LOGO VNBET
                                                   BIỆT DỊCH KINH TẠP A-HÀM
                                                                   QUYỂN II

                                                             TỤNG 1: Phần 2
23. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở trong khu Hàn lâm (rừng lạnh) thuộc thành Vương xá.
Bấy giờ Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Tuổi thọ loài người ngắn ngủi, hội họp phải chia ly, nên phải siêng năng hành đạo, tịnh tu phạm hạnh. Vậy các ông không được biếng nhác, phải tu hạnh thiện, tu đúng pháp nghĩa, hành động chân chính.
Khi đó Ma vương nghe lời dạy này, tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm ở nơi rừng lạnh thuộc thành Vương xá, đang giảng dạy pháp quan trọng cho các Thanh văn. Ta phải đến đó để quấy nhiễu”. Ma vương nghĩ như thế rồi bèn hóa ra một thanh niên, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Ngài, đứng qua một bên, nói kệ:
Đời người quá dài
Không có khổ não
Thường được an ổn
Đường chết không có.
Đức Phật biết Ma vương Ba-tuần đến quấy nhiễu, nên nói kệ:
Đời người ngắn ngủi
Khổ hại quá nhiều
Hãy mau tu thiện
 Như cứu đầu cháy
Nên biết Ba-tuần
Muốn đến quấy nhiễu.
Ma vương nghe Phật nói kệ, tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm đã biết

* Trang 281 *
device

tâm niệm của ta”. Ma vương sanh tâm hối hận ưu sầu khổ não, liền biến mất trở về Thiên cung.
24. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu Hàn lâm thuộc thành Vương xá.
Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Các hành vô thường, qua nhanh không ngừng, là pháp hư hoại, không thể nương nhờ, cần phải thoát ly mau, hướng đến đường giải thoát.
Ma vương Ba-tuần tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm đang ở nơi rừng lạnh thuộc thành Vương xá, thuyết pháp như vậy cho các Thanh văn. Ta nên đến đó để quấy nhiễu.” Ma vương nghĩ thế rồi, bèn hóa ra một thanh niên, đến chỗ Phật, đứng một bên, nói kệ:
Ngày đêm vẫn vậy
Mạng sống trở lại
Như bánh xe quay
Chuyển vận không ngừng.
Phật biết Ma vương quấy nhiễu, nên nói kệ:
Mạng theo ngày đêm chết
Đời sống nhiều nguy nan
Như dòng sông quá nhỏ
Mau cạn không còn gì
Thế nên này Ba-tuần,
Không được gây nhiễu loạn.
Ma tự nghĩ: “Đức Phật đã biết tâm ta”. Ma liền ưu sầu, khổ não, hối hận, biến mất, trở về Thiên cung.
25. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại vườn trúc Ca-lan-đà thuộc thành Vương xá.
Bấy giờ là nửa đêm về sáng, Đức Thế Tôn đang kinh hành trong

* Trang 282 *
device

rừng. Khi trời gần sáng, Ngài rửa chân, vững thân ngồi ngay thẳng, đặt niệm trước mặt.
    Ma vương tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm ở tại vườn trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương xá, nửa đêm về sáng, kinh hành trong rừng. Sáng sớm, vị Sa-môn ấy rửa chân, vào tịnh thất, ngồi ngay thẳng, đặt niệm trước mặt. Nay ta hãy đến đó quấy nhiễu”. Ma vương nghĩ xong liền hóa ra một thanh niên, đứng trước Phật, nói kệ:
Tâm ta biến hóa được
Lưới trùm khắp hư không
Sa-môn gặp phải ta
Không thể nào giải thoát.
Đức Phật biết Ma đến nhiễu loạn, nên nói kệ:
Thế gian có năm dục
Kẻ ngu bị chúng trói
Đoạn sạch các dục này
Vĩnh viễn không còn khổ
Ta đã đoạn hết dục
Ý không còn nhiễm đắm
Ba-tuần ngươi nên biết
Ta phá lưới dục rồi.
Ma vương nghe Phật nói kệ này, tâm rất ưu sầu khổ não vì không đạt ý nguyện, bèn biến hình trở về Thiên cung.
26. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại vườn trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương xá.
    Vào nửa đêm về sáng, Đức Thế Tôn tọa thiền rồi kinh hành. Gần sáng Ngài rửa chân đi vào phòng, nằm nghiêng bên hông phải, hai chân xếp lên nhau, hướng tâm đến ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, tưởng đến lúc thức dậy.
      Ma vương Ba-tuần tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm ở tại vườn trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương xá, kinh hành, ngồi nằm, lúc sáng sớm rửa chân vào phòng, nằm nghiêng bên phải, hai chân xếp lên nhau, hướng

* Trang 283 *
device

tâm đến ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, tưởng đến lúc thức dậy. Ta nên tới đó gây nhiễu loạn”. Ma vương nghĩ xong, bèn hóa ra một thanh niên, ở trước Phật, nói kệ:
Sao ngủ như vậy
Sao ngủ như vậy
Vì sao còn ngủ?
Như vào tịch diệt
Đã xong việc chưa?
Mà an lòng ngủ?
Đến khi trời sáng
Vẫn còn nằm ngủ!
Đức Phật biết Thiên ma đến gây nhiễu loạn, nên nói kệ:
Lưới ái nhốt chúng sanh
Che khắp hết mọi nơi
Nay ta phá lưới này
Đoạn trừ hẳn các ái
Diệt tận hết sanh hữu
An ổn vui Niết-bàn
Này Ma vương Ba-tuần
Ngươi làm được gì Ta?
Khi Ma vương nghe kệ xong, ưu sầu khổ não, liền biến mất, trở về Thiên cung.
27. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành Vương xá, gặp lúc trời mưa lâm râm, sấm chớp chiếu sáng khắp nơi. Vào đêm ấy, Đức Phật đi kinh hành ngoài đất trống.
     Ma vương Ba-tuần tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm ở trong núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành Vương xá, vào ban đêm trời mưa lâm râm, sấm chớp lòe sáng khắp nơi, vị ấy đang kinh hành ngoài đất trống. Ta nên đến đó quấy nhiễu”. Ma vương nghĩ như thế rồi bèn ở trên núi, xô tảng đá lăn xuống đến gần chỗ Thế Tôn. Bấy giờ tảng đá lớn kia, tự nhiên tan nát.
Thế Tôn nói kệ:

