LOGO VNBET
 LUẬN A TỲ ĐÀM TỲ BÀ SA
 
QUYỂN 36
 
Chương 2: KIỀN-ĐỘ SỬ
 
Phẩm 3: NGƯỜI, Phần 3
 
 Chết ở cõi Dục, sinh lại cõi Dục, hết cõi Dục, có nối tiếp nhau  không? Cho đến nói rộng tạo ra bốn trường hợp. Có nhiều danh, ở đây  nói hữu, là hữu của năm ấm, số chúng sinh ở nơi thọ thân. Hữu khác  được nói rộng. Như trong một hành, làm sao chết ở cõi Dục, rồi sinh  lại cõi Dục, không là hữu cõi Dục nối tiếp nhau?
 Đáp: Như chết ở cõi Dục, sinh ở cõi Sắc trung hữu hiện tiền.  Chết ở cõi Dục, sinh lên cõi Sắc, vừa là bậc Thánh, vừa là phàm phu.  Trung hữu cõi Sắc kia ở cõi Dục hiện ở trước. Vì sao? Vì pháp nên như  thế. Nếu ở chỗ tử hữu diệt, tức ở chỗ trung hữu sinh. Như ở chỗ hạt  giống tiêu mất, thì ngay nơi đó sẽ mọc ra mầm. Sự sinh kia cũng giống  như thế.
Người chết ở cõi Dục, là chết ở cõi Dục tức có người chết cõi  Dục. Trung hữu cõi Sắc nầy chẳng phải dục hữu nối tiếp nhau. Sắc  hữu nối tiếp nhau là trung hữu cõi Sắc.
Thế nào là dục hữu nối tiếp nhau, không chết ở cõi Dục, bất sinh  cõi Dục?
 Đáp: Chết ở cõi Sắc, trung hữu ở cõi Dục hiện ở trước. Người  phàm phu chết ở cõi Sắc, trung hữu ở cõi Dục sẽ hiện ở trước ở cõi  Sắc. Pháp nên như thế. Nếu ở chỗ tử hữu diệt, tức là ở chỗ trung hữu  sinh nói rộng như trên. Đó gọi là dục hữu nối tiếp nhau, là trung hữu  cõi Dục, chẳng phải chết ở cõi Dục, chẳng phải sinh ở cõi Dục. Vì  sao? Vì chết ở cõi Sắc là tử hữu cõi Sắc. Sinh ở cõi Sắc là trung hữu  cõi Dục.
Thế nào là chết ở cõi Dục, sinh lại cõi Dục. hữu cõi Dục nối tiếp  nhau?
Đáp: Như chết ở cõi Dục, sinh lại cõi Dục là trung hữu, sinh hữu.

* Trang 917 *
device

  Chết ở cõi Dục, sinh lại cõi Dục, vừa là bậc Thánh, vừa là phàm phu.  Phàm phu ở các cõi không ngại sinh trong mỗi đường. bậc Thánh ở  trong các cõi có trở ngại, sinh trong cõi người, cõi trời. Chết ở cõi Dục  là tử hữu cõi Dục. Sinh cõi Dục là Trung hữu cõi Dục. Hữu cõi Dục  nối tiếp nhau là trung hữu cõi Dục. Nếu từ trung hữu cho đến sinh hữu:  Chết ở cõi Dục là trung hữu cõi Dục. Nếu sinh ở cõi Dục là sinh hữu  cõi Dục. Hữu cõi Dục nối tiếp nhau: Là sinh hữu cõi Dục.
Thế nào là chẳng phải chết ở cõi Dục, chẳng phải sinh ở cõi  Dục, chẳng phải hữu cõi Dục nối tiếp nhau phải không?
 Đáp: Chết ở cõi Sắc, sinh ở cõi Sắc là trung hữu sinh hữu. Chết ở  cõi Sắc, sinh ở cõi Sắc là trung hữu, sinh hữu, cũng là bậc Thánh, cũng  là phàm phu. Nếu lúc từ tử hữu đến trung hữu, thì không gọi là chết ở  cõi Dục. Vì sao? Vì chết ở cõi Sắc là tử hữu cõi Sắc, chẳng phải sinh ở  cõi Dục. Vì sao? Vì sinh ở cõi Sắc là trung hữu cõi Sắc chẳng phải  Hữu cõi Dục nối tiếp nhau. Vì sao? Vì Hữu cõi Sắc nối tiếp nhau là  Trung hữu cõi Sắc. Nếu lúc từ trung hữu đến sinh hữu thì chẳng phải  chết ở cõi Dục. Vì sao? Vì là trung hữu chết ở cõi Sắc, chẳng phải hữu  cõi Dục nối tiếp nhau. Vì sao? Vì hữu cõi Sắc nối tiếp nhau là sinh hữu  cõi Sắc.
Chết ở cõi Sắc, sinh lên cõi Vô sắc, vừa là bậc Thánh, vừa là  phàm phu. Bậc Thánh kia chẳng phải chết ở cõi Dục. Vì sao? Vì chết  ở cõi Sắc là tử hữu cõi Sắc, chẳng phải sinh ở cõi Dục, cõi Sắc mà là  sinh ở cõi Vô sắc là sinh hữu cõi Vô sắc, chẳng phải hữu cõi Dục nối  tiếp nhau. Vì sao? Vì hữu cõi Vô sắc nối tiếp nhau là sinh hữu cõi Vô  sắc.
Chết ở cõi Vô sắc, sinh ở cõi Vô sắc vừa là bậc Thánh, vừa là  phàm phu. Người phàm phu sinh lên cõi trên, cũng sinh xuống cõi  dưới. Bậc Thánh sinh lên cõi trên, bất sinh xuống cõi dưới. Kẻ phàm  phu mỗi người sinh nhiều chỗ. Bậc Thánh mỗi vị một sinh chỗ. bậc  Thánh kia chẳng phải chết ở cõi Dục. Vì sao? Vì chết ở cõi Vô sắc là  tử hữu cõi Vô sắc, chẳng phải sinh ở cõi Dục. Vì sao? Vì sinh ở cõi Vô  sắc là sinh hữu cõi Vô sắc, chẳng phải hữu cõi Dục nối tiếp nhau. Vì  sao? Vì hữu cõi Vô sắc nối tiếp nhau là sinh hữu cõi Vô sắc. Chết ở  cõi Vô sắc, sinh ở cõi Sắc, là phàm phu từ tử hữu, đến trung hữu.
Bậc Thánh kia chẳng phải chết ở cõi Dục. Vì sao? Vì chết ở cõi  Vô sắc là tử hữu cõi Vô sắc, bất sinh cõi Dục. Vì sao? Vì sinh ở cõi Vô  sắc là trung hữu cõi Sắc, chẳng phải dục hữu nối tiếp nhau. Vì sao? Vì  hữu cõi Sắc nối tiếp nhau, là trung hữu cõi Sắc.
Chết ở cõi Sắc, lại sinh cõi Sắc, vậy cả hữu cõi Sắc đều nối tiếp  nhau? Cho đến nói rộng thành bốn trường hợp.

* Trang 918 *
device

 Thế nào là chết ở cõi Sắc, sinh lại cõi Sắc, chẳng phải hữu cõi  Sắc nối tiếp nhau?
 Đáp: Chết ở cõi Sắc, trung hữu cõi Dục hiện ở trước. Chết ở cõi  Sắc, sinh cõi Dục là người phàm phu. Trung hữu cõi Dục, hiện ở trước  ở cõi Sắc nói rộng như trên.
Chết ở cõi Sắc là tử hữu cõi Sắc. Sinh ở cõi Sắc là trung hữu cõi  Dục, chẳng phải hữu cõi Sắc nối tiếp nhau. Vì sao? Vì hữu cõi Dục nối  tiếp nhau là trung hữu cõi Dục.
Thế nào là hữu cõi Sắc nối tiếp nhau, chẳng phải chết ở cõi Sắc,  chẳng phải sinh ở cõi Sắc?
 Đáp: Như chết ở cõi Dục, trung hữu cõi Sắc hiện ở trước. Chết ở  cõi Dục, sinh ở cõi Sắc, vừa là phàm phu, cũng là bậc Thánh. Trung  hữu cõi Sắc kia ở cõi Dục hiện ở trước nói rộng như trên. Đó gọi là  hữu ở cõi Sắc nối tiếp nhau.
Trung hữu cõi Sắc, chẳng phải chết ở cõi Sắc. Vì sao? Vì chết ở  cõi Dục là tử hữu cõi Dục, chẳng phải sinh ở cõi Sắc. Vì sao? Vì sinh  cõi Dục là trung hữu cõi Sắc.
Thế nào là chết ở cõi Sắc, sinh lại cõi Sắc, hữu cõi Sắc nối tiếp  nhau?
 Đáp: Chết ở cõi Sắc, sinh lại cõi Sắc, là trung hữu, sinh hữu.  Chết ở cõi Sắc, sinh lại cõi Sắc, vừa là phàm phu, vừa là bậc Thánh.  Phàm phu sinh lên trên, vừa sinh xuống dưới, mỗi chỗ có nhiều lần  sinh. Bậc Thánh sinh lên cõi trên, bất sinh ở cõi dưới, mỗi chỗ có một  lần sinh. Lúc từ tử hữu đến trung hữu chết ở cõi Sắc, là tử hữu cõi Sắc,  sinh ở cõi Sắc là Trung hữu cõi Sắc. Hữu cõi Sắc nối tiếp nhau là  trung hữu cõi Sắc. Lúc từ trung hữu đến sinh hữu, chết ở cõi Sắc là  trung hữu cõi Sắc, sinh ở cõi Sắc là sinh hữu cõi Sắc, hữu cõi Sắc nối  tiếp nhau là sinh hữu cõi Sắc.
Thế nào là chẳng phải chết ở cõi Sắc, chẳng phải sinh ở cõi Sắc,  chẳng phải hữu cõi Sắc nối tiếp nhau?
 Đáp: Chết ở cõi Dục, sinh cõi Dục là trung hữu, sinh hữu. Chết ở  cõi Dục, sinh lại cõi Dục, vừa là phàm phu, vừa là bậc Thánh, nói  rộng như trên. Lúc từ tử hữu đến trung hữu, chẳng phải chết ở cõi Sắc,  chẳng phải sinh ở cõi Sắc. Vì sao? Vì chết ở cõi Dục là tử hữu cõi  Dục. Sinh cõi Dục, là trung hữu cõi Dục, chẳng phải hữu cõi Sắc nối  tiếp nhau. Vì sao? Vì hữu cõi Dục nối tiếp nhau là trung hữu cõi Dục.  Thời gian từ trung hữu đến sinh hữu, chẳng phải chết ở cõi Sắc, chẳng  phải sinh ở cõi Sắc. Vì sao? Vì chết ở cõi Dục là trung hữu cõi Dục,  sinh ở cõi Dục

