LOGO VNBET
                                                        BIỆT DỊCH KINH TẠP A-HÀM
                                                                           QUYỂN III

                                                                    TỤNG 1: Phần 3
43. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Ngày xưa, các A-tu-la tập hợp bốn loại binh gồm tượng, mã, xa, bộ, đều trang bị đầy đủ dụng cụ chiến đấu, muốn đến cõi trời Đao-lợi để đánh nhau với chư Thiên. Bấy giờ, Đế Thích nghe A-tu-la bố trí bốn loại binh, liền bảo thiên tử Tu-tỳ-la:
–Ta nghe A-tu-la bố trí bốn loại binh, ngươi cũng phải trang bị bốn loại binh để đến đánh với chúng
Tu-tỳ-la thưa:
–Việc này rất tốt.
Sau khi nói xong, Tu-tỳ-la lại phóng dật vui chơi, không nhớ đến việc ấy. Đế Thích nghe A-tu-la ra khỏi thành, lại triệu Tu-tỳ-la đến bảo:
–Nay A-tu-la đã ra khỏi thành, ngươi hãy trang bị bốn loại binh để đến đánh với chúng
Tu-tỳ-la thưa:
–Này Kiều-thi-ca, việc này rất tốt.
Tu-tỳ-la vẫn ham chơi như cũ, không chuẩn bị chiến đấu.
A-tu-la trang bị bốn loại binh, đã lên núi Tu-di, tiến gần đến đỉnh. Đế Thích lại nói:
–Ta nghe A-tu-la tiến dần đến gần rồi, ngươi hãy thống lĩnh bốn loại binh đến chống lại chúng.
Tu-tỳ-la nói kệ:
Nếu có chỗ thanh nhàn vô sự
Chỉ mong ta được ở chỗ ấy.
Đế Thích nói kệ:

* Trang 312 *
device

Nếu có chỗ nhàn lạc như vậy
Ngươi hãy đưa ta cùng đến đó.
Tu-tỳ-la lại nói kệ:
Nay tôi lười biếng chẳng muốn đi
Không muốn trang bị, tuy nghe rõ
Thiên nữ, năm dục khắp bốn bên
Đế Thích cho tôi thỏa nguyện này.
Đế Thích nói kệ đáp:
Nếu có chỗ biếng nhác như vậy
Có trăm ngàn Thiên nữ vây quanh
Thỏa thích năm dục, hưởng an lạc
Nếu ngươi đến đó, ta theo với.
Tu-tỳ-la nói kệ:
Chỗ nào vô sự không đao binh
Không khổ, hưởng lạc, cho tôi đến.
Đế Thích nói kệ đáp:
Này Tu-tỳ-la, có việc ấy
Ta sẽ cùng ngươi hưởng vui ngay
Nếu từng thấy nghe không sợ nghiệp
Được sống an nhàn hưởng lạc hỷ
Này ngươi, nếu có chỗ như vậy
Hãy nên đi đến, ta theo ngươi
Ngươi sợ lắm việc, muốn chỗ yên
Hãy mau nhanh chóng hướng Niết-bàn!
Nghe lời ấy xong, Tỳ-la liền tập hợp bốn loại binh ra ngoài chiến đấu với A-tu-la. Chư Thiên đắc thắng, A-tu-la thua chạy, đem tất cả các loại trang cụ chiến đấu trở về cung của mình.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Thích Đề-hoàn Nhân ở ngôi vị Thiên vương được đại tự tại, còn tự tinh cần, tán thán sự tinh tấn, huống chi các ông xuất gia bằng lòng tin, mặc pháp y, sao lại không siêng năng tinh tấn, tán thán tinh tấn? Ai siêng năng tinh tấn, tán thán tinh tấn là làm đúng với pháp xuất gia.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan

* Trang 313 *
device

 hỷ phụng hành.
44. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ. Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Ngày xưa, ở chỗ A-lan-nhã, cách xa xóm làng có nhiều vị Tiên tu hành ở đó. Cách không xa ở chỗ chư Tiên ở, có chư Thiên cùng A-tu-la đánh nhau. Bấy giờ vua A-tu-la là Tỳ-ma-chất-đa-la mặc năm loại trang sức, đầu đội mão thiên quan, tay cầm phất ma-ni, che lọng hoa ở trên, mang bảo kiếm, đi giày da quý báu, đến chỗ ở của chư Tiên nhân. Ông ta không đi vào bằng cửa, mà xuyên tường vào, cũng không chào hỏi, nói chuyện với chư Tiên, rồi xuyên vách đi ra.
    Bấy giờ có một vị Tiên nhân nói:
  –Tỳ-ma-chất-đa-la… không có tâm cung kính, không chào hỏi nói chuyện với chư Tiên, đi ra bằng vách.
Lại có vị Tiên lên tiếng:
–Những A-tu-la nào cung kính chào hỏi chư Tiên thì chắc thắng chư Thiên, nay thế là chắc chắn thua rồi!
Có một vị Tiên hỏi:
–Đó là ai?
Một vị Tiên bảo:
–A-tu-la vương Tỳ-ma-chất-đa-la.
Tiên nhân lại nói:
–Pháp luật của A-tu-la kiến thức nông cạn, không có giáo pháp, không tâm tôn kính, cũng như hàng nông phu. Chư Thiên chắc thắng, A-tu-la phải thua.
Sau đó, Đế Thích đến gần chỗ các vị Tiên, cởi bỏ năm loại trang sức của Thiên vương, đi vào bằng cửa, thăm hỏi ủy lạo các vị Tiên, chăm sóc khắp nơi, nói với các vị Tiên:
–Các vị đều an ổn, không có phiền não phải không?
Sau khi thăm hỏi, Đế Thích đi ra bằng cửa. Có một vị Tiên nhân hỏi:
–Đây là ai mà thăm hỏi, chăm sóc, đi xem xét khắp nơi, sau đó mới đi ra, rất đúng giáo pháp, hình dáng đoan chính?

* Trang 314 *
device

Một vị Tiên đáp:
–Đó là Đế Thích.
Một Tiên nhân nói:
–Chư Thiên rất kính thuận, hành động ôn hòa khiêm tốn.
Chư Thiên phải thắng, A-tu-la thua.
Tỳ-ma-chất-đa-la nghe chư Tiên tán thán chư Thiên, chê bai A-tu-la nên rất phẫn nộ. Chư Tiên nghe như vậy, đến chỗ A-tu-la nói:
–Chúng tôi nghe Đại vương rất phẫn nộ.
Liền nói kệ:
Chúng tôi cố đến đây
Muốn cầu xin ước nguyện
Cho chúng tôi an ổn
Không sanh sân nộ nữa
Nếu chúng tôi có lỗi
Xin chỉ dạy chúng tôi.
Tỳ-ma-chất-đa nói kệ đáp:
Không cho ngươi an ổn
Các ngươi xâm phạm ta
Hạ mình cầu Đế Thích
Với ta lại chê bai
Các ngươi cầu an ổn
Ta cho ngươi sợ sệt.
Chư Tiên nói kệ đáp:
Con người do hành động
Tự nhận lấy quả báo
Hành thiện tự nhận thiện
Hành ác, quả báo ác
Cũng như gieo hạt giống
Tùy giống được kết quả.
Nay người trồng giống khổ
Sau phải nhận quả báo
Nay ta xin an ổn
Lại cho ta sợ hãi
Từ nay trở về sau

