LOGO VNBET
                                                       BIỆT DỊCH KINH TẠP A-HÀM
                                                                        QUYỂN IV

                                                                   TỤNG 1: Phần 4
63. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vua A-xà-thế nước Ma-kiệt-đà, thống lĩnh bốn loại binh cùng vua Ba-tư-nặc, bày trận đại chiến.
Vua A-xà-thế con bà Vi-đề-hy phá tan quân đội của vua Ba-tư-nặc. Vua Ba-tư-nặc một mình một xe chạy thoát vào thành.
Bấy giờ các Tỳ-kheo vào thành khất thực, thấy sự việc ấy, sau khi thọ trai xong, rửa chân, đến gặp Đức Phật, lạy sát chân Ngài, rồi đứng qua một bên, bạch:
-Thưa Thế Tôn, sáng sớm chúng con vào thành khất thực, thấy vua A-xà-thế cùng vua Ba-tư-nặc đều thống lĩnh bốn loại binh, đánh nhau rất lớn. Bốn loại binh của vua Ba-tư-nặc bị phá tan, nhà vua một mình một xe chạy thoát vào thành.
Đức Thế Tôn nghe sự việc này, liền nói kệ:
Thắng có nhiều kẻ thù
Bị thua khổ, không ngủ
Ai không bị thắng bại
Tịch diệt ngủ an ổn.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
64. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Bấy giờ vua A-xà-thế nước Ma-kiệt-đà cùng vua Ba-tư-nặc đều

* Trang 346 *
device

 thống lĩnh bốn loại binh, đánh nhau dữ dội.
Vua Ba-tư-nặc đại phá quân binh và bắt được vua A-xà-thế. Vua Ba-tư-nặc sau khi đắc thắng, đặt vua A-xà-thế cùng ngồi một xe, đến chỗ Đức Phật lạy sát chân Ngài.
Vua Ba-tư-nặc bạch Đức Phật:
–Thế Tôn, đây là vua A-xà-thế con bà Vi-đề-hy nước Ma-kiệt-đề. Con đối với ông ta trước đây không oán thù, nhưng ông ta đối với con thường ôm lòng ganh ghét. Nhưng vua này là con trai của người thân hữu với con. Vì lý do ấy, nay con muốn thả vua A-xà-thế trở về nước.
Đức Phật dạy:
–Này Đại vương, hãy nên thả ra. Nếu nhà vua thả vua kia thì được nhiều lợi ích lâu dài.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Sức phá tan quân họ
Rồi bị thua lại người
Sức xâm lược xứ người
Lại bị người xâm lược.
Ngu nghĩ không báo ứng
Phải chịu đau khổ lớn
Đến lúc sắp qua đời
Mới biết thật có báo.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
65. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
     Vua Ba-tư-nặc ở chỗ vắng vẻ tự nghĩ: “Giáo pháp Đức Phật dạy rất đúng và lợi ích, có kết quả trong hiện tại, không có phiền não, bức bách vượt ngoài thời gian, có khả năng làm cho chính người ấy đến ngay chỗ thiện. Giáo pháp ấy như thể báo với mọi người rằng: “Các người hãy khéo đến đây, Ta chỉ dạy cho các người diệu pháp! Người

* Trang 347 *
device

có trí tuệ tự thân tác chứng, đạt đến hiểu biết tận cùng, siêng năng tu tập với thiện hữu, thiện hữu như vậy, không được gần gũi với bạn ác và tri thức xấu ác, nên xa lìa bạn ác”. Nhà vua suy nghĩ như thế, rồi rời chỗ ngồi đến gặp Đức Phật, ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, con ở chỗ vắng, suy nghĩ: “Giáo pháp Đức Phật dạy rất đúng và lợi ích, có kết quả trong hiện tại, không có các phiền não bức bách, vượt ngoài thời gian… cho đến… không giao du với bạn ác”.
Đức Phật bảo nhà vua:
–Đúng vậy, đúng vậy! Giáo pháp Phật dạy rất đúng và lợi ích, có kết quả trong hiện tại… cho đến… không giao du với bạn ác. Trước đây ta ở nơi rừng Kỳ-lê-bạt-đề, thuộc thành Vương xá.
Bấy giờ Tỳ-kheo A-nan, một mình ở chỗ vắng, suy nghĩ:
“Người thiện tri thức đem đến cho ta một nửa đời sống phạm hạnh.” A-nan suy nghĩ như vậy, liền đến gặp Ta, sau khi đảnh lễ, thưa như thế này:
–Người thiện tri thức đem đến cho ta một nửa đời sống phạm hạnh, chẳng phải tri thức xấu ác, bạn ác, bạn xấu.
Ta bảo A-nan:
–Thôi, thôi! Đừng bày tỏ như vậy, tại vì sao? Thiện tri thức, người quen thiện, bạn thiện chính là đem đến cho ta toàn phần đời sống phạm hạnh. Lại nữa, người bạn hữu thiện không bè đảng với tri thức ác, bạn ác, bạn xấu. Vì sao vậy? Ta nhờ thiện tri thức nên thoát khỏi sanh tử, thế nên biết rằng người thiện tri thức đem đến cho ta toàn phần đời sống phạm hạnh. Sự việc như vậy, ông cần phải phân biệt rõ, giáo pháp Đức Phật dạy đúng sự thật và đạt được lợi ích lớn, có kết quả trong hiện tại … cho đến không bè đảng với bạn ác, tri thức xấu ác …
Đức Thế Tôn nói kệ:
Trong các loại pháp thiện
Không phóng dật hơn hết
Ai đang sống phóng dật
Hiền thánh đều chê trách
Ai sống không phóng dật
Được vương vị Thiên đế
Tối thắng trong chư Thiên

* Trang 348 *
device

Giữa làm và không làm
Không phóng dật tối thắng
Ai sống không phóng dật
Tọa thiền diệt các lậu
Chứng đắc quả thù thắng.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.
66. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vua Ba-tư-nặc ở chỗ vắng, tự suy nghĩ: “Có một pháp nào tạo được lợi ích trong hiện tại và cả trong vị lai?”. Nghĩ như thế, nhà vua đến chỗ Đức Phật, lạy sát chân Ngài, ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, có một pháp nào tạo được lợi ích cho hiện tại và cho cả trong vị lai không?
Đức Phật dạy:
–Ta có một pháp tu hành phát huy rộng rãi đưa đến nhiều lợi ích cho hiện tại và vị lai. Đó là tu hành pháp không phóng dật, được lợi ích trong hiện tại và lợi ích cả trong đời vị lai. Như mặt đất có thể sanh hàng trăm loại lương thực, và tất cả cỏ cây, tất cả pháp thiện đều bắt nguồn từ pháp không phóng dật phát sanh, tăng trưởng từ pháp không phóng dật.
  Này Đại vương, cũng như mặt đất, tất cả hạt giống, nhân từ mặt đất mà sanh, nhân từ mặt đất mà tăng trưởng rộng lớn. Tất cả chúng sanh dựa vào nhân không phóng dật cũng như vậy.
  Trong các loại hương rễ, hương Hắc-kiên-thật là hàng đầu. Việc này cũng như vậy, tất cả pháp thiện đều bắt nguồn từ không phóng dật.
   Trong các loại hương cứng chắc, hương Chiên-đàn đỏ là hạng nhất, việc này cũng vậy. Tất cả pháp thiện đều bắt nguồn từ không phóng dật là gốc, không phóng dật là nhân của Thật pháp. Không phóng dật là chỗ sanh ra pháp thiện.
    Trong các loại vòng hoa, vòng hoa Càn-đà-bà-lê-cầm là bậc