* Trang 919 *
device

  là sinh hữu cõi Dục, chẳng phải hữu cõi Sắc nối tiếp nhau. Vì sao? Vì  hữu cõi Dục nối tiếp nhau, là sinh hữu cõi Dục. Chết ở cõi Dục, sinh ở  cõi Vô sắc, vừa là phàm phu, vừa là bậc Thánh, chẳng phải chết ở cõi  Sắc. Vì sao? Vì chết ở cõi Dục là tử hữu cõi Dục, chẳng phải sinh ở  cõi Sắc. Vì sao? Vì sinh ở cõi Vô sắc, là sinh hữu cõi Vô sắc, chẳng  phải hữu cõi Sắc nối tiếp nhau. Vì sao? Vì hữu cõi Vô sắc nối tiếp  nhau, là sinh hữu cõi Vô sắc.
Chết ở cõi Vô sắc, sinh ở cõi Vô sắc, vừa là phàm phu, vừa là  bậc Thánh. Phàm phu sinh lên cõi trên, vừa sinh xuống cõi dưới. Mỗi  chỗ có nhiều lần sinh bậc Thánh sinh ở cõi trên, bất sinh cõi dưới, mỗi  có một lần sinh, chẳng phải chết ở cõi Sắc. Vì sao? Vì chết ở cõi Vô  sắc, là tử hữu cõi Vô sắc, chẳng phải sinh ở cõi Sắc. Vì sao? Vì sinh ở  cõi Vô sắc là sinh hữu cõi Vô sắc, chẳng phải hữu cõi Sắc nối tiếp  nhau. Vì sao? Vì hữu cõi Vô sắc nối tiếp nhau, là sinh hữu cõi Vô sắc.
Chết ở cõi Vô sắc, sinh cõi Dục, là phàm phu, chẳng phải chết ở  cõi Sắc. Vì sao? Vì chết ở cõi Vô sắc là tử hữu cõi Vô sắc, chẳng phải  sinh ở cõi Sắc. Vì sao? Vì sinh cõi Dục là trung hữu cõi Dục, chẳng  phải hữu cõi Sắc nối tiếp nhau. Vì sao? Vì hữu cõi Dục nối tiếp nhau  là trung hữu cõi Dục.
Chết ở cõi Vô sắc, sinh lại cõi Vô sắc, đều là hữu cõi Vô sắc nối  tiếp nhau?
 Đáp: Chết ở cõi Vô sắc, sinh lại ở cõi Vô sắc đều là Hữu cõi Vô  sắc nối tiếp nhau.
Có khi nào hữu cõi Vô sắc nối tiếp nhau, người kia chẳng phải  chết ở cõi Vô sắc chẳng phải bất sinh ở cõi Vô sắc?
 Đáp: Có. Như chết ở cõi Dục, cõi Sắc, sinh ở cõi Vô sắc, vừa là  phàm phu, vừa là bậc Thánh, chẳng phải chết ở cõi Vô sắc. Vì sao? Vì  chết ở cõi Dục, cõi Sắc, là tử hữu cõi Dục, cõi Sắc. Sinh ở cõi Vô sắc  là sinh hữu cõi Vô sắc. Hữu cõi Vô sắc nối tiếp nhau, là sinh hữu cõi  Vô sắc.
Chết ở cõi Dục, sinh lại cõi Dục, người nầy có bốn:  
1, 2. Phàm phu bậc Thánh của cõi Dục.
3, 4. Phàm phu bậc Thánh cõi Sắc.
Chết ở cõi Sắc, sinh lại cõi Sắc. Người nầy có ba:  
1, 2. Phàm phu bậc Thánh cõi Sắc.
3. Phàm phu cõi Dục.
Chết ở cõi Vô sắc, sinh lại cõi Vô sắc. Người nầy có hai:  
1, 2. Phàm phu bậc Thánh ở cõi Vô sắc.

* Trang 920 *
device

Phàm phu cõi Dục, bị chín mươi tám thứ sử sai khiến, bị chín kiết  ràng buộc. Bậc Thánh bị mười sử sai khiến, sáu kiết ràng buộc. Phàm  phu ở cõi Sắc bị sáu mươi hai thứ sử sai khiến, sáu kiết ràng buộc. bậc  Thánh bị sáu sử sai khiến, ba kiết trói buộc. Phàm phu cõi Vô sắc bị  ba mươi mốt thứ sử sai khiến, sáu kiết trói buộc. bậc Thánh bị sáu sử  sai khiến, ba kiết trói buộc.
 Hỏi: Phàm phu cõi Dục không bị sử cõi Sắc, cõi Vô sắc sai  khiến. Phàm phu ở cõi Sắc không bị sử cõi Vô sắc sai khiến. Vì sao lại  nói người phàm phu cõi Dục bị chín mươi tám sử sai khiến. Phàm phu  ở cõi Sắc bị sáu mươi hai thứ sử sai khiến?
 Đáp: Đắc nói trong đây, được gọi là bị sai khiến. Như đắc của sử  ở cõi Sắc, cõi Vô sắc của phàm phu cõi Dục, thường sinh hiện tiền.  Đắc sử ở cõi Vô sắc của phàm phu ở cõi Sắc thường sinh hiện tiền.
Lại nữa, vì đối với đắc không giải thoát, nên gọi là đối tượng bị  sai khiến của sử. Phàm phu cõi Dục đối với đắc sử ở cõi Sắc, cõi Vô  sắc không được giải thoát. Phàm phu cõi Sắc đối với đắc sử cõi Vô  sắc, không được giải thoát.
Lại nữa, vì được cái nay được, được cái sẽ được, được cái đã  được, nên nói rằng: Được cái nay được là hiện tại, được cái sẽ được là  vị lai, được cái đã được là quá khứ.
Lại nữa, vì sinh ra sử kia, nên nói rằng: Năng sinh, nghĩa là  phàm phu sinh cõi Dục, do lìa ái dục, có thể sinh ra các sử cõi Sắc.  Phàm phu ở cõi Sắc do lìa ái sắc, có thể sinh các sử cõi Vô sắc.
Lại nữa, hiện tại từng làm vì có thế lực thừa, nên chúng sinh cõi  Dục từ vô thỉ đến nay không có ai không từng khởi sử cõi Sắc, cõi Vô  sắc. Chúng sinh ở cõi Sắc không có ai không từng khởi sử cõi Vô sắc.
 Hỏi: Nếu vậy thì phàm phu ở cõi Sắc từng khởi sử cõi Dục. Phàm  phu cõi Vô sắc, cũng từng khởi sử cõi Dục, cõi Sắc, vì sao không sai  khiến?
 Đáp: Dù từng khởi sử, nhưng lìa dục, nên phàm phu cõi Dục chưa  lìa ái cõi Sắc, cõi Vô sắc. Phàm phu ở cõi Sắc chưa lìa ái cõi Vô sắc,  bậc Thánh bị mười sử sai khiến.
 Hỏi: Bậc Thánh cõi Dục có chín mươi tám thứ sử sai khiến, như  người còn bị ràng buộc, được chánh quyết định. Lúc Khổ pháp nhẫn  hiện ở trước, là thành tựu chín mươi tám sử, ở đây vì sao không nói?
Đáp: Vì thời gian ít, không lâu thì khổ sinh trí, cho nên không nói.
Lại nữa, ở đây nói người phiền não hiện hành, người nhập kiến

* Trang 921 *
device

 đạo, vẫn không thể khởi tâm hữu lậu thiện, huống chi hạng bị nhiễm ô  chỗ khác, cũng nói là người phiền não hiện hành. Như kinh nói: Có  một Bà-la-môn đi đến chỗ Phật, hỏi như vầy: Ông sẽ làm trời, người,  rồng, A-tu-la, Ca-lâu-la, Kiền-thát-bà, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già  chăng?
Phật nói:
Ta sẽ không làm trời, cho đến Ma-hầu-la-già v.v... Vì sao? Vì  Bà- la-môn nên biết, vì các lậu nên làm trời, cho đến Ma-hầu-la-già  v.v... Như lai đã dứt hẳn các lậu. Cho nên, Bà-la-môn, ta sẽ không làm  trời, cho đến Ma-hầu-la-già v.v...
Hoặc có thuyết nói: Vì báo hiện tiền, nên gọi là người, như kinh  nói kệ:
Phật nói người nầy  
Tự điều thường định  
Hành đạo phạm hạnh  
Tâm vui vắng lặng.
Trong bài kệ nầy nói: Thân nhận báo cõi Dục, tức gọi là thân  chúng sinh cõi Dục thọ báo cõi Dục, tức gọi là thân chúng sinh cõi  Dục, thọ báo cõi Sắc, cõi Vô sắc. Tức gọi là chúng sinh ở cõi Sắc, cõi  Vô sắc. Đức Phật vì thọ báo cõi người, nên gọi là người. Chỗ khác  cũng nói: Vì báo hiện tiền nên gọi là người. Như trong phẩm Mười  môn đã nói: Ai thành tựu nhãn căn?
 Đáp: Người sinh ở cõi Sắc, nếu người sinh cõi Dục, được rồi là  không mất. Vì báo như thế v.v... vì hiện tiền nên gọi là người. Người  thọ báo cõi Dục như thế, gọi là chúng sinh cõi Dục, thọ báo cõi Sắc,  cõi Vô sắc, gọi là chúng sinh cõi Sắc, cõi Vô sắc.
Chẳng phải chết ở cõi Dục, chẳng phải sinh cõi Dục, đều chẳng  phải hữu cõi Dục nối tiếp nhau? cho đến nói rộng chẳng phải bốn  trường hợp. Trường hợp một trong bốn trường hợp ở trước, tạo ra  trường hợp thứ hai nầy, trường hợp thứ hai ở trước tạo ra trường hợp  đầu nầy, trường hợp thứ ba ở trước tạo ra trường hợp thứ tư nầy, trường  hợp thứ tư ở trước tạo ra trường hợp thứ ba nầy. Cõi Sắc chẳng phải  bốn trường hợp cũng giống như thế. Không phải chết ở cõi Vô sắc,  chẳng phải sinh ở cõi Vô sắc, đều chẳng phải hữu cõi Vô sắc nối tiếp  nhau? Nói rộng như kinh nầy: chẳng phải chết ở cõi Dục, chẳng phải  sinh cõi Dục. Người nầy có năm: Phàm phu cõi Dục, phàm phu, bậc  Thánh ở cõi Sắc, phàm phu, bậc Thánh ở cõi Vô sắc
 Hỏi: Lẽ ra nên có tám người, vì sao nói năm? Như chết ở cõi  Sắc, sinh lại cõi Sắc là phàm phu, bậc Thánh. Chết ở cõi Sắc, sinh cõi  Vô

* Trang 922 *
device

sắc là phàm phu, bậc Thánh. Chết ở cõi Sắc, sinh cõi Dục là phàm  phu. Chết ở cõi Vô sắc, sinh ở cõi Vô sắc là phàm phu, bậc Thánh.  Chết ở cõi Vô sắc, sinh ở cõi Sắc là phàm phu. Có tám như thế v.v...,  vì sao nói có năm?
 Đáp: Vì giống nhau, nên nói có năm: Cũng chết ở cõi Sắc, sinh ở  cõi Sắc là phàm phu. Chết ở cõi Vô sắc, sinh ở cõi Sắc là phàm phu.  Hai người nầy đều là phàm phu cõi Sắc. Chết ở cõi Sắc, sinh ở cõi Vô  sắc là bậc Thánh. Chết ở cõi Vô sắc, sinh ở cõi Vô sắc là bậc Thánh.  Hai người nầy đều là bậc Thánh cõi Vô sắc. Chết ở cõi Sắc, sinh ở cõi  Vô sắc là phàm phu. Chết ở cõi Vô sắc, sinh ở cõi Vô sắc là phàm  phu. Hai người nầy đều là phàm phu ở cõi Vô sắc. Ngoài ra có phàm  phu cõi Dục, bậc Thánh ở cõi Sắc, vì giống nhau nên nói là năm.
Chẳng phải chết ở cõi Sắc, chẳng phải sinh ở cõi Sắc, người nầy  có sáu: Phàm phu, bậc Thánh cõi Dục, phàm phu bậc Thánh ở cõi Sắc,  phàm phu bậc Thánh ở cõi Vô sắc.
Hỏi: Lẽ ra phải có chín người, vì sao nói sáu?
Như chết ở cõi Dục, sinh lại cõi Dục là phàm phu, bậc Thánh.  Chết ở cõi Dục, sinh cõi Sắc là phàm phu, bậc Thánh.. Chết ở cõi Dục,  sinh ở cõi Vô sắc là phàm phu, bậc Thánh. Chết ở cõi Vô sắc, sinh ở  cõi Vô sắc là phàm phu, bậc Thánh, chết ở cõi Vô sắc, sinh cõi Dục là  phàm phu phải không?
 Đáp: Vì giống nhau nên nói sáu: Chết ở cõi Dục, sinh lại cõi Dục  là phàm phu. Chết ở cõi Vô sắc, sinh lại cõi Dục là phàm phu. Hai  người nầy đều là phàm phu cõi Dục. Chết ở cõi Dục, sinh lên cõi Vô  sắc là phàm phu. Chết ở cõi Vô sắc, sinh ở cõi Vô sắc là phàm phu.  Hai người nầy đều là phàm phu ở cõi Vô sắc. bậc Thánh chết ở cõi  Dục, sinh ở cõi Vô sắc. bậc Thánh chết ở cõi Vô sắc, sinh ở cõi Vô  sắc. Hai người nầy đều là bậc Thánh ở cõi Vô sắc. Ngoài ra có bậc  Thánh cõi Dục, phàm phu, bậc Thánh cõi Sắc, vì giống nhau nên nói  sáu. Chẳng phải chết ở cõi Vô sắc, chẳng phải sinh ở cõi Vô sắc,  người nầy có bốn: bậc Thánh, phàm phu cõi Dục, phàm phu bậc  Thánh ở cõi Sắc.
 Hỏi: Lẽ ra có bảy người, vì sao nói bốn? Như chết ở cõi Dục,  sinh lại cõi Dục, là phàm phu, bậc Thánh. Chết ở cõi Dục, sinh ở cõi  Sắc là Phàm phu, bậc Thánh. Chết ở cõi Sắc, sinh lại cõi Sắc là phàm  phu, bậc Thánh. Chết ở cõi Sắc, sinh cõi Dục, là phàm phu vì sao nói  có bốn?
 Đáp: Vì giống nhau nên nói bốn: Chết ở cõi Dục, sinh lại cõi  Dục là phàm phu. Chết ở cõi Sắc, sinh cõi Dục là phàm phu. Hai người  nầy đều là phàm phu cõi Dục. Phàm phu chết ở cõi Dục, sinh cõi Sắc.  Phàm