* Trang 315 *
device

Nguyện ngươi sợ hãi mãi!
  Chư Tiên đối mặt với A-tu-la nói xong, liền nương hư không bay đi. Tỳ-ma-chất-đa-la ngay đêm ấy mộng thấy giao chiến cùng Đế Thích, tâm rất sợ hãi. Đêm thứ hai, thứ ba cũng vậy. Ngay đêm thứ ba, quả nhiên quân lính của Đế Thích đến khiêu chiến. Tỳ-ma-chất-đa cùng chư Thiên giao chiến, A-tu-la thua, Đế Thích tiến thẳng đến cung A-tu-la. Bấy giờ Đế Thích tham dự nhiều trận đánh, đều đắc thắng, sau đó đến chỗ chư Tiên.
  Chư Tiên ngồi phía Đông, Đế Thích ngồi đối diện ở phía Tây. Lúc đó có gió Đông thổi, chư Tiên hướng về Đế Thích nói kệ:
Thân tôi xuất gia lâu
Dưới nách có mùi hôi
Gió thổi hướng Thiên chủ
Hãy tránh sang phía Nam
Những mùi hôi như vậy
Chư Thiên vốn không ưa.
Đế Thích nói kệ:
Tập hợp nhiều loại hoa
Làm vòng hoa trên đầu
Đủ các loại mùi thơm
Thưởng thức mãi không chán
Chư Tiên người xuất gia
Mùi như các vòng hoa
Nay tôi đội trên đầu
Lấy đó làm ưa thích.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Đế Thích ở ngôi vị vua trời, luôn luôn cung kính người xuất gia. Tỳ-kheo các ông vì lòng tin xuất gia, cần phải cung kính như vậy.
Đức Phật dạy xong, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

* Trang 316 *
device

45. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Khi ấy, vào giữa đêm Thích Đề-hoàn Nhân với dung mạo thù diệu vượt hơn trời, người, vào giữa đêm, đến gặp Đức Phật, lạy sát chân Phật, ngồi qua một bên. Trong tinh xá Kỳ-hoàn lúc đó hào quang rực rỡ, sáng hơn ban ngày. Thích Đề-hoàn Nhân nói kệ:
Trừ diệt điều gì ngủ an ổn?
Trừ diệt vật gì không ưu sầu?
Diệt một pháp gì Cù-đàm khen?
Xin nguyện vì con giải nghi vấn.
Đức Thế Tôn nói kệ đáp:
Diệt trừ phẫn nộ ngủ an ổn
Diệt trừ phẫn nộ không ưu sầu
Nhổ sạch gốc rễ gai độc giận
Hãy biết như vậy, này Đế Thích.
Như vậy phẫn nộ phá thiện mỹ
Trừ diệt phẫn nộ được ngợi khen.
Thích Đề-hoàn Nhân nghe lời Phật dạy, nhiễu quanh Phật ba vòng, hoan hỷ phụng hành.
46. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
   Phật dạy các Tỳ-kheo:
–Vào ngày mồng tám hằng tháng, Tứ Thiên vương sai sứ giả tuần hành khắp thiên hạ, xem xét thế gian để biết có người hiếu dưỡng cha mẹ, kính thuận bậc Tôn trưởng, phụng sự Sa-môn, Bà-la-môn, người tu tập pháp thiện và kẻ làm ác. Vì thế cần phải tu hành pháp thiện, diệt trừ các điều ác, phòng ý giữ giới. Đến ngày mười bốn trong tháng, Tứ Thiên vương lại sai thái tử đi xem xét khắp thiên hạ. Đến ngày mười lăm, Tứ Thiên vương đích thân tuần hành xem

* Trang 317 *
device

xét, cũng như vậy.
Khi Tứ Thiên vương đã đi xem xét xong, đến gặp Đế Thích trên Pháp thiện đường, tâu:
–Trong chư Thiên và người đời có nhiều kẻ bất hiếu với cha mẹ, bất kính Sa-môn, Bà-la-môn, không phụng sự Sư trưởng và Tôn trưởng trong nhà, cho đến nhiều người không trì giới.
Bấy giờ, Đế Thích và chư Thiên nghe lời tâu này, buồn rầu không vui. Chư Thiên đều bày tỏ:
–Chư Thiên bị tổn giảm, tăng ích cho A-tu-la.
Trong thế gian, nếu có người thường siêng năng hiếu thuận với cha mẹ, cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn, cho đến nhiều người trì giới, Tứ Thiên vương tâu việc này lên Đế Thích. Khi ấy chư Thiên rất vui mừng, đều bày tỏ:
–Người trong thế gian tu hành việc thiện, rất là hiền thiện, làm việc đáng làm, tăng ích cho chư Thiên, tổn giảm A-tu-la.
Đế Thích hoan hỷ nói kệ:
Ngày mười bốn, mồng tám
Cùng với ngày mười lăm
Và trong tháng thần túc
Thọ trì giới thanh tịnh
Người này được sanh thiên
Công đức như thân ta.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Lời Đế Thích nói chưa gọi là lời thiện. Tại sao vậy? Nếu là bậc A-la-hán đã dứt sạch các lậu, việc làm đã hoàn tất, mới nên nói kệ này:
Ngày mồng tám, mười bốn
Cùng với ngày mười lăm
Và trong tháng thần túc
Thọ trì giới thanh tịnh
Người này được thắng lợi
Công đức như thân ta.
Đức Phật và bậc A-la-hán nói lên kệ này, gọi là thật thuyết, gọi

* Trang 318 *
device

 là thiện thuyết.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
47. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Bấy giờ Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Ngày xưa, vua A-tu-la là Chất-đa bị bệnh trầm trọng. Thích Đề-hoàn Nhân đến chỗ vị ấy. A-tu-la vương nói với Đế Thích:
–Mong ông hãy làm cho ta hết bệnh, thân được an ổn, khỏe mạnh, mập mạp như xưa.
Đế Thích nói:
–Ông có thể dạy ta huyễn thuật của A-tu-la thì ta sẽ làm cho ông hết bệnh, an ổn, vui vẻ như trước.
A-tu-la lại nói:
–Hãy đợi ta hỏi các A-tu-la. Nếu được, ta sẽ dạy cho ông.
Vua A-tu-la liền hỏi các A-tu-la. Trong nhóm, có một A-tu-la gian dối thưa với Tỳ-ma-chất-đa-la:
–Từ lâu Đế Thích đã làm việc ngay thẳng, hiền thiện, không có các lời dối trá. Đại vương có thể nói với Đế Thích: “Ông học huyễn thuật gian dối của A-tu-la sẽ đọa vào địa ngục Lô lâu”. Nếu Đế Thích nói với Đại vương: “Ta không học huyễn thuật kia của A-tu-la”. Đại vương hãy bỏ đi, bệnh chắc chắn sẽ hết.
Vua A-tu-la làm theo lời ấy, nói kệ với Đế Thích:
Đế Thích ngàn mắt, chồng Xá-chỉ
Nếu biết huyễn thuật phải bị đọa
Vào trong địa ngục Lô lâu kia
Suốt cả một kiếp bị thiêu đốt.
Đế Thích nghe lời nói này, liền bảo:
–Thôi, thôi, ta không cần huyễn thuật.
Đế Thích phát ngay lời nguyện:
–Mong cho ông hết bệnh, an ổn, không nguy hiểm.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

* Trang 319 *
device

–Thích Đề-hoàn Nhân tuy ở địa vị vua trời, vẫn không chịu dối trá, làm việc chân thật, huống chi các ông đã xuất gia, cạo bỏ râu tóc mà lại không từ bỏ các hành động dối trá, làm việc chân thật ngay thẳng hay sao? Ai hành động ngay thật là đúng pháp xuất gia.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
48. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
   Bấy giờ Đế Thích đến chỗ Đức Phật, khi sắp trở về, xin thọ một giới. Một giới là gì? Nếu con trở về cung gặp những kẻ oán ghét, giả như họ đến hại con, con đối với họ quyết không gây hại.
    Tỳ-ma-chất-đa-la được nghe Đế Thích trì giới như vậy liền cầm gươm bén đứng đợi trên đường đi. Thích Đề-hoàn Nhân nghe vua A-tu-la đang cầm gươm bén đợi ở bên đường, từ xa nói với vua A-tu-la:
–Hãy dừng lại, dừng lại! Ông đã tự trói.
Tỳ-ma-chất-đa-la nói với Đế Thích:
–Ông ở nơi Đức Phật, thọ một giới, nói: “Nếu con trở về cung gặp những kẻ oán ghét, nếu họ hại con, con đối với họ quyết không gia hại”. Chẳng lẽ ông không có thọ giới như vậy sao?
Đế Thích đáp:
–Ta tuy thọ giới, nay bảo ông: “Hãy đứng tại chỗ! Ông đã tự trói”. Lời nói ấy đối với giới không có phạm.
Tỳ-ma-chất-đa-la nói:
–Kiều-thi-ca hãy thả ta ra.
Đế Thích đáp:
–Ngươi hãy thề rằng đối với ta không còn gây oán ghét, ta sẽ thả ngươi.
Tỳ-ma-chất-đa-la liền tuyên thệ:
 Tham, sân, vọng ngữ, báng Hiền thánh
Ác báo việc ấy tôi phải chịu.
Đế Thích nghe lời thề này liền bảo Tỳ-ma-chất-đa-la:
 –Nay ta thả ông.