* Trang 349 *
device

 nhất. Trong tất cả pháp thiện, không phóng dật là bậc nhất. Ngoài ra như nói ở trên.
Tất cả các loại hoa mọc trong nước, hoa sen xanh là bậc nhất. Trong tất cả pháp thiện, không phóng dật là bậc nhất.
Dấu chân tất cả loại thú, dấu chân voi là lớn nhất. Trong tất cả pháp thiện, không phóng dật là bậc nhất.
Như đánh với giặc, ai thắng nhiều trận trước gọi là bậc nhất, tất cả pháp thiện, bất phóng dật là bậc nhất.
Tất cả loài thú, sư tử đứng đầu. Trong các pháp thiện, không phóng dật là bậc nhất.
Tất cả lâu đài, Cao-ba-na-tả là bậc nhất. Trong pháp thiện, không phóng dật là bậc nhất.
Tất cả các cây Diêm-phù-đề, cây Diêm-phù-đề ở thượng giới là bậc nhất. Trong pháp thiện, không phóng dật là bậc nhất.
Tất cả các cây Chiêm-ba-la, cây Cưu-ba-khổ-ba-la, là bậc nhất. Trong tất cả pháp thiện, không phóng dật là bậc nhất.
Tất cả cây Bát-thát-la, cây Cẩm-văn-tiêu-thát-la là bậc nhất. Trong tất cả pháp thiện, không phóng dật là bậc nhất.
Tất cả các núi, núi Tu-di là bậc nhất. Trong tất cả pháp thiện, không phóng dật là bậc nhất.
Tất cả loại vàng, vàng Diêm-phù-đàn là bậc nhất. Trong các pháp thiện, bất phóng dật là bậc nhất.
Tất cả y phục đẹp, y phục Ca-thi là bậc nhất. Trong các pháp thiện, không phóng dật là bậc nhất.
Tất cả màu sắc, màu trắng là bậc nhất. Trong tất cả pháp thiện, không phóng dật là bậc nhất.
Tất cả loài chim, Kim sí điểu là bậc nhất. Trong các pháp thiện, không phóng dật là bậc nhất.
Tất cả ánh sáng, nhật quang là bậc nhất. Pháp không phóng dật cũng như vậy, ngoài ra như trên đã nói.
Như đã trình bày, trong các hạnh tu tập thiện, không phóng dật là căn bản, là nhân sanh ra pháp thiện.
Thế nên, này Đại vương, Đại vương nên tu tập theo pháp không phóng dật, cũng nên y chỉ nơi pháp không phóng dật. Nếu vua không phóng dật thì phu nhân, phi hậu của vua cũng không phóng dật,

* Trang 350 *
device

vương tử đại thần cùng các quan phụ thuộc cũng vậy. Ai không phóng dật là người gìn giữ trong ngoài nơi hoàng cung. Nhờ không phóng dật nên kho tàng đầy đủ. Nhà vua không phóng dật là tự hộ trì và hộ trì cho tất cả.
Bấy giờ Đức Phật nói kệ:
Không phóng dật tối thắng
Phóng dật chê bai nhiều
Đời này không phóng dật
Đời sau được lợi lớn.
Đời này, đời khác lợi
Hiểu biết lợi hai đời
Là hành động của bậc
Trượng phu và minh triết.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.
67. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
   Vua Ba-tư-nặc ở chỗ vắng, tự suy nghĩ: “Thế gian có ba pháp: một là đáng ghét, hai là không đáng yêu, ba là không đáng nhớ. Những gì đáng ghét? Đó là già. Cái gì không đáng yêu? Đó là bệnh. Cái gì không đáng nhớ? Đó là chết!”.
Vua Ba-tư-nặc nghĩ như thế rồi, rời chỗ ngồi, đến gặp Phật, làm lễ Ngài, ngồi qua một bên, bạch:
–Thưa Đức Thế Tôn, con ở chỗ vắng, tự suy nghĩ: “Trên đời có ba pháp: Một là đáng ghét, hai là không đáng yêu, ba là không đáng nhớ. Cái gì đáng ghét? Đó là già. Cái gì không đáng yêu? Đó là bệnh. Cái gì không đáng nhớ? Đó là chết”.
Đức Phật bảo nhà vua:
–Đúng vậy, đúng vậy! Ba loại pháp này đúng như vua nói. Này Đại vương, thế gian nếu không có ba pháp này thì Đức Phật không ra đời và cũng không thuyết pháp. Vì có ba pháp này nên

* Trang 351 *
device

Đức Phật mới ra đời, vì chúng sanh thuyết pháp.
Đức Phật nói kệ:
Xe vua trang trí đẹp
Rực rỡ rất kỳ diệu
 Lâu ngày màu tàn tạ
 Như người cũng phải chết
Pháp thật không già suy
Lần lượt truyền cho nhau
Ôi! già suy, giặc ác
Sắc xinh đẹp tuấn tú
Rồi cũng bị suy tàn
Giả như sống trăm năm
Cuối cùng rồi cũng chết
Bệnh đến sức không còn
Già ến đi về chết
Nên phải vui thiền định
Chánh niệm luôn tinh cần
Thấu tỏ đời sống này
Chiến thắng chống ma quân
Vượt bờ cõi sanh tử.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.
68. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
   Vua Ba-tư-nặc đến gặp Đức Phật, đảnh lễ dưới chân, ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Thưa Đức Thế Tôn, khi bố thí nên cho chỗ nào?
Đức Phật đáp:
–Tùy theo sự ưa thích của người tu hạnh bố thí nơi đâu, thì bố thí nơi ấy.
Nhà vua lại hỏi:

* Trang 352 *
device

–Bố thí chỗ nào thì được quả báo lớn?
Đức Phật trả lời:
–Nhà vua đã hỏi khác với câu hỏi trước. Nay Ta hỏi Đại vương, Đại vương hãy trả lời theo ý của mình.
Như khi xuất quân sắp chiến đấu, phương Đông có người Sát-lợi, khỏe mạnh có sức lực đến, nhưng họ không giỏi binh pháp, không biết tự chủ, không biết bắn cung, gặp giặc thì sợ hãi, không dám đối địch, thường bỏ chạy trước; không thể giữ vững vị trí của mình, bắn tên không xa, giả như có bắn cũng không trúng, không gánh vác, điều động được quân trong trận lớn. Khi Đại vương chiến đấu với nước khác, có người như vậy, Đại vương có an ủi bảo: “Ngươi hãy thân cận ta, sẽ được ban thưởng lớn!”. Đại vương có làm như vậy không?
Nhà vua đáp:
–Bạch Thế Tôn, con thật không sử dụng người như vậy. Tại sao? Khi chiến đấu, không cần hạng người như thế.
Đức Phật hỏi:
–Phương Nam có Bà-la-môn, phương Tây có Tỳ-xá, phương Bắc có Thủ-đà cũng như vậy. Những người như thế, nhà vua có sử dụng không?
Nhà vua đáp:
–Khi chiến đấu con không sử dụng họ.
Đức Phật nói:
–Khi chiến đấu, phương Đông có người Sát-lợi đến tuổi cường tráng, thân thể vạm vỡ, sức lực khỏe mạnh, giỏi binh pháp, biết cả bắn cung và các kỹ thuật khác, nhiều thuật tài giỏi bằng tay, khéo tự chủ, dũng mãnh đối địch, gan lớn không sợ, tâm không kinh hãi, thấy địch không lùi, giữ vững vị trí, bắn tên đi xa, luôn đúng vào mục tiêu, không trật, dũng mãnh thẳng tiến, phá được trận lớn. Khi Đại vương lâm chiến sẽ sử dụng người nào?
Nhà vua đáp:
–Con dùng người dũng kiện. Vì sao? Theo phép tắc chiến tranh, cần người dũng kiện, phương Nam, Tây, Bắc cũng vậy.
Đức Phật dạy:
–Này Đại vương, đúng vậy! Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn không hội đủ năm yếu tố, thì không phải là phước điền. Ai đầy đủ năm yếu

