc, chỉ duyên cõi Vô sắc. Chủng, kiết,  do kiến đạo dứt, thuộc cõi Dục đã dứt, là thuộc về quả Sa-môn nào?
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
Đáp: Các phiền não, trước phân biệt ở cõi, chưa phân biệt chủng. Nay vì muốn phân biệt chủng, nên soạn luận nầy.
 Hỏi: Chủng loại kiết, do kiến đạo dứt thuộc cõi Dục dứt, không  có xứ sởlà thuộc về quả Sa-môn nào?
 Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn không có  xứ sở, nghĩa là tu-đà-hoàn về quả Tu-đà-hoàn, cho đến A-la-hán thuộc  về quả A-la-hán. Không có xứ sở, nghĩa là người phàm phu lìa dục,

* Trang 874 *
device

người lìa dục không có xứ sở, được chánh quyết định. Mười lăm  khoảnh tâm trong kiến đạo, người thứ lớp không có xứ sở với hai  khoảnh tâm của kiến đạo đế trong kiến đạo. Thời gian như thế v.v...  không có xứ sở. Chủng loại kiết, do kiến đạo dứt cõi Dục.
 Hỏi: Chủng loại kiết, do tu đạo cõi Dục dứt trừ dứt, không có xứ  sở, là thuộc về quả nào?
 Đáp: Quả A-na-hàm thuộc về quả A-la-hán. A-na-hàm thuộc về  quả A-na-hàm. A-la-hán thuộc về giới của A-la-hán. Không có xứ sở  nghĩa là người phàm phu lìa dục, người lìa dục không có xứ sở được  chánh quyết định. Người thứ lớp không có xứ sở của mười lăm khoảnh  tâm, không được nói là không có xứ sở. Vì sao? Vì khi lìa ái dục, đạo  vô ngại sau cùng sẽ dứt trừ kiết mà tu đạo dứt.
 Hỏi: Khi đạo giải thoát sinh, tức thuộc về quả A-na-hàm, chủng  loại kiết, bị kiến đạo, thuộc cõi Sắc đã dứt, là thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn không có xứ  sở, như trên đã nói. Hoặc không có xứ sở, nghĩa là người phàm phu khi  lìa ái sắc, người lìa ái sắc không có xứ sở được chánh quyết định.  Người thứ lớp không có xứ sở của mười lăm khoảnh tâm, không được  nói là không có xứ sở. Vì sao? Vì đạo tỷ nhẫn rốt ráo dứt trừ kiết nầy.  Lúc đạo tỷ trí sinh, dứt kia tức thuộc về quả.
 Hỏi: Chủng loại kiết, do tu đạo thuộc cõi Sắc dứt trừ, là thuộc về  quả nào?
 Đáp: Thuộc về quả A-la-hán. Hoặc A-la-hán không có xứ sở,  thuộc về quả A-la-hán.
Không có xứ sở nghĩa là người phàm phu lìa ái sắc, người lìa ái  sắc không có xứ sở được chánh quyết định, khoảng mười lăm tâm  trong kiến đạo, đạo tỷ trí hiện ở trước, người thứ lớp không có xứ sở,  khi lìa dục của đệ Tứ thiền, đạo giải thoát sau cùng không có xứ sở,  khi lìa ái của Không xứ, không có xứ sở của chín đạo vô ngại, chín  đạo giải thoát, cho đến khi lìa ái của như vô sở hữu xứ, cũng như thế.  Khi lìa ái của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, khi tám đạo vô ngại, tám  đạo giải thoát và do tu đạo thuộc cõi Sắc dứt là kiết đã dứt, đã biết,  thuộc cõi Vô sắc không có xứ sở. Chủng loại kiết, do kiến đạo dứt trừ là thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn. Bốn quả Sa-môn như trên đã  nói, ở đây không nói người phàm phu không xứ sở. Vì sao? Vì không  có người phàm phu có thể lìa sự tham ái ở nơi Phi tưởng Phi phi tưởng  xứ.  
Đáp: Người thứ lớp cũng không được nói không có xứ sở. Vì sao?