* Trang 923 *
device

phu chết ở cõi Sắc, sinh lại cõi Sắc, hai người nầy đều là phàm phu cõi  Sắc. Bậc Thánh chết ở cõi Dục, sinh ở cõi Sắc. bậc Thánh chết ở cõi  Sắc, sinh lại cõi Sắc, hai người nầy đều là bậc Thánh ở cõi Sắc. Có  bậc Thánh cõi Dục khác, vì giống nhau nên nói bốn.
Các người nầy vì nhằm vào sử sai khiến mà nói, nhằm vào kiết  ràng buộc mà nói.
Có ai chết ở cõi Dục, bất sinh cõi Dục? Như nghĩa của thuyết  trước đã nói, nay thì ngăn dứt ở sinh hữu.
Có ai chết ở cõi Dục, bất sinh cõi Dục chăng?
 Đáp: Bất sinh. Sinh trung hữu cõi Dục, cõi Sắc thì có. Nếu sinh ở  cõi Vô sắc, hoặc nhập Niết-bàn. Ngoài ra nói rộng như kinh nầy.
 Hỏi: Chết ở cõi Vô sắc, sinh xuống cõi Dục, cõi Sắc, trung hữu  cõi Vô sắc kia ở xứ nào hiện ra trước?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Ở thiền thứ tư.
Không nên nói như thế. Vì nếu cõi Vô sắc có phương hướng, xứ  sở, thì thuyết ấy nói là đúng. Chỉ vì cõi Vô sắc không có phương, sở,  thì đâu vì xa đến đệ Tứ thiền?
Lại có thuyết nói: Chết ở xứ sở nầy sinh trong Vô sắc, tức trung  hữu của xứ sở kia hiện ở trước. Nói như thế, thì chết ở cõi Vô sắc, sinh  ở cõi Vô sắc, việc nầy không như vậy.
Lời bình: Nên nói như vầy: Chết ở cõi Dục, cõi Sắc, sinh ở cõi  Vô sắc, tức trung hữu của nơi sinh kia hiện ở trước.
Có ai chết ở cõi Dục, mà bất sinh cõi Dục, bất sinh cõi Sắc, bất  sinh ở cõi Vô sắc hay chăng? Trong đây cũng ngăn Sinh hữu, ngoài ra  nói rộng như kinh nầy.
Hỏi: Vì sao trong đây không hỏi về Nhập Niết-bàn?
Đáp: Lẽ ra hỏi mà không hỏi, nên biết, thuyết nầy chưa trọn vẹn.
Lại nữa, trong đây nói tử mà sinh: Nghĩa là người kia dù chết mà  bất sinh.
Lại nữa, trong đây nhân người mà soạn luận, còn nhập Niết-bàn  kia thì bỏ nhân gọi là pháp.
Có ai chết không lìa ái cõi Dục mà chết, bất sinh cõi Dục? Tỳ- Bà- Xà-bà-đề rất ngu đối với pháp nầy, nói là không lìa ái dục, bất  sinh cõi Dục, mà lại không nói là có trung hữu.
Có ai chết không lìa ái dục cõi Dục, mà bất sinh ở cõi Dục hay  chăng?
Đáp: Bất sinh, tức sinh trung hữu cõi Dục.
Có ai chết không lìa ái sắc, bất sinh cõi Dục, cõi Sắc hay không?

* Trang 924 *
device

Đáp: Bất sinh, tức sinh trung hữu cõi Dục, cõi Sắc.
Có ai chết không lìa ái Vô sắc, mà bất sinh cõi Dục, cõi Sắc, cõi  Vô sắc?
 Đáp: Bất sinh, tức sinh trung hữu cõi Dục, cõi Sắc. Người chưa  lìa ái dục, chết sẽ bất sinh cõi Dục. Người nầy có hai: Phàm phu và  bậc Thánh cõi Dục. Chưa lìa ái sắc mà chết, sẽ bất sinh cõi Dục, cõi  Sắc. Người nầy có bốn: Phàm phu và bậc Thánh cõi Dục, phàm phu  bậc Thánh cõi Sắc.
 Hỏi: Lẽ ra có bảy người: Người chết ở cõi Dục, sinh lại cõi Dục  là phàm phu, bậc Thánh. Phàm phu, bậc Thánh chết ở cõi Dục, sinh ở  cõi Sắc. Phàm phu bậc Thánh chết ở cõi Sắc, sinh lại cõi Sắc. Phàm  phu chết ở cõi Sắc, sinh ở cõi Dục. Vì sao chỉ nói bốn?
 Đáp: Vì giống nhau, nên nói bốn: Phàm phu chết ở cõi Dục, sinh  cõi Dục. Phàm phu chết ở cõi Sắc, sinh cõi Dục. Hai người nầy đều là  phàm phu cõi Dục. Phàm phu chết ở cõi Dục, sinh ở cõi Sắc. Phàm  phu chết ở cõi Sắc, sinh ở cõi Sắc. Hai người nầy đều là phàm phu ở  cõi Sắc.
Bậc Thánh chết ở cõi Dục, sinh ở cõi Sắc. bậc Thánh chết ở cõi  Sắc, sinh ở cõi Sắc. Hai người nầy đều là bậc Thánh ở cõi Sắc. Ngoài  ra, có bậc Thánh ở cõi Dục, vì giống nhau, nên nói bốn.
Chưa lìa ái nơi Vô sắc, chết sẽ bất sinh cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô  sắc. Người nầy có bốn: Phàm phu, bậc Thánh cõi Dục, phàm phu, bậc  Thánh ở cõi Sắc.
 Hỏi: Lẽ ra phải có chín người: Người chết ở cõi Dục, sinh lại, là  Trung hữu cõi Dục, là phàm phu, bậc Thánh. Phàm phu, bậc Thánh  chết ở cõi Sắc, sinh làm Trung hữu cõi Sắc. Phàm phu chết ở cõi Sắc,  sinh làm Trung hữu cõi Sắc. Phàm phu chết ở cõi Vô sắc, sinh làm  Trung hữu cõi Sắc. Phàm phu chết ở cõi Vô sắc, sinh làm Trung hữu  cõi Dục, vì sao nói có bốn?
 Đáp: Vì giống nhau, nên nói bốn: Phàm phu chết cõi Dục, sinh  lại làm Trung hữu cõi Dục. Phàm phu chết ở cõi Sắc, cõi Vô sắc, sinh  làm Trung hữu cõi Dục. Ba người nầy đều là phàm phu cõi Dục. Phàm  phu chết ở cõi Dục, sinh làm Trung hữu cõi Sắc. Phàm phu chết ở cõi  Sắc, sinh lại làm Trung hữu cõi Sắc. Phàm phu chết ở cõi Vô sắc, sinh  làm Trung hữu cõi Sắc. Ba người nầy đều là phàm phu ở cõi Dục.
Bậc Thánh chết ở cõi Dục, sinh làm Trung hữu cõi Sắc. Bậc  Thánh chết ở cõi Sắc, sinh làm Trung hữu cõi Sắc. Ba người nầy đều  là phàm phu cõi Sắc. Bậc Thánh chết ở cõi Dục, sinh làm Trung hữu  cõi Sắc, bậc

* Trang 925 *
device

Thánh chết ở cõi Sắc, alị sinh làm Trung hữu cõi sắc, hai người nầy  đều là bậc Thánh cõi Sắc. Ngoài ra, có bậc Thánh cõi Dục, vì giống  nhau nên nói bốn.
Các người ấy là hướng vào chỗ nói về sử sai khiến, hướng vào  chỗ nói về kiết ràng buộc. Trung hữu là có hay không có?  
Hỏi: Vì sao soạn luận nầy?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Không có Trung hữu, hoặc có thuyết  nói có tung hữu. Phái Tỳ-bà Xà-bà-đề nói: Không có Trung hữu. Phái  Dục- đa-bà-đề nói: Có Trung hữu.
 Hỏi: Tỳ-bà Xà-bà-đề dựa vào kinh nào nói? Tin vào việc nào  nói là không có Trung hữu?
 Đáp: Người nầy dựa vào kinh Phật. Không có kinh nào nói, là  gây ra năm nghiệp Vô gián, tạo rồi càng thêm rộng, khi chết đọa vào  địa ngục Vô gián. Vì đọa vào địa ngục không có gián dứt nên nói  không có Trung hữu. Trong kệ cũng nói:
Tuổi trẻ tức già bệnh  
Sẽ đọa bên Diêm-la
Chỗ trung gian không nghỉ  
Cũng không dùng tư lương.
Vì không dừng nghĩ giữa chừng, không dùng tư lương, nên biết  không có Trung hữu. Cũng tạo ra các thứ vấn nạn.
Cũng như bóng sáng không có trung gian. Tử hữu, sinh hữu  không có trung gian, cũng giống như thế.
 Hỏi: Phái Dục-đa-bà-đề dựa vào kinh nào mà nói? Tin vào việc  nào mà nói có Trung hữu?
 Đáp: Phái ấy dựa vào kinh Phật. Kinh Phật nói: Vì ba việc kết  hợp, nên được vào thai mẹ:
1.         Cha, mẹ đều có tâm nhiễm, cùng giao hội một chỗ.
2.         Gặp lúc người mẹ kia không bị bệnh.
3.         Kiền-thát-bà hiện ở trước.
Kiền-thát-bà, tức là Trung hữu. Vì nói Kiền-thát-bà hiện ở trước,  nên biết có Trung hữu. Kinh khác cũng nói: Trung hữu Nhập Niết-bàn.  Do nói có Trung hữu nhập Niết-bàn, nên biết là có Trung hữu. Kinh  khác lại nói: Sa-môn Cù-đàm! Thân nầy đã diệt, ở trong khoảng thời  gian chưa sinh vào chỗ kia, là ở trong Ma-nậu-ma, vì lập bày mà có  các chấp chăng?
Phật bảo Bà-tha: Ở trong khoảng Trung gian đó, ái là thủ, do nói

