LOGO VNBET
                                        120.KINH THUYẾT VÔ THƯỜNG1
    Tôi nghe như vầy:
     Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
     Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
    “Sắc là vô thường, vô thường nên khổ, khổ nên phi ngã2.Thọ 3cũng vô thường, vô thường nên khổ, khổ nên phi ngã. Tưởng cũng là vô thường, vô thường nên khổ, khổ nên phi ngã. Hành cũng là vô thường, vô thường nên khổ, khổ nên phi ngã. Thức cũng là vô thường, vô thường nên khổ, khổ nên phi ngã.
    “Như vậy là sắc vô thường; thọ, tưởng, hành, thức vô thường, vô thường nên khổ, khổ nên phi ngã. Đa văn Thánh đệ tử hãy nên quán sát như vậy, hãy tu tập bảy đạo phẩm4, vô ngại, chánh tư, chánh niệm5.Vị ấy đã biết như vậy, thấy như vậy rồi thì tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu, vô minh lậu. Giải thoát rồi liền biết mình đã giải thoát; biết đúng như thật rằng: ‘Sự sanh của ta đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Nếu có chúng sanh và chín trú xứ của chúng sanh6, cho đến cõi đệ nhất hữu với
_____________________
1. Tương đương Pāli S.xxii.76 Arahanta-sutta.
2. Hán: phi thần, chỉ thần ngã, tự ngã, hay linh hồn. Xem cht.5 dưới
3. Hán: giác, Pāli: vedāna.
4. Bản Nguyên-Minh: ba mươi bảy đạo phẩm. Bản Pāli, không có chi tiết này.
5. Pāli: yad anattā taṃ n’etam mama, n’eso aham asmi na m’eso attā, ti evam etaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ,“cái gì là vô ngã, cần phải được nhận thức một cách như thực bằng chánh trí rằng: cái này không phải của ta; ta không phải là cái này; cái này không phải là tự ngã của ta”.
6. Hán: hữu tình cư, chỗ chúng sanh cư ngụ. Pāli: sattāvasā.

* Trang 17 *
device

 hành còn tàn dư, tức cõi hữu tưởng vô tưởng xứ7, ở trong khoang trung gian đó, là bậc đệ nhất, là tối đại, là tối thắng, là tối thượng, là tối tôn, là tối diệu; đó chính là vị A-la-hán ở trong đời. Vì sao vậy? Vì trên đời này, A-la-hán đã được an ổn khoái lạc.”
Khi ấy, Đức Thế Tôn nói bài tụng rằng:
Vô trước8, đệ nhất lạc
Đoạn dục, ái đã trừ,
Vĩnh viễn lìa ngã mạn,
Bứt tung màn lưới si9.
Người không bị lay chuyển,
Tâm chẳng bợn mảy trần,
Thế gian không đắm nhiễm,
Vô lậu, phạm hạnh thành,
Thấu triệt năm ấm thân,
Cảnh giới bảy thiện pháp10,
Chốn đại hùng du hành,
Lìa xa mọi khủng bố,
Thành tựu báu thất giác11,
Học đủ ba môn học,
Thượng bằng hữu tôn xưng12
Chân chánh con của Phật.
______________________________
7. Hán: hữu tưởng vô tưởng xứ hành dư đệ nhất hữu, chỉ Hữu đỉnh thiên, cõi cao nhất trong tam hữu, tức cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tầng thứ tư của vô sắc định. Pāli: yāvatā sattāvasā, yāvatā bhaggaṃ, cho đến các cảnh vức của hữu tình, cho đến chop đỉnh của (ba) Hữu.
8. Vô trước, dịch nghĩa từ A-la-hán. Pāli: sukhino vata arahanta, A-la-hán thật sự an lạc.
9. Vô minh võng, Pāli: mohajāla.
10. Cảnh giới thất thiện pháp, Pāli: sattasadhammagocarā, sở hành là bảy diệu (chánh) pháp. Xem Tập Dị 17 (Đại 26, tr.437a), “bảy diệu pháp: tín, tàm,quý, tinh tấn, niệm, định, tuệ”.
11. Thất bảo giác, Pāli: Sattaratanā, ở đây chỉ bảy giác chi: trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, xả.
12. Thượng bằng hữu, Pāli: không rõ.

* Trang 18 *
device

Thành tựu mười chi đạo13,
Đại long định kiên cố,
Đấng bậc nhất trong đời,
Vị này không hữu ái;
Vạn cảnh không lay chuyển
Giải thoát hữu tương lai,
Đoạn sanh, lão, bệnh, tử
Lậu diệt, việc làm xong;
Phát khởi vô học trí14
Tận cùng tối hậu thân15;
Tối thắng thanh tịnh hạnh
Tâm không do bởi người16;
Đối các phương trên dưới,
Vị ấy không hỷ lạc
Thường rống tiếng sư tử,
Vô thượng giác trên đời.
Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
______________________________
13. Thập chi đạo, tức mười vô học chi; Tập Dị 20 (Đại 26, tr.452c): 1. Vô học chánh kiến; …; 8. Vô học chánh định; 9.Vô học chánh giải thoát; 10. Vô học chánh trí. Pāli: dasahaṅga.
14. Vô học trí. Pāli: asekhañāṇā.
15. Tối hậu thân. Pāli: antimoyaṃ samussayo.
16. Bất do tha, tự tri, tự chứng ngộ, không do kẻ khác. Pāli: aparapaccāya, không nương theo người khác.

* Trang 19 *
device

* Trang 20 *
device

 
Đại Tập IV, Bộ A- Hàm IV, Kinh Trung A- Hàm Số 2