* Trang 875 *
device

Vì Đạo tỳ nhẫn rốt ráo dứt kiết nầy. Khi đạo tỷ trí hiện ra trước thì dứt  ấy thuộc về quả, kiết chủng mà tu đạo về cõi Vô sắc dứt trừ là lệ  thuộc cõi nào?
 Đáp: Chỉ thuộc về quả A-la-hán, trong đây người phàm phu  không lìa dục, vì sao? Vì không có người phàm phu nào có khả năng  lìa ái của Phi phi tưởng xứ. Người thứ lớp cũng không được nói không  có nơi chốn. Vì sao? Vì định Kim cương dụ rốt ráo dứt trừ kiết nầy.  Lúc tận trí mới sinh, sự dứt trừ của định Kim cương dụ kia thuộc về  quả, nghĩa là quả A-la-hán.
Kiết có năm thứ, nghĩa là từ chủng loại, bị kiến khổ dứt cho đến  chủng loại là do tu đạo dứt.
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Trước kia đã phân biệt phiền não ở giới có hai thứ, chưa  phân biệt năm chủng loại. Nay vì muốn phân biệt, nên soạn luận nầy.
Hỏi: Chủng loại kiết, do kiến khổ dứt trừ là thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn không có  xứ sở, như trên đã nói. Không có xứ sở: Trong đây, không nên nói  người phàm phu lìa dục, vì người phàm phu theo thứ lớp, khoảnh nhất  tâm lúc kiến khổ (Khoảnh nhất tâm lúc kiến khổ của con người theo  thứ lớp), bốn khoảnh tâm khi kiến tập, bốn khoảnh tâm lúc kiến diệt,  ba khoảnh tâm khi kiến đạo. Lúc nầy chủng loại kiết, chỗ dứt trừ của  kiến khổ, dứt trừ. Sự dứt đó chẳng thuộc về quả.
Hỏi: Chủng loại kiết, do kiến tập dứt là thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn không có  xứ sở như đã nói ở trên. Không có xứ sở: Trong đây không có người  phàm phu lìa dục. Khoảnh nhất tâm lúc kiến tập của người theo thứ  lớp, bốn khoảnh tâm khi kiến diệt, ba khoảnh tâm khi kiến đạo, lúc  chủng loại kiết, mà kiến tập dứt. Sự dứt trừ kiết đó, chẳng thuộc về  quả Sa- môn.
Hỏi: Chủng loại kiết, mà kiến diệt dứt, sự dứt đó thuộc về quả nào?
Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc không có xứ sở: Trong đây không nói người phàm phu lìa dục, khoảnh nhất tâm của kiến diệt của  người thứ lớp, ba khoảnh tâm của kiến đạo là lúc chủng loại kiết, bị  kiến diệt dứt. Sự dứt đó chẳng phải thuộc về quả Sa-môn.
Hỏi: Chủng loại kiết, do kiến đạo dứt, sự dứt đó thuộc về quả nào?
Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn. Trong đây không nói phàm phu

* Trang 876 *
device

lìa dục, cũng không nói người theo thứ lớp. Vì sao? Vì đạo tỷ trí rốt  ráo dứt kiết nầy. Đạo tỷ trí hiện ở trước. Sự dứt đó tức là thuộc về quả.
 Hỏi: Chủng loại kiết, do tu đạo dứt, sự dứt trừ kiết đó thuộc về  quả nào?
 Đáp: Thuộc về quả A-la-hán. Trong đây không nói người phàm  phu lìa dục, cũng không nói người theo thứ lớp. Vì sao? Vì định Kim  cương dụ rốt ráo dứt trừ kiết nầy. Lúc đầu tận trí hiện ở trước. Sự dứt  trừ kiết đó tức là thuộc về quả, đó là quả A-la-hán.
Kiết có chín thứ: Thứ kiết, mà khổ pháp trí dứt trừ, thứ kiết do  khổ tỷ trí dứt trừ, thứ kiết mà tập pháp trí dứt trừ, thứ kiết mà tập tỷ trí  dứt trừ, thứ kiết mà diệt pháp trí dứt trừ, thứ kiết mà diệt tỷ trí dứt trừ,  thứ kiết àm đạo pháp trí dứt trừ, thứ kiết mà đạo tỷ trí dứt trừ, thứ kiết  mà tu đạo dứt trừ.
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Trước đã phân biệt phiền não ở giới, có hai chủng loại, có  năm chủng loại, chưa phân biệt chủng loại của chỗ dứt trừ. Nay vì  muốn phân biệt, nên soạn luận nầy.
 Hỏi: Chủng loại kiết, chỗ dứt trừ của khổ pháp trí dứt trừ, sự dứt  đó thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn không có  xứ sở như trên đã nói. Không có xứ sở, nghĩa là người phàm phu lìa  dục, người lìa dục không có xứ sở được chánh quyết định. Mười lăm  khoảnh tâm trong kiến đạo, ba khoảnh tâm kiến khổ của người thứ  lớp, bốn khoảnh tâm của kiến tập, bốn khoảnh tâm của kiến diệt, ba  khoảnh tâm của kiết đạo. Lúc nầy là chủng loại kiết, chỗ dứt trừ của  Khổ tỷ trí đã dứt. Sự dứt đó chẳng phải thuộc về quả Sa-môn.
 Hỏi: Chủng loại kiết, do khổ tỷ trí dứt trừ, sự dứt trừ kiết đó  thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn không có  xứ sở, đã nói như trên. Không có xứ sở: Trong đây không nói người  phàm phu lìa dục, khoảnh một tâm của kiến khổ của người thứ lớp,  bốn khoảnh tâm của kiến tập, bốn khoảnh tâm của kiến diệt, ba  khoảnh tâm của kiến đạo, là thời gian chủng loại kiết, bị Khổ tỷ trí  dứt. Sự dứt đó chẳng thuộc về quả Sa-môn.
 Hỏi: Chủng loại kiết, bị tập pháp trí dứt trừ, sự dứt đó thuộc về  quả nào?
 Đáp: Bốn quả Sa-môn, hoặc không xứ sở. Bốn quả Sa-môn như  trên đã nói. Không xứ sở là người phàm phu lìa dục. Người lìa dục

