LOGO VNBET
                                                                 BIỆT DỊCH KINH TẠP A-HÀM
                                                                                        QUYỂN V

                                                                                 TỤNG 1: Phần 5
84. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
    Có một Bà-la-môn đến gặp Phật, sau khi chào hỏi, ngay trước Ngài, nói kệ:
Đầy đủ những giới nào
Uy nghi không khuyết giảm
Tu tập những nghiệp gì
Thành tựu những pháp gì
Mà được gọi tên là
Bà-la-môn ba minh?
Thế Tôn nói kệ đáp:
Biết rõ được túc mạng
Thấy trời và cõi ác
Tận cùng nghiệp sanh tử
Ba thông và ba minh
Tâm đắc thiện giải thoát
Đoạn dục và tất cả
Thành tựu ba minh trên
 Ta gọi là ba minh.
Bấy giờ vị Bà-la-môn nghe lời Phật dạy, vui mừng hoan hỷ, từ giã ra về.
85. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.

* Trang 380 *
device

Vào sáng sớm, Đức Phật mặc y, bưng bát; A-nan theo hầu  Phật, hướng vào thành Xá-vệ.
     Khi ấy, trong xóm nghèo nàn có hai vợ chồng tuổi cao, già cả chống gậy bước đi run rẩy như con cò già. Đức Phật từ xa thấy, bảo A-nan:
–Ông có thấy hai vợ chồng rất già cả ở trong chỗ nghèo nàn không?
A-nan bạch Phật:
–Vâng, con thấy.
Đức Phật bảo A-nan:
–Người già này khi tuổi còn nhỏ, tại thành Xá-vệ là hàng Trưởng giả bậc nhất. Khi ấy nếu xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mặc pháp y, đã chứng A-la-hán. Khi họ tuổi trẻ, biết giữ gìn tiền tài, là Trưởng giả bậc nhì. Khi đó nếu họ xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mặc pháp y, đã chứng A-na-hàm. Nếu họ vào giai đoạn thứ ba của cuộc đời, chứa để tài sản, là Trưởng giả hạng ba. Khi ấy nếu họ cạo bỏ râu tóc, mặc pháp y, thì đã chứng Tu-đà-hoàn. Ngày nay, họ đã già cả, không thể làm ra của cải, cũng không thể tinh tấn, không thể chứng pháp của bậc Thượng nhân.
Bấy giờ Thế Tôn nói kệ:
Trẻ không tu phạm hạnh
Lại không chứa của tiền
Cũng như con cò già
Giữ cái ao trống không
Không siêng tu phạm hạnh
Khỏe không tạo tài sản
Già nhớ lại thời trẻ
 Như cung gãy bỏ không.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
86. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.

* Trang 381 *
device

Có một Bà-la-môn già, tuổi cao, thân thể suy yếu, ngày trước đã làm nhiều việc ác, rất tệ hại, hủy phạm giới cấm, không tin phước thiện, trước không làm phước, khi lâm chung không có chỗ nương nhờ, đến gặp Đức Phật. Sau khi thăm hỏi, ngồi qua một bên, vị ấy bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, ngày trước con làm nhiều điều ác rất tệ hại, hủy phạm giới cấm, không tu phước, không tu thiện, không tạo phước đức trước, đến nay sắp chết không chỗ nương nhờ.
Đức Phật nói:
–Đúng như lời ông nói.
Vị Bà-la-môn già thưa:
–Lành thay Cù-đàm, hãy giảng giải cho tôi, khiến cho tôi được an ổn lâu dài, được lợi ích thiết thực.
Đức Phật dạy:
–Đúng như ông nói, vào ngày trước, thân, khẩu, ý nghiệp của ông không làm thiện, hủy phạm giới cấm, không tu phước đức, không làm từ trước, đến khi sắp qua đời, tìm chỗ nương cậy. Ông ngày nay đã quá già, trước tạo các tội, hành động thô ác, không tạo phước nghiệp, không tu thiện hạnh, không chịu làm trước, đến khi bị sợ hãi, lại tìm chỗ quy y. Như có người khi sắp bị chết mới nghĩ đến việc chạy trốn, vào căn nhà an toàn để tự cứu mình. Những việc như vậy đều không thể được. Thế nên ngày nay thân, khẩu, ý phải làm việc thiện. Ai làm ba nghiệp thiện thì khi lâm chung, đó là căn nhà có thể chạy vào trú ẩn.
    Đức Phật nói kệ:
Đời người sống ngắn ngủi
Đều trở về cái chết
Tàn phá của già suy
Không ai có thể cứu
Thế nên phải sợ chết
Chỉ có vào Phật pháp
Và tu hành pháp thiện
Mới là chỗ quy y.
Đức Phật dạy như vậy.