* Trang 353 *
device

tố, thì xứng đáng là phước điền, bố thí sẽ được quả báo lớn, lợi ích lớn, thịnh vượng vô cùng, quả báo luôn tăng trưởng rộng khắp.
   Thế nào gọi là hội đủ năm yếu tố? Là đoạn trừ năm thứ trói buộc, ngăn che. Thế nào là đoạn trừ năm thứ ấy? Là đoạn trừ tham dục, sân hận, thùy miên, trạo hối và nghi, gọi là đoạn trừ năm thứ trói buộc, ngăn che.
    Thế nào là đầy đủ năm yếu tố? Là đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến của bậc Vô học. Ai bố thí các bậc Sa-môn, Bà-la-môn đầy đủ năm yếu tố như vậy thì được kết quả lớn, sự thịnh vượng lớn, được quả báo sâu rộng.
   Đức Thế Tôn nói kệ:
Thí dụ có một người
Dũng mãnh có sức mạnh
Điêu luyện cách bắn cung
Biết đủ các kỹ thuật
Chiến đấu cần người này
Nên ban thưởng trọng hậu
Phong tước, ban châu báu
Không phân biệt dòng dõi
Chỉ ban thưởng công lao
Đại vương nên như vậy.
Người nào thường hành thiện
Nhu hòa tu nhẫn nhục
Thấy được bốn chân đế
Được bước vào dòng Thánh
Cúng dường bậc Trí tuệ
Không cần chọn giống nòi
Trú xứ tất phải có
Thực phẩm và ngọa cụ
Vật cúng dường như vậy
Nên cúng người đủ giới.
Trong dòng nước mênh mông
Làm phao nổi hay bè
Và tạo cầu, ghe thuyền
Tự độ và độ người

* Trang 354 *
device

Chính là người đa văn
Thí như mây bủa kín
Giăng trùm cả thế giới
Điện quang chiếu sáng rực
Sấm sét chấn động xa
Giáng xuống trận mưa lớn
Đất đai đều thấm ướt
Cả cỏ cây rừng rậm
Đều nhờ tưới nước mưa
Lúa mạ thêm xanh tốt
Nông phu rất vui mừng
Tín thí chủ như vậy
Hiểu rộng, thường bố thí
Không có tâm keo kiệt
Thấm ướt dụ thực phẩm
Khuyến khích đem cho nhiều
Như tiếng sấm vang xa
Ví như mưa rơi xuống
Thu hoạch nhiều quả hạt
Người thường hành bố thí
Được công đức to lớn
Sau được vui Niết-bàn.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.
69. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vua Ba-tư-nặc đến gặp Đức Phật, lạy sát dưới chân, ngồi qua một bên, bạch:
–Đức Thế Tôn, đẳng cấp Bà-la-môn thường sanh trong nhà Bà-la-môn, đẳng cấp Sát-lợi thường sanh trong nhà Sát-lợi phải không?
Đức Phật bảo nhà vua:
–Này Đại vương, không nên nói như vậy. Tại sao? Có bốn hạng

* Trang 355 *
device

 người: Một là từ ánh sáng đi vào ánh sáng. Hai là từ ánh sáng đi vào bóng tối. Ba là từ bóng tối đi ra ánh sáng. Bốn là từ bóng tối đi vào bóng tối.
   Thế nào là người từ bóng tối đi vào bóng tối?
   Như có chúng sanh sanh vào nhà bần cùng, hạ tiện; hoặc sanh vào nhà đao phủ, làm thuê, thân thể gầy ốm, hình dáng đen xấu, điếc mù câm ngọng, các căn không hoàn bị nên bị người khác sai khiến, không được tự do. Người như vậy hoặc thân hành nghiệp ác, khẩu làm nghiệp ác, hoặc tâm niệm bất thiện, sau khi qua đời, họ bị đọa vào địa ngục. Đấy là từ bóng tối đi vào bóng tối. Ta nói rõ là người ấy từ nhà xí lại đi vào nhà xí, từ bóng tối đi vào bóng tối.
    Nếu như có người sanh vào nhà hạ tiện, đao phủ, làm thuê, thân thể gầy ốm, hình dáng đen xấu, điếc mù câm ngọng, các căn không đủ, bị người khác sai khiến, không được tự do thì đây gọi là bóng tối. Nếu người này, thân thường hành thiện, miệng thường hành thiện, ý thường hành thiện. Sau khi họ qua đời, được sanh cõi trời. Người như vậy từ dưới đất được đưa lên giường, từ giường được ngồi trên xe, từ xe được đưa lên ngựa, từ ngựa được đưa lên voi, từ voi được đưa lên cung điện. Do nhân duyên này, Ta nói rõ là người ấy từ bóng tối đi ra ánh sáng.
   Thế nào là từ ánh sáng đi vào bóng tối?
–Có người sanh trong gia đình Sát-lợi, Bà-la-môn, Trưởng giả lớn, nhiều tài sản châu báu, giàu có vô lượng, kho tàng đầy ắp, người phục vụ đông đảo, phụ tướng đại thần, bạn bè thân thuộc đông đúc. Họ có thân hình đoan chính, sức lực mạnh khỏe, đây gọi là ánh sáng. Nếu người ấy thân làm nghiệp ác, miệng nói nghiệp ác, ý hành nghiệp ác, sau khi qua đời, bị đọa vào địa ngục như người từ cung điện bị hạ bệ xuống lưng voi, từ đi voi xuống đi ngựa, từ đi ngựa xuống đi xe, từ đi xe xuống ngồi trên giường, từ giường bị rớt xuống đất, từ dưới đất lại rơi vào hầm phân. Ta nói rõ người này từ ánh sáng đi vào chỗ tối tăm.
    Thế nào là từ ánh sáng đi vào ánh sáng?
–Có người sanh vào nhà Sát-lợi, đại Bà-la-môn, Trưởng giả, có nhiều của cải châu báu, giàu có vô lượng, kho tàng tràn đầy, có nhiều tôi tớ, phụ tướng đại thần thân hữu quyến thuộc đông đảo. Họ

* Trang 356 *
device

 có thân hình đoan chính, có uy lực lớn, đây gọi là ánh sáng. Người như vậy thân làm nghiệp thiện, miệng nói nghiệp thiện, ý hành nghiệp thiện, sau khi qua đời, được sanh cõi trời, như từ cung điện này đến cung điện khác, từ voi đến voi, từ ngựa đến ngựa, từ xe đến xe, từ giường đến giường. Người như thế, Ta nói rõ từ ánh sáng đi vào ánh sáng.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Đại vương, phải nên biết
Kẻ bần cùng bất tín
Lòng giận dữ ganh ghét
Thường khởi ác giác quán,
Tà kiến không cung kính
Sa-môn, Bà-la-môn
Trì giới và đa văn
Gặp họ thường nhục mạ
Nếu  có ít tài vật
Không có tâm bố thí
Lại ủy báng người cho
Với nghiệp duyên như vậy
Phải bị đọa địa ngục
Nghiệp đọa địa ngục này
Là từ tối vào tối.
Này Đại vương, nên biết
Bần cùng ưa bố thí
Tín tâm, không giận dữ
Hổ thẹn, thích bố thí
 Sa-môn, Bà-la-môn
Trì giới và đa văn
Và kính lễ thăm hỏi
Thường hành hạnh chánh thiện
Tự cho, khen người cho
Người nhận cũng tán thán
Người như vậy đời sau
Sanh cõi trời Ba ba
Đây là từ chỗ tối

* Trang 357 *
device

Đi vào nơi sáng suốt.
Đại vương, lại nên biết
Giàu to mà bất tín
Thường giữ tâm sân hận
Hành động tham ganh ghét
Tà kiến, không cung kính
Sa-môn, Bà-la-môn
Trì giới và đa văn
Gặp họ thường nhục mạ
Không có tâm phụng thí
Sống như vậy, khi chết
Phải bị đọa địa ngục
Là từ sáng vào tối.
Đại vương, lại nên biết
Giàu to tín, không sân
Hổ thẹn được đầy đủ
Xả bỏ tâm keo kiệt
Sa-môn, Bà-la-môn
Trì giới và đa văn
 Cung kính và chào hỏi
Thường hành việc chánh thiện
Tự cho, khen người cho
Được người nhận ca ngợi
Từ bỏ thân mạng này
Nhờ quả báo đã làm
Sanh trời Tam thập tam
Đây là nơi ánh sáng
Đi vào chỗ sáng hơn.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.
70. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.