* Trang 877 *
device

không xứ sở được quyết định đúng, mười lăm khoảnh tâm trong kiến  đạo, người thứ lớp, người không xứ sở kiến tập có ba khoảnh tâm, kiến  diệt có ba khoảnh tâm, kiến đạo có ba khoảnh tâm. Lúc ấy, loại kiết  do tập pháp trí dứt trừ, sự dứt trừ ấy chẳng thuộc quả Sa-môn, loại kiết  do tập tỷ trí dứt trừ, sự dứt trừ ấy thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn không có  xứ sở, như trên đã nói. Không có xứ sở: Trong đây không nói người  phàm phu lìa dục, người lìa dục không có xứ sở được chánh quyết  định. Người thứ lớp không có xứ sở của khoảnh mười lăm tâm trong  kiến đạo, bốn khoảnh tâm của kiến tập, bốn khoảnh tâm của kiến diệt,  ba khoảnh tâm của kiến đạo, lúc nầy chủng loại kiết, bị Tập pháp trí  dứt trừ. Sự dứt trừ kiết đó chẳng thuộc về quả Sa-môn.
 Hỏi: Chủng loại kiết, bị tập tỷ trí dứt, sự dứt trừ kiết đó là thuộc  về quả nào?
 Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn không có  xứ sở, như trên đã nói. Không có xứ sở: Trong đây không nói người  phàm phu lìa dục, khoảnh một tâm của kiến diệt của người thứ lớp, ,  ba khoảnh tâm của kiến đạo, lúc nầy chủng loại kiết, bị tập tỷ trí dứt  trừ. Sự dứt đó, chẳng thuộc về quả Sa-môn.
 Hỏi: Chủng loại kiết, bị đạo pháp trí dứt, sự dứt trừ đó thuộc về  quả nào?
 Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn không có  xứ sở, như trên đã nói. Không có xứ sở: Người phàm phu lìa dục,  người lìa dục không có xứ sở, được chánh quyết định, khoảnh mười  lăm tâm trong kiến đạo của người thứ lớp không có xứ sở, ba khoảnh  tâm của kiến diệt, ba khoảnh tâm của kiến đạo, lúc nầy, chủng loại  kiết chỗ dứt trừ của Diệt pháp trí đã dứt. Sự dứt đó, chẳng thuộc về  quả Sa-môn.
Hỏi: Chủng loại kiết, bị diệt tỷ trí dứt, sự dứt trừ đó thuộc về quả nào?
Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn không có xứ sở, như trên đã nói. Không có xứ sở: Trong đây không nói người  phàm phu lìa dục, khoảnh một tâm của kiến diệt của người thứ lớp, ba  khoảnh tâm của kiến đạo, bấy giờ chủng loại kiết, bị diệt tỷ trí dứt. Sự  dứt đó, chẳng thuộc về quả Sa-môn.
 Hỏi: Chủng loại kiết, bị đạo pháp trí dứt trừ, sự dứt trừ kiết đó là  thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn không có  xứ sở, như trên đã nói. Không có xứ sở: Người phàm phu lìa dục,  người