* Trang 320 *
device

Thích Đề-hoàn Nhân trở lại chỗ Phật, lạy sát chân Ngài, bạch:
–Thưa Thế Tôn, Tỳ-ma-chất-đa-la nghe con thọ giới, liền cầm gươm bén đợi ở bên đường, mưu đồ hại con. Khi ấy, con nói với A-tu-la: “Hãy đứng lại, đứng lại! Ông đã bị trói rồi!”. Tỳ-ma-chất-đa nói với con: “Ông ở chỗ Đức Phật thọ trì một giới: nếu ta trở về cung gặp kẻ oán ghét, giả như muốn hại ta, ta đối với họ quyết không làm hại. Ông có thọ giới như vậy không?”. Con liền đáp: “Ta tuy thọ giới, chỉ bảo ngươi đứng lại, nay ngươi tự trói, lời nói như vậy không có phạm giới”. Tỳ-ma-chất-đa liền bảo con: “Này Kiều-thi-ca, hãy thả tôi ra”. Con trả lời: “Ngươi phải thề nặng: gặp lại ta không còn sanh oán ghét, ta sẽ thả ngươi”.
Tỳ-ma-chất-đa nghe con nói, liền nói kệ:
 Tham, sân, vọng ngữ, báng Hiền thánh
Ác báo việc ấy tôi phải chịu.
Con nghe lời thề này liền thả ông ta đi.
Đế Thích lại bạch Phật:
–Vị A-tu-la ấy đã phát lời thề trọng thệ. Từ nay về sau có còn gây điều ác do oán ghét không?
Phật bảo Đế Thích:
–A-tu-la nếu như không thề cũng không làm ác, huống chi đã thề rồi.
Đế Thích nghe lời Phật dạy vô cùng hoan hỷ, biến mất tại chỗ, trở về Thiên cung.
49. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
      Bấy giờ Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Một lúc nọ, Đế Thích cùng A-tu-la đánh nhau. Bấy giờ chư Thiên thua, A-tu-la thắng. Khi ấy Đế Thích thấy đã bị thua, liền hồi giá muốn trở về Thiên cung. Giữa đường, ông ta thấy cây Khổ-sa-la, trên cây có ổ Kim sí điểu. Đế Thích liền ra lệnh cho người đánh xe Ma-đắc-lê:
–Trong ổ này có hai trứng chim, nếu rớt ra ắt bị thương tổn.

* Trang 321 *
device

 Ngươi hãy quay xe lại để tránh cây này.
Đế Thích hướng về Ma-đắc-lê, nói kệ:
Ngươi xem ổ trên cây
Trong ổ có hai trứng
Nếu xe chạy đụng cây
Trứng rơi chắc bị vỡ
Dầu ta đem thân này
Vào trận A-tu-la
Mạng sống bị giết chết
Quyết không hại trứng chim.
Đế Thích nói kệ xong, liền cho quay xe chạy ngược lại. Chúng A-tu-la thấy Đế Thích quay lại, phát sanh sợ hãi, bảo với nhau:
–Vừa rồi Đế Thích trá bại thoái lui, nay quay trở lại, chắc phá quân ta.
Chúng A-tu-la tức thời thoái lui, chư Thiên cũng lui quân, trở về thành mình.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Thích Đề-hoàn Nhân ở ngôi vua trời vẫn luôn luôn thực hành từ bi nhẫn nhục. Các Tỳ-kheo phải học như vậy.
 Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
50. Tôi nghe như vầy:
     Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
     Bấy giờ là ban đêm, Thích Đề-hoàn Nhân cùng A-tu-la Bạt-lị-bà-lâu-chi, với hào quang rực rỡ cùng đến chỗ Phật, lạy dưới chân Ngài, ngồi qua một bên. Hào quang của Đế Thích và Tỳ-lâu-chi chiếu khắp khu Kỳ-hoàn sáng như ban ngày.
Bạt-lị-bà-lâu-chi ngồi ở một bên, nói kệ:
Những người thường tinh tấn
Mong cầu chắc thành tựu
Đã cầu được nghĩa lý

* Trang 322 *
device

An ổn hưởng diệu lạc.
Đế Thích cũng nói kệ:
Những người thường tinh tấn
Mong cầu tất thành công
Đã cầu được sự nghiệp
Tu nhẫn là tối thắng.
Đế Thích bạch Phật:
–Thế Tôn, những lời chúng con nói, lời nào lợi ích, lời nào không lợi ích?
Đức Phật bảo Đế Thích:
–Người giỏi phân biệt, lời nói đều khéo léo. Nay các ngươi hãy nghe lời Ta nói:
Đức Phật nói kệ:
Tất cả chúng sanh đều vì lợi
Sự ham muốn tùy theo tâm niệm
Vui đạt ước muốn, được lợi dục
Người tinh tấn cầu ắt thành công
Đã được sự nghiệp, nhẫn tối thắng
Thế nên cần phải tu hành nhẫn.
Đế Thích và Tỳ-lâu-chi nghe lời Phật dạy, lạy sát chân Phật, biến mất tại chỗ, trở về Thiên cung.
51. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại vườn trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương xá. Trong thành ấy có một người nghèo khổ, bần cùng, thật đáng thương, đối với Phật pháp sanh lòng tin thanh tịnh, giữ giới trong sạch, có tụng đọc kinh, bố thí chút ít. Do nhân duyên quả báo của bốn việc ấy, sau khi qua đời, vị đó sanh vào cõi trời Đao-lợi, ở chỗ thắng diệu hoàn toàn. Vị trời mới sanh này có ba việc thù thắng: Một là sắc thù thắng, hai là tiếng khen thù thắng, ba là tuổi thọ thù thắng.
Chư Thiên thấy vị ấy xong, liền cùng nhau cung kính, đến chỗ Đế Thích bạch:
–Vị trời mới sanh có ba việc thù thắng, hơn các vị khác.

* Trang 323 *
device

Đế Thích nói:
–Trước đây ta đã từng thấy vị trời mới sanh kia, khi còn làm người bần cùng khốn khổ, rất tiều tụy, với tín tâm ngay thẳng hướng đến Tam bảo, giữ gìn tịnh giới, tu hành bố thí ít nhiều, nay được sanh lên Đao-lợi thiên.
Bấy giờ Đế Thích nói kệ:
Ai có tịnh tín với Tam bảo
Tâm ấy vững chắc không lay chuyển
Giữ giới đã thọ không hủy phạm
Nên biết người này không phải nghèo
Gọi là trí tuệ và sống lâu
Vì kính tín Tam bảo Vô thượng
Được sanh cõi trời hưởng thắng lạc
Thế nên cần phải học như thế.
Chư Thiên nghe kệ này hoan hỷ tín thọ, làm lễ trở về cung.
52. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành Vương xá.
   Trong thành Vương xá, có chín mươi sáu loại ngoại đạo đều cùng nhau cúng tế. Đàn việt nào tín ngưỡng ngoại đạo Già-lặc thì nói: “Phải cúng dường thầy Già-lặc của tôi trước”. Tín đồ của ngoại đạo Bà-la-bà-thật cũng nói: “Phải cúng dường thầy Bà-la-bà-thật của tôi trước”. Tín đồ theo ngoại đạo Càn-đà đều bày tỏ: “Phải cúng dường thật lớn cho thầy Càn-đà của tôi trước, sau mới đến người khác”. Tín đồ của ngoại đạo Tam thủy phát biểu: “Nên cúng dường thầy Tam thủy của tôi trước”.  Tín đồ theo ngoại đạo Lão thanh văn phát biểu: “Phải cúng dường thầy Lão thanh văn của tôi trước”. Tín đồ của ngoại đạo Đại thanh văn cũng nói: “Phải cúng dường thầy Đại thanh văn của tôi trước”. Tín đồ của Phật giáo cũng bày tỏ: “Phải cúng dường Đức Như Lai đạo sư và chúng Tăng của tôi trước”.
     Khi ấy Thích Đề-hoàn Nhân tự nghĩ: “Dân chúng thành Vương xá sanh tà kiến lớn. Phật và Tăng đang ở đời, nếu để họ sanh tà kiến thật là bất thiện.”
    Đế Thích liền biến hình thành một vị Bà-la-môn già, dung mạo