* Trang 358 *
device

Vào giữa trưa, vua Ba-tư-nặc với thân thể bụi bặm đi xe đến gặp Đức Phật.
Đức Thế Tôn hỏi vua:
–Đại vương vì sao đến đây vào giữa trưa với thân thể bụi bặm thế này?
Nhà vua bạch Phật:
–Thưa Đức Thế Tôn, việc nước quá nhiều, sự vụ phức tạp, xử lý vừa xong, con liền đến gặp Đức Phật. Thế nên thân thể đầy bụi.
Đức Phật dạy:
–Này Đại vương, Ta hỏi, vua tùy ý đáp. Này Đại vương, có người bản tánh chánh trực, chưa từng dối trá, được mọi người tin tưởng từ phương Đông đi đến. Giả như họ nói với vua: “Hiện nay phương Đông có hòn núi đá lớn, trên đụng trời, dưới chạm đất, từ phương Đông đang di chuyển đến, những chỗ nó đi qua, rừng cây và các chúng sanh đều bị đè tan nát”. Phương Nam, Tây, Bắc cũng như vậy, có người được mọi người rất tin tưởng, bảo với vua rằng hiện nay bốn phương có núi đá lớn, cùng di chuyển đến một lượt, không có kẽ hở nào thoát được. Trời, Rồng, Người, Quỷ, các loại hữu tình đều bị đè tan nát, rất đáng sợ hãi.
Đức Phật lại bảo nhà vua:
–Ngay lúc ấy, có phương kế gì để thoát nạn?
Nhà vua thưa:
–Bạch Thế Tôn, ngay lúc ấy, không còn kế gì cả, chỉ còn tin Phật pháp, tu hành chánh hạnh, không còn phương nào khác.
Phật dạy:
–Này Đại vương, như lời vua nói, cho đến ngoại trừ việc tin Phật pháp ra, không còn kế gì cả. Này Đại vương, tại sao vua nói như vậy?
Ba-tư-nặc bạch Phật:
–Thưa Đức Thế Tôn, giả sử có vị vua đã thọ lễ quán đảnh, đủ cả tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh, với các chiến cụ, nhưng với hòn núi đá lớn ấy, không thể đánh với nó; đao tên cung kiếm cũng không sử dụng được. Nếu dùng chú thuật, cống hiến bằng tiền tài, những việc như vậy, không sao làm được, lại không thể cầu khẩn hay dùng sức lực đánh thắng được. Thế nên, bạch Thế Tôn, con nói nên tu pháp thiện xa lìa hư vọng, trừ việc tin Phật pháp ra không còn kế gì nữa.

* Trang 359 *
device

Đức Phật dạy:
–Này Đại vương, đúng vậy! Đúng vậy! Núi già hủy hoại tuổi trẻ sắc đẹp. Núi bệnh hủy hoại tất cả sự cường tráng. Núi chết hủy hoại tất cả thọ mạng. Núi suy tàn làm hao tổn, hủy hoại tất cả vinh hoa phú quý, giết chết vợ con, phân ly quyến thuộc hao tổn tiền tài.
Này Đại vương, có bốn cách hủy hoại thế gian luôn đuổi theo loài người. Đúng như vua nói, chỉ có tu hành theo giáo pháp chân chánh, trừ Phật pháp ra không còn kế gì khác.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Thí như bốn hướng có núi lớn
To cao rộng lớn không giới hạn
Bốn mặt, đồng thời di chuyển đến
Hoảng sợ bỏ chạy không lối thoát
Voi, ngựa, xe, binh không chống được
Chú thuật, tài sản không thể ngăn
Đại vương, đó là núi vô thường
Núi lão, bệnh, tử, núi suy diệt
Tàn hại tất cả các chúng sanh
 Sát-lợi, Thủ đà, Bà-la-môn
Cho đến hạ tiện Chân-đà-la
Tại gia xuất gia tu phạm hạnh
Gồm cả trì giới và phá giới
Đều tàn diệt hết không chừa ai
Thế nên người trí phải tu thiện
Tôn sùng Tam bảo, làm phúc đức
Thân miệng và ý thường thanh tịnh
Đời này được khen sau sanh Thiên.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.
71. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.

* Trang 360 *
device

Vua Ba-tư-nặc đến chỗ Đức Phật, lạy sát dưới chân, ngồi qua một bên.
Khi ấy, trong khu Kỳ-hoàn, có bảy vị Phạm chí để tóc dài, bảy vị Ni-kiền lõa hình, bảy vị ngoại đạo mặc một y. Thân hình họ đều to lớn.
Vua Ba-tư-nặc thấy các ngoại đạo này đi qua lại trong vườn Kỳ-hoàn. Nhà vua đứng dậy chắp tay cung kính, hướng đến các vị ngoại đạo nói lên ba lần tên của mình:
–Con là vua Ba-tư-nặc.
Đức Phật hỏi vua Ba-tư-nặc:
–Vì sao nhà vua thấy người tóc dài, lõa hình, một y, lại cung kính như vậy?
Nhà vua thưa:
–Bạch Thế Tôn, nước con có ba hạng người này là bậc tối thắng trong hàng A-la-hán.
Đức Phật hỏi nhà vua:
–Nhà vua không biết rõ tâm của họ hướng về đâu, làm sao biết là chân A-la-hán hay phi A-la-hán? Phải cùng sống lâu với nhau một nơi, dùng ý quán sát, vua mới có thể biết được người ấy trì giới hay phá giới. Tuy sống lâu với nhau nhưng người thông minh trí tuệ có thể biết, còn người ngu thì không biết. Cha mẹ của họ, thân bằng quyến thuộc, có người bị chết… mới có thể phân biệt họ. Nếu không có việc này, khó hiểu biết thấu đáo được.
   Nếu họ bị tai nạn, bị người cưỡng bức sai làm việc sát hại, hoặc bị người nữ ở chỗ riêng ép buộc mà không phạm giới, mới có thể biết tâm họ bền vững chắc thật. Phải theo dõi quán sát mới biết họ tịnh hạnh hay chẳng tịnh hạnh.
   Muốn biết đích xác trí tuệ của họ, hãy lắng nghe họ nói, chỉ có người trí mới phân biệt rõ, chỉ có người trí cùng sống chung lâu dài mới có thể biết rõ họ.
Nhà vua tán thán Đức Phật:
–Lành thay! Bạch Thế Tôn, đúng như lời Đức Phật, phải cùng sống chung lâu dài mới có thể biết được là họ trì giới hay phá giới. Người khi lâm nạn, xem xét hành động của họ, mới biết tịnh hay bất tịnh. Người có giảng thuyết nghị luận, ta mới phân biệt bậc trí hay kẻ phàm.