* Trang 878 *
device

lìa dục không có xứ sở, được chánh quyết định, người thứ lớp không có  xứ sở, khoảnh mười lăm tâm của kiến đạo, khoảnh hai tâm của kiến  đạo, lúc nầy, chủng loại kiết chỗ dứt trừ của Đạo pháp trí dứt trừ. Sự  dứt trừ kiết đó, chẳng thuộc về quả Sa-môn.
 Hỏi: Chủng loại kiết, do đạo tỷ trí dứt, sự dứt trừ kiết đó thuộc về  quả nào?
 Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn, như trên  đã nói. Trong đây không nói người phàm phu lìa dục, cũng không nói  là người của thứ lớp. Vì sao? Vì đạo tỷ trí rốt ráo dứt trừ kiết nầy, đạo  tỷ trí hiện ở trước. Sự dứt trừ kiết đó tức là thuộc về quả.
 Hỏi: Chủng loại kiết, do tu đạo dứt dứt trừ, sự dứt trừ kiết đó  thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về quả A-la-hán. Trong đây không nói người phàm  phu lìa dục, cũng không nói người của thứ lớp. Vì sao? Vì định Kim  cương dụ, rốt ráo dứt trừ kiết nầy. Tận trí đầu tiên hiện ở trước. Sự dứt  trừ kiết kia tức là thuộc về quả, nghĩa là quả A-la-hán.
 Hỏi: Vì là đạo vô ngại dứt trừ kiết, hay là đạo giải thoát dứt trừ  kiết? Nếu đạo vô ngại dứt trừ kiết, thì theo thuyết của văn nầy nói làm  sao hiểu? Như nói: Các kiết do thấy khổ mà dứt trừ, kiết ấy có do khổ  trí dứt trừ không?
Đáp: Kiết đó do nhẫn khổ dứt trừ.
Các kiết, cho đến kiến đạo dứt trừ, kiết đó có do đạo trí dứt trừ  không?
 Đáp: Các kiết do nhẫn đạo dứt trừ. Nên nói rằng: Các kiết do  đạo vô ngại dứt trừ.
 Hỏi: Nếu vậy theo thuyết của Kiền-độ Trí nói thì khéo hiểu, còn  văn nầy nói làm sao hiểu? Như nói: Chủng loại kiết, bị khổ pháp trí  dứt trừ, cho đến nói rộng?
 Đáp: Văn nầy nên nói rằng: Kiết có chín thứ, thứ kiết, do khổ  pháp nhẫn dứt trừ, cho đến thứ kiết, do đạo pháp nhẫn dứt trừ, mà  không nói là có ý gì?
 Đáp: Nhẫn thuộc về trí, là quyến thuộc của trí. Nếu nhẫn mà dứt,  thì cũng gọi là trí dứt. Giống như thuộc về người của vua, nếu có làm  điều gì thì cũng gọi là vua làm. Nhẫn kia cũng giống như thế.
Lại nữa, đạo vô ngại dứt trừ kiết, đạo giải thoát thì gìn giữ sao  cho bất động. Nếu đạo giải thoát không chú trọng gìn giữ thì phiền  não lại sinh ra lỗi lầm. Như người trước đánh ngã kẻ thù, nằm sóng  sượt dưới đất, một người sau đến, nắm giữ khiến hắn không nhúc  nhích. Nếu