* Trang 284 *
device

Dầu ngươi phá Linh thứu
Tan nát như hạt bụi,
Làm biển lớn, đại địa,
Đều khô cạn, nát tan,
Muốn bậc chánh giải thoát
Sanh ý nghĩ sợ hãi,
Hay khiến cho giật mình
Không thể nào làm được.
Lúc ấy Ma vương tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm niệm của ta”, nên ưu sầu khổ não, liền biến mất trở về Thiên cung.
   28. Tôi nghe như vầy:
     Một thời, Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành Vương xá. Vào khoảng nửa đêm, Đức Thế Tôn đang kinh hành nơi đất trống. Sau đó Ngài rửa chân, vào tịnh thất, chánh thân ngồi ngay, đặt niệm trước mặt.
    Ma vương Ba-tuần tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm ở trong núi Kỳ-xà-quật thuộc thành Vương xá, đang kinh hành trên đất trống. Ta nên đến đó quấy nhiễu!”. Ma vương liền biến thành con mãng xà, thân hình dài lớn, như chiếc thuyền to, hai mắt sáng rực như cái bát nước Kiểu-tát-la, le lưỡi như lửa cháy, như chớp sáng, hơi thở vào ra như tiếng sấm lớn, ngay ở trước Phật, quấn lấy Ngài, cất đầu giơ cao cổ, phủ trên đầu Đức Phật.
Thế Tôn biết Ma quấy nhiễu nên nói kệ:
Ta sống nơi tịch tĩnh
Nhất tâm chánh giải thoát,
Thiền định, thân tu hành
Như pháp Phật quá khứ
Rắn độc rất hung dữ
Hình dạng thật đáng sợ
Muỗi, ruồi, bọ chét, rận
Những xúc não như vậy,
Không động sợi lông Ta,

* Trang 285 *
device

Huống chi làm Ta sợ.
Giả sử hư không nứt
Trời đất đều chấn động
Tất cả các chúng sanh
Đều sanh tâm hãi hùng,
Nhưng muốn Ta kinh sợ,
Không thể nào làm được.
Giả sử có tên độc
Bắn trúng vào tim Ta,
Ngay khi bị tên độc
Cũng không cầu cứu giúp
Nhưng loại tên độc ấy
Không thể nào trúng Ta.
    Ma vương nghe Phật nói kệ, tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta!” nên Ma sanh tâm sợ hãi, ưu sầu, hối hận, biến mất, trở về Thiên cung.
   29. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở nơi rừng Mạn trực, thuộc thành Vương xá. Vào đầu đêm, Đức Phật tọa thiền, kinh hành, giữa đêm rửa chân rồi vào phòng, nằm nghiêng bên phải, hai chân gác lên nhau, đặt tâm ở ánh sáng, nghĩ đến khi thức dậy.
   Ma vương Ba-tuần biết tâm Phật, tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm ở trong rừng Mạn trực, thuộc thành Vương xá, vào đầu đêm tọa thiền, kinh hành, đến trước giữa đêm thì rửa chân, vào phòng, nằm nghiêng bên phải, hai chân xếp lên nhau, đặt tâm ở ánh sáng, nghĩ đến khi thức dậy. Ta hãy đến đó quấy nhiễu!”
Bấy giờ Ma vương hóa ra một thanh niên, đến trước Như Lai, nói kệ:
Tại sao không làm việc
Lại nằm dài ngủ nghỉ
Ngủ mãi không thức dậy
Nào khác gì người say.

* Trang 286 *
device

Người không tiền, thất nghiệp,
Mới rảnh rỗi ngủ vùi
Người sản nghiệp đầy đủ
Cũng thích thú ngủ nghỉ.
Bấy giờ Thế Tôn biết Ma đến quấy nhiễu, nói kệ:
Ta chẳng ở không, ngủ
Cũng chẳng phải ngủ say
Ta không có tài sản
Vì thế nên ngủ nghỉ
Ta có nhiều pháp tài
Thế nên ta ngủ yên
Ta ngay trong khi ngủ
Niệm hơi thở vào ra
Đều có nhiều lợi ích
Chưa từng bị tổn giảm
Nghỉ thì không lo lắng
Ngủ yên không sợ hãi
Ví như có tên độc
Người bị bắn vào tim
Thường chịu nhiều đau khổ
Vẫn tìm được giấc ngủ
Ta đã nhổ tên độc
Vì sao lại không ngủ?!
Ma nghe kệ ấy, tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta”. Tâm ma buồn bã áo não, bèn trở về Thiên cung.
30. Tôi nghe như vầy:
      Một thời, Đức Phật ở nơi hang Thất diệp, trong núi Tỳ-bà-ba-thế, thuộc thành Vương xá. Có một Tỳ-kheo tên Cầu Đức ở một mình trong hang đá đen, núi Tiên, sống nơi yên tịnh, siêng năng tinh tấn, dứt mọi phóng dật, đoạn trừ ngã kiến, một thời gian đạt giải thoát, tự thân chứng đắc, rồi lại bị thoái thất, lần thứ hai, thứ ba cho đến lần thứ sáu, cũng bị thoái thất.

* Trang 287 *
device

      Tỳ-kheo tự nghĩ: “Hiện nay ta sống một mình, tu hành tinh tấn, đã sáu lần bị thoái thất. Nếu ta bị thoái thất nữa thì sẽ tự sát bằng dao”.
     Ma vương Ba-tuần biết Đức Phật ở trong hang Thất diệp, núi Tỳ-bà-ba-thế, thuộc thành Vương xá và đệ tử của Sa-môn Cù-đàm tên là Cầu Đức ở một mình trong hang đá đen, núi Tiên, thành Vương xá, tu hành tinh tấn, tâm không phóng dật, một thời được giải thoát, tụ thân tác chứng, đắc rồi lại thoái, như vậy đến sáu lần.
Ma vương tự nghĩ: “Nếu Tỳ-kheo Cầu Đức vào lần thứ bảy chứng đắc được, thì ta bị tổn hại”.
Ma vương nghĩ thế, ra khỏi cảnh giới Ma, ôm đàn lưu ly đến chỗ Phật, gảy đàn xướng kệ:
Đại trí, đại tinh tấn
Có thần thông lớn lao
Được tự tại trong pháp
Hào quang rất rực rỡ
Thanh văn đệ tử Ngài
Nay đang muốn tự sát
Bậc Tối Thượng Thế Gian
Xin hãy mau ngăn lại
Vì sao tu pháp Ngài
Không chứng, lại muốn chết?
Khi Ma vương nói kệ xong, Đức Phật bảo Ma vương:
–Này Ba-tuần, ngươi là bạn thân lớn của những kẻ phóng dật. Lời ngươi nói là theo ý riêng, chớ không vì vị Tỳ-kheo kia mà nói.
Thế Tôn đọc kệ:
Người nào không khiếp nhược
Tinh tấn vững tu hành
Thường vui nơi thiền định
Ngày đêm tu pháp thiện
Làm khô kiệt ái dục
Phá ma quân của ngươi
Nay bỏ thân cuối này
Vĩnh viễn nhập Niết-bàn.