* Trang 926 *
device

thân nầy diệt, chưa sinh vào chỗ kia, vì ở trong Ma-nậu-ma, nên biết  là có Trung hữu. Cũng tạo ra các thứ vấn nạn. Nếu chết ở đây, sẽ sinh  đến châu Uất-đơn-việt. Sự dứt diệt ở trong đây, trong kia, vốn không  có mà sinh. Cũng thế thì có pháp mà không, không pháp mà có.
 Hỏi: Phái Tỳ-bà Xà-bà-đề làm sao hiểu được kinh do phái Dục-  đa-bà-đề đã dẫn?
 Đáp: Thuyết theo kinh kia nói là chưa liễu nghĩa, là giả gọi là ý  chưa trọn vẹn.
 Hỏi: Kinh kia dùng việc gì mà nói là chưa liễu nghĩa, là giả  danh, là ý chưa trọn vẹn?
Người kia đáp: Vì kinh Phật nói: Vì ba việc kết hợp, nên được  nhập vào thai:
1.         Cha, mẹ đều có tâm nhiễm, hội ngộ chung một chỗ.
2.         Gặp lúc người mẹ không bị bệnh
3.         Kiền-thát-bà hiện ở trước.
Không nên nói Kiền-thát-bà, vì nếu nói Kiền-thát-bà, thì Trung  hữu kia tạo ra niềm vui hay không? Nên nói là các hành ấm.
 Hỏi: Nếu gọi là Kiền-thát-bà, hoặc gọi là các hành ấm, đều  chẳng phải không có Trung hữu. Tỳ-bà Xà-bà-đề lại hỏi thế nầy: Ông  nói bốn sinh đều có Trung hữu, hai sinh hữu, ba việc kết hợp, thì có  thể như thế, nghĩa là thai sinh, Noãn sinh, hai sinh còn lại thì không  như vậy?
 Đáp: Nếu có thể như thế thì nói, không thể như thế thì không nói,  nhưng chẳng phải không có Trung hữu. Giải thích kinh thứ hai, nghĩa  là có trời gọi là Trung hữu nhập Niết-bàn cõi trời kia, nên nói là Trung  hữu. Trời Trung hữu nhập Niết-bàn, nghĩa là chết ở đây rồi, nên sinh  cõi trời, trong khoảng chưa đến, ở trung gian ấy, tuổi thọ chưa hết, bèn  nhập Niết-bàn.
 Hỏi: Vì trời nầy, trong Đại tạng kinh không nói. Kinh Phật nói có  cõi trời bốn Thiên vương, cho đến cõi trời Phi tưởng Phi phi tưởng,  không nói trời Trung hữu. Kinh Phật cũng nói có sinh nhập Niết-bàn.  Lại có trời tên là sinh, ở cõi trời Sinh kia mà nhập Niết-bàn, nên nói là  sinh nhập Niết-bàn?, cho đến thượng lưu nhập Niết-bàn. Lại có trời  tên Thượng Lưu, ở trong cõi trời đó nhập Niết-bàn, nên nói là Thượng  Lưu. Nhập Niết-bàn? Ông nói chư Thiên chưa đến, tuổi thọ chưa hết  mà nhập Niết-bàn. Chúng sinh đa số mạng sống chưa hết mà chết, trừ  người nơi châu Uất-đơn-việt, Bồ-tát với thân sau cùng trên cõi trời  Đâu-suất.
Chúng sinh như thế v.v... đều là Trung hữu nhập Niết-bàn? Với  kinh Bà Tha, làm sao hiểu được? Kinh đó nói: Ma-nậu-ma là trời cõi  Vô

* Trang 927 *
device

  sắc. Phạm chí kia đã được thiên nhãn, vừa mới lìa ái sắc thì chết, sinh  trong cõi Vô sắc. Phạm chí kia đã dùng thiên nhãn xem khắp cõi Dục,  cõi Sắc mà không thấy Trung hữu, rồi nghĩ rằng: Người kia là dứt diệt,  liền đi đến chỗ Phật, hỏi như vầy: Sa-môn Cù-đàm! Thân nầy diệt rồi,  cho đến ở trong khoảng diệt kia, vì lập bày có các thủ chăng?
Phật bảo Bà-tha: Khoảng giữa của diệt kia, ái là thủ. Do nghĩa  nầy, nên biết sinh trong cõi Vô sắc, chẳng phải dứt diệt
 Hỏi: Kinh Phật nói có vô số Ma-nậu-ma. Kinh Phật hoặc nói: Vị  trời cõi Sắc, cõi Vô sắc là Ma-nậu-ma. Hoặc nói: Con người đầu tiên  của kiếp là Ma-nậu-ma. Hoặc nói: Trung hữu là Ma-nậu-ma. Do đâu  biết được các tầng trời cõi Vô sắc là Ma-nậu-ma? Người kia nói rằng:  Do đâu biết là Ma-nậu-ma?
 Đáp: Tức do kinh nầy mà biết. Vì sao? Vì kinh nói: Thân nầy  diệt rồi, đến lúc chưa sinh chỗ kia, ở khoảng giữa của sự sinh kia là ở  trong Ma-nậu-ma. Do việc nầy, nên biết Ma-nậu-ma tức là Trung hữu.
Đối với các thứ vấn nạn làm sao hiểu được?
 Đáp: Kinh kia nói rằng: không xả tử hữu, cho đến sinh hữu nối  tiếp nhau. Như con sâu Xà- lâu-khư cho đến chân trước chưa đứng, thì  nó không phóng chân sau. Tử hữu, sinh hữu kia cũng giống như thế.
Nếu nói như thế thì sự chết sống của nhân gian, trong địa ngục,  chưa xả cõi người, cõi địa ngục nối tiếp nhau, tức là hoại thân, hoại  cõi, hai tâm đều hư hoại. Cõi cũng gọi là cõi người, cõi địa ngục. Hư  thân hoại, cũng gọi là thân người, cũng gọi là thân địa ngục. Hai tâm  cùng có, nghĩa là tâm lúc chết, tâm lúc sống.
Hỏi: Dục-đa-bà-đề làm sao hiểu kinh Tỳ-bà Xà-bà-đề trích dẫn?  
Đáp: Kinh ấy là kinh chưa liễu nghĩa, là giả gọi ý chưa trọn vẹn.
 Hỏi: Do việc nào mà biết là kinh chưa liễu nghĩa, là giả gọi là ý  chưa trọn vẹn?
 Đáp: Vì kinh kia nên gây ra năm nghiệp Vô gián, tạo rồi lại rộng  thêm, khi chết đọa vào địa ngục Vô gián, đây là ngăn ở cõi khác,  nghiệp khác. Ngăn chận đường khác: nghĩa là nghiệp Vô gián, sẽ sinh  vào đường địa ngục, bất sinh đường khác. Ngăn dứt nghiệp khác:  nghĩa là nghiệp Vô gián, sẽ phải thọ nhận sinh báo, chẳng phải hiện  báo, hậu báo. Đây là chỗ nghĩa chưa liễu của kinh kia. Nếu như văn  kinh không nhận lấy nghĩa ấy, kinh nói tạo ra năm nghiệp Vô gián,  gây ra rồi thì thêm rộng, khi chết đọa vào địa ngục Vô gián, không  hẳn phải tạo đủ năm nghiệp, mới đọa địa ngục. Nhưng có tạo một, hai,  ba, bốn và nghiệp Vô gián, mà không gồm nhiếp nghiệp đọa vào địa  ngục. Kinh

* Trang 928 *
device

  nói: qua đời đọa vào địa ngục Vô gián. Nói không có gián dứt, nghĩa  là gây ra nghiệp Vô gián ở Sát-na nầy, tức Sát-na nầy đọa vào địa  ngục? Nhưng vì có người gây ra năm nghiệp Vô gián rồi, có kẻ tuổi  thọ trăm năm, cho nên không đều như văn kinh, cần nên dựa vào  nghĩa mà kệ đã nói. Về nghĩa hiểu cũng giống như thế.
Các việc vấn nạn làm sao hiểu được?
 Đáp: Vấn nạn nầy không cần phải hiểu. Vì sao? Vì vấn nạn nầy  chẳng phải tu-đa-la, chẳng phải Tỳ-ni, chẳng phải A-tỳ-đàm, nên  không thể dùng hiện dụ của thế gian để vấn nạn pháp Hiền, Thánh, vì  pháp Hiền, Thánh khác, pháp thế gian khác.
Nếu muốn hiểu, là có ý gì?
 Đáp: Nên nói lỗi của dụ. Nếu thí dụ có lỗi, thì nghĩa cũng có lỗi,  như bóng của sự sáng suốt là không có căn, không có tâm, chẳng phải  pháp số chúng sinh. Tử hữu, Sinh hữu cũng không căn không tâm,  chẳng phải pháp số của chúng sinh. Như bóng sáng câu sanh. Tử hữu  sinh hữu cũng là câu sinh phải không? Nhưng thí dụ nầy là nói có  trung hữu, chẳng phải không có trung hữu, như bóng sáng không có  gián cách. Trong Tử hữu, có Trung hữu, Sinh hữu không gián dứt,  cũng giống như thế.
Những nghĩa như vậy đều nói là không có Trung hữu. Những ng-  hĩa như thế đều nói có Trung hữu. Trong hai nghĩa, nghĩa nào là vượt  hơn? Thuyết nói có Trung hữu là vượt hơn. Nhưng thuyết của Tỳ-bà  Xà- bà-đề nói không có Trung hữu là quả của vô minh, quả của bóng  tối, quả của phương tiện không siêng năng. Tuy nhiên, Trung hữu là  pháp thật có. Cho nên, vì muốn ngăn dứt nghĩa của người khác, vì  muốn làm sáng tỏ nghĩa của mình, cho đến nói rộng, nên soạn luận  nầy.
 Hỏi: Trung hữu là do cõi gồm nhiếp, hay là chẳng phải do cõi  gồm nhiếp? Nếu là cõi gồm nhiếp thì với Luận Thi Thiết nói, làm sao  hiểu? Như nói: Năm cõi là gồm nhiếp bốn sinh, bốn sinh là gồm nhiếp  năm cõi phải không?
 Đáp: Bốn sinh gồm nhiếp năm đường, chẳng phải năm cõi gồm  nhiếp bốn sinh, không gồm nhiếp những gì? Không gồm nhiếp trung  hữu.
Với kinh Pháp Thân nói, làm sao hiểu được? Như nói: Thế nào là  Nhãn giới?  Đáp: Bốn đại và sắc tạo thanh tịnh. Nhãn, nhãn căn nhãn  nhập, nhãn giới, nếu là mắt của địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người,  trời. Hoặc là mắt do tu được, hoặc là mắt của trung hữu.
Nếu thuộc về đường, thuyết của Tôn giả Đà–La-Đạt-Đa đã nói,

* Trang 929 *
device

  làm sao hiểu được? Như nói: Nếu hướng đến pháp cõi kia, thì gọi là  cõi kia, lệ thuộc cõi kia. Như lúc mầm lúa mọc, thì gọi là lúa, cõi kia  cũng giống như thế?
 Đáp: Nên nói rằng: Trung hữu là thuộc về đường, điều Tôn-giả-  Đà-La-Đạt-Đa nói, thì khéo hiểu, còn Luận Thi Thiết nói làm sao  hiểu?
 Đáp: Văn Luận Thi Thiết nên nói rằng: Năm đường gồm nhiếp  bốn sinh, hay bốn sinh gồm nhiếp năm đường?
Đáp: Lần lượt tùy theo chủng loại cùng gồm nhiếp nhau.  
Mà không nói là có ý gì?
Đáp: Do người tụng nhầm lẫn!
Với kinh Pháp Thân nói, làm sao hiểu?
 Đáp: Văn kinh Pháp Thân nên nói rằng: Mắt của địa ngục, ngạ  quỷ, súc sinh, người, trời và mắt do tu được, không nên nói mắt của  Trung hữu. Mà không nói là có ý gì?
 Đáp: Do Trung hữu là pháp vi tế. Ở trong các đường đã hiển hiện  rõ, lại hiển hiện riêng, giống như tướng soái giặc bị quở trách chung  trong đám giặc, cũng quở trách riêng. Người nữ cũng thế, có hai việc  quở trách: 1.    Do phiền não, bị quở trách chung. 2.     Do thể thấy kém, lại quở trách riêng.  Trung hữu kia cũng giống như thế.
Lại có thuyết nói: Trung hữu chẳng lệ thuộc cõi, thuyết của Luận  Thi Thiết, kinh Pháp Thân nói có thể khéo hiểu, còn thuyết của Tôn  giả Đà- La- Đạt- Đa nói, làm sao hiểu được?
 Đáp: Về thuyết nầy không cần phải hiểu. Vì sao? Vì thuyết nầy  chẳng phải Tu-Đà-La, Tỳ-ni, A-Tỳ-Đàm, mà là nghĩa tự tạo, hoặc  đúng, hoặc không đúng. Hoặc có nói không, hoặc không nói có. Nếu muốn hiểu là có ý gì?
 Đáp: Do giống nhau, nên nói thế nầy: Như hình tướng trong địa  ngục, hình tướng Trung hữu cũng thế. Cho đến Trung hữu cõi trời, nói  cũng giống như vậy.
Lời bình: Nên nói rằng: Trung hữu chẳng lệ thuộc cõi. Vì sao?  Vì đi đến là nghĩa đường. Vì Trunh hữu đi chưa đến chỗ kia, nên  chẳng lệ thuộc cõi. Lại nữa, Trung hữu là nhân cõi, cõi là quả. Nhân  không gồm nhiếp quả, quả không gồm nhiếp nhân. Như nhân, quả,  năng tác, sở tác, năng nhận lấy, năng thủ, sở thủ cũng giống như thế.