* Trang 879 *
device

người đến sau, không cầm giữ lại, thì kẻ thì lại đứng dậy, gây ra lỗi  lầm tai hại. Lại như có người từ trong nhà mình đuổi kẻ thù chạy ra,  một người đến sau, đóng chặt cổng nhà anh ta lại. Mặc dù một người  đuổi kẻ oán ra, nhưng nếu người đến sau, không đóng chặc cổng, thì  kẻ oán sẽ trở vào gây nên lỗi lầm tai hại. Cũng như có người trước  đựng đầy rắn độc trong chiếc bình, một người đến sau đậy chặt miệng  bình lại. Mặc dù một người đã đựng rắn trước, nhưng người đến sau,  nếu không bịt chắc miệng bình lại, thì rắn độc sẽ bò ra gây nên. Hai  độc kia cũng giống như thế.
Lại nữa, đạo vô ngại dứt trừ kiết, công năng của đạo giải thoát  rất nhiều, như thuyết của Kiền-độ Căn đã nói, trong đây lại phân biệt  rộng.
Lại nữa, đạo vô ngại dứt trừ kiết. Sự dứt trừ kiết đó là giải thoát  đắc, đều sinh chung với giải thoát. Vì đều sinh chung, nên đạo giải  thoát cũng được gọi là đạo dứt trừ kiết.
Lại nữa, đạo vô ngại dứt trừ kiết, đạo giải thoát đồng làm chung  một việc với đạo vô ngại, vì đồng làm chung một việc, nên đạo giải  thoát cũng gọi là đạo dứt trừ kiết.
Kiết có mười lăm thứ. Chủng loại kiết, do kiến khổ cõi Dục dứt  trừ, cho đến chủng loại kiết, do tu đạo dứt trừ kiết cõi Sắc, cõi Vô sắc  cũng giống như thế.
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Trước đã phân biệt các phiền não ở giới, hai chủng, năm  chủng, chủng đối trị, chưa phân biệt về giới, chủng. Nay vì muốn phân  biệt về giới, chủng nên soạn luận nầy?
Hỏi: Chủng loại kiết, do kiến khổ cõi Dục dứt trừ là thuộc về quả nào?
Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn không có xứ sở, như trên đã nói. Không có xứ sở: Người phàm phu lìa dục,  người lìa dục không có xứ sở, được chánh quyết định. Người thứ lớp  không có xứ sở của mười lăm khoảnh tâm trong kiến đạo. Ba khoảnh  tâm của kiến khổ, bốn khoảnh tâm của kiến tập, bốn khoảnh tâm của  kiến diệt, ba khoảnh tâm của kiến đạo, là lúc chủng loại kiết, do kiến  khổ cõi Dục, dứt trừ. Sự dứt trừ kiết đó chẳng phải thuộc về quả Sa- môn. Do kiến tập dứt, thuộc cõi Dục, chỗ dứt trừ của kiến diệt, do kiến  đạo dứt, do tu đạo dứt, nên theo tướng mạo mà nói.
 Hỏi: Chủng loại kiết, chỗ dứt trừ của kiến khổ thuộc cõi Sắc, sự  dứt trừ kiết đó là thuộc về quả nào?

* Trang 880 *
device

 Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn không có  xứ sở, như trên đã nói. Không có xứ sở: Người phàm phu lìa ái sắc,  người lìa ái sắc không có xứ sở, được chánh quyết định. Người của thứ  lớp không có xứ sở của mười lăm khoảnh tâm trong kiến đạo. Khoảnh  một tâm của kiến khổ của người thứ lớp không có xứ sở. Một khoảnh  tâm của kiến khổ, bốn khoảnh tâm của kiến tập. Một bốn khoảnh tâm  của kiến diệt, ba khoảnh tâm của kiến đạo không có xứ sở. Lúc nầy,  chủng loại kiết, bị kiến khổ, thuộc cõi Sắc dứt trừ. Sự dứt trừ đó chẳng  thuộc về quả Sa-môn, chủng loại kiết, bị kiến tập dứt, kiến diệt, kiến  đạo, tu đạo, thuộc cõi Sắc dứt trừ, nên theo tướng mạo mà nói. Chủng  loại kiết, do năm chủng cõi Vô sắc, dứt trừ, cũng theo tướng mạo mà  nói.
Hỏi: Thân kiến dứt là thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về bốn quả Sa-môn, hoặc bốn quả Sa-môn không có  xứ sở, như trên đã nói. Không có xứ sở: Trong đây không nói người  phàm phu lìa dục, một khoảnh tâm của kiến khổ của người thứ lớp,  bốn khoảnh tâm của kiến tập, bốn khoảnh tâm của kiến diệt, ba  khoảnh tâm của kiến đạo, thân kiến dứt lúc nầy. Sự dứt đó chẳng  thuộc về quả Sa- môn. Như thân kiến dứt, thân kiến trong phần dưới  dứt, cũng nói như thế, giới thủ, nghi dứt trừ.
Hỏi: Sự dứt kiến đó thuộc về quả nào?
 Đáp: Bốn quả Sa-môn, bốn quả Sa-môn không có xứ sở như trên  đã nói. Trong đây không nói người phàm phu lìa dục, cũng không nói  người thứ lớp. Vì sao? Vì Đạo tỷ nhẫn rốt ráo dứt trừ kiết nầy, đạo tỷ  trí hiện ở trước. Sự dứt trừ kiết đó là thuộc về quả Sa-môn. Như giới  thủ, nghi dứt kiến lưu, kiến ách, kiến thủ. Kiến thủ, thân ràng buộc  giới thủ, thân ràng buộc kiến thủ, giới thủ, nghi trong phần dưới, tà  kiến trong kiến, kiến thủ, giới thủ, sử kiến, sử nghi, kiết kiến, nói rộng  cũng giống như thế.
 Hỏi: Căn bất thiện, tham, giận, si và dục lậu dứt, sự dứt đó thuộc  về quả nào?
 Đáp: Thuộc về quả A-na-hàm, quả A-la-hán, hoặc không có xứ  sở, nói rộng như chủng loại kiết, bị kiến đạo, tu đạo dứt, thuộc cõi Dục  đã dứt, như dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Phiền não khác tương tự với  kiết kia, nên theo tướng mạo của chúng mà nói.
Nghi, cái trong cái, nên nói rộng. Như chủng loại kiết, chỗ dứt  trừ của đạo pháp trí đã dứt, kiết phần trên, sẽ nói rộng. Như chủng loại  kiết, do tu đạo dứt cõi Sắc, cõi Vô sắc đã dứt.
Hỏi: Sự xúc chạm của mắt, tai, thân, sinh ra ra ái đã dứt là thuộc