* Trang 288 *
device

Bấy giờ Ma vương ưu sầu khổ não bỏ đàn lưu ly, buồn bã hối hận, trở về Thiên cung.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Ta cùng các ông đến núi Tiên nhân, chỗ Tỳ-kheo Cầu Đức.
Đức Phật đưa các Tỳ-kheo đến chỗ Cầu Đức, thấy bên thi thể của Cầu Đức có đám khói tụ ở phương Đông, Ngài bảo các Tỳ-kheo:
–Các ông thấy đám khói này không?
Các Tỳ-kheo thưa:
–Bạch Thế Tôn, thấy. Ở phía Nam, Tây, Bắc thi thể của Cầu Đức cũng có khói tụ như vậy.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Đấy là Ba-tuần biến hình bao quanh chỗ Cầu Đức, tìm tâm thức của vị ấy.
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
–Tỳ-kheo Cầu Đức đã nhập Niết-bàn, không có thần thức, không đến phương nào cả.
Ma vương biến hình là một thanh niên, nói kệ:
Trên dưới và bốn phương
Tìm cầu thức Cầu Đức
Không biết đi về đâu
Thần thức vào chốn nào.
Thế Tôn nói với Ba-tuần:
–Bậc trượng phu này, phá tan các thứ ma quân của ngươi, đã vào Niết-bàn.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
31. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở xóm Ưu-lâu-tần-loa, bên bờ sông Ni-liên-thiền, cạnh cây Bồ-đề, sau khi Ngài thành đạo chưa bao lâu.
    Ma vương tự nghĩ: “Đức Phật đang ở dưới bóng cây Bồ-đề, bên bờ sông Ni-liên, thuộc xóm Ưu-lâu-tần-loa, thành đạo chưa bao lâu. Ta

* Trang 289 *
device

nên đến đó tìm lỗi lầm của vị ấy”. Nghĩ thế rồi, Ma vương đến chỗ Phật, nói kệ:
Ngài một mình chỗ vắng
Im lặng thường tịch tĩnh
Thân tâm luôn rạng ngời
Các căn đều hỷ lạc.
Như người mất tài sản
Sau đó tìm lại được
Nay Ngài hưởng thiền định
Hoan hỷ cũng như vậy.
Đã từ bỏ ngôi vua
Lại không mong danh lợi
Sao không cùng mọi người
Cùng nhau kết bạn thân.
Thế Tôn nói kệ đáp:
Ta đã đắc thiền định
Tâm Ta thường tịch tĩnh
Phá ma dục của ngươi
Đạt pháp tài vô thượng
Các căn ta điềm đạm
Trong lòng được lặng không
Phá ma dục ngươi rồi
Tu hành ý hoan hỷ
Một mình lìa ồn ào
Kết bạn thân làm chi?
Ma vương nói kệ:
Ngài đã đạt chánh đạo
An ổn hướng Niết-bàn
Đã chứng đắc diệu pháp
Nên giữ kín trong lòng
Cần phải độc quyền biết
Sao lại dạy cho người?
Thế Tôn nói kệ:

* Trang 290 *
device

Những người không theo Ma
Hỏi Ta pháp bờ kia
Ta vì họ phân biệt
Sự thật để diệt khổ
Giữ tâm, không phóng dật
Ma không tìm được lỗi.
Ma vương lại nói kệ:
Ví như núi đá trắng
Màu sắc như cục mỡ
Bọn quạ không biết rõ
Bay đến để mổ ăn
Đã không được vị gì
Dập mỏ trở về không
Ta nay cũng như vậy
Mệt nhọc chẳng được gì.
Bấy giờ Ma vương nói kệ ấy xong, ưu sầu khổ não, rất hối hận, bèn đến một chỗ trống, ngồi chồm hổm, cầm mũi tên vẽ trên đất, suy tìm mưu kế.
Khi ấy ba người con gái của Ma, một tên Cực Ái, hai tên Duyệt Bỉ, ba tên Thích Ý. Ba Ma nữ này đến bên cha, nói kệ:
Cha nay là Trượng phu
Vì sao lòng ưu sầu?
Con sẽ dùng bẫy dục
Bẩy như thể bắt chim
Đem đến giao cho cha
Tùy ý cha sử dụng.
Ma vương nói kệ đáp:
Vị ấy khéo đoạn dục
Dục không thể lôi kéo
Đã vượt cảnh giới ma
Thế nên ta sầu khổ.
Ba Ma nữ kia biến ra hình dáng rất xinh đẹp, đến chỗ Phật, lạy sát chân Ngài, đứng qua một bên.

* Trang 291 *
device

Ba cô gái đồng lên tiếng bạch Phật:
–Chúng con đến đây để cúng dường và xin hầu hạ Ngài.
Bấy giờ Đức Thế Tôn đã chứng đắc vô thượng, đoạn sạch ái dục, nên không để ý đến. Lần thứ hai, lần thứ ba, họ cũng thưa như vậy, Đức Phật vẫn không ngó ngàng tới.
Ba Ma nữ, lùi lại một chỗ, bàn luận với nhau:
–Phàm đàn ông, sở thích khác nhau, hoặc yêu người nhỏ, hoặc yêu người vừa, hoặc yêu người lớn.
Thế rồi, một ma nữ hóa ra sáu trăm người nữ, có cả gái còn nhỏ, đồng nữ, thiếu nữ, gái vừa lấy chồng, gái đã có con, gái chưa có con. Nhiều hạng nữ nhân được hóa ra như vậy, cùng đến chỗ Phật, bạch với Ngài:
–Thế Tôn, chúng con đến đây cúng dường Đức Thế Tôn và xin được gần gũi hầu hạ, tùy Ngài sai khiến.
Đức Phật không để ý tới. Lần thứ hai, thứ ba cũng nói như vậy, Ngài đều không chút bận tâm.
Lúc ấy các Ma nữ lại lui về một chỗ, bàn luận với nhau: “Vị này chắc đã đắc quả vô thượng, đoạn ái dục, chứng giải thoát. Nếu chẳng như vậy thì khi thấy chúng ta, ắt phải cuồng loạn tâm ý mê muội. Chúng ta nên đến chỗ vị ấy, nói kệ để vấn nạn:
Ma nữ Cực Ái nói kệ:
Ngồi đoan chính bên cây
Yên tĩnh tự tư duy
Là vì mất tài sản
 Hay muốn tài sản lớn
Trong thành phố, xóm làng
 Đều không tâm ái, vướng
Sao không cùng mọi người
 Cùng nhau kết bạn thân?
Thế Tôn nói kệ đáp:
Ta được nhiều tài sản
Trong tâm luôn tịch diệt
Ta phá quân ái dục
Không vướng sắc trần nào