* Trang 930 *
device

Lại nữa, Trung hữu là Vi tế, đường là thô, thô không gồm nhiếp  tế, hiện thấy, không hiện thấy, rõ ràng, không rõ ràng, nói cũng giống  như thế.
Lại nữa, Trung hữu thì tán loạn, đường chẳng tán loạn. Chẳng  tán loạn không gồm nhiếp tán loạn.
Lại nữa, vì trung hữu là pháp trung gian đường, nên chẳng lệ  thuộc cõi, như khoảng giữa của ruộng, chẳng thuộc về ruộng, khoảng  giữa của phương hướng, quốc độ, thôn xóm, chẳng thuộc về phương  hướng, quốc độ, thôn xóm. Trung hữu kia cũng giống như thế.
Hỏi: Xứ nào có trung hữu?
Đáp: Cõi Dục, cõi Sắc, chẳng phải cõi Vô sắc.  
Hỏi: Vì vì ở cõiVô sắc không có trung hữu?
Đáp: Chẳng phải là ruộng, chẳng phải đồ đựng, cho đến nói rộng.
Lại nữa, nếu xứ sở có thọ nhận hai thứ nghiệp báo thì có trung hữu. Nghĩa là nghiệp báo của trung hữu, nghiệp báo của sinh hữu. Cõi  Vô sắc chỉ có nghiệp báo của sinh hữu. Như nghiệp báo của Trung  hữu, nghiệp báo của sinh hữu, nghiệp báo mới gây ra nghiệp báo sinh  hữu, nghiệp của quả vi tế, quả thô, nói cũng giống như thế.
Lại nữa, nếu xứ sở thọ nhận hai thứ nghiệp báo, nghĩa là nghiệp  báo của sắc, nghiệp báo của Vô sắc, thì xứ sở ấy sẽ có trung hữu. Cõi  Vô sắc chỉ có nghiệp báo của Vô sắc. Như nghiệp báo của sắc, nghiệp  báo của Vô sắc, nghiệp tương ưng, nghiệp không tương ưng, nghiệp có  chỗ nương dựa, nghiệp không có chỗ nương tựa, nghiệp có uy thế,  nghiệp không có uy thế, nghiệp có duyên, nghiệp không có duyên, nói  cũng giống như thế.
Lại nữa, nếu xứ sở có ba thứ nghiệp: Nghiệp thân, miệng, ý, thì  có trung hữu. Cõi Vô sắc chỉ có ý nghiệp.
Lại nữa, nếu ở xứ sở có mười nghiệp đạo thiện, thì có trung hữu.
Cõi Vô sắc chỉ có ba đạo nghiệp thiện.
Lại nữa, nếu xứ có nghiệp báo năm ấm, thì có trung hữu. Cõi Vô  sắc chỉ có nghiệp báo bốn ấm.
Lại nữa, nếu có hai thứ pháp bạch là nhân bạch và quả bạch  (thiện), thì có trung hữu. Cõi Vô sắc chỉ có nhân bạch không có quả  bạch.
Lại nữa, nếu ở chỗ có đến, đi, thì có trung hữu. Cõi Vô sắc không  có đến, đi.
Hỏi: Nếu vậy thì chết rồi, sinh lại trong thi thể mình, đâu có đến đi?

* Trang 931 *
device

 Đáp: Chúng sinh, hoặc có người đọa vào đường ác, hoặc có kẻ  sinh trong bốn châu thiên hạ, hoặc có người sinh lên cõi trời, hoặc có  kẻ nhập Niết-bàn.
Người đọa vào đường ác, thức sẽ diệt ở dưới chân. Kẻ sinh trong  bốn châu thiên hạ, thức sẽ diệt ở rốn. Người sinh lên cõi trời, thức sẽ  diệt ở mặt. Người nhập Niết-bàn, thức sẽ tắt ở tim. Chúng sinh phần  nhiều sinh ái đối với khuôn mặt. Nếu tâm thức diệt từ dưới chân, đến  sinh trên mặt thì há chẳng phải đến, đi hay sao? Nếu thức diệt từ chân,  lại sinh trong chân, mà sinh ở cõi Vô sắc, thì không có việc ấy.
Hỏi: Trung hữu có dời chuyển hay không?
Đáp: Không có dời chuyển. Nghĩa là ở giới, ở cõi, ở xứ.
 Hỏi: Nếu trung hữu ở nơi giới không có dời chuyển, thì nhân  duyên Tỳ-kheo ít hiểu biết, làm sao hiểu được?
Nghe nói có dòng họ xuất gia trong pháp Phật, không tu theo  phương tiện học rộng, ở chốn A-luyện-nhã, nhờ sức nhân đời trước,  nên có thể khởi Sơ thiền của thế tục, cho là quả Tu-đà-hoàn, cho đến  khởi đệ Tứ thiền của thế tục, cho là quả A-la-hán. Ở trong một đời,  chưa được nói là được, chưa hiểu, cho là hiểu, chưa chứng nói là đã  chứng, không còn cầu đạo thắng tiến, chưa được sẽ được, chưa hiểu sẽ  hiểu, chưa chứng sẽ chứng. Về sau khi chết, trung hữu của đệ Tứ thiền  hiện ở trước. Lúc ấy, liền nghĩ: Ta đã dứt hết tất cả phần sinh, lẽ ra  nhập Niết- bàn, chẳng sinh lại. Nay Trung hữu của ta do duyên cớ nào  mà sinh? Nhất định không có giải thoát. Nếu có giải thoát, lẽ ra ta  phải được, bèn sinh tà kiến chê bai Niết-bàn. Do tà kiến đó, nên  Trung hữu của đệ Tứ thiền liền diệt, Trung hữu của địa ngục A-tỳ hiện  ngay ở trước, sau khi chết đọa vào địa ngục A-tỳ?
 Đáp: Đây là lúc hữu trước dời chuyển, chẳng phải lúc của Trung  hữu, vì khi người xuất gia kia chết, điềm lành hiện ra trước. Vừa thấy  điềm lành ấy liền nghĩ: Ta đã dứt tất cả phần sinh, lẽ ra phải được  Nhập Niết-bàn. Nay vì sao sinh ra điềm lành nầy? Nhất định không có  giải thoát. Nếu có giải thoát thì lẽ ta phải được, bèn sinh tà kiến chê  bai Nhập Niết-bàn. Do sinh tà kiến đó, nên điềm lành của đệ Tứ thiền  biến mất! Điềm dữ địa ngục A-tỳ hiện ở trước. Thân người kia khi  chết, sinh vào địa ngục A-tỳ.
Do việc nầy, nên biết được thời gian mà hữu trước đã dời chuyển  chẳng phải thời gian của trung hữu.
 Hỏi: Nếu Trung hữu không có dời chuyển ở cõi, thì nhân duyên  Thiện hành, Ác hành làm sao hiểu được? Nghe nói: Ở nước Xá Vệ có

* Trang 932 *
device

hai người: Một là Thiện Hành, hai là Ác Hành. Thiện hành suốt đời  thường thực hành các hạnh lành, không làm điều ác, còn Ác Hành, thì  suốt đời làm mọi điều ác, không thực hành điều thiện. Người hành vi  ác, do nghiệp thiện báo sau, nên trung hữu cõi trời hiện ra ở trước.  Bấy giờ liền nghĩ: Trong suốt một đời, ta thường làm điều ác, không  làm việc lành, lẽ ra phải đọa vào đường ác, không thể sinh lên cõi  trời. Nay vì sao sinh Trung hữu ở cõi trời bèn nghĩ rằng: Nhất định  không có nghiệp báo thiện ác, vì nếu có thì lẽ ra ta đã được rồi, bèn  sinh tà kiến chê bai nhân quả, do tà kiến, nên Trung hữu cõi trời liền  diệt, Trung hữu địa ngục liền sinh, chết liền đọa vào địa ngục.  Thiện hành thường làm việc thiện, khi sắp qua đời, do nghiệp bất  thiện của báo sau, nên Trung hữu của địa ngục hiện ra trước, bèn nghĩ:  Trong một đời mình, thường thực hành hạnh lành, không hành vi ác, lẽ  ra phải được sinh vào đường thiện, không thể sinh đường ác. Nay vì  sao ta đọa vào Trung hữu địa ngục? Lại nghĩ: Nhất định là do nghiệp  bất thiện của báo sau của ta. Nay sinh quả nầy, tức tự nhớ nghĩ đến  các việc thiện đã làm, nên sinh tâm thiên rộng lớn, mà hiện ra ở trước,  Trung hữu địa ngục liền tiêu diệt, Trung hữu cõi trời liền sinh khi chết  sinh lên cõi trời?
 Đáp: Như trường hợp nầy đều là thời gian dời chuyển của hữu  trước, chẳng phải thời gian Trung hữu. Khi tất cả chúng sinh chết, sẽ  có điều tốt, xấu. Nếu chúng sinh nào thường làm việc thiện, thì đa số  họ sẽ thấy nơi có nhà cửa đẹp đẽ, lầu quán, vườn, rừng, chỗ tắm rửa,  dạo chơi. Chúng sinh làm nhiều điều ác, khi sắp chết, phần nhiều thấy  lửa cháy, rừng dao, chó sói độc dữ, mồ mả v.v...
Người hành vi ác, khi sắp chết, do nghiệp thiện của báo sau, nên  điềm lành cõi trời hiện ở trước, thấy rồi liền nghĩ rằng: Trong một đời,  ta đã thường làm ác, không hành hạnh lành, đáng lẽ phải đọa vào  đường ác, không thể sinh lên cõi trời. Nay điềm lành nầy do duyên  nào mà sinh, nhất định không có nghiệp báo thiện, ác, rồi sinh khởi tà  kiến chê bai nhân quả. Vì sinh tà kiến, nên tướng điềm lành cõi trời  liền mất, điềm dữ địa ngục liền sinh.
Người thực hành hạnh lành, khi sắp chết, do nghiệp ác của báo  sau, nên tướng địa ngục hiện ở trước, thấy rồi, liền nghĩ: Trong suốt  một đời ta, thường hành hạnh lành, không làm việc vi ác, lẽ ra phải  được sinh vào xứ sở thiện, không đọa vào đường ác. Nay vì sao sinh ra  điềm dữ như thế? Nhất định là do nghiệp bất thiện nơi báo sau của ta,  nên mới sinh ra quả nầy, liền tự nhớ lại các việc thiện đã làm, sinh  tâm thiện

* Trang 933 *
device

 rộng lớn hiện ở trước, tướng địa ngục liền biến mất, điềm lành cõi trời  xuất hiệnkhi chết được sinh lên cõi trời.
Do việc ấy, nên hai người nầy đều do sự dời chuyển của thời  gian hữu trước, chẳng phải thời gian của Trung hữu.
 Hỏi: Nếu Trung hữu ở chỗ không dời chuyển, thì nhân duyên vua  Tần-bà-sa-la, làm sao hiểu được? Nghe nói Trung hữu ở cõi trời Đâu-  suất của vua Tần-bà-sa-la hiện ở trước, sẽ sinh lên trời Đầu-suất, lúc  vượt qua đỉnh núi Tu-di, thấy Thiên vương Tỳ Sa-môn đang ăn thức ăn  màu sắc tươi sáng, đầy đủ hương vị, bèn nghĩ: Trước, ta sinh vào cõi  nầy, về sau, sẽ sinh lên cõi trời Đầu-suất. Vừa nghĩ như thế, thì Trung  hữu của trời Đầu-suất liền biến mất, Trung hữu cõi trời Tứ Thiên  Vương liền sinh khi chết được sinh lên cõi trời Tứ Thiên Vương ấy  phải không?
 Đáp: Hiện trạng nầy cũng là thời gian của hữu trước dời chuyển,  chứ chẳng phải thời gian của Trung hữu.
Nghe nói vua Tần-bà-sa-la bị con tội ác là A-xà-thế bắt trói,  giam vào ngục, cấm không cho ăn uống, nhà vua dùng dao gọt da  chân để ăn.
Bấy giờ, Đức Thế tôn đang ngự tại núi Kỳ-xà-quật, vì thương xót  vua, nên phóng ra luồng ánh sáng xuyên qua cửa sổ, chiếu vào thân  vua. Vì được ánh sáng Phật soi chiếu nên thân vua được yên ổn, sinh  tâm nghĩ đến Phật: Nay ta gặp phải ách nạn nầy, nhưng Thế tôn không  thấy, không nghĩ đến! Lúc Đức Thế tôn biết rõ tâm niệm của nhà Vua,  vội bảo Đại Mục-kiền-liên: Ông hãy đến chỗ vua Tần-bà-sa-la, nói  rằng: Như lai đối với đại vương, những điều gì nên làm, đều đã làm  xong, cứu giúp nghiệp báo quyết định nơi đường ác của ông, trong khi  Như lai còn không thể tránh khỏi!
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nghe lời Phật dạy, liền nhập thiền  định, do năng lực thiền định theo như chỗ nghĩ, từ núi Kỳ-xà-quật biến  mất, như nước nơi ao suối từ đất hiện ra, Tôn giả dừng lại trước vua  Tần-bà-sa-la, nói: Đại vương nên biết! Lời Đức Như lai nói không hai,  với tuệ nhãn thanh tịnh soi chiếu, thấy sâu về nhân quả, mà nói rằng:  Như lai đối với đại vương, những điều gì nên làm, đều đã làm rồi, cứu  giúp nghiệp báo quyết định trong đường ác của đại vương, trong khi  Như lai còn không tránh khỏi. Nói rồi, Tôn giả lại vì nhà vua giảng nói  pháp. Lúc đó, vì quá đói khát, nên vua Tần-bà-sa-la không hiểu rõ,  nên nói: Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên! Vị trời nào có thức ăn,  ngon hơn hết?