* Trang 324 *
device

đoan chính, đi xe ngựa trắng, các thanh niên hầu hạ hai bên, hướng đến đàn tràng, đi thẳng vào giữa. Dân chúng thành Vương xá tự nghĩ: “Vị Bà-la-môn già này trước đây ở đâu? Chúng ta hãy đi theo”.
  Đế Thích biết ý nghĩ trong tâm mọi người, liền quay xe về phương Nam, hướng tới núi Linh thứu, đến sân để xe dừng lại đó, xuống xe đi bộ vào chỗ Đức Phật, lạy sát chân Phật, ngồi qua một bên.
  Đế Thích nói kệ:
Thánh vương chuyển pháp luân
Vượt khổ đến bờ kia
Không oán ghét sợ hãi
Con xin đảnh lễ Ngài
Có người muốn tu phước
Nên bố thí chỗ nào?
Muốn tinh tấn cầu phước
Phải sanh tâm kính tín
Ngày nay tu bố thí
Đời sau được thiện báo
Trong những phước điền nào
Cho ít, được quả lớn?
Khi ấy Đức Thế Tôn ở núi Kỳ-xà-quật, vì trời Đế Thích giảng giải về sự tối thắng trong các cuộc tế lễ, đáp bằng kệ:
Bốn quả và bốn hướng
Thiền định, Minh hạnh túc
Sức công đức sâu xa
Như nước trong biển lớn
Đây mới là thật thắng
Đệ tử Bậc Điều Ngự
Trong thế gian tối tăm
Thắp ngọn đèn trí tuệ
Thường vì các chúng sanh
Thuyết pháp làm hướng đạo
Gọi là tăng phước điền
Rộng lớn không bờ bến
Bố thí phước điền này

* Trang 325 *
device

Được gọi là thiện thí,
Cúng tế phước điền này
Được gọi là thiện tế
Đốt vật để tế trời
Nhọc công, không phước đức
Đốt vậy không phải thiện.
Nếu đối với phước điền
Tạo nghiệp thiện chút ít
Sau được lợi ích lớn
Đốt vậy gọi là thiện.
Đế Thích cần phải biết
Đấy là phước điền tốt
Cúng dường một vị tăng
Sau quyết được quả lớn
Việc này nói đúng lúc
Thế gian hiểu lời dạy
Phật vô lượng công đức
Nói trăm kệ khen Tăng
Tối thượng trong tế tự
Phước điền, Tăng đứng đầu
Người nào trồng ít thiện
Được quả không thể lường
Thế nên Thiện trượng phu
Nên phải cúng dường Tăng
Bậc tổng trì Chánh pháp
Nên gọi là Tăng bảo.
Thí như trong biển lớn
Có nhiều loại châu báu
Biển Tăng cũng như vậy
Nhiều công đức quý giá.
Ai siêng cúng Tăng bảo
Chính là Thiện trượng phu
Đã có hoan hỷ tín,
Ai tín tâm bố thí
Nên biết người như vậy

* Trang 326 *
device

Được ba thời hoan hỷ.
Vì ba thời hoan hỷ
Nên vượt ba nẻo ác
Trừ sạch các cấu trần
Nhổ tên độc phiền não.
Tâm tịnh, tự tay cho
Tự lợi và lợi tha
Thường cúng tế như vậy
Người này được gọi là
Bậc trí sáng thế gian
Tín tâm đã thanh tịnh
Được tới chốn vô vi
Cảnh giới rất an lạc
Người trí sanh đến đó.
Đế Thích nghe kệ xong rất hoan hỷ, biến mất tại chỗ, trở về Thiên cung. Sau khi Đế Thích trở về cung, các Trưởng giả Bà-la-môn trong thành Vương xá đều rời chỗ ngồi, mặc áo bày vai bên mặt, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng Phật, bạch:
–Cầu mong Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo vào sáng mai hoan hỷ thọ thỉnh tới đàn lớn.
Khi ấy Đức Như Lai im lặng nhận lời. Các Trưởng giả Bà-la-môn ở thành Vương xá biết Phật im lặng thọ thỉnh, liền đảnh lễ nơi chân Phật rồi trở về nhà. Những người ấy sau khi trở về nhà đều chuẩn bị thức ăn uống thanh tịnh, thơm ngon, mọi chỗ đều tinh sạch.
Sáng sớm, họ bố trí đầy đủ tòa ngồi, nước sạch để rửa và sai sứ giả đến núi Linh thứu, bạch Thế Tôn:
–Thưa Ngài, đã đến giờ.
Bấy giờ Thế Tôn mặc y, mang bát dẫn đầu, chúng Tăng theo sau, đến thành Vương xá, vào chỗ tế đàn lớn. Đến nơi, Như Lai trải tòa ngồi trước chúng Tăng. Người trong thành bố trí tòa ngồi đẹp để chúng Tăng ngồi. Các Trưởng giả… thấy đại chúng đã ngồi ổn định, cùng nhau dâng nước sạch. Sau đó, các Trưởng giả Bà-la-môn tự tay dọn các món ăn  thơm ngon. Khi ấy mọi người đều muốn được lợi ích.
Thế Tôn quan sát chúng Tăng thọ trai đã xong, liền đưa bát cho A-nan. Mọi người đều tự trải tòa ngồi, ngồi ở trước Đức Phật, nhất tâm

* Trang 327 *
device

 kính ngưỡng, cầu được nghe pháp. Đức Như Lai tán thán sự bố thí ấy, nói kệ:
Kinh sách Bà-la-môn
Tế lửa là tối thượng
Trong sách vở ngoại đạo
Bà tỉ thất tối thượng.
Những người trong thế gian
Quốc vương là tối thượng
Trong trăm sông, khe suối
Biển lớn là đứng đầu
Các tinh tú ban đêm
Ánh sáng trăng vượt trội
Trong các loại ánh sáng
Nhật quang sáng đứng đầu
Trên dưới và bốn phương
Thế gian và Trời, Người
Trong các chúng Thánh hiền
Phật tôn quý bậc nhất.
Đức Thế Tôn vì dân chúng thành Vương xá thuyết pháp giảng dạy lợi ích, làm cho họ hoan hỷ, rồi từ giã.
Đức Phật giảng như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Kệ tóm lược:
Tu-tỳ-la, Tiên nhân
Diệt sân, ngày mồng tám
Bệnh và trì một giới
Ổ chim và Bà-lê
Người nghèo và tế lớn.