* Trang 881 *
device

  về quả nào?
 Đáp: Thuộc về quả A-la-hán, hoặc A-la-hán không có xứ sở, là  thuộc về quả A-la-hán. Không có xứ sở: Người phàm phu đã lìa ái của  Phạm thế không có xứ sở. Người lìa ái của Phạm thế, được chánh  quyết định. Mười lăm khoảnh tâm trong kiến đạo và người thứ lớp  không có xứ sở của Đạo tỷ trí, lúc dứt trừ ái của Sơ thiền, đầy đủ giải  thoát sau cùng, dứt của Đệ Nhị thiền, cho đến dứt trừ ái của Vô sở hữu  xứ. Chín đạo vô ngại, chín đạo giải thoát lìa ái của Phi tưởng Phi phi  tưởng xứ. Chín đạo vô ngại, tám đạo giải thoát, lúc nầy, sự xúc chạm  của mắt, tai, thân, sinh ái đã dứt trừ. Sự dứt đó chẳng thuộc về quả Sa- môn. Chín mươi tám sử dứt, nói rộng, như chủng loại của mười lăm  kiết dứt.
 Hỏi: Hướng về chủng loại kiết do người chứng quả Tu-đà-hoàn  đã dứt, mà dứt. Sự dứt đó thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về không có xứ sở. Vì sao? Vì trước quả Tu-đà- hoàn, thì không có quả nào để gồm nhiếp sự dứt trừ kia. Tu-đà-hoàn  thuộc về quả Tu-đà-hoàn, quả Tu-đà-hoàn gồm nhiếp chủng loại kiết,  bị kiến đạo dứt ba cõi đã dứt trừ.
 Hỏi: Hướng về chủng loại kiết do người chứng quả Tư-đà-hàm  đã dứt mà dứt. Sự dứt đó thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về quả Tu-đà-hoàn, hoặc không có xứ sở. Quả Tu- đà- hoàn gồm nhiếp chủng loại kiết, do kiến đạo dứt ba cõi đã dứt.  Không có xứ sở, nghĩa là người của thứ lớp dứt bỏ năm thứ kiết mà cõi  Dục đã dứt. Sự dứt đó chẳng thuộc về quả Tu-đà-hoàn. Vì sao? Vì đã  chứng đạo quả vượt hơn kia. Như đạo quả vượt hơn kia chẳng thuộc về  quả, sự dứt trừ cũng giống như thế. Tư-đà-hàm là thuộc về quả Tư-đà- hàm. Quả Tư-đà-hàm gồm nhiếp chủng loại kiết, mà kiến đạo dứt ba  cõi, đã dứt và sáu thứ kiết, do tu đạo dứt cõi Dục đã dứt.
 Hỏi: Hướng về người chứng quả A-na-hàm đã dứt bỏ chủng loại  kiết mà dứt, sự dứt đó là thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về quả Tư-đà-hàm, hoặc quả Tư-đà-hàm không có  xứ sở, gồm nhiếp chủng loại kiết, do kiến đạo dứt ba cõi đã dứt. Và  sáu thứ kiết, do tu đạo dứt cõi Dục đã dứt. Không có xứ sở: Đoạn bảy  thứ, tám thứ kiết, do tu đạo dứt cõi Dục đã dứt.
 Hỏi: Hướng về chủng loại kiết người chứng quả A-la-hán đã dứt  trừ mà dứt. Sự dứt đó thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về quả A-na-hàm, hoặc là quả A-na-hàm không có  xứ sở, gồm nhiếp chủng loại kiết, do kiến đạo dứt ba cõi đã dứt. Và  chín thứ kiết, do tu đạo dứt cõi Dục đã dứt. Không có xứ sở: Dứt bỏ  chín thứ