* Trang 934 *
device

 Tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền theo thứ lớp khen ngợi thức ăn  của Bốn v.v… Thiên Vương. Vua Tần-bà-sa-la nghe rồi, chết đi được,  sinh lên cõi trời Tứ Thiên Vương, làm Thái tử của Thiên Vương Tỳ  Sa- môn, tên là Xà-Na-Lê-Sa.
Do việc nầy, nên biết là thời gian dời chuyển của hữu trước  chẳng phải thời gian của Trung hữu. Phái Thí dụ giả nói rằng: Trung  hữu có thể dời đổi. Phái kia nói rằng: Tất cả các nghiệp đều có thể dời  đổi. Tạo nên năm nghiệp Vô gián còn có thể dời đổi, huống chi là  Trung hữu. Nếu gây ra nghiệp Vô gián không thể dời đổi, thì sẽ không  thể vượt qua Hữu Đảnh. Vì có khả năng vượt qua Hữu Đảnh, nên biết  được năm nghiệp Vô gián cũng có thể dời chuyển.
Lời bình: Nên nói rằng: Trung hữu không thể dời chuyển.  
Hỏi: Trung hữu trải qua thời gian bao lâu?
 Đáp: Phải trải qua một chút thời gian không lâu. Vì sao? Vì  Trung hữu kia đối với sáu nhân để tìm chỗ thọ nhận thân, cho nên,  phải nhanh chóng để cho Sinh Hữu nối tiếp.
 Hỏi: Sự hòa hợp, của pháp thọ nhận thân của chúng sinh, rất  nhanh chóng để cho Sinh Hữu nối tiếp, có thể như thế. Nếu pháp thọ  nhận thân không hòa hợp, như người cha ở Kế-tân, mẹ ở Chân Đơn,  hay cha ở Chân- Đơn, mẹ ở Kế-tân thì làm sao có thời gian nhanh  chóng để cho Sinh Hữu nối tiếp?   Đáp: Nên quán sát chúng sinh nầy, hoặc gây ra nghiệp đối với  mẹ có thể dời đổi, gây ra nghiệp đối với cha không thể dời đổi. Hoặc  gây ra nghiệp đối với cha có thể dời chuyển, gây ra nghiệp đối với mẹ  không thể dời chuyển. Hoặc gây ra nghiệp đối với cha mẹ, đều không  thể dời chuyển. Nếu gây ra nghiệp đối với mẹ có thể dời chuyển, gây  ra nghiệp đối với cha không thể dời chuyển: Nếu là người đầy đủ oai  nghi, tịnh tu phạm hạnh, thân giữ năm giới, là người nam tốt, tất nhiên,  đến bên cạnh phu nữ khác, để cho Sinh hữu kia được nối tiếp. Nếu gây  ra nghiệp đối với cha có thể dời chuyển, gây ra nghiệp đối với mẹ  không thể dời chuyển: Nếu là người đầy đủ oai nghi, tịnh tu phạm  hạnh, thân giữ năm giới, là người nữ tốt, thì sẽ đến bên người nam  khác, khiến cho Sinh hữu kia nối tiếp. Nếu gây ra nghiệp đối với cha  mẹ đều không thể dời chuyển, thì người thọ nhận thân dù chưa chết,  người ấy tuy đã tìm kiếm nhưng chưa được, bèn sinh tâm ra đi. Trên  con đường Trung hữu đi, lửa không thể đốt, dao không thể gây tổn  thương, chất độc không thể hại, tất nhiên Trung hữu đã đến với sự hòa  hợp của cha mẹ kia, giúp cho Sinh hữu ấy nối tiếp.

* Trang 935 *
device

 Hỏi: Nếu chúng sinh thường có tâm dục thì có thể như thế, còn  các chúng sinh có tâm dục trong từng thời gian thì làm sao có thể như  thế? Như chó có tâm dục vào mùa thu, loài gấu có tâm dục vào mùa  đông. Ngựa có tâm dục vào mùa Xuân. Bò có tâm dục vào mùa hè.  Các động vật v.v... như vậy, làm sao có thể như thế?
 Đáp: Do nghiệp lực của chúng sinh kia, nên phi thời cũng sinh  tâm dục, mà được hòa hợp, để cho sinh kia nối tiếp nhau.
Lại có thuyết nói: Sự sinh giống nhau, thích hợp. Như khi chó có  tâm dục, chó sói thường có tâm dục, lẽ ra phải sinh vào loài chó,  nhưng lại sinh vào loài chó sói. Lúc gấu có tâm dục, gấu thường có  tâm dục, lẽ ra phải sinh trong loài gấu, nhưng lại sinh trong loài gấu.  Khi ngựa có tâm dục, lừa thường có tâm dục, lẽ ra phải sinh trong loài  ngựa, nhưng lại sinh trong loài lừa. Lúc bò có tâm dục, bò hoang  thường có tâm dục, lẽ ra phải sinh trong loài bò, nhưng lại sinh vào  loài bò hoang.
Tôn giả Xa-ma-đạt-đa nói: chúng sinh Trung hữu sống bốn mươi  chín ngày.
Tôn giả Hòa-tu-mật nói: chúng sinh Trung hữu tuổi thọ bảy  ngày, không quá một tuần. Vì sao? Vì thân Trung hữu rất yếu kém.
 Hỏi: Nếu đến bảy ngày, mà chỗ sinh không hòa hợp, thì Trung  hữu đoạn diệt phải không?
Đáp: Không dứt diệt, Tức được dừng lại lâu ở trung hữu.
Tôn giả Phật-đà-đề-bà nói: Tuổi thọ của Trung hữu không nhất  định. Vì sao? Vì duyên của nơi sinh không nhất định. Mặc dù Trung  hữu được hòa hợp, nhưng vì Sinh hữu không hòa hợp, nên khiến cho  Trung hữu dừng lại trong thời gian lâu.
Hỏi: Hình tướng Trung hữu lớn hay nhỏ?
Đáp: Hình tướng Trung hữu như đứa trẻ năm, sáu tuổi.
 Hỏi: Nếu Hình tướng Trung hữu như thế, làm sao lại sinh ra  tưởng điên đảo: Đối với mẹ, sinh tâm ái, sinh tâm giận dữ đối với cha?
 Đáp: Hình tướng tuy nhỏ, nhưng các căn giống như hình tượng  người già được vẽ trên vách, hình dáng dù nhỏ, nhưng có tướng già.
Hỏi: Hình tướng Trung hữu của Bồ-tát lớn hay nhỏ?
 Đáp: Như thời gian trước kia, có hình tướng của tuổi trẻ v.v...,  cũng vẫn trang nghiêm thân bằng ba mươi hai tướng, tám mươi thứ tùy  hình tốt đẹp, toàn thân thuần là sắc vàng ròng, ánh sáng tròn bao  quanh thân một tầm.
Do việc nầy, nên khi Bồ-tát trụ ở Trung hữu, thân Trung hữu có  ánh sáng, soi rọi trăm ức bốn châu thiên hạ.
 

* Trang 936 *
device

 Hỏi: Nếu vậy thì với kệ pháp do Tu Bồ-đề nói, làm sao hiểu được. Như nói:
Hình kia như voi trắng  
Bốn chân, có sáu ngà  
Đến nhập vào thai mẹ  
Như tưởng dạo vườn lầu.
 Đáp: kệ nầy không cần hiểu? Vì sao? Vì kệ nầy chẳng phải tu- đa- la, Tỳ-ni, A-tỳ-đàm, là nghĩa tự tạo, hoặc đúng, không đúng. Hoặc  có nói không, không nói có. Nếu muốn hiểu, là có ý gì?
 Đáp: Pháp của quốc độ nơi phương kia cho mộng ấy là tốt. Cho  nên, mẹ của Bồ-tát nằm mộng thấy việc nầy, muốn cho người xem  tướng đều nói là tốt. Bồ-tát trong chín mươi mốt kiếp, không hề bị đọa  vào đường ác, thì vì sao tạo ra hình tướng súc sinh đến nhập vào thai  mẹ?
Hỏi: Trung hữu có đủ các căn hay không đủ các căn?
 Đáp: Các căn đều đủ. Vì sao? Vì lúc Trung hữu mới sinh, sáu  nhập đều tìm kiếm hữu.
Lại có thuyết nói: Không đủ các căn?  
Hỏi: Không đủ căn nào?
 Đáp: Thời gian trước đã có các căn không đủ. Nghĩa là tùy theo  Trung hữu, giống như chỗ giống của in tượng, có chỗ giống của thời  gian trước khi ra Trung hữu cũng vậy.
Lời bình: Nên nói rằng: Đều đủ các căn. Vì sao? Vì lúc Trung  hữu sinh, sáu nhập đều tìm kiếm hữu!
Hỏi: Lúc Trung hữu đi thì thế nào?
 Đáp: Chúng sinh, bị đọa vào địa ngục, lúc đi đầu quay xuống  dưới, chân hướng lên trên. Như kệ nói:
Người đọa vào địa ngục  
Thân họ đều treo ngược  
Vì hủy báng Hiền, Thánh  
Và các người vị tịnh hạnh.
Người sinh bốn thiên hạ, thì đi xương sống nằm ngang, như chim  bay trên hư không, như vẽ hình người bay trên vách.
Người được sinh lên cõi trời, đầu hướng lên trên, như ngửa mặt  bắn mũi tên lên hư không.
Hỏi: Lúc Trung hữu sinh, có mặc y phục hay không?
 Đáp: Tất cả Trung hữu ở cõi Sắc khi sinh đều có mặc y phục. Vì  sao? Vì cõi Sắc là cõi thường hổ thẹn. Như pháp thân thường dùng y