* Trang 292 *
device

Tọa thiền riêng một mình
Hưởng an lạc đệ nhất
Vì  nhân duyên như vậy
Không cần đến bạn bè.
Ma nữ Thích Ý lại nói kệ:
Tỳ-kheo trú chốn nào
Vượt qua năm dòng thác
Dòng thứ sáu cũng qua
 Nhập nẻo thiền định nào
Vượt dục đến bờ kia
Vĩnh viễn thoát trói buộc?
Thế Tôn nói kệ:
Thân được vui khinh an
Tâm luôn đạt giải thoát
Tâm xa lìa nẻo nghiệp
Ý không còn thoái chuyển
Đoạn giác quán chứng thiền
Xa lìa sân, dục, động
An trú vào chốn ấy
Vượt được năm dòng chảy
Và vượt dòng thứ sáu
Tu pháp tọa thiền này
Vượt qua lưới dục lớn
Và thoát hẳn bể khổ.
Ma nữ Duyệt Bỉ nói kệ:
Đã đoạn trừ ái kết
Xa lìa những buộc ràng
Có nhiều người mong muốn
Vượt dòng chảy, bờ chết,
Chỉ có bậc Trí tuệ
 Vượt qua những nạn này.
Thế Tôn lại nói kệ:

* Trang 293 *
device

Đại tinh tấn Như Lai
Dùng chánh pháp cứu độ
Như pháp đạt giải thoát
Người trí rất vui mừng.
Ba Ma nữ không đạt ước nguyện, trở về chỗ cha. Ma vương mắng ba Ma nữ bằng kệ:
Ba gái ma phá Phật
Hình dáng nhanh như điện
Gặp Bậc Đại Tinh Tấn
Như tơ bị gió thổi,
Dùng móng tay phá núi,
Lấy răng cắn sắt cục,
Trẻ ngu dùng tơ sen
Muốn treo hòn núi lớn.
Phật vượt các ràng buộc
Muốn tranh luận với Ngài
Như lấy bẫy bắt gió
Muốn hạ trăng xuống đất
Lấy tay tát biển lớn
Hy vọng biển cạn khô.
Phật đã lìa tham vướng
Muốn đến cùng tranh luận
Như nhảy qua Tu-di
Tìm đất trong biển lớn
Phật đã đắc giải thoát
Làm sao đến tranh luận.
Ma vương ưu sầu hối hận, liền biến mất, trở về Thiên cung.
32. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở trong núi Linh thứu, thuộc thành Vương xá. Đức Phật vì các Tỳ-kheo mà tán thán pháp Niết-bàn.
Ma vương tự nghĩ: “Đức Phật ở thành Vương xá vì các Tỳ-kheo mà tán thán pháp Niết-bàn. Ta hãy đến đó quấy nhiễu.” Nghĩ thế

* Trang 294 *
device

xong, Ma vương bèn biến hóa thành một trăm người, năm mươi người rất đẹp, năm mươi người rất xấu.
Các Tỳ-kheo trông thấy rất kinh ngạc, vì sao kẻ rất xinh đẹp, người lại quá xấu xí.
Đức Phật biết Ma đến muốn quấy nhiễu nên bảo Ba-tuần:
–Ngươi ở mãi trong đêm dài sanh tử, mang đủ những hình dáng đẹp xấu như vậy rồi. Ngươi phải làm thế nào để vượt qua bờ khổ, biến hóa như vậy thì có ích gì? Ai có tham ái với nam hay nữ, ngươi nên biến hóa những hình tướng ấy cho họ. Ta không còn tưởng về nam hay nữ, ngươi biến hóa những hình tướng như thế để làm gì?
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Kệ tóm lược:
Trường thọ, hà đế và quyến cương
Thùy miên, kinh hành, đại độc xà
Vô sở vi, Cầu Đức, ma nữ
Hoại loạn biến hình và hảo ố.
33. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Kiên trì bảy hạnh thì đạt được địa vị Đế Thích. Tại sao? Ngày xưa khi Đế Thích còn làm người, khởi đầu tu tập, hiếu thuận với cha mẹ, cung kính bậc Tôn trưởng, nói lời nhu hòa, không nói hai lưỡi, ưa bố thí không tham lam keo kiệt, thường nói lời chân thật không dối trá, không sân hận, nếu sanh giận hờn thì liền suy nghĩ để từ bỏ.
Thế Tôn nói kệ:
Đối với cha mẹ
 Hiếu thuận hết lòng
Đối với Tôn trưởng
 Ý rất kính trọng

* Trang 295 *
device

Nói lời nhu hòa
Hiền thiện tốt đẹp
Từ bỏ hai lưỡi
Xan tham sân giận
Trời Tam thập tam
Đều bày tỏ rằng
Người tu hạnh ấy
Chúng ta không bằng
Nên để riêng ngài
Tôn làm Thiên chủ.
Đức Phật giảng như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
34. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở trong đại giảng đường bên bờ hồ Di-hầu, thuộc nước Tỳ-xá-ly.
Có một Ly-xa tên Ma-ha-ly, đến chỗ Phật, lạy dưới chân Ngài, ngồi qua một bên, bạch:
–Thưa Thế Tôn, Ngài có bao giờ gặp Đế Thích chưa?
Đức Phật đáp: –Ta có thấy.
Ly-xa lại thưa:
–Có quỷ Dạ-xoa hình dạng như Đế Thích. Vị mà Thế Tôn thấy phải chăng là quỷ Dạ-xoa kia?
Đức Phật bảo Ly-xa:
–Chính là Đế Thích, Ta biết rõ vị ấy. Dạ-xoa có hình dạng như Đế Thích, Ta cũng biết rõ. Hành động và việc đã làm của Đế Thích, Ta đều biết rõ.
Khi Đế Thích còn là người, rất hiếu thuận với cha mẹ, cung kính các bậc Tôn trưởng, nói lời nhu hòa, không nói hai lưỡi, trừ bỏ tham lam keo kiệt, thường thích bố thí, nói lời chân thật, đoạn trừ sân si, không sanh hận thù.
Thế Tôn nói kệ:

* Trang 296 *
device

Đối với Cha mẹ
Hết sức hiếu thuận
Thân tâm cung kính
Với các Tôn trưởng
Lời nói nhu hòa
Hiền thiện tốt đẹp
Không nói hai lưỡi
Xan tham sân hận
Trời Tam thập tam
Đều tán dương rằng:
Vị hành giả này
Chúng ta không bằng
Phải mời riêng ngài
Tôn làm vua trời.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
35. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Có một Tỳ-kheo đến chỗ Phật, lạy dưới chân Ngài, đứng qua một bên, thưa:
–Bạch Thế Tôn, vì sao gọi là Đế Thích? Làm gì để trở thành Đế Thích?
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
–Đế Thích trước đây cũng là người, có bố thí, sanh tâm thuần tín, bố thí thức ăn uống, các món ăn ngon, các loại vòng hoa, các loại hương thơm, hương đốt, hương xoa, tài sản, vải vĩc, giường nằm ngồi, do nhân duyên này nên chư Thiên gọi vị ấy là Đế Thích.
Có Tỳ-kheo bạch Phật:
–Tại sao Đế Thích có tên là Phú-lan-đản-na?
Phật bảo Tỳ-kheo:
–Ngày xưa khi Đế Thích còn là người đã thực hành bố thí không hạn chế, bố thí luôn luôn, nên chư Thiên gọi là Phú-lan-đản-na.

* Trang 297 *
device

Hỏi:
–Tại sao Đế Thích có tên là Ma-khư-bà?
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
–Ngày xưa, Đế Thích là vị Bà-la-môn tên là Ma-khư-bà.
Hỏi:
–Vì nhân duyên gì Đế Thích tên là Bà-sa-bà?
Phật dạy:
–Vị ấy luôn luôn đem y phục bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn, vì nhân duyên này nên có tên Bà-sa-bà.
 Hỏi:
–Vì nhân duyên gì Đế Thích tên Kiều-thi-ca?
Phật dạy:
–Khi Đế Thích còn làm người, thuộc họ Kiều-thi-ca nên tên là Kiều-thi-ca.
 Hỏi:
–Vì nhân duyên gì Đế Thích tên là chồng của Xá-chỉ?
Phật dạy:
–Đế Thích cưới Vương nữ của vua A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la, nên tên là chồng của Xá-chỉ. Hỏi:
–Vì nhân duyên gì Đế Thích tên là Ngàn mắt?
Phật dạy:
–Khi Đế Thích còn là người, hết sức sáng suốt, xét đoán sự việc chỉ trong thời gian rất ngắn, có khả năng xử đoán ngàn việc, vì nhân duyên này nên tên là Ngàn mắt.
Hỏi:
–Vì nhân duyên gì Đế Thích tên là Nhân-đà-la?
Phật dạy:
–Đế Thích ở ngôi vị vua trời, xử lý việc trời, nên gọi là Nhân-đà-la.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Vì đủ bảy nhân duyên trên nên chư Thiên gọi vị ấy là Đế Thích.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

* Trang 298 *
device

36. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Ngày xưa có một Dạ-xoa, hình dáng bé nhỏ, nhan sắc xấu ác, thân hình đen thui, không ai ưa nhìn, ngồi trên ngai của Đế Thích. Chư Thiên cõi trời Tam thập tam thấy Dạ-xoa ấy ngồi trên ngai của Đế Thích, đều rất phẫn nộ nên mắng nhiếc đủ điều.
Bấy giờ Dạ-xoa, tướng xấu giảm bớt phát sanh tướng đẹp, dần dần to lớn hơn. Chư Thiên mắng chửi, phẫn nộ càng nhiều thì thân hình Dạ-xoa càng lớn, nhan sắc càng đẹp, càng dễ thương.
Chư Thiên cùng nhau đến chỗ Đế Thích, thưa:
–Có một Dạ-xoa quá xấu xí, thân hình rất nhỏ, ngồi trên ngai của Đế Thích. Chư Thiên chúng con cùng nhau hết sức mạ lỵ, thế mà tên Dạ-xoa ấy, nhan sắc trở nên xinh đẹp, thân hình dần dần to lớn.
Đế Thích bảo:
–Thật có loại Dạ-xoa, được mắng nhiếc càng nhiều, thân hình càng xinh đẹp, tên là “Được nuôi dưỡng bằng sự phẫn nộ của mọi người”.
Bấy giờ Đế Thích trở về, hướng đến chỗ ngồi của mình, mặc áo bày vai bên phải, tay bưng lò hương, nói với Dạ-xoa:
–Thưa Đại Tiên, tôi là Đế Thích. Tôi là Đế Thích.
Đế Thích ba lần xưng tên, Dạ-xoa nhỏ trở lại, hình sắc xấu dần, cho đến bị tiêu diệt mất.
Đế Thích ngồi lại trên ngai của mình, bảo chư Thiên:
–Từ đây về sau đừng sanh phẫn nộ. Nếu có tiếp xúc với điều xấu ác thì cẩn thận chớ nổi sân hận.
Đế Thích nói kệ:
Bị xâm phạm, khinh khi
Chớ có coi khinh lại
Với kẻ xâm hại mình
Đối họ bằng từ tâm.
Người không sân, không hại,
Thường nên thân gần gũi,