* Trang 361 *
device

    Như trên trình bày, người có trí tuệ mới biết được người khác, người ngu không biết được, sống lâu mới biết được, không thể vội vàng biết được. Tại sao? Người sứ giả của con, cũng giả mặc những trang phục như vậy, đến những quốc gia khác ở xa, xem xét những việc trong nước ấy, trải qua tám tháng đến mười tháng. Làm các sự việc xong, trở về nước mình vui hưởng năm dục; làm tất cả sự việc như trước không khác. Thế nên, con biết lời Đức Phật dạy thật là toàn thiện.
Nhà vua lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, trước đây, con đã biết có sự việc như vậy, nhưng vội quá không quán sát, nên mới biểu lộ sự cung kính ấy.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Không thể nhìn bề ngoài
Mà phải quan sát kỹ
Khi vừa mới gặp người
Không thể tin tưởng ngay
Tướng mạo như La-hán
Thật không nhiếp các căn
Hình dáng các hành động
Đều không thể phân biệt
Cũng như bông tai giả
Hay đồng tiền mạ vàng
Người ngu cho là vàng
Kỳ thật trong bằng đồng
Những con người như vậy
Ngu si không biết gì
Bên ngoài tướng hiền thiện
Trong lòng thật độc ác
Hành động nhiều người theo
Giả dạng trang Hiền thánh.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

* Trang 362 *
device

72. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Có năm vị Quốc vương cùng tập hợp lại một chỗ, bàn luận về vấn đề: Trong năm dục, cái nào là nhất.
Vua thứ nhất nói:
–Sắc là nhất.
Vua thứ hai nói:
–Âm thanh là nhất.
Vua thứ ba nói:
–Vị là nhất.
Vua thứ tư nói:
–Hương là nhất.
Vua thứ năm nói:
–Cảm xúc êm ái là nhất.
Tâm ý các vua không đồng nhau, ai cũng thấy mình là đúng, nên nói với nhau:
–Tâm ý của chúng ta đối với cái đẹp không giống nhau, ai cũng theo lý của mình. Hãy đến gặp Đức Phật để được Ngài phân tỏ.
Năm vị quốc vương, với vua Ba-tư-nặc là thượng thủ, cùng đến chỗ Phật, lạy sát dưới chân Ngài, đứng qua một bên, bạch:
–Thưa Thế Tôn, chúng con năm vị vua, cùng nhau bàn luận: “Trong năm dục, cái nào là nhất?” Một vị vua nói: “Sắc là nhất”… Như vậy chỗ bày tỏ của năm vua bất đồng nhau, đều cho ý mình là đúng nhất. Do chủ trương không giống nhau nên chúng con cùng đến gặp Đức Phật tham vấn về chuyện này, cái nào là bậc nhất?
Đức Phật dạy:
–Người nào đối với sắc chấp thủ tướng mạo của nó, tâm ý bị vây buộc, ý họ thỏa mãn. Ngay khi ấy, nếu như có diệu sắc nào hơn sắc ấy đi nữa thì họ vẫn cho sắc đã chấp thủ ấy là hơn, không còn để ý đến diệu sắc kia. Thanh, hương, vị, xúc cũng như vậy. Cho đến khi tiếp xúc sanh cảm giác, tâm ý bị trói buộc vào tướng mạo của nó, thì cho đó là tối thắng.

* Trang 363 *
device

Bấy giờ có một Bà-la-môn tên Ty-nghi, rời chỗ ngồi, mặc y chừa vai mặt, quỳ chân phải xuống đất, chắp tay hướng Phật, bạch:
–Thưa Thế Tôn, con có điều muốn trình bày, xin Ngài cho phép.
Đức Phật bảo Ty-nghi:
–Cứ việc nêu bày.
Ty-nghi liền nói kệ:
Đại vương Ương-già chứa giáp quý
Chúa Ma-kiệt-đề được lợi lớn
 Phật vượt lên trên các quốc bảo
Tiếng khen nghe khắp như sơn vương.
Như hoa sen đẹp mới nở ra
Ánh sáng khắp hồ, hương thơm ngát.
Phật như mặt trời giữa hư không
Hào quang chiếu khắp cả thế gian
Xem kỹ tuệ lực của Như Lai
Cũng như lửa mạnh cháy rực rỡ
Mở mắt cho người thấy ánh sáng
Những kẻ nghi hoặc đến thưa hỏi
Tất cả đều được giải quyết nghi.
Năm vị vua đều khen ngợi bài kệ hay, cùng đem những tấm y quý giá ban cho Ty-nghi.
Năm vị vua nghe lời Phật dạy đều rất hoan hỷ, rời chỗ ngồi từ giã.
Sau khi các vua ra về, Ty-nghi chắp tay hướng về Đức Phật, đem năm tấm y dâng lên Ngài, cầu mong nhận cho. Đức Phật liền nhận y.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.
73. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Bấy giờ vua Ba-tư-nặc thân thể phì mập, hơi thở nặng nề, đến

* Trang 364 *
device

 gặp Đức Phật, lạy sát chân Ngài rồi ngồi qua một bên. Đức Phật bảo nhà vua:
–Hiện nay thân thể nhà vua to béo quá, đến nỗi khi di chuyển, hít thở rất khó khăn.
Nhà vua bạch Phật:
–Đúng vậy, đúng vậy! Như lời Phật dạy, nay con khốn khổ vì thân này, rất là xấu hổ, đáng chê trách.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Làm người luôn luôn tự chánh niệm
Phải biết điều độ khi ăn uống
Thân thể nhẹ nhàng ít khốn khổ
Tiêu hóa dễ dàng, sống dài lâu.
Khi ấy, trong chúng có chàng thanh niên tên Ô-đới. Nhà vua bèn bảo với chàng thanh niên ấy:
–Ngươi hãy học thuộc bài kệ đó. Vào lúc ta ăn, có thể thường đọc lên bài kệ này cho ta không? Nếu ngươi tụng được như vậy, ta sẽ thưởng cho ngươi mỗi ngày một trăm tiền vàng, và vào bữa ăn, ta sẽ được nghe ngươi đọc trước khi ăn.
Chàng thanh niên Ô-đới đáp:
–Xin vâng.
Đức Phật lại vì vua Ba-tư-nặc giảng dạy vô số các giáo pháp, chỉ rõ mọi lợi ích, hoan hỷ. Nhà vua im lặng lãnh hội, sau đó lễ Phật rồi lui ra.
Thanh niên Ô-đới ở lại một lúc để học bài kệ ấy.
Đức Phật bảo chàng trai:
–Khi nhà vua ăn, nên thường vì nhà vua thuyết bài kệ như trên.
Từ đó, hằng ngày vua Ba-tư-nặc ăn ít lại, thân thể ốm dần trở nên nhẹ nhàng.
Sau đó, nhà vua đến chỗ Đức Phật, thân thể nhẹ nhàng, trở nên tốt đẹp, bạch:
–Con nhờ làm theo lời Đức Phật dạy, thân thể hiện nay cảm thọ vô lượng an lạc. Nam-mô Phật Bà-già-bà Chí Chân Đẳng Chánh Giác, làm cho con hiểu biết quả báo hiện tại và lợi ích hiện tại, do ăn uống có tiết độ.