* Trang 882 *
device

kiết của Sơ thiền, cho đến chín thứ kiết của Vô sở hữu xứ, dứt bỏ tám  thứ kiết của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Vì sao? Vì chứng đạo quả  vượt hơn. Như đạo quả vượt hơn chẳng thuộc về quả, sự dứt kia cũng  thế. A- la-hán thuộc về quả A-la-hán, quả A-la-hán gồm nhiếp hết  chủng loại kiết, do kiến đạo, tu đạo dứt của ba cõi.
 Hỏi: Như dứt bỏ một thứ kiết, cho đến dứt trừ năm thứ kiết, vì  được Đạo tỷ trí, nên gọi là tu-đà-hoàn, dứt năm thứ kiết thuộc cõi Dục,  chẳng thuộc về quả Tu-đà-hoàn. Nếu dứt bỏ bảy thứ, tám thứ kiết, thì  được chánh quyết định. Lúc được đạo tỷ trí gọi là Tư-đà-hàm, dứt bỏ  bảy thứ, tám thứ kiết kia, chẳng phải thuộc về quả Tư-đà-hàm. Nếu lìa  ái của Sơ thiền, cho đến lìa ái của Vô sở hữu xứ, thì sẽ được chánh  quyết định. Lúc được đạo tỷ trí, gọi là quả A-na-hàm. A-na-hàm kia  đã dứt chín thứ kiết của Sơ thiền, cho đến chín thứ kiết của Vô sở hữu  xứ, chẳng phải thuộc về quả A-na-hàm. Vì sao nói Tu-đà-hoàn thuộc  về quả Tu-đà- hoàn? Tư-đà-hàm thuộc về quả Tư-đà-hàm, A-na-hàm  thuộc về quả A-na-hàm. Vì sao không nói? Hay là không có xứ sở  chăng?
 Đáp: Văn ấy nên nói rằng: Tu-đà-hoàn thuộc về quả Tu-đà- hoàn, hoặc không có xứ sở. Tư-đà-hàm thuộc về quả Tư-đà-hàm, hoặc  không có xứ sở. A-na-hàm thuộc về quả A-na-hàm, hoặc không có xứ  sở, mà không nói là có ý gì?
 Đáp: Thuyết nầy nói con người ràng buộc đủ theo thứ lớp, không  nói là người siêu việt.
Kiến đế đầy đủ, đệ tử của Đức Thế tôn chưa lìa ái dục đã dứt,  dứt loại kiết do tu đạo thuộc cõi Dục đã dứt. Sự dứt đó thuộc về quả  nào?
 Đáp: Thuộc về quả Tư-đà-hàm gồm nhiếp sáu thứ kiết, do tu đạo  dứt cõi Dục đã dứt. Không có xứ sở: Dứt bảy thứ, tám thứ kiết dứt, đã  lìa ái dục, chưa lìa ái sắc. Chủng loại kiết, do tu đạo dứt, cõi Sắc đã  dứt. Sự dứt đó thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về không có xứ sở, dứt bỏ chín thứ kiết của Sơ thiền,  cho đến tám thứ kiết của đệ Tứ thiền đã dứt. Không có xứ sở đã lìa ái  sắc, chưa lìa ái Vô sắc dứt. Chủng loại kiết, do tu đạo dứt cõi Vô sắc  đã dứt.
Hỏi: Sự dứt đó thuộc về quả nào?
 Đáp: Thuộc về Không có xứ sở dứt bỏ chín thứ kiết của Không  xứ, cho đến dứt tám thứ kiết của Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, không có  xứ sở.
?????

* Trang 883 *
device

Đại Tập 95 - Bộ Tỳ Đàm VII - Số 1546 (Quyển 1-40)