* Trang 299 *
device

Họ là bậc Hiền thánh
Hay đệ tử Thánh hiền.
Những người hay nóng giận
Là bị núi giận ngăn
Khi dấy khởi lòng giận
Nên hạn chế tối thiểu
Đây gọi là pháp thiện
Như cương chế ngựa dữ.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Đế Thích ở địa vị vua trời, thọ hưởng các dục lạc, còn có thể chế ngự lòng giận, lại thường tán thán sự hạn chế được lòng sân hận, huống chi Tỳ-kheo các ông, tin nơi nhà thế tục chẳng phải là nhà thật nên lìa bỏ đi học đạo, cạo bỏ râu tóc, mặc pháp y, mà không chế ngự lòng sân, tán than việc bỏ lòng sân hay sao! Thế nên các Tỳ-kheo phải học như vậy.
    Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
    37. Tôi nghe như vầy:
       Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
      Vào buổi sáng, Đức Phật mặc y, cầm bát vào thành khất thực. Sau khi thọ trai, Ngài rửa chân, cầm tọa cụ vào rừng Đắc Nhãn, xem xét khắp nơi, đến chỗ yên tịnh, ngồi kiết già bên gốc cây, trụ vào chánh định.
       Bấy giờ, trong tinh xá Kỳ-đà có hai vị Tỳ-kheo, khi Tăng chúng xử đoán công việc, cùng nhau giận dữ tranh cãi. Một người im lặng nhẫn nhục. Một người phẫn nộ hung hăng. Người phẫn nộ tự thấy lỗi của mình, nên đến chỗ vị Tỳ-kheo im lặng nhẫn nhục, cầu xin sám hối.
         Vị Tỳ-kheo im lặng nhẫn nhục kia không nhận sự sám hối ấy. Sự việc như vậy lan rộng, các Tỳ-kheo cùng nhau bàn luận, phát ra lời to tiếng lớn.
Đức  Như Lai đang trụ trong thiền định, với thiên nhĩ thanh tịnh hơn hẳn mọi người, từ xa nghe âm thanh ấy, liền đứng dậy đi vào chỗ chúng Tăng.

* Trang 300 *
device

Đến trước chư Tăng, Ngài trải tòa ngồi yên, bảo các Tỳ-kheo:
–Sáng nay, Ta mặc y, mang bát vào thành khất thực… cho đến… ngồi yên trong rừng, nghe các Tỳ-kheo với lời to tiếng lớn, vì sự việc gì vậy?
   Các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
–Thưa Thế Tôn, trong tinh xá Kỳ-đà có hai Tỳ-kheo, khi Tăng xử đoán sự việc, cùng nhau sanh giận dữ tranh cãi. Một Tỳ-kheo tự im lặng nhẫn nhục, một Tỳ-kheo thì hung hăng nhiều lời. Tỳ-kheo giận dữ ấy tự biết lỗi mình nên trở lại chí thành sám hối. Vị Tỳ-kheo im lặng không chịu nhận cho sám hối. Các Tỳ-kheo cùng nhau bàn tán rộng ra, nên có lời to tiếng lớn.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Tại sao ngu si không nhận sự sám hối của người khác. Này các Tỳ-kheo, nên biết rằng ngày xưa, tại Thiện pháp đường, giữa chư Thiên, Thích Đề-hoàn Nhân đã nói kệ:
Ví như dùng vỏ bầu
Múc bơ để đốt đèn
Lửa bốc cháy bùng lên
Đốt luôn cả vỏ bầu.
Tâm sân cũng như vậy
Đốt trở lại thiện căn
Lòng ta không oán nộ
Sân đến liền tiêu tan.
Không như dòng nước chảy
Cuồn cuộn chảy vô cùng
Sân nhưng không ác khẩu
Không chạm sở đoản người.
Sở đoản như mạch máu
Ta không gây tổn thương,
Điều phục được tự thân
Là thành tựu tự lợi.
Người không sân, không hại
Bậc ấy là Thánh hiền
Hay đệ tử Hiền thánh
Phải thường thân cận họ.

* Trang 301 *
device

Những kẻ có sân hận
Chướng ngại nặng như núi,
Khi phẫn nộ nổi lên
Ngăn chặn, còn rất ít
Đây gọi là nghiệp thiện
Như cương chế ngựa dữ.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Thích Đề-hoàn Nhân ở ngôi vị Thiên vương tự tại trong cõi trời, còn phải tu hành nhẫn nhục, tán thán sự nhẫn nhục, huống chi Tỳ-kheo các ông, xuất gia, bỏ hình thế tục mà lại không nhẫn và tán thán sự nhẫn nhục hay sao?
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
38. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
     Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo:
   –Ngày xưa, Thích Đề-hoàn Nhân thống lãnh chúng chư Thiên chuẩn bị giao chiến cùng A-tu-la.
     Thích Đề-hoàn Nhân nói với vua A-tu-la là Tỳ-ma-chất-đa-la:
      –Nay chúng ta chẳng cần đưa nhiều người làm hại lẫn nhau, chỉ cần biện luận để quyết định hơn thua.
Tỳ-ma-chất-đa-la bảo Thích Đề-hoàn Nhân:
–Này Kiều-thi-ca, chúng ta tranh luận, nếu có thắng thua, ai sẽ phân biệt được.
Thích Đề-hoàn Nhân nói:
–Trong đám của chúng ta, như về A-tu-la cũng có người minh triết trí tuệ biện tài, có khả năng nhận thức thiện ác, quyết định hơn thua.
Tỳ-ma-chất-đa nói:
–Này Đế Thích, ngươi hãy nói trước.
Đế Thích đáp:
–Ta có thể nói, nhưng ngươi là vị trời cũ, nên nói trước.
Tỳ-ma-chất-đa nói kệ:

* Trang 302 *
device

Ta thấy lỗi của nhẫn
Ngu cho nhẫn là pháp
Họ sợ nên phải nhẫn
Lại cho mình là thắng.
Thích Đề-hoàn Nhân nói kệ:
Mặc ngươi nói là sợ
Tự lợi là thắng nhất
Của báu, các lợi khác
Không bằng người nhẫn nhục.
Tỳ-ma-chất-đa-la nói kệ:
Người ngu không trí tuệ
Nên cần phải ngăn chặn
Như bò đi ở sau
Chen lấn lên bò trước.
Thế nên cần dao gậy
Để khuất phục kẻ ngu.
Thích Đề-hoàn Nhân nói kệ:
Ta thấy chế phục ngu
Nhẫn nhục là tối thắng
Kẻ phẫn nộ hung tợn
Ta nhẫn họ hết giận.
Người không sân, không hại
Họ chính là Hiền thánh
Hay đệ tử Thánh hiền
Phải thường thân cận họ.
Người có nhiều sân hận
Sân nặng ngăn như núi
Khi phẫn nộ nổi lên
Ngăn chặn, còn chút ít
Đây gọi là nghiệp thiện
Như cương chế ngựa dữ.
Trong Thiên chúng và chúng A-tu-la, người có trí tuệ cùng nhau bàn luận rõ ràng, cân nhắc về việc thắng bại kia. Chủ thuyết của A-tu-