* Trang 328 *
device

53. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở nước Câu-tát-la, du hành đến khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vua Ba-tư-nặc nghe Đức Phật đang ở khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ, bèn đến gặp Phật, làm lễ thăm hỏi, rồi ngồi qua một bên, bạch:
–Thưa Thế Tôn, trước đây con nghe Ngài xuất gia cầu đạo đã thành Bậc Vô Thượng Chí Chân Đẳng Chánh Giác. Có thật Ngài đã nói rõ như vậy không? Hay là người khác lưu truyền sai? Hay là vì ganh ghét, cho đến chê bai, nên nói lời này?
Đức Phật bảo vua Ba-tư-nặc:
–Lời nói ấy là lời chân thật, không phải chê bai, không thêm bớt, đúng là lời Ta nói, nói đúng như pháp, không phải nói phi pháp. Tất cả ngoại đạo không thể chê trách hay dị nghị về Ta.
Vua Ba-tư-nặc lại thưa:
–Con nghe Ngài có lời nói ấy, nhưng con chưa tin. Vì sao không tin? Trước đây có những bậc xuất gia đã lâu, là Trưởng lão Bà-la-môn kỳ cựu như: Phú-lan-na Ca-diếp, Mạt-già-lê Câu-từ-lê Tử, San-xà-da Tỳ-la-chi Tử, A-xà-đa-sí-xá-khâm-bà-la, Già-cứ-đa Ca-chiên-diên, Ni-càn-đà Xà-đề-phất-đa-la. Các vị kỳ cựu ấy vẫn chưa tự nói là đã đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Huống chi Ngài tuổi trẻ, xuất gia chưa lâu, mà đã đắc đạo hay sao?
Đức Phật nói:
–Này Đại vương, thế gian có bốn việc tuy nhỏ nhưng không thể xem thường. Những gì là bốn? Một là con vua tuy còn nhỏ nhưng không thể khinh thường. Hai là rồng con tuy nhỏ nhưng không thể khinh thường. Ba là đốm lửa tuy nhỏ nhưng không thể khinh thường. Bốn là vị Tỳ-kheo tuy trẻ tuổi nhưng không thể khinh thường.
Thế Tôn nói kệ:
Vua chúa tuy còn nhỏ
Học đủ các kỹ nghệ
Sanh ở nơi chân chánh
Không xen lẫn uế tạp
Có danh vọng đẹp lớn

* Trang 329 *
device

Khắp nơi đều nghe biết
Như vậy tuy còn nhỏ
Không thể khinh vị ấy
Muốn giữ gìn mạng mình
Không thể khinh vua nhỏ.
Sát-lợi tuy còn nhỏ
Theo pháp kế vị vua
Sau khi lên làm vua
Ra lệnh hành hình phạt
Thế nên phải kính thuận
Không được sanh khinh mạn.
Ở trong các làng xóm
Hay ở nơi vắng vẻ
Thấy rồng con còn nhỏ
Hình dáng tuy bé tí
Nhưng rồng lớn hay nhỏ
Đều có thể làm mây
Giáng trận mưa to lớn
Ai khinh thường vì nhỏ
Phải bị trúng nọc độc
Ai  muốn giữ thân mạng
Không được khinh rồng nhỏ
Vì lợi ích cho mình
Cần phải tự phòng hộ.
Như đốm lửa nho nhỏ
Nếu đầy đủ điều kiện
Cháy bùng lên rất mạnh
Gặp phải trận gió lớn
Đốt cháy sạch núi rừng
Đã cháy rừng, đồng rồi
Gặp duyên lại cháy nữa
Muốn hộ trì tánh mạng
Không được khinh lửa nhỏ.
Nếu đối với tịnh giới
Mạ nhục bằng ác khẩu

* Trang 330 *
device

Bản thân và con cháu
Tất cả đều hủy báng
Ngay trong đời vị lai
Thọ ác báo như vậy.
Thế nên tự hộ trì
Đừng gây ác cho hạng
Sát-lợi đủ quyền thế
Rồng nhỏ và lửa nhỏ
Tỳ-kheo giữ tịnh giới
Chớ khinh bốn hạng này
Vì hộ trì thân mạng
Cẩn thận nên tránh xa.
Vua Ba-tư-nặc nghe lời Phật dạy, trong lòng run sợ, toàn thân nổi gai ốc, liền rời chỗ ngồi, bày vai bên phải, chắp tay hướng Phật, bạch:
–Thế Tôn, nay con biết mình có tội lỗi vì đã hủy phạm Phật. Ví như đứa trẻ điên cuồng, ngu si không biết gì, hành động bất thiện. Cầu xin Thế Tôn thương xót, cho con được sám hối.
Đức Phật bảo vua Ba-tư-nặc:
–Ta luôn từ bi đối với Đại vương, nên nhận sự sám hối của ông.
Vua Ba-tư-nặc được sám hối xong, tâm rất hoan hỷ, làm lễ rồi từ giã.
54.Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vua Ba-tư-nặc bản tánh nhân từ, hiếu thuận. Mẹ nhà vua vừa qua đời, ông ta thương nhớ khóc lóc, không  tự chủ được. Sau khi hỏa táng mẹ xong, vua tắm rửa, y phục và mái tóc còn ướt, ngay giữa trưa đi thẳng đến gặp Phật, lạy dưới chân Ngài, rồi ngồi qua một bên.
Đức Phật hỏi vua:
–Đại vương từ đâu đến mà y phục và mái tóc còn ướt vậy?
Vua Ba-tư-nặc thưa:
–Bạch Thế Tôn, con đối với mẹ hiền rất yêu thương tôn kính. Vừa rồi, chẳng may mẹ con qua đời, con đưa linh cửu mẹ đến tận

* Trang 331 *
device

đồng trống hỏa thiêu, an táng xong, vừa mới tắm rửa nên y phục và tóc còn ướt.
Đức Phật bảo:
–Này Đại vương, nhà vua đối với mẹ có yêu thương, kính trọng lắm không?
Nhà vua đáp:
–Con hết lòng kính yêu. Giả sử có người làm cho mẹ con sống lại, con đem đủ các thứ binh: tượng, xa, mã, bộ giao hết cho người ấy để đổi lấy mạng sống mẹ con, tâm con không hối tiếc. Giả như đem một nửa đất nước để đền ơn, con cũng không hối hận.
Nhà vua lại thưa:
–Lời Đức Phật dạy rất đúng. Tất cả chúng sanh hội họp rồi phải trở về cái chết.
Phật dạy:
–Đúng vậy! Đúng vậy! Sanh phải có tử, năm cõi bốn loài đều phải chết. Vua chúa, muôn dân, Bà-la-môn chúng… hội họp rồi sẽ phải chết. Vua Quán Đảnh uy lực tự tại, thống lĩnh đất nước, cuối cùng cũng phải chết. Thần tiên đạt năm thần thông ở rừng vắng, uống nước ăn trái cũng phải tử vong. Trời Tam thập tam hưởng an lạc tột bực, hào quang rực rỡ, ở cung điện trời, tuổi thọ rất dài rồi cũng phải hết. Các vị A-la-hán đã bỏ các gánh nặng xuống, đạt đến tự lợi, sạch các kết sử, tâm được tự tại, chánh trí giải thoát, thân tối hậu cũng trở về chỗ tan hoại. Các vị Phật Bích chi một mình không bạn, thường ở chỗ tịch tĩnh cũng sẽ tan diệt. Chư Phật chánh giác, đủ mười lực, có bốn vô úy, đắc bốn vô ngại, có thể rống tiếng sư tử, thân cũng vô thường, hội họp quy về tan diệt.
Phật dạy:
–Này Đại vương, Ta vì đại vương phân biệt các trường hợp sanh phải có tử. Tóm lại, không sanh thì không chết.
Đức Phật nói kệ:
Đã sanh phải có tử
Sống bao lâu cũng chết
Tùy nghiệp thọ duyên báo
Thiện ác đều có quả
Tu phước được sanh thiên