* Trang 937 *
device

phục để che. Sinh thân cũng thế. Thân Trung hữu của chúng sinh cõi  Dục sinh ra đa số không có mặc y phục, chỉ trừ Bồ-tát, Tỳ-kheo ni  Bạch Tịnh.
Lại có thuyết nói: Trung hữu của Bồ-tát không có mặc y phục,  còn Tỳ-kheo ni Bạch tịnh thì có.
 Hỏi: Vì sao Trung hữu của Bồ-tát không mặc y phục, còn Tỳ- kheo ni Bạch tịnh thì có?
 Đáp: Vì Tỳ-kheo ni Bạch tịnh đã thí áo lông cừu cho chư tăng  bốn phương.
 Hỏi: Bồ-tát thí dứt y cho tăng bốn phương nhiều hơn so với y  phục kết lông cừu của Tỳ-kheo ni Bạch tịnh đã thí?
 Đáp: Tỳ-kheo ni Bạch tịnh sau khi thí cho tăng áo lông cừu rồi,  liền phát nguyện thế nầy: Nguyện cho tôi nơi chốn sinh ra trong các  đời đều thường mặc y phục. Do nguyện lực đó, nên lúc Trung hữu sinh  đều mặc y phục. Kể cả khi nhập thai xuất thai cũng thường mặc y  phục. Thân của bà càng ngày càng lớn y phục cũng lớn theo. Đối với  pháp Phật, bà phát sinh niềm tin, về sau xuất gia, liền đem y nầy chế  ra năm thứ y, siêng tu phương tiện, chứng được quả A-la-hán, đến khi  Nhập Niết-bàn, dùng y nầy quàng vào thân mà trà tỳ.
Các pháp thiện Bồ-tát thực hành, đều, hồi hướng Bồ-đề Vô  thượng, để có thể sinh ra quả của nhân giống nhau. Thân sau cùng của  Bồ-tát được thân tối thắng đối với tất cả chúng sinh.
Hỏi: chúng sinh Trung hữu ăn thức ăn gì?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Chỗ nào có thức uống ăn thì ăn các  thức uống ăn ấy. Còn ở bên cạnh ao, hồ, sông, suối thì uống nước ấy  để sống còn.
 Hỏi: Nếu vậy, nghe nói nói, như nước đọng lại trong đãy lọc  nước, gạo dính trong nồi, chúng sinh Trung hữu nơi năm đường rải rác  ở thế gian, cũng giống như thế. Các thức uống ăn trong tất cả thế gian,  giả như chỉ loài chó mới có thức ăn, cũng không đủ cung cấp, huống  chi là loài khác. Tuy nhiên, thân Trung hữu kia rất nhẹ, thức uống ăn  thì thô, nặng. Nếu ăn thức ăn nầy thì thân sẽ tan, hoại. Nếu vậy, làm  sao tự sống còn?
 Đáp: Trung hữu dùng mùi hương làm thức ăn. Nếu chúng sinh,  có phước đức thì dùng thức ăn uống sạch, uống ăn hương thơm của hoa  quả để tự tồn tại. Kẻ không có phước đức thì Trung hữu của họ sẽ ăn  các thứ mùi hôi hám của phẩn uế, bất tịnh, để tự sống còn. Trung hữu được gọi là Trung hữu, cũng gọi là Kiền-thát-bà, cũng

* Trang 938 *
device

  gọi là Cầu hữu, cũng gọi là Ma-nậu-ma.
Hỏi: Vì sao gọi là Trung hữu?
Đáp: Vì sinh giữa hai hữu nên gọi là Trung hữu.
 Hỏi: Nếu vậy thì các hữu khác ở giữa hai hữu đều được gọi là  Trung hữu phải chăng?
 Đáp: Nếu là hữu ở giữa hai hữu, không lệ thuộc cõi, thì gọi là  Trung hữu. Nếu ở giữa hai hữu mà lệ thuộc cõi thì không gọi là Trung  hữu.
Lại nữa, nếu ở trung gian giữa hai hữu, mà vi tế, khó sáng, khó  thấy, khó rõ, thì gọi là Trung hữu. Các hữu khác dù ở giữa hai hữu  nhưng là thô, dễ thấy, dễ sáng, dễ rõ, thì không được gọi là Trung hữu.
Hỏi: Vì sao gọi Trung hữu là Kiền-thát-bà?
 Đáp: Vì Trung hữu dùng mùi hương để sống còn, nên gọi là  Kiền- thát-bà.
Vì sao gọi là Cầu hữu?
 Đáp: Vì khi sinh, Trung hữu dùng sáu nhập để tìm kiếm hữu nên  gọi là cầu hữu.
Vì sao gọi là Ma-nậu-ma?
Đáp: Vì từ ý sinh, nên gọi là Ma-nậu-ma.
Chúng sinh hoặc có loại từ ý sinh, hoặc có loại từ nghiệp sinh, từ  báo sinh, từ hội hợp sinh.
Từ ý sinh, nghĩa là chư thiên cõi Sắc, cõi Vô sắc và Trung hữu.
Từ nghiệp sinh: là chúng sinh địa ngục, như nói: chúng đọa vào  địa ngục đều bị nghiệp trói buộc.
Từ báo sinh: Như chim bay.
Từ hội hợp sinh: Như con người, sáu tầng trời cõi Dục.  
Kinh Phật nói: Vì ba việc hòa hợp, nên được vào thai mẹ:
1.         Cha mẹ đều có tâm nhiễm, hội hợp một chỗ,
2.         Gặp lúc người mẹ kia không bị bệnh.
3.         Kiền-thát-bà hiện ở trước.
Ba việc hòa hợp tức là cha, mẹ, Kiền-thát-bà.  
Cha mẹ có tâm nhiễm: Tức tâm dục hiện ở trước.  
Hội hợp một chỗ: Muốn hội hợp chung.
Người mẹ không bị bệnh. Là lúc người mẹ kia hoan hỷ.
Tỳ-ni nói rằng: Người mẹ kia do tâm dục nhơ đục, như lúc trời  mưa, nước sông đều đục. Tâm dục của người mẹ kia cũng giống như  thế. Cũng không có gió lạnh, nóng v.v...
Lúc bị các chứng bệnh: Là gặp lúc nước kinh của người nữ. Nếu

* Trang 939 *
device

 nước kinh nhiều mỏng, sẽ không thành thai Nếu nước kinh ít, khô,  cũng không thành thai, do tinh huyết của cha mẹ, sau đó mới thành  thai, đó gọi là lúc gặp, cũng gọi là có thân. Kiền-thát-bà hiện ở trước:  Là Trung hữu hiện ở trước, hoặc khởi tâm ái, hoặc khởi tâm giận dữ.  Nếu thân Trung hữu là nam thì yêu đối với mẹ, nổi cơn giận dữ đối  với cha. Trung hữu kia nghĩ rằng: Nếu không có người nam ấy, thì ta  sẽ giao hợp với người nữ nầy. Bấy giờ, liền khởi tưởng điên đảo như  thế: Khi thấy người nam kia cách xa, thì cảm thấy thân mình như giao  hợp với người nữ ấy. Lúc cha mẹ giao hợp xuất tinh khí, Trung hữu  thấy rồi, cho là của mình, sinh tâm vui mừng. Vì sinh tâm vui mừng  nên mê muội. Vì mê muội, nên Trung hữu càng nặng, không còn dời  động. Lúc ấy tự thấy mình đang ngồi bên hông phải của mẹ, mặt  hướng về lưng mẹ. Nếu Trung hữu là người nữ, thì cảm thấy yêu đối  với cha, giận dữ đối với mẹ. Trung hữu nữ ấy nghĩ rằng: Nếu không có  người nữ nầy, thì sẽ giao hội với người nam ấy. Khi đó, bèn khởi ý  nghĩ điên đảo như thế: Lúc thấy người nữ kia cách xa, cảm thấy thân  mình đang giao hợp với người nam nầy. Khi cha mẹ giao hợp tiết ra  tinh, khí Trung hữu thấy cho là của mình bèn sinh tâm vui mừng. Vì  sinh tâm vui mừng, nên mê muội, vì mê muội nên Trung hữu trở thành  nặng, không còn nhúc nhích. Lúc nầy, Trung hữu tự thấy thân mình  đang ngồi ở hông trái mẹ, mặt hướng về bụng mẹ.
Tất cả chúng sinh đều có ý nghĩa điên đảo như thế mà vào thai  mẹ, chỉ trừ Bồ-tát. Bồ-tát khi nhập thai mẹ, vì biết người nữ nầy là mẹ  mình, người nam nầy là cha mình, nên đối với mẹ, sinh tưởng là mẹ,  đối với cha, sinh tưởng là cha.
Hỏi: Trung hữu vào thai mẹ từ chỗ nào?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Trung hữu kia không có chướng ngại,  nên bất cứ chỗ nào cũng vào được.
 Hỏi: Nếu nói vào thai mẹ không có chướng ngại, thì không nên ở  trong thân mẹ?
Đáp: sức của nghiệp, nên bị ràng buộc trong thai mẹ.
Lời bình: Nên nói rằng: Trung hữu từ sinh môn đi vào, trong thai  mẹ. Do việc ấy, nên song sinh, đứa ra sau là lớn. Vì sao? Vì vào thai  mẹ trước. Luận Thi Thiết nói: Cha, mẹ có phước đức v.v... mới có thể thọ thai
Hỏi: Người nam giàu sang gần người nữ nghèo hèn. Người nữ  giàu sang gần người nam thấp kém, làm sao có thể thọ thai?

* Trang 940 *
device

 Đáp: Lúc đó, Trung hữu thấy người nữ kia, nghĩ là tôn quý, tự  thấy thân mình, sinh tưởng thấp kém. Người nữ tự cho là vượt hơn, coi  người nam là thấp kém. Người nữ tôn quí gần người nam thấp kém,  cho người kia là vượt hơn, cho mình là thấp kém. Người nam kia thấy  mình là hơn, cho người kia là thấp hèn. Khi ấy, vì có ý nghĩ như thế về  phước đức v.v... nên mới có thể thọ thai.
Một người ở trong thai mẹ, có Trung hữu của năm đường. Như  chó, chó sói, cá, ểnh ương, v.v...
 Hỏi: Nếu là Trung hữu của địa ngục, thì ở trong bụng của người  mẹ kia, sao không thiêu đốt?
 Đáp: Nếu người gây ra nghiệp thì sẽ bị thiêu đốt, kẻ không gây  ra nghiệp sẽ không bị thiêu đốt, nếu người có giữ giới v.v... bị vướng  mặc trong địa ngục, cũng không thể bị thiêu đốt. Vì sao? Vì họ không  gây ra nghiệp. Chúng sinh ở trước địa ngục, không hẳn là bị thiêu đốt.
Như Luận Thi Thiết nói: Có khi chúng sinh của địa ngục Hoạt,  khi gió lạnh thổi đến, họ reo lên rằng: Các chúng sinh sống lại! Các  chúng sinh còn sống! Lúc ấy chúng sinh bèn sống lại.
Do việc nầy, nên Trung hữu kia không hẳn bị thiêu đốt.
 Hỏi: Nếu tường vách, núi rừng, nhà cửa, ngói đá v.v... đều không  thể gây ngược ngại cho Trung hữu thì trở lại đối với Trung hữu có bị  chướng ngại không?
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Có chướng ngại nhau.
Nếu vậy thì làm sao Trung hữu được gọi là không có chướng  ngại?
Đáp: Chỉ trừ Trung hữu, đối với các thứ khác, đều không có trở ngại.
Lại có thuyết nói: Trung hữu đối với Trung hữu lại không có chướng ngại nhau. Vì sao? Vì không có lời nói.
Hỏi: Chỗ đã đi qua, Trung hữu đi nhanh hay thần túc đi nhanh?
 Đáp: Hoặc có thuyết nói: Trung hữu đi nhanh. Vì sao? Vì sức của  nghiệp vượt hơn thần túc?
Lời bình: Nên nói như vầy: Thần túc đi nhanh, chẳng phải sức  của nghiệp đi nhanh.
Hỏi: Nếu vậy sao lại nói sức của nghiệp vượt hơn sức thần túc?
 Đáp: Nên biết là do việc nào để nói sức của nghiệp vượt hơn sức  thần túc? Vì có thể lưu trú nơi tất cả chúng sinh. Về sức của thần túc  nơi Tôn giả Xá-lợi-phất chỉ trừ Phật Tôn giả Mục-kiền-liên, trừ Phật  và Tôn giả Xá-lợi-phất. Trung hữu kia không có cỏ thuốc, pháp chú  thuật