* Trang 303 *
device

la lấy việc tranh đấu làm cơ sở, còn chủ trương của Thích Đề-hoàn Nhân là chấm dứt tranh cãi, tâm không phẫn nộ, đánh nhau. Thế nên A-tu-la thua, Thích Đề-hoàn Nhân thắng.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Thích Đề-hoàn Nhân tự tại trong thiên giới, luôn luôn nhẫn nhục, tán thán pháp nhẫn nhục. Tỳ-kheo các ông nếu tự mình nhẫn nhục, tán thán người nhẫn nhục, mới xứng đáng với việc xuất gia.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
39. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
     Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
     Ngày xưa Thích Đề-hoàn Nhân và A-tu-la sắp đánh nhau. Sau khi chuẩn bị xong, Thích Đề-hoàn Nhân bảo chư Thiên:
–Chư Thiên chúng ta, nếu đắc thắng phải dùng năm sợi dây trói A-tu-la đem về Thiên cung.
Bấy giờ vua A-tu-la cũng ra lệnh cho chúng của mình:
–Nếu chúng ta thắng, dùng năm sợi dây trói Thích Đề-hoàn Nhân đem về cung A-tu-la.
Lúc thấy Đế Thích, Tỳ-ma-chất-đa tức giận mắng nhiếc, phát ra lời nói rất xấu ác.
Đế Thích nghe lời mắng nhiếc ấy thì chỉ im lặng không hề mắng lại.
Người đánh xe là Ma-đắc-già nói kệ:
Này chồng Thích Chỉ Ma-khư-bà
Thiên chủ vì sợ hay không sức
Tỳ-ma-chất-đa mắng ngay mặt
Bằng lời rất ác, sao vẫn nhẫn?!
Thích Đề-hoàn Nhân đáp kệ:
Ta vì nhẫn nhục chứ không sợ
Cũng chẳng phải ta không tài sức
Mà sợ Tỳ-ma-chất-đa-la
Ta dùng thắng trí tự tu nhẫn

* Trang 304 *
device

Kẻ ngu trí thức cạn không bằng
Nên thường tranh tụng tâm không yên
Nếu ta dùng sức cấm chế người
Khác nào đồng hạng với kẻ ngu.
Người đánh xe lại nói kệ:
Trẻ ngu hay phóng túng
Tăng trưởng mạnh không ngừng
Như bò đi ở sau
Lấn lên bò phía trước
Người mạnh phải dùng dao
Kềm chế kẻ ngu ấy.
Đế Thích lại nói kệ:
Ta thấy hàng phục ngu
Chẳng gì hơn nhẫn nhục
Khi phẫn nộ bùng nổ
Nhẫn mới chế ngự được
Người ngu cho là đao
Thật ra không phải đao
Ngu không biết thiện ác
Không pháp nào chế ngăn
Thân ta có sức mạnh
Mới nhẫn được kẻ ngu
Gọi nhẫn là đệ nhất
Là thiện ở trong nhẫn.
Người yếu mới cần dao
Vì họ không làm được
Nên gọi nhẫn vì sợ
Chứ không phải thật nhẫn.
Uy lực được tự tại
Bị người khác mắng nhiếc
Im lặng không đáp lại
Đây là nhẫn thù thắng.
Hèn yếu sợ uy lực
Im lặng không chống nổi

* Trang 305 *
device

Đây gọi là sợ hãi
Không phải là hành nhẫn.
Trẻ ngu không trí tuệ
Ác hại đến người khác
Thấy họ im lặng nhẫn
Lại cho mình là hơn.
Hiền thánh có trí tuệ
Cho nhẫn là tối thắng
Thế nên bậc Hiền thánh
Thường khen công đức nhẫn.
Trừ hại ta và ngươi
Diệt hết các tai nạn
Thấy họ nổi sân hận
Phải im lặng nhẫn nhục,
Sân hận tự tiêu tan
Không phiền sức đao gậy
Ta, người đều lợi lớn
Tự lợi và lợi tha.
Ngu cho nhẫn là sợ
Hiền trí tán thán nhẫn
Nhẫn với kẻ thắng mình
Vì sợ tạo nguy hại
Nếu tranh kẻ bằng ta
Hại cả hai, nên nhẫn
Nhẫn với người thua mình
Nhẫn này là tối thượng.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Đế Thích ở cõi trời Tam thập tam rất là tự tại, thi hành vương pháp, mà còn tu nhẫn, tán thán nhẫn, huống chi các Tỳ-kheo đã bỏ hình tướng thế gian, vào đạo, cần phải tu nhẫn, tán thán nhẫn, chính là thực hành đúng pháp xuất gia.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

* Trang 306 *
device

40. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
    Bấy giờ Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Ngày trước, Thích Đề-hoàn Nhân muốn đến vườn vui chơi, ra lệnh cho người đánh xe tên Ma-đắc-lê-già, hãy bố trí ngàn chiếc xe ngựa.
Ma-đắc-lê-già vội vàng bố trí xe ngay và thưa với Đế Thích:
–Xa giá đã xong, Thiên chủ nên biết là đã đúng lúc.
Bấy giờ Đế Thích rời tòa nhà Tỳ-thiền-diên, chắp tay quay mặt về phương Đông, hướng về Đức Phật.
Ma-đắc-lê thấy Đế Thích hướng về phương Đông, chắp tay thì sanh tâm sợ hãi, làm rơi cả roi và cương ngựa đang cầm.
Đế Thích nói:
–Ngươi thấy việc gì mà kinh sợ đến nỗi rơi cả roi và cương ngựa?
Ma-đắc-lê thưa:
–Thưa người chồng của Ma-khư-thích-chỉ, thần thấy Thiên chủ chắp tay hướng về phương Đông, nên tâm sợ hãi, rớt cả roi và cương. Tất cả chúng sanh đều kính trọng Thiên chủ. Tất cả chúa đất đều thuộc về Thiên chủ. Tứ Thiên vương và trời Tam thập tam đều lễ kính Thiên chủ. Ai có đức độ hơn cả Thiên chủ nên Thiên chủ phải chắp tay đứng hướng về phương Đông?
Đế Thích đáp:
–Tất cả cung kính ta, đúng như ngươi nói. Bậc được tất cả Trời, Người đều cung kính, hiệu là Phật. Nay ta cung kính, lễ hướng về Phật.
Đế Thích nói kệ:
Này Ma-đắc-lê, ngươi phải biết
Tối thượng thế gian là Thế Tôn
Nay ta hướng Phật sanh kính tín
Thế nên chắp tay đứng lạy Ngài.
Ma-đắc-lê nói kệ:
Thiên chủ kính lễ thế gian thắng.
Tôi cũng thuận theo cung kính lễ.
Họ nói xong, chắp tay cung kính lễ, rồi lên xe đi.