* Trang 332 *
device

Làm ác đọa địa ngục
Hành đạo đoạn sanh tử
Vĩnh viễn nhập Niết-bàn.
Không trên trời dưới biển
Hay vào giữa núi đá
Không có địa phương nào
Thoát khỏi được cái chết
Chư Phật và Duyên giác
Bồ tát với Thanh văn
Còn bỏ thân vô thường
Huống chi những phàm phu.
Khi vua Ba-tư-nặc nghe lời Phật dạy, tâm ý mở thông, không còn ưu sầu, hoan hỷ từ giã.
 Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
55. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ. Vua Ba-tư-nặc ở chỗ yên tĩnh tự suy nghĩ: “Với con người, thế nào là yêu bản thân, thế nào là hại bản thân?”. Vua lại suy nghĩ: “Nếu thân, khẩu, ý thực hành nghiệp thiện, xa lìa các điều ác, gọi là yêu bản thân. Nếu thân, khẩu, ý làm việc bất thiện, tạo các điều ác, gọi là không yêu bản thân”.
Vua Ba-tư-nặc nghĩ như thế rồi, rời chỗ yên tịnh, đến gặp Đức Phật, lạy dưới chân Ngài, ngồi qua một bên, thưa:
–Bạch Thế Tôn, con ở chỗ yên tịnh, tự nghĩ: “Thế nào là yêu bản thân? Thế nào là hại bản thân? Ai có thể với thân, khẩu, ý hành thiện, là yêu bản thân. Ai với thân, khẩu, ý hành nghiệp bất thiện, là không yêu bản thân”.
Đức Phật dạy:
–Này Đại vương, đúng như vậy! Người nào thân, khẩu, ý làm việc ác, là không yêu bản thân. Vì sao? Người vì điều ác, tuy có kẻ oán thù nhưng không chắc gì gây hại cho họ nhanh chóng. Nhưng nếu họ tự tạo nghiệp ác, thì sự tai hại rất ghê gớm. Thế nên tự mình tạo

* Trang 333 *
device

 nghiệp ác gọi là không tự yêu mình. Lại nữa, có người vì bản thân nên hành động sát, đạo, dâm, đó là gây tổn hại cho mình.
    Người nào thân, khẩu, ý hành thiện, giả như họ tự nghĩ: “Ta xả bỏ vợ con, gia đình yêu mến”, người thường thì gọi đó là không yêu bản thân. Thật ra đó chính là yêu bản thân. Tại sao? Người như vậy tuy có thân quyến, bạn bè, cha mẹ, anh em với ân tình ghi xương khắc cốt, nhưng đến lúc họ già, suy, cũng không thể cứu giúp được. Cần phải tự thân, khẩu, ý mình tu hành nghiệp thiện mới có thể tự cứu độ. Đó là yêu bản thân.
Đức Phật nói kệ:
Người nào tự yêu mình
Không gây ác cho người
Người không làm điều ác
Là kẻ được an lạc.
Nếu ai tự yêu mình
Phải làm các nghiệp thiện
Mau lẹ thu nhận được
Nhiều hạnh phúc khác nhau.
Ai muốn yêu chính mình
Phải giữ gìn ba nghiệp
Thí như thành biên giới
Đồng hoang nhiều giặc cướp
Khi tai nạn chưa đến
Tự bảo vệ nghiêm mật.
Chưa nạn, không phòng hộ
Gặp nạn khổ vô cùng.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
56.Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vua Ba-tư-nặc ở chỗ vắng, tự suy nghĩ: “Thế nào là hộ trì bản thân? Thế nào là không hộ trì bản thân?”. Nhà vua lại tự nghĩ:

* Trang 334 *
device

 “Người nào tu thiện là hộ trì bản thân, người nào làm ác là không hộ trì bản thân”.
Sau khi suy nghĩ như vậy, nhà vua rời chỗ ngồi, đến gặp Đức Phật, lạy dưới chân, ngồi qua một bên, thưa:
–Bạch Thế Tôn, con ở chỗ vắng, tự nghĩ: “Thế nào là hộ trì bản thân? Thế nào là không hộ trì bản thân?”. Con lại nghĩ: “Ai tu hạnh thiện là hộ trì bản thân. Ai hành bất thiện là không hộ trì bản thân”.
Đức Phật dạy:
–Này Đại vương, đúng vậy! Đúng vậy! Nếu đem bốn loại binh là tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh bảo vệ chung quanh tự thân, cũng không được gọi là hộ trì bản thân. Tại sao? Đây không phải là sự hộ trì bên trong. Người nào thân, khẩu, ý làm thiện, tuy không có bốn loại binh hộ vệ, vẫn được gọi là hộ trì tự thân. Vì sao? Đây là có sự phòng hộ bên trong. Sự hộ trì bên trong này hơn là sự giữ gìn từ bên ngoài, nên được gọi là hộ trì bản thân.
Đức Phật nói kệ:
Người nào muốn tự hộ
Thường hộ thân, khẩu, ý
Tu hành các pháp thiện
 Có hổ và biết thẹn
Ai không hộ ba nghiệp
Tà kiến và phiền não
Ngăn che các pháp thiện
Tùy tùng theo ma ác
Chính là tự hại mình
Thế nên phải tự hộ
Tu giới, định, trí tuệ
Phụng hành lời Phật dạy.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
57. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.

* Trang 335 *
device

   Vua Ba-tư-nặc ngồi ở chỗ vắng, suy nghĩ: “Trong thế gian này ít có người làm được sự nghiệp giàu sang, dồi dào tài sản. Giả sử có được sự nghiệp tài sản mà không sống kiêu sa, khiêm tốn biết đủ, tiết chế thị dục, không hại chúng sanh, người như vậy ít có. Thế gian có rất nhiều người được sản nghiệp hơn người, lại kiêu căng, phóng đãng, tham đắm dục vọng, não hại chúng sanh. Người như vậy rất nhiều”.
Vua Ba-tư-nặc ở chỗ yên tịnh, suy nghĩ như thế, rồi đứng dậy, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ sát đất, ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, con ở chỗ vắng, tự nghĩ: “Trong thế gian, nếu có người được sản nghiệp lớn, tâm biết tri túc, không phóng túng, không tham đắm các dục, không não hại người khác; người như vậy rất ít. Nếu có người được cơ nghiệp to lớn, kiêu căng, phóng đãng, tham đắm dục vọng, gây hại cho chúng sanh, người như vậy rất nhiều!”.
Đức Phật dạy:
–Này Đại vương, thật vậy! Thật vậy! Trong thế gian có nhiều người được phong bỗng lộïc rồi sanh kiêu mạn, phóng đãng, tham đắm dục vọng, gây khổ sở cho chúng sanh. Người ngu như vậy chịu khổ lâu dài, bị tổn hại rất nhiều, phải bị đọa vào địa ngục sau khi qua đời.
   Này Đại vương, như người đánh cá và đệ tử của họ với phương pháp kỹ thuật bắt cá tinh xảo, dùng lưới dày bủa ngang dòng nước chảy. Con cá, con ngao, con giải, kỳ đà, các loại thủy tộc…đều lọt vào lưới. Các loài thủy tộc này, con nào bị vào lọt lưới đều nằm trong tay người đánh cá, bị lôi kéo, di chuyển tùy theo ý của người đánh cá.
  Cũng như thế, có rất nhiều người ở thế gian được phong bổng lộc hơn người, lại kiêu mạn, phóng đãng, tham đắm năm dục, làm hại cho chúng sanh. Vì sao? Người ngu như vậy đã lọt vào lưới của Ma, bị lưới Ma bắt được, cử động, sinh hoạt đều do Ma sai khiến.
   Thế Tôn nói kệ:
Phóng túng, đắm sự nghiệp
Hoang mê mùi năm dục
Không biết có quả ác
Như cá vào lưới dày
Nghiệp này đã thành tựu
Chịu khổ não vô cùng.