* Trang 365 *
device

Kệ tóm lược:
Đắc thắng, hủy hoại, theo Phật giáo
Một pháp, phước điền, khả yếm hoạn
Mù tối, núi đá, vận nhất y
Các vua, Suyển tức danh Bạt-cù.
74. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Bấy giờ có một thanh niên tên A-tu-la-diêm đến chỗ Đức Phật, với miệng, ý bất thiện, nhục mạ ngay trước mặt Ngài.
Đức Như Lai thấy nghe sự việc này, nói kệ:
Làm thiện, không giận dữ
Bố thí thường nói thật
Người không sân, không hại
Hơn kẻ ôm ác giận
Xan tham và nói dối
Kẻ thân cận người ác
Phải biết chúng sanh này
Chứa sân như gò núi
Phẫn nộ như ngựa lồng
Chế phục bằng roi cương
Khống bằng cương chưa vững
Chế tâm mới vững vàng
Thế nên Ta ngày nay
Danh là Thiện Điều Ngự.
Bấy giờ chàng thanh niên bạch Phật:
–Con thật ngu si, hành động bất thiện, nên ngay trước mặt Đức Phật đã buông lời nhục mạ. Cầu xin Thế Tôn thương xót cho con sám hối.
Đức Phật dạy:
–Này thanh niên, biết ngươi thành tâm, nên Ta thể hiện lòng Từ đối với ngươi. Ta nhận sự sám hối ấy, để ngươi được tăng trưởng pháp

* Trang 366 *
device

 lành, kể từ lúc này không còn thoái chuyển.
      Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
75. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Lúc ấy, có một thanh niên tên Ty-nghi đến gặp Đức Phật, ngay trước Phật với tâm ý và ngôn ngữ bất thiện, nhục mạ Đức Thế Tôn, còn thêm những lời lẽ phỉ báng thậm tệ.
Đức Như Lai thấy nghe sự việc này, bèn bảo Ty-nghi:
–Như trong thế gian, khi có lễ tiết lớn, vào ngày Cứ vô đề, ngươi vào đêm ấy có bao giờ mang y phục, chuỗi ngọc, các loại món ăn đem tặng cho thân thích không?
Ty-nghi đáp:
–Thật có đem tặng họ.
Đức Phật bảo Ty-nghi:
–Nếu họ không nhận vật tặng của ngươi, thì vật tặng này thuộc về ai?
Ty-nghi đáp:
–Nếu họ không nhận, thì tôi giữ lại.
Đức Phật nói:
–Đúng vậy, đúng vậy! Này Ty-nghi, ông đến chỗ Như Lai Chí Chân Chánh Đẳng Giác nhục mạ trước mặt, hủy báng nhiều lời, xúc phạm nhiều cách, tuy ngươi đem cho Ta, Ta không nhận lấy. Cũng như người đời, có người đưa ra, người trước mặt nhận lấy, thì mới gọi là bỏ ra và nhận lấy. Có người bỏ ra nhưng người trước mặt không nhận, thì chỉ gọi là bỏ ra chứ không gọi là nhận lấy. Người nào bị nhục mạ, giận đánh, hủy báng, có phản ứng lại thì đấy gọi là có bỏ ra và có nhận lại. Còn người nào bị nhục mạ giận đánh hủy báng, nhưng nhẫn nhục, không phản ứng lại thì gọi là có bỏ ra mà không có nhận lấy.
Ty-nghi nói:
–Này Cù-đàm, trước đây tôi nghe những vị Trưởng lão đạo đức

* Trang 367 *
device

kỳ cựu, đều nói: “Trên đời có Đức Phật là Bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, bị mạ lỵ ngay trước mặt vẫn không sanh phiền não”.  Nay tôi nhục mạ Ngài, tâm Ngài vẫn an định không dấy khởi phiền não.
Bấy giờ Thế Tôn nói kệ:
Người không còn phẫn nộ
Làm sao còn nổi sân
Bậc Điều Thuận Chánh Mạng
Không sân, ngươi nên biết
Bị giận không trả giận
Vì sợ tranh không thắng
Thắng nhưng không phản ứng
Đó gọi là Thượng sĩ
Không sân thắng được sân
Hành thiện thắng bất thiện
Bố thí không xan tham
Nói thật thắng dối trá
Người không sân không hại
Thường gần gũi Hiền thánh
Thân cận những kẻ ác
Chứa giận như núi đồi
Phẫn nộ như ngựa cuồng
Chế phục bằng roi cương
Roi cương chưa vững chắc
Chế tâm mới vững bền
Thế nên Ta ngày nay
Là Bậc Thiẹân Điều Thừa.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
76. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.

* Trang 368 *
device

Bấy giờ Đức Thế Tôn đang kinh hành nơi đất trống, bên ngoài Kỳ-hoàn. Bà-la-môn Đột-la-xà tánh tình hung ác, đến gặp Đức Phật, ngay trước mặt Ngài, nói lời thô ác nhục mạ, bày tỏ sự phẫn nộ, thêm lời hủy báng, mong Phật xấu hổ.
Khi thấy sự việc này, Đức Phật vẫn im lặng như cũ.
Bà-la-môn Đột-la-xà thấy Phật im lặng, lại lên tiếng:
–Ông im lặng nên ta biết ông đã bị thua rồi.
Đức Như Lai nói kệ:
 Người từ bỏ thắng thua
Luôn an ổn, tịch diệt.
Bà-la-môn thưa:
–Thưa Cù-đàm, con thật có lỗi, như trẻ con ngu si vô trí, làm điều bất thiện. Nay con đã tự biết, cầu xin Thế Tôn cho con sám hối.
Đức Phật bảo Bà-la-môn:
–Ngươi mắng chửi ngay trước mặt Đức Như Lai A-la-ha Tam-miệu-tam Phật-đà, bằng mọi cách phỉ báng, xúc phạm. Ngươi thật ngu si, mê lầm, vô trí nên đã hành động bất thiện. Ta theo lời cầu xin, cho ngươi sám hối, để ngươi được tăng trưởng các pháp thiện, không thoái lui trong việc tu tập.
Sau khi được sám hối, Bà-la-môn rất hoan hỷ, đảnh lễ Phật, rồi từ giã.
77. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Đức Thế Tôn vào sáng sớm, đắp y bưng bát vào thành khất thực. Bà-la-môn Đột-la-xà từ xa thấy Thế Tôn, vội vàng chạy đến trước mặt Đức Phật, buông lời nhục mạ, hủy báng Thế Tôn, xúc phạm bằng nhiều cách. Ông ta lại bốc đất muốn làm nhơ Phật. Nhưng đất ấy bị gió thổi bay mất, không làm bẩn được Đức Phật.
Đức Như Lai thấy việc này bèn nói kệ:
Phẫn nộ ngang ngược, người không sân
Hủy báng mắng chửi, người thanh tịnh

* Trang 369 *
device

Cũng như đập đất tự nhơ thân
Ví như nông phu trồng nơi ruộng
Trồng loại cây nào hái trái ấy
Người gây nhân nào hưởng quả đó.
Bà-la-môn thưa:
–Con thật có lỗi, ngu dại vô trí, nên hành động bất thiện. Cầu mong Đức Như Lai cho con sám hối.
Đức Phật dạy:
–Ngươi đối với Đức Như Lai A-la-ha Tam-miệu-tam Phật-đà mắng chửi ngay mặt, hành động ấy rất là ngu si. Theo lời thỉnh cầu, Ta thể niệm lòng Từ nhận sự sám hối của ngươi, để ngươi được tăng trưởng trong pháp thiện không thoái chuyển.
Vị Bà-la-môn được Đức Phật hứa chấp thuận, nên hoan hỷ từ giã.
78. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật du hóa ở nước Câu-tát-la, trở về khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
   Có Bà-la-môn tên Phản Liệt, nghe Đức Thế Tôn du hóa từ nước Câu-tát-la trở về nước Xá-vệ nơi khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc. Vị ấy tự nghĩ: “Ta nên đến gặp Sa-môn Cù-đàm, ông ấy nói gì, ta sẽ nói ngược lại.”
Bà-la-môn ấy nghĩ thế rồi, bèn đi đến chỗ Đức Phật. Bấy giờ có ngàn ức người vây chung quanh Thế Tôn để nghe giảng pháp. Thế Tôn từ xa thấy vị Bà-la-môn kia đi tới, liền im lặng không nói nữa.
Bà-la-môn đến chỗ Đức Phật, hỏi:
–Vì sao không nói pháp, ta muốn nghe.
Đức Thế Tôn liền nói kệ:
Kẻ tìm cầu lỗi người
Ý muốn chê chỗ dở
Tâm ngươi không thanh tịnh
Phẫn nộ luôn tức tối
Có nghe pháp Phật dạy
Không bao giờ hiểu rõ