* Trang 307 *
device

Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Đế Thích tự tại ở ngôi vị Thiên vương, vẫn cung kính lễ bái Đức Phật. Tỳ-kheo các ông cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo cần phải cung kính Phật mới đúng pháp xuất gia.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
41.Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
     Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Ngày trước, Thích Đề-hoàn Nhân muốn đến vườn vui chơi, ra lệnh cho người đánh xe là Ma-đắc-lê là hãy bố trí ngàn chiếc xe ngựa. 
Ma-đắc-lê bố trí xe ngựa xong, đến chỗ Đế Thích, thưa:
–Xa giá đã xong, xin Thiên chủ biết là đã đến lúc.
Bấy giờ Đế Thích ra khỏi Tỳ-thiền-diên đường, chắp tay hướng về phương Nam. Ma-đắc-lê thấy vậy, tâm ý kinh hãi, làm rơi cả roi và dây cương.
Đế Thích hỏi:
–Ngươi thấy việc gì mà kinh hãi đến như vậy?
Ma-đắc-lê trả lời:
–Thưa phu quân của Ma-khư-thích-chỉ, tôi thấy Thiên vương chắp tay hướng về phương Nam, nên tâm kinh sợ, rớt cả roi và cương. Tất cả chúng sanh đều kính trọng Thiên vương, tất cả chúa đất đều thuộc về Thiên vương. Trời Tứ Thiên vương và Tam thập tam thiên đều lễ kính Thiên vương. Ai có đức độ hơn Thiên vương đến nỗi khiến Thiên vương phải chắp tay đứng hướng về phương Nam.
Đế Thích đáp:
–Tất cả cung kính ta đúng như ngươi nói. Đấng được tất cả trời, người đều cung kính là Đức Phật. Nay ta cung kính lễ Bậc Đầy Đủ Giới Pháp.
Đế Thích nói kệ:
Có những vị xuất gia
Tu hành không phóng dật
Nhập tịch định lâu dài

* Trang 308 *
device

Tu phạm hạnh tối thượng
Trừ bỏ cả ba độc
Chứng đắc pháp giải thoát
Bậc có những pháp ấy
Nay tôi cung kính lễ.
Chư đại A-la-hán
Xa lìa các tham dục
Trừ diệt sạch vô minh
Đoạn trừ các kết sử
Bậc tại gia tu thiện
Không làm các nghiệp ác
Con chánh pháp như vậy
Tôi đều cung kính lễ.
Ma-đắc-lê nói:
–Thiên vương lễ Bậc Tối Thắng, tôi nguyện được lễ theo.
Đế Thích nói xong bài kệ ấy, chắp tay kính lễ, rồi cỡi xe đi.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Đế Thích sống tự tại giữa Trời, Người, vẫn cung kính lễ bái pháp, huống chi các ông đã cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo mà không siêng năng cung kính pháp hay sao?
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
42.Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
   Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Ngày xưa Thích Đề-hoàn Nhân muốn đến vườn vui chơi, ra lệnh cho người đánh xe tên Ma-đắc-lê:
–Ngươi hãy chuẩn bị một ngàn chiếc xe ngựa.
Ma-đắc-lê bố trí xe ngựa xong, đến gặp Đế Thích thưa:
–Xa giá đã sẵn sàng, thưa Thiên chủ đã đúng lúc.
Bấy giờ Đế Thích ra khỏi Tỳ-thiền-diên đường, chắp tay hướng về phương Tây. Người đánh xe Ma-đắc-lê thấy việc này nên rất kinh hoàng, làm rớt cả roi và dây cương.

* Trang 309 *
device

Đế Thích hỏi:
–Ngươi thấy gì mà kinh sợ đến như vậy?
Ma-đắc-lê thưa:
–Thưa chồng của Ma-khư-thích-chỉ, nay tôi thấy Thiên chủ chắp tay hướng về phương Tây, sanh tâm sợ hãi nên rớt cả roi và dây cương. Tất cả các loài hiện có đều cung kính Thiên chủ, tất cả chúa đất đều thuộc về Thiên chủ, trời Tứ Thiên vương và trời Tam thập tam đều lễ kính Thiên chủ. Ai có đức độ thù thắng hơn, khiến Thiên chủ phải chắp tay cung kính hướng về phương Tây?
Đế Thích đáp:
–Đúng như ngươi nói, tất cả đều cung kính ta. Bậc được tất cả trời, người đều cung kính là Tăng bảo. Nay ta kính tín, hướng về Tăng bảo.
Ma-đắc-lê nói kệ:
Thân người đầy hôi hám
Như thây chết để trần
Thường nguy khổ đói khát
Lại chuộng sống không nhà,
Nay Thiên chủ vì sao
Vô cùng cung kính họ
Họ có uy nghi gì
Và hành đạo đức gì
Xin chỉ dạy cho tôi
Xin chí tâm lắng nghe.
Thích Đề-hoàn Nhân nói kệ:
Vì họ sống không nhà
 Nên ta thật chuộng họ
Họ không có kho tàng
Phòng chứa và ngũ cốc
Thoát ly những việc đời
Ăn tiết độ để sống
Khéo hộ trì giới luật
Giảng thuyết pháp vi diệu
Tâm tinh tấn dũng mãnh
Im lặng hành thánh pháp

* Trang 310 *
device

Chư Thiên, A-tu-la
Với nhau thường gây chiến
Trong tất cả loài người
Cũng đều có phẫn nộ
Nay Bậc ta cung kính
Đều xa lìa dao gậy
Mọi người đều tích chứa
Các vị ấy xa lìa
Điều thế gian yêu, đắm
Tâm vị ấy từ bỏ
Nay ta cung kính Bậc
Xa lìa tất cả lỗi
Này Ma-đắc-lê-già
Cần phải biết việc ấy.
Ma-đắc-lê lại nói kệ:
Vương lễ bậc tối thắng
Tôi cũng cung kính theo
Ma-khư lễ vị nào
Tôi cũng lễ vị ấy.
Nói kệ xong, Đế Thích lên xe đi.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Đế Thích sống tự tại giữa Trời, Người, vẫn còn kính trọng Tăng bảo, huống chi Tỳ-kheo các ông đã xuất gia tu đạo, đều phải kính trọng Tăng bảo.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Kệ tóm lược:
Đế Thích, Ma-ha-ly
Vì nhân gì Dạ-xoa
Đắc nhãn, đắc thiện thắng
Phược hệ và kính Phật
Kính Pháp, lễ chủ Tăng.

* Trang 311 *
device

 
Đại Tập VII, Bộ A- Hàm VII, Kinh Tạp A- Hàm Số 3