* Trang 336 *
device

   Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
58. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
  Vua Ba-tư-nặc ở chỗ vắng, tự suy nghĩ: “Trong thế gian ít có người được phong bổng lộc cao mà không kiêu mạn, phóng túng, không tham năm dục, không làm hại chúng sanh. Trong thế gian có nhiều người được cơ nghiệp hơn người, lại kiêu mạn, phóng túng, tham đắm năm dục, làm hại chúng sanh”. Nhà vua suy nghĩ như vậy xong, liền rời chỗ ngồi, đến gặp Đức Phật, lạy dưới chân Ngài, ngồi qua một bên, thưa:
–Thưa Thế Tôn, con ở chỗ vắng, suy nghĩ::Trong thế gian ít có người được cơ nghiệp hơn người mà không kiêu mạn phóng túng, không tham năm dục, không hại chúng sanh. Có nhiều người được cơ nghiệp to lớn, lại tham đắm năm dục, làm hại chúng sanh”.
Phật dạy:
–Này Đại vương, thật vậy! Thật vậy! Đúng như lời nhà vua nói. Như người thợ săn đào hầm bắt nai, đuổi chúng chạy rơi vào hầm, tùy ý bắt chúng. Trong thế gian, có nhiều chúng sanh được cơ nghiệp to lớn, kiêu căng, phóng đãng, tham đắm năm dục, gây khổ sở cho chúng sanh, cũng như vậy. Người ngu như thế đã rớt vào bẫy của Ma, tùy theo Ma sai khiến, sẽ rơi vào địa ngục, chịu khổ lâu dài.
Thế Tôn nói kệ:
Phóng dật, vướng sự nghiệp
Mê muội trong năm dục
Không biết quả ác sau
Như nai rớt bẫy sâu
Phải chịu nhiều khổ não
Người làm nghiệp ác này
Sầu khổ lại chịu khổ
Hối hận làm sao kịp
Người thực hành nghiệp thiện

* Trang 337 *
device

Sau được kết quả tốt
Lâm chung ý hoan hỷ
Sau không có hối hận.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
59. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vua Ba-tư-nặc đến gặp Phật, lạy dưới chân Ngài, ngồi qua một bên, thưa:
Thưa Thế Tôn, có một Trưởng giả tên Ma-ha-nam, nhà rất giàu, có nhiều của cải quý giá.
Đức Phật hỏi:
–Giàu to như thế nào?
Nhà vua bạch Phật:
–Nhà vị Trưởng giả ấy, số vàng bạc châu báu đến ngàn vạn ức, không thể kể hết, huống chi các loại tài sản khác. Ông ta tuy giàu có nhưng không dám ăn uống, thức ăn của ông chỉ là cám tạp thô nhám.  Khi ông nấu canh, nấu cả gừng vào, nấu xong lại đem bán hết để lấy tiền sử dụng. Y phục của ông chỉ dùng vải thô, chỉ có năm tấm vải xấu để mặc bên trong, đi lại bằng xe cũ, lấy lá cây kết làm lọng để che. Chưa bao giờ thấy ông ta bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn, người nghèo, trẻ con. Khi muốn ăn, trước hết đóng cửa, sợ các Sa-môn, Bà-la-môn… đến khất thực.
Đức Phật dạy:
–Này Đại vương, người như thế không phải là trượng phu tốt. Vì sao? Được tài sản giàu có như vậy mà vị ấy lại không thể mở rộng lòng hưởng thụ vui vẻ một cách chân chánh, lại không thể hiếu dưỡng cha mẹ, cung cấp cho vợ con, lại không ban ơn cho nô tỳ, người làm, lại không khi nào bố thí cho các Sa-môn, Bà-la-môn, lại không cầu mong quả báu được sanh thiên. Cũng như chỗ đất mặn, có ao ít nước, vì nước mặn đắng người không uống được, nên đưa đến khô kiệt. Người ngu trong thế gian cũng như vậy, được tài sản to lớn không chịu

* Trang 338 *
device

sử dụng để tự thân hưởng an lạc, lại không thể cung dưỡng cho cha mẹ, nuôi dưỡng vợ con. Đối với quyến thuộc, nô tỳ người ở, bạn thân tri thức đều không giúp đỡ tiền của. Tuy họ có tài sản quý báu dồi dào nhưng không lợi ích gì cả.
Phật dạy:
–Này Đại vương, vị Thiện trượng phu có sản nghiệp thường đem ra sử dụng thọ hưởng một cách an lạc chân chánh, đồng thời cúng dường Sư trưởng, cha mẹ, cho vợ con, quyến thuộc, nô tỳ người ở, bạn bè tri thức, cho đến cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn; người nghèo nàn đến xin đều bố thí cho cả. Người thiện như vậy, tài sản quý giá tạo được gọi là thượng nghiệp, tạo những nhân an lạc và duyên sanh thiên. Người này thu hoạch tài sản, thành tựu việc thiện lớn. Ví như bên cạnh làng xóm, thành phố, có ao nước trong xanh, chảy ra nước sạch, bốn phía bằng thẳng, có nhiều cây cối, hoa trái rậm rạp, cỏ mọc mềm mại bao phủ quanh hồ. Tất cả mọi người đều được tắm rửa, được nước uống tốt. Các loại cầm thú bay lượn, chạy chơi thích thú nơi đó. Người trượng phu khéo giỏi cũng vậy… được sanh cõi trời, thành tựu thiện lớn.
Thế Tôn nói kệ:
Đất có nhiều muối mặn
Giữa có ao nước mát
Mặn đắng không uống được
Sau tự nó khô kiệt.
Kẻ khốn khổ cũng vậy
Tuy có nhiều tài bảo
Nhưng không dám ăn mặc
Cũng không đem cho người
Gọi là kẻ khốn khổ.
Có tài sản bố thí
Như vùng đất bằng rộng
Có hồ nước trong xanh
Cây rừng rậm chung quanh
Người, thú đều ưa thích
Đây gọi là người trí
Như con trâu chúa lớn

* Trang 339 *
device

Khi sống hưởng an lạc
Lúc chết được sanh thiên.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
60. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ. Trong thành, có một Trưởng giả tên Ma-ha-nam, không có con nối dõi, bị bệnh qua đời. Theo phép nước bấy giờ, ai không có con trai, sau khi qua đời thì gia tài phải nhập vào công quỹ. Vì lý do này, tài sản của Ma-ha-nam phải bị nạp cho vua.
Vua Ba-tư-nặc thân thể đầy bụi, đến gặp Phật, sau khi làm lễ, liền ngồi qua một bên. Đức Phật bảo nhà vua:
–Hôm nay vì sao Đại vương thân thể bụi bặm, dung mạo khác thường mà đến đây?
Vua Ba-tư-nặc bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, trong thành Xá-vệ có vị đại Trưởng giả tên Ma-ha-nam mới chết hôm qua. Vì không con nên tài sản của ông ta đều phải sung vào công quỹ. Con đi xem xét tài sản ông ta chẳng kể gió bụi, nên thân thể bị bụi bặm như vậy.
Đức Phật hỏi nhà vua:
–Ma-ha-nam có thật là cự phú không?
Nhà vua đáp:
–Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Giàu có như thế nào? Vàng bạc châu báu số ngàn vạn ức, không thể tính toán, huống chi các tài sản khác. Ông ta tuy có châu báu tích chứa rất nhiều nhưng vì keo kiệt nên không dám ăn. Khi ăn, chỉ ăn lúa lép, lúa mạ, cám tạp rất thô cứng. Khi nấu canh chỉ nấu với gừng, nấu xong lại đem bán bớt để lấy tiền tiêu. Khi mặc chỉ dùng áo vải thô. Tất cả y phục chỉ có năm tấm vải xấu để mặc. Đi đâu chỉ dùng xe cũ, xấu, kết lá làm tàng lọng để che. Chưa bao giờ thấy ông ta bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn, hay người nghèo khốn xin ăn.
Đức Phật dạy:
–Người ngu thế đó chẳng phải là vị Thiện trượng phu. Vì sao?