* Trang 941 *
device

  của chúng sinh. Phật và Bích-chi Phật có thể lưu trú, khiến cho sự sinh  kia không nối tiếp nhau. Do việc nầy nên nói sức của nghiệp vượt hơn  sức thần túc.
Hỏi: Trung hữu có thấy lẫn nhau không?  
Đáp: Hoặc có thuyết nói: Thấy nhau. Thấy được bao nhiêu chỗ?
 Đáp: Địa ngục thấy địa ngục. Súc sinh thấy súc sinh. Ngạ quỷ  thấy ngạ quỷ. Con người thấy con người, trời thấy trời.
Lại có thuyết nói: Địa ngục thấy địa ngục, súc sinh thấy hai  đường. Ngạ quỷ thấy ba đường. Con người thấy bốn đường, trời thấy  năm đường.
Lại có thuyết nói: Trung hữu chẳng phải cảnh giới của mắt  người, mà là cảnh giới của thiên nhãn.
Hỏi: Thiên nhãn thấy bao nhiêu chỗ?
 Đáp: Thiên nhãn, là báo của Bốn vị thiên vương, trừ địa của  mình, thấy địa dưới. Cho đến trời Tha hóa Tự Tại, trừ địa của mình  thấy địa dưới.
Lại có thuyết nói: Tất cả mắt cõi dục đều không thấy Trung hữu,  mặt cõi Sắc có thể thấy.  Hỏi: Báo được mắt ở cõi Sắc, có thể thấy bao nhiêu chỗ?
 Đáp: Báo được mắt của Sơ thiền, trừ địa mình, thấy địa dưới. Cho  đến đệ Tứ thiền, trừ địa của mình thấy địa dưới.
Nếu nói như thế, thì sẽ không thấy Trung hữu của đệ Tứ thiền.
Lời bình: Nên nói rằng: Tất cả báo được mắt, đều không thấy  Trung hữu. Nếu thiên nhãn thanh tịnh, thì có thể thấy Trung hữu. Nếu  không thanh tịnh, thì không thấy Trung hữu. Vì sao biết? Vì kinh Phật  đã nói: Nếu người nam, nữ phá giới, làm việc ác, thì thân hoại qua  đời, sẽ sinh Trung hữu như thế. Màu sắc của nó trông như thảm lụa  đen, cũng như đêm tối. Nếu thiên nhãn thanh tịnh, thì sẽ thấy. Nếu là  người nam, người nữ giữ giới, tu phạm hạnh, thì khi chết, sẽ sinh làm  Trung hữu như thế màu sắc trắng sạch, như tấm thảm trắng, cũng như  mặt trăng sáng trong đêm tối. Nếu thiên nhãn tịnh, thì có thể thấy  được.
Như nói vua Tỳ-lưu-ly đối với Trá ác Đề-bà-đạt-đa tức ngay thân  nầy vào địa ngục A-tỳ.
Hỏi: Cũng thế v.v... là có Trung hữu hay chăng?
 Đáp: Có trong một Sát-na, tử hữu không gián dứt sinh ra Trung  hữu. Trung hữu không gián dứt, sinh ra Sinh hữu. Chỉ trong một sát-na.  Như kinh nói: Đế-thích nói kệ:

* Trang 942 *
device

  Đại tiên phải nên biết  
Tôi ở chỗ ngồi nầy  
Lại được tuổi thọ trời  
Cúi xin nhớ giữ mãi.
 Hỏi: Như thế là có tử sinh hay không? Nếu có tử sinh, làm sao  thọ Trung hữu? Nếu không có tử, sinh thì kệ ấy làm sao hiểu được?  Như nói: Ta ở chỗ ngồi nầy, lại được tuổi thọ trời.
Đáp: Nên nói rằng: Không tử, bất sinh.  
Hỏi: Nếu vậy làm sao hiểu được kệ ấy?
 Đáp: Kệ nầy vì nhân duyên dứt trừ đường ác của Đế-thích, nên  nói rằng: Phật vì Đế-thích nói pháp, được thấy nhân duyên dứt trừ  đường ác chân đế, được sinh vào chốn người, trời, lại muốn hướng về  Phật, nói lời êm ái: Tôi nơi chỗ ngồi nầy, lại được tuổi thọ trời, cho  đến nói rộng. Như người trong lao ngục, giúp đỡ người khác được ở  chỗ tùy ý. Người ấy muốn trở lại hướng tới người kia, nói lời êm ái:  Nay sở dĩ ta được toàn mạng đều do ơn ông. Nếu không có ông thì tôi  đã bị chìm đắm mãi mãi.
Lại nữa, trừ bệnh kiết, chỗ dứt kiến đạo, nên nói rằng: Phật vì  Đế-thích nói pháp, trừ bỏ bệnh kiết do kiến đạo dứt trừ, sao được ở  chỗ bậc nhất không có bệnh, nghĩa là đạo, quả đạo. Vì muốn hướng về  Phật, nên nói lời êm ái: Tôi đối chỗ ngồi nầy, cho đến nói rộng. Cũng  như thầy thuốc với tâm từ, trị bệnh cho người, sao cho họ được chỗ yên  ổn không bệnh. Người bệnh muốn hướng về thầy thuốc, nói lời êm ái:  Nếu không có ông, thì tôi ở nơi nầy đã mãi mãi chìm đắm. Đế-thích  kia cũng giống như thế.
Lại nữa, vì được thần túc tuổi thọ, nên nói: Như kinh nói: Tỳ- kheo lấy gì làm tuổi thọ? Tức bốn thần túc là tuổi thọ của Tỳ-kheo.  Đức Phật vì Đế-thích nói pháp, được thần túc, tuổi thọ, nên Đế-thích  muốn hướng về Phật nói lời êm ái: Tôi ở chỗ ngồi nầy, cho đến nói  rộng.
Lại nữa, vì được căn tuệ mạng, nên Đế-thích nói: Như kinh nói:  Lấy tuệ làm mạng sống, tức là tôi thắng Phật vì Đế-thích nói pháp,  muốn cho Đế-thích được căn của tuệ mạng. Đế-thích muốn hướng trở  lại Đức Phật nên nói lời êm ái: Tôi ở chỗ ngồi nầy... cho đến nói rộng
Hỏi: Đế-thích vốn không có căn tuệ mạng hay sao?
 Đáp: Dù vốn có, nhưng là hữu lậu. Nghe Phật nói pháp, thấy bốn  chân đế, được căn của tuệ vô lậu, nên nói như thế.
Lại nữu, dứt trừ năm thứ tướng giống như chết, nên nói: Khi tuổi  thọ chư thiên sắp hết, có năm thứ giống với tướng chết, năm tướng  chết

* Trang 943 *
device

  hiện rõ.
Năm thứ giống với tướng chết là sao? Mỗi khi chư thiên qua lại,  chuỗi anh lạc đeo trên thân đều phát ra năm thứ tiếng nhạc, tiếng ấy  bấy giờ liền im bặt. Thân chư Thiên phát ra sự sáng suốt, tự thân  không có bóng.
Hoặc có thuyết nói: Bấy giờ, ánh sáng bao quanh thân giảm  thiểu.
Hoặc có thuyết nói: Anh sáng nơi thân đều tắt, bóng của tự thân  hiện ra, thân chư Thiên mềm mại, không có cấu uế, xuống ao nước  thơm tắm, lúc lên khỏi ao, thậm chí không có một giọt nước nào dính  vào thân, như lá sen. Lúc nầy, thì nước dính thân. Chư Thiên có các  thứ cảnh giới tốt đẹp, thanh tịnh, cuốn trôi các căn tình, không dừng lại  một cảnh giới nào mà xoay quanh nơi các cảnh giới, giống như vòng  lửa không hề dừng. Lúc nầy thì dừng lại ở một cảnh giới. Thân phước  đức của chư Thiên, mắt không từng nháy, lúc nầy thì nháy. Về năm  tướng chết: Kinh nói: Chư Thiên hoặc nam, hoặc nữ, khi sắp qua đời,  trước có năm tướng chết hiện:
1.         Áo không nhơ mà nhơ.
2.         Hoa không héo mà héo.
3.         Dưới nách vốn không đổ mổ hôi mà đổ mồ hôi.
4.         Thân vốn không hôi mà hôi.
5.         Trước kia vốn ngồi yên, mà nay không yên.
Năm thứ giống với tướng chết tức có thể trừ bỏ. Còn năm tướng  chết thì không thể.
Năm thứ giống với tướng chết của Đế-thích hiện ra không lâu,  năm tướng chết sẽ hiện, bèn nghĩ rằng: Ai có thể cứu giúp ách nạn  như thế của ta, trừ Phật, Thế tôn, thì không có ai có khả năng. Liền  đến chỗ Phật. Bấy giờ, Đức Thế tôn liền vì Đế-thích nói pháp. Do  nghe pháp, nên dứt bỏ năm thứ giống với tướng chết. Đế-thích lại  muốn hướng về Đức Phật, nên nói lời êm ái như vầy: nếu ta ở chỗ  ngồi nầy, cho đến nói rộng. Nếu nói rằng: Nói gây ra nghiệp báo của  hiện pháp, tức ở trên tòa, lại được tám căn như mạng căn, v.v...
Lại có thuyết nói: Lúc ấy cũng có tử sinh.
 Hỏi: Nếu vậy thì Luận Thi Thiết nói, làm sao hiểu được? Như  nói: Trời Ba mươi ba hoặc nam hoặc nữ, lúc mới sinh thân họ như đứa  trẻ năm tuổi, ở trên sự bồng bế của chư Thiên, bỗng nhiên hóa sinh.  Bấy giờ, chư Thiên hoặc nam hoặc nữ, nói rằng: Đây là con trai của  ta. Đây là con gái của ta. Người hóa sinh cũng nói: Đây là cha ta, đây  là mẹ

* Trang 944 *
device

 ta.
 Hỏi: Lúc ấy chư Thiên có thấy tướng ấy của Đế-thích hay  không?
 Đáp: Đều thấy, rồi nghĩ: Nay Đế-thích có thần lực lớn, hiện sức  thần túc trước Đức Thế tôn.
Lại nữa, người có oai đức trong chư Thiên là các vị:
1.         Nhân-Đà-La.
2.         Ưu-Tỳ-Nhân-Đà-La.
3.         Y-Xá-Na.
4.         Ba-xà-Bát-Đa.
Chư Thiên có oai đức như thế, như trước, đã có thân thời kỳ tráng  niên, thân lúc mới sinh cũng vậy. Chư Thiên hóa sinh không có tử thi.
Lời bình: Chư Thiên hóa sinh kia không có tử sinh, như thuyết  trước nói là tốt!
Luận Thi Thiết nói: Người kiếp sơ, có người hóa thành sâu đi  bằng bụng, gọi là phúc hành. Hóa thành ba tay gọi là voi.
Người có thân biến hóa như thế, là có tử sinh hay không? Nếu  có, thì Trung hữu của những người đó ra sao? Nếu không có tử sinh thì  con người tức là súc sinh?
Đáp: Nên nói như vầy: Không có tử sinh.
Hỏi: Nếu vậy thì con người tức là súc sinh phải chăng?
 Đáp: Con người chẳng phải tức là súc sinh, chỉ có thân súc sinh  nối tiếp với thân người.
Lại có thuyết nói: Người ở kiếp sơ, hình dáng họ giống như con  người. Về sau, do thời tiết xấu thức ăn uống dở vì dua nịnh, tà vạy  nhiều, nên hình dáng con người bèn mất. Hình thù súc sinh hiện ra  trước, thật ra hình dáng người nầy là súc sinh. Cũng như do sức chú  thuật, biến người thành lừa. Dù hình dáng là lừa, nhưng thật ra là con  người, người ở kiếp sơ cũng giống như thế.
Lại có thuyết nói: Chúng sinh từ cõi trời Quang Âm chết, sinh tới  cõi chốn nầy, thực ra là súc sinh, hình dáng giống như con người. Về  sau do thời tiết xấu, thức uống ăn dở, vì dua nịnh, tà vạy nhiều, nên  hình dáng con người diệt mất, lại làm súc sinh, hình dáng như con ểnh  ương. Thời kỳ trước, hình dáng đủ, thời kỳ sau hình dáng đủ. Thời gian  trước hình dáng tròn trịa màu đen, thời gian sau hình dáng vuông vức  mà mạnh khỏe. Lại có thuyết nói: Người đầu tiên của kiếp kia có tử sinh.  
Hỏi: Nếu vậy thì Trung hữu là thế nào?

* Trang 945 *
device

 Đáp: Trung hữu vi tế, người ở kiếp sơ hóa sinh, không có tử sinh.
Lời bình: Nên nói như vầy: Không có tử sinh.
 ?????

* Trang 946 *
device

Đại Tập 95 - Bộ Tỳ Đàm VII - Số 1546 (Quyển 1-40)