* Trang 370 *
device

Tùy thuận, xa tranh cãi
Từ bỏ tâm bất tín
Xa lìa những não hại
Và tư tưởng ganh ghét
Người nào được như vậy
Ta vì họ giảng pháp.
Bà-la-môn tự nghĩ:
–Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm niệm của ta.
Ông ta liền đứng dậy lễ Phật, thưa:
–Con thật có lỗi, đã có ý nghĩ bất thiện, cầu mong Thế Tôn cho con sám hối.
Thế Tôn vì thương xót nên nhận sự sám hối này. Phản Liệt hoan hỷ, đảnh lễ rồi cáo từ.
79. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Bấy giờ có thanh niên tên Vô Hại đến chỗ Phật thăm hỏi về sức khỏe, sau khi thăm hỏi, ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Thưa Cù-đàm, tôi tên Vô Hại, vậy nhờ tên này có được vô hại không?
Đức Phật dạy:
–Thân, khẩu, ý của ngươi đều không sanh hại, nên mới gọi là vô hại.
Thế Tôn nói kệ:
Thân, miệng và ý
Đều không hủy hại
Thế nên gọi ngươi
Tên là Vô Hại.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

* Trang 371 *
device

80. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vào sáng sớm, Đức Thế Tôn đắp y cầm bát vào thành Xá-vệ, theo thứ lớp khất thực, đến nhà đại Bà-la-môn Bà-la-đột-la-xà.
Khi ấy Bà-la-môn rửa tay thật sạch, nhận lấy bát của Phật đặt đầy thức ăn thơm ngon, dâng lên Thế Tôn.
Ngày thứ hai, ngày thứ ba, Thế Tôn cũng lần lượt khất thực đến nhà Bà-la-môn Bà-la-đột-la-xà. Bà-la-môn này nghĩ:  “Nay Sa-môn đã cạo bỏ râu tóc này thường đến đây khất thực, như người quen cũ của ta”.
Bấy giờ Đức Phật biết ý nghĩ của Bà-la-môn ấy nên nói kệ:
Trời mưa luôn nhiều trận
Ngũ cốc nhiều loại chín
Đạo nhân thường khất thực
Đàn việt thường cúng dường.
Thường thường sanh cõi trời
Thường luôn thọ quả báo
Phụ nữ thường mang thai
Luôn thường sanh con cháu
Thường thường vắt sữa bò
Thường luôn được tô lạc
Nhiều lần thọ đời sống
Nhiều lần bị diệt tận
Nhiều lần về cõi chết
Nhiều lần buồn khổ não
Lại nhiều lần bị thiêu
Nhiều lần chôn nơi mộ
Cắt đứt đường sanh tử
 Thì dừng mọi lưu chuyển
Nếu không còn tái sanh
Và không còn chết nữa
Không còn phải khổ ưu
Và không còn than khóc.

* Trang 372 *
device

Khi ấy Bà-la-môn
Nghe nói kệ này xong
Tâm sanh tín tối thượng
Rất hoan hỷ, vui mừng
Liền lấy bát Thế Tôn
Đặt đầy thức ăn ngon
Muốn dâng lên Đức Phật
Phật không nhận bát này
Ngài không nhận cúng dường
Sau khi giảng kệ pháp.
Bà-la-môn bạch Phật:
Bạch Thế Tôn, thức ăn con cúng dường dâng lên Như Lai, Thế Tôn không nhận, sẽ đem cho ai?
Phật dạy:
–Ta không thấy Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc Ma, Phạm nào ăn thức ăn này mà có thể tiêu hóa được. Nên bỏ thức ăn này vào chỗ nước không có trùng, chỗ cỏ xanh không có trùng.
Bà-la-môn vâng lời Phật dạy, đem thức ăn ấy bỏ vào nước không trùng. Ngay khi đó lửa khói bốc cháy, nước sôi khuấy động phát ra tiếng kêu to.
Bà-la-môn nhận xét:
–Sa-môn Cù-đàm thị hiện thần túc thật là hy hữu, với một chút thức ăn vẫn tạo ra những thần biến.
Thấy sự việc ấy xong, vị ấy trở về gặp Đức Phật, đảnh lễ dưới chân, bạch:
–Cầu mong Thế Tôn cho phép con xuất gia.
Phật dạy:
–Thiện lai Tỳ-kheo!
    Vị ấy râu tóc tự rụng, thân mặc pháp y, trở thành Sa-môn, đắc giới cụ túc. Vị Tộc tánh tử ấy tin chắc nhà ở đời chẳng phải là nhà đích thực nên bỏ nhà học đạo, ngày đêm tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác, chí niệm kiên cố luôn thể hiện rõ, việc làm đã xong, phạm hạnh đã lập, tự thân tác chứng, không còn thọ thân sau, thành A-la-hán, tâm đạt giải thoát.

* Trang 373 *
device

81. Tôi nghe như vầy:
     Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
    Trong thành Xá-vệ, Bà-la-môn nữ là Bà-tư-tra phát tâm thanh tịnh, tin Phật, Pháp, Tăng; tận tín quy y Tam bảo, đối với Khổ, Tập, Diệt, Đạo không còn nghi ngờ, thấy được diệu lý Tứ đế, chứng quả thứ nhất, nhận rõ các pháp bình đẳng.
    Chồng cô ta là Bà-la-môn Bà-la-đột-la-xà. Đang quỳ gối dưới đất làm việc cho chồng, cô tự đứng dâïy chắp tay hướng về chỗ Phật, nói lên:
–Nam-mô Phật-đà Như Lai Chí Chân Chánh Đẳng Giác, màu sắc vàng ròng, hào quang một tầm, thân thể đoan chính như cây Ni-câu-đà, thuyết pháp đệ nhất, vị Tiên thánh giải thoát thế hùng thứ bảy, Đức Thế Tôn của con.
Khi nghe vợ nói lời ấy, người chồng Bà-la-môn lòng rất phẫn nộ, lên tiếng mạ lỵ:
–Ngươi là kẻ điên cuồng Chiên-đà-la. Ai đã bỏ thuốc độc cho kẻ Chiên-đà-la ngu si này. Chẳng có ai quá ư hạ tiện như ngươi cả. Ngươi đối với hàng đại Bà-la-môn giỏi Tam minh không chịu cung kính, lại đi kính lễ kẻ đầu cạo nhẵn, gầy ốm đen thui ấy. Ngươi lại hết sức tán thán vị Sa-môn ấy như là Da-na-la-diên đoạn nhân chủng. Nếu ngươi quá tin tưởng nơi họ thì ngay bây giờ ta thỉnh thầy ngươi đến bàn luận cùng ta.
Người vợ trả lời:
–Thiếp chưa bao giờ thấy Sa-môn, Bà-la-môn hoặc Trời, Ma, Phạm nào có thể tranh luận với Đức Phật.
Người vợ lại nói:
–Nam-mô Phật-đà Như Lai Chí Chân Chánh Đẳng Giác, sắc tướng như vàng ròng, thân thể đoan nghiêm, hào quang một tầm, như cây Ni-câu-đà, thuyết pháp bậc nhất, Bậc Thế hùng giải thoát Tiên thánh thứ bảy, Đức Thế Tôn của con.
Ông có thể đi tới chỗ Phật đi!
Bà-la-môn bèn đến gặp Đức Phật, sau khi thăm hỏi, ngồi qua một bên, nói kệ hỏi:

* Trang 374 *
device

Phá bỏ vật gì được ngủ yên?
Dứt được pháp gì khỏi lo buồn?
Có một pháp gì trừ diệt chết?
Sa-môn Cù-đàm giảng cho ta.
Thế Tôn nói kệ đáp:
Phá bỏ phẫn nộ được ngủ yên
Trừ được phẫn nộ khỏi lo buồn
Phẫn nộ đối thân gây chết hại
Như vậy mọi người cần phải biết
Diệt trừ sân hận thánh ngợi khen
Diệt hết phẫn nộ không lo buồn.
    Đức Phật vì vị Bà-la-môn ứng cơ thuyết pháp, chỉ dạy khiến cho vui mừng, đạt lợi ích. Ngài lần lượt giảng dạy các pháp về bố thí, trì giới, sanh thiên, dục là bất tịnh, nguồn gốc của khổ não, giải  thoát là an lạc, chỉ dạy rộng những pháp toàn thiện, thanh tịnh.
Bà-la-môn nghe lời Phật dạy, tâm mở ý thông, hết sức hoan hỷ.
    Đức Phật biết chàng thanh niên này tâm ý đã điều hòa, bày tỏ sự hoan hỷ vô cùng, ấy là tâm không còn nghi ngờ, có thể thọ trì giáo pháp, nên Ngài giảng dạy giáo pháp có thể lãnh hội được, như pháp của chư Phật là giảng bốn Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo, giảng giải rộng.
     Bà-la-môn Đột-la-xà nghe lời Phật dạy, như tấm vải trắng dễ nhuộm màu, ngay tại chỗ ngồi lãnh hội bốn chân đế, thấy rõ các pháp, đạt đến cảnh giới chân thật của pháp, vượt qua bờ nghi ngờ, bằng khả năng của mình, đắc vô sở úy, liền rời chỗ ngồi, chắp tay hướng Phật, bạch:
–Thưa Thế Tôn, con đã thoát ly nghi ngờ, muốn quy y Phật, Pháp, Tăng bảo, nguyện trọn đời làm vị Ưu-bà-tắc, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.
Vị Bà-la-môn ấy, ngay tại chỗ Phật, được lòng tin kiên cố, bèn lễ Phật rồi trở về nhà.
Người vợ thấy chồng về, vẫn tán thán Đức Phật như trước và hỏi:
–Thầy tôi như vậy, ông có nói chuyện với Ngài không?

* Trang 375 *
device

Chồng trả lời:
–Ta không thấy Sa-môn, Bà-la-môn, Trời, Quỷ, Phạm nào trong thế gian này có thể luận nghị bằng Đức Phật.
Chồng lại bảo vợ:
–Hãy mang áo lại đây cho ta.
Người vợ đưa áo, chồng nhận lấy, đi đến chỗ Phật, lạy sát chân Phật, ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, cho con được xuất gia học đạo trong Phật pháp.
Đức Phật cho phép, sai một Tỳ-kheo, độ cho xuất gia.
Sau khi vị ấy xuất gia, sống theo pháp xuất gia, tự mình luôn tinh tấn, như trong kinh Bà-la-đột-la-xà đã nói… cho đến tâm được giải thoát, chứng A-la-hán.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.

82. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Có một Bà-la-môn tên Ma-khư đến gặp Đức Phật, sau khi thăm hỏi, ngồi qua một bên.
Bấy giờ Ma-khư bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, hiện nay trong nhà con, nếu có một người đến, ba người đến, nhiều người đến, con đều bố thí cho họ. Thưa Đức Cù-đàm, con bố thí như vậy có được phước lớn không?
Đức Phật đáp:
–Thật có được phước lớn. Bố thí cho một người hay bố thí cho nhiều người, được vô lượng a-tăng-kỳ phước.
Bà-la-môn Ma-khư nói kệ:
Nay con thích bày lễ
Bố thí và bố thí
Vì cầu được phước đức
Con xin hỏi Mâu-ni
Xin Phật giảng giải cho
 Con xin thưa Thế Tôn

* Trang 376 *
device

Cùng Phạm thiên, Đế Thích
Làm sao được giải thoát
Làm sao đến các nẻo
Làm sao đến Phạm thiên
Như thế nào lễ đúng
Và cúng tế thế nào
Được sanh cõi Phạm thiên
Sống lâu dài vô tận.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Khi muốn lập tế đàn
Phải hoan hỷ bố thí
Làm thiện ba thời rồi
Nhờ thiện, tâm hoan hỷ
Tùy thiện, an tâm thí
Đều xa lìa lỗi lầm
Khéo trừ sạch tham dục
Đoạn được dục, giải thoát
Nếu tu Từ vô lượng
Gọi là tế đầy đủ
Liền được tâm trọn vẹn
Được sanh vào nẻo thiện
Người tế đàn như vậy
Gọi là tế chân chính
Được sanh cõi Phạm thiên
Thọ mạng rất lâu dài.
Bà-la-môn Ma-khư nghe lời Phật dạy, làm lễ từ giả, hoan hỷ phụng hành.
83. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Khi ấy Bà-la-môn Sát-lợi Ba-la-tỳ-không, đến chỗ Phật, thăm hỏi rồi ngồi qua một bên, nói kệ:

* Trang 377 *
device

Sát-lợi đã tu nhiều pháp khổ
Vẫn không được tên là thanh tịnh
Bà-la-môn đọc ba Vị-đà
Như vậy được tên là thanh tịnh
Đức Thế Tôn nói kệ đáp:
Ông cho là thanh tịnh
Kỳ thật là bất tịnh.
Bà-la-môn hỏi Phật:
–Ngài giảng về đạo thanh tịnh, cũng giảng dạy về sự thanh tịnh vô thượng. Vậy thế nào là đạo thanh tịnh? Thế nào là thanh tịnh vô thượng?
Đức Phật nói kệ đáp:
Khô sạch bùn lầy dục
Làm khô cả sân, si
Gọi là tịnh vô lượng
Chánh kiến, chánh tư duy
Chánh ngữ và chánh nghiệp
Chánh mạng cùng chánh chí
Chánh niệm và chánh định
Pháp này, Bà-la-môn
Gọi là đạo thanh tịnh
Luôn luôn tập chánh quán
Thường thường tu chánh định
Pháp huy pháp chánh định
Đoạn trừ mọi tham dục
Và đoạn sân hận si.
Vị Bà-la-môn nói:
–Ngài đã nói về con đường thanh tịnh, cũng nói về sự thanh tịnh vô lượng, nay tôi còn bận nhiều gia sự, xin từ giã trở về.
Đức Phật nói:
–Này Bà-la-môn, hãy làm việc đúng lúc!
Bà-la-môn nghe Phật giảng dạy, hoan hỷ làm lễ từ giã.

* Trang 378 *
device

Kệ tóm lược:
Đệ nhất A-tu-la
Ty-nghi, hai sân mạ
Phản liệt và Vô hại
 La-xà, Bà-tư-tra
Ma khư và Sát-lợi
Đây gọi là mười loại.

* Trang 379 *
device

 
Đại Tập VII, Bộ A- Hàm VII, Kinh Tạp A- Hàm Số 3