* Trang 340 *
device

Tuy có tài sản không thể mở lòng hưởng thọ an lạc chân chánh, lại không thể giúp đỡ nuôi nấng cha mẹ cùng vợ con, không ban bố cho nô tỳ người ở, không khi nào bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn, cũng không cầu quả báo thiện để sanh thiên.
Đức Phật lại bảo nhà vua:
–Thuở xưa, vị Ma-ha-nam ấy từng ở nơi Đức Phật Bích chi, tên Đa-già-la-sắt, vun trồng một ít căn lành. Khi đó ông ta đã bố thí thức ăn uống nhưng không chí tâm, không bằng tín tâm, không tự tay cho, không cung kính, bố thí cho qua chuyện, sau khi bố thí lại sanh tâm hối hận, tự suy nghĩ: “Thức ăn uống của ta tại sao lại cho Sa-môn trọc đầu này, không bằng đem cho kẻ tôi tớ trong nhà ta”. Khi ông ấy qua đời, được sanh vào nhà Trưởng giả cự phú bậc nhất trong thành Xá-vệ. Tuy được sanh vào nhà Trưởng giả giàu có, nhưng vì đời trước bố thí thức ăn có tâm hối tiếc, nên tự nhiên không ưa mặc y phục đẹp, lại không thích thức ăn ngon, không ưa thích đi xe ngựa có trang trí đẹp.
    Đại vương nên biết, Ma-ha-nam vào thuở xưa, gia đình giàu có, vì tham tài sản tiền bạc, giết người em khác mẹ. Vì nhân duyên này bị đọa vào địa ngục, chịu khổ đau trong vô lượng vạn năm. Vì lý do này, bảy lần tài sản của ông ta bị sung công. Ma-ha-nam đối với Phật Bích chi Đa-già-la-sắt nhờ nhân duyên bố thí thức ăn, sau khi hưởng phước hết, như tội nhân lớn bị đọa vào địa ngục sau khi qua đời. Ma-ha-nam qua đời cũng như vậy, bị đọa vào địa ngục kêu gào lớn.
Vua Ba-tư-nặc lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, Ma-ha-nam sau khi qua đời có thật bị đọa vào địa ngục kêu gào lớn không?
Phật dạy:
–Thật bị đọa.
Nhà vua nghe vậy buồn bã rơi lệ, rồi sửa lại y phục, trịch vai áo bên phải, chắp tay nói kệ:
Tiền tài lúa vải và châu báu
Nô tỳ, người hầu và quyến thuộc
Tất cả tài sản và người hầu
Không thể mang theo, dù phần nhỏ.
Khi sự chết đến, thây cũng bỏ
Tất cả tài bảo tuy la liệt

* Trang 341 *
device

Không có vật gì là của ta
Cũng không mang theo một vật nào.
Chẳng có vật gì đi theo ta
Như là cái bóng đi theo hình
Quả báo thiện ác làm không mất
Chỉ có nghiệp như bóng theo người.
Đức Thế Tôn nói kệ đáp:
Thiện ác đi theo người
Như bóng đi theo hình
Hình đi đến nơi đâu
Bóng theo đó không rời.
Như có ít lương thực
Vượt hiểm rất khổ não
Làm ác cũng như vậy
Không thể đến nẻo thiện.
Như lương thực dồi dào
An vui vượt đường hiểm
Người tu phước cũng thế
An ổn đến chỗ thiện.
Như xa nhà đã lâu
Đến nơi rất xa xôi
Khi an ổn về nhà
Trong tâm rất vui thích.
Vợ con cùng quyến thuộc
Hoan hỷ cùng đón tiếp
Tu thiện cũng như vậy
Nghiệp thiện đến nghinh đón
Như bà con xa cách
Gặp nhau rất vui mừng.
Thế nên phải chứa thiện
Gây phước cho đời sau
Muốn được phước đời sau
Phải tu hành chánh hạnh
Nay không bị chê trách
Đời sau hưởng an lạc.

* Trang 342 *
device

Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
61. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Bấy giờ vua Ba-tư-nặc muốn tổ chức tế đàn lớn. Vua nuôi một ngàn con bò trói ở trụ, và trâu mao, trâu cày, trâu sữa, trâu nghé, trâu nhỏ, mỗi loại đều một ngàn con. Các loại dê đực, dê đen cũng một ngàn con. Các loại súc sanh đều bị dắt đến tế đàn.
Các Bà-la-môn ở những nước khác nghe nhà vua tổ chức tế đàn lớn, từ xa cũng đều kéo về tập hợp ở thành Xá-vệ.
Có nhiều Tỳ-kheo từ sáng sớm mặc y, mang bát vào thành khất thực, nghe vua Ba-tư-nặc muốn tế đàn lớn, nuôi cả ngàn con bò, trâu mao, trâu nước, trâu cày, trâu nhỏ và trâu nghé đều một ngàn con; các loại dê đen, dê đực cũng một ngàn con; các loại súc sanh này đều bị dẫn đến tế đàn. Lại nghe những Bà-la-môn ở những nước khác biết tin vua Ba-tư-nặc tổ chức đại tế đàn nên tất cả tập hợp ở thành Xá-vệ. Các Tỳ-kheo khất thực xong, sau khi thọ trai, xếp y cất bát, rửa chân, đến gặp Thế Tôn, lạy sát chân, ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, hôm nay chúng con vào thành khất thực được nghe sự việc như vầy…
Đức Thế Tôn nghe xong, liền nói kệ:
Trăm ngàn tháng cúng tế
Cúng vậy để cầu phước
Không bằng phần mười sáu
Của một lần tin Phật.
Trăm ngàn tháng cúng tế
Tu vậy để cầu phước
Không bằng phần mười sáu
Của một lần tin Pháp.
Trăm ngàn tháng cúng tế
Tu vậy để cầu phước
Không bằng phần mười sáu

* Trang 343 *
device

Của một lần tin Tăng.
Trăm ngàn tháng cúng tế
Tu vậy để cầu phước
Không bằng phần mười sáu
Một lần tu tâm Từ.
Trăm ngàn tháng cúng tế
Tu vậy để cầu phước
Không bằng phần mười sáu
Một lần thương chúng sanh.
Trăm ngàn tháng cúng tế
Tu vậy để cầu phước
Không bằng phần mười sáu
Thương tưởng đến quỷ thần.
Trăm ngàn tháng cúng tế
Không bằng phần mười sáu
Một lần phát tâm thiện
Thương xót loài súc sanh.
Trăm ngàn tháng cúng tế
 Không bằng phần mười sáu
Sanh tín tâm yêu thích
Với lời Đức Phật dạy.
Giả sử tế nhiều cách
Và phụng sự thờ lửa
Tu vậy muốn cầu phước
Lễ các tế đàn này
Suốt hết cả một năm
Không bằng đứng thẳng người
Cung kính Phật một lạy
Phước đức hơn bốn lần.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
62.Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.

* Trang 344 *
device

Bấy giờ vua Ba-tư-nặc bắt một số người, có cả Sát-lợi, Tỳ-xá, Thủ-đà-la, Sa-môn, Bà-la-môn, người xuất gia giữ giới, phá giới, cho đến kỹ nữ, Chiên-đà-la… giam giữ.
Các Tỳ-kheo vào thành khất thực, nghe sự việc như trên, sau khi thọ trai, rửa chân xong, đến gặp Đức Phật, lạy sát chân Ngài, ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, chúng con vào thành khất thực, nghe vua Ba-tư-nặc bắt giữ những vị Sát-đế-lợi, Tỳ-xá, Thủ-đà-la, Sa-môn, Bà-la-môn, người xuất gia trì giới, phá giới và kỹ nữ, Chiên-đà-la…
Thế Tôn nghe lời ấy xong, nói kệ:
Vua chúa trói buộc người
Dùng sắt, gỗ và dây
Hiền thánh xem việc này
Biết chẳng phải trói chắc.
Ai ái luyến vợ con
Tiền tài và châu báu
Những thứ ấy trói người
Chắc chắn hơn lao ngục.
Vợ con và tài sản
Người ngu bị trói buộc
Nó thật như suối dữ
Làm phàm phu chìm nổi
Vậy nên phải vượt qua
Mau đến chỗ giải thoát.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Kệ tóm lược:
Tam-bồ-đề và mẹ
Yêu ta và giữ ta
Bắt cá và bẫy nai
Xan cùng với qua đời
Tế tự cùng trói buộc.

* Trang 345 *
device

 
Đại Tập VII, Bộ A- Hàm VII, Kinh Tạp A- Hàm Số 3