* Trang 382 *
device

Kinh thứ hai không khác.  “Nên cầu chỗ quy y, Đại nhân nên tu thiện”.  Phần văn xuôi của kinh thứ ba không giống, kệ cũng không đồng. Kệ nói:
Trẻ mạnh và già suy
Ba thời đều đã qua
Mạng sống không còn bao
Thường bị khổ vì già
Gần đến cõi Diêm vương
Bà-la-môn muốn sanh
Chẳng biết ở chỗ nào
Người không có tư lương
Nên làm đèn sáng nhỏ
Y cứ vào tinh tấn
Trước trừ sạch các Sử
Sanh, lão, tử không còn.
87. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
    Có một Bà-la-môn già đến chỗ Phật, sau khi thăm hỏi, ngồi qua một bên, thưa:
–Bạch Thế Tôn, con nay già cả, từ xưa đến giờ chỉ tạo các điều ác, chưa từng làm phước, chưa từng tu thiện, lại cũng không thực hành các pháp, dốc xa lìa sự sợ hãi cùng cứu giúp che chở. Lành thay Cù-đàm, xin Ngài vì con mà thuyết pháp, để khi con qua đời có chỗ cứu giúp che chở, có chỗ để con làm ngôi nhà quy y, trú ẩn.
Đức Phật bảo Bà-la-môn:
–Thế gian bị đốt cháy. Cái gì đốt cháy? Đó là lão, bệnh, tử. Vì vậy thân, khẩu, ý cần phải tu thiện. Ông đã không tu thân, khẩu, ý theo thiện, nay nếu ông có thể tu thân, khẩu, ý theo thiện, nó chính là chiếc thuyền chở ông, đến khi ông chết nó cứu giúp che chở, làm nhà cho ông, là chỗ ông quy y trú ẩn.
Đức Phật nói kệ:

* Trang 383 *
device

Như nhà bị hỏa hoạn
Đốt cháy cả phòng xá
Hãy mau mang của báu
Ra khỏi chỗ lửa cháy
Lửa sanh, lão, bệnh, tử
Đốt cháy các chúng sanh
Cần phải tu bố thí
Cứu giúp người nghèo nàn
Vàng quý trong thế gian
Nạn vua, giặc, nước, lửa
Khi chết phải bỏ hết
Chẳng có gì theo người
Quả bố thí theo người
Nó là kho vững chắc
Vua, giặc và nước, lửa
Không thể xâm đoạt được
Xan tham không bố thí
Gọi là thường ngủ say
Bố thí giúp nghèo nàn
Đó gọi là giác ngộ.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
88. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Có thanh niên tên Ô-đáp, đến gặp Đức Phật. Sau khi thăm hỏi, ngồi qua một bên, chàng thưa với Ngài:
–Thưa Cù-đàm, tôi làm ra tài sản hợp pháp, cung cấp nuôi dưỡng cha mẹ, lại bằng cách hợp pháp hưởng thụ sự an lạc, giúp đỡ hợp lý, thế có được phước lớn không?
Đức Phật dạy:
–Này thanh niên, không chỉ riêng người, tất cả những ai làm ra

* Trang 384 *
device

tài sản một cách hợp lý, lại đem cung cấp cho cha mẹ hợp lý, hưởng thụ an lạc hợp lý, cung cấp hợp lý, đều được phước vô lượng. Tại sao? Nên biết rằng, người này chính là Phạm thiên ở trong nhà ấy, nếu cung cấp nuôi dưỡng cho cha mẹ một cách hợp lý. Cha mẹ là A-xà-lê ở trong nhà, nếu cung cấp cho cha mẹ một cách hợp lý, được hưởng thụ an lạc hợp lý thì tất cả mọi người đều hướng về kính trọng nhà ấy. Ai có thể cung cấp nuôi dưỡng cho cha mẹ một cách hợp lý, khiến cho an lạc hợp lý, giúp đỡ hợp lý, nên biết Đại thiên ở trong nhà người ấy. Ai cung cấp cho cha mẹ một cách hợp lý, cung cấp sự an lạc hợp lý, nên biết tất cả chư Thiên đều ở trong nhà người ấy. Tại sao vậy? Phạm thiên vương do cung cấp nuôi dưỡng cha mẹ một cách hợp lý nên được sanh cõi Phạm thiên. Ai muốn cúng cho A-xà-lê nên cúng dường cha mẹ, là cung cấp A-xà-lê. Ai muốn lễ bái, trước tiên nên lễ bái cha mẹ. Ai muốn thờ lửa, trước hết nên cúng dường cha mẹ. Ai muốn thờ trời, trước nên cúng dường cha mẹ, tức đã cúng dường chư Thiên.
Đức Phật nói kệ:
Phạm thiên và thần lửa
 A-xà-lê, chư Thiên
Ai muốn cúng dường họ
Nên phụng dưỡng mẹ cha
Đời này được tiếng thơm
Đời sau sanh Phạm thiên.
89. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Có thanh niên tên Ưu-tỳ-già đến gặp Phật, đảnh lễ thăm hỏi, ngồi qua một bên, thưa:
–Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn tạo dựng tài sản đúng pháp, tụ hợp bày tế đàn lớn, dạy người khác bày tế. Tế đàn như vậy, nên làm hay không làm?
Bấy giờ Thế Tôn nói kệ đáp:

* Trang 385 *
device

Ngựa mập và người mập
Bò mập, thức ăn ngon
Hơi thở mở cửa tế
Tế lớn sáu loại này
Việc làm tuy rộng lớn
Nhưng Tiên thánh chê bai
Dê đực và dê đen
Bò chúa và bò nhỏ
Tất cả sự sát sanh
Đều không phải tế cúng
Sát sanh là tà tế
Các thánh không thi hành.
Ai lập đàn tế đúng
Không não hại quần sanh
Không giết mạng hữu tình
Nếu tế không sát sanh
Là cúng tế chân chánh
Ai tế đàn như vậy
Đại tiên tất đến đó
Bố thí và tế đàn
Phải cung cấp cho người
Bố thí với tâm sạch
Thí đúng lúc, chỗ nào?
Nên thí thắng phước điền.
Thắng phước điền là ai?
Là bậc tu phạm hạnh
Ai thí vào chỗ ấy
Gọi cúng tế rộng lớn
Lập đại tế như vậy
Bằng tài sản hợp pháp
Nước sạch tự tay cho
Ai bố thí như vậy
Chư Thiên sanh kính tín
Là tự tha đều lợi
Tất được quả báo lớn

* Trang 386 *
device

Thiết tế lớn như vậy
Chỉ bậc trí làm được
Thường sanh tâm tin sạch
Cũng được tâm giải thoát
Não hại không phát sanh
Hưởng nhiều lạc thế gian
Được sanh vào thắng xứ
Đây gọi là người trí
Tổ chức đại tế đàn.
   Đức Phật dạy như vậy, thanh niên Ưu-tỳ-già nghe lời Phật dạy, hoan hỷ từ giã.
90. Tôi nghe như vầy:
  Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
   Có thanh niên tên Ưu-tỳ-già đến gặp Đức Phật đảnh lễ, thăm hỏi, ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Thế Tôn, Bà-la-môn tạo nên tài sản đúng pháp, gom lại tế lễ lớn, dạy người tế lễ. Sự tế lễ như vậy, nên làm hay không nên làm?
   Bấy giờ Đức Phật nói kệ:
Tổ chức tế đàn lớn
Không làm hại chúng sanh
Ai cúng tế như vậy
Là việc làm thanh tịnh
Gọi là tế an ổn
Bậc Phạm hạnh thọ nhận
Hiện đời trong thế gian
Tiếng thơm đồn rất xa
Chiến tranh xa nơi ở
Tế như vậy đáng khen
Chư Phật khen rất tốt
Tế đàn là cách tế
Bố thí bằng thanh tịnh

* Trang 387 *
device

Nên thí bậc Ứng cúng
Thí đúng lúc nơi nào?
Gọi là tế rộng lớn
Chỗ chư Thiên kính tin
Với tài sản đúng pháp
Tay rửa sạch tự cho
Ai cúng tế như vậy
Là tự lợi, lợi tha
Đều được quả báo lớn
Tế đàn lớn như thế
Chỉ bậc trí làm được
Phát tâm được tịnh tín
Và đắc tâm giải thoát
Não hại không gia tăng
Được tối lạc trong đời
Sanh vào nơi thắng xứ
Gọi là bậc Trí tuệ.
Đức Phật dạy như vậy, Ưu-tỳ-già nghe lời Phật dạy, hoan hỷ lãnh hội rồi từ giã.
91. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Có một thanh niên tên Phật-di đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, thăm hỏi, ngồi qua một bên, thưa:
–Bạch Thế Tôn, Ngài có bao nhiêu pháp dạy bảo người tại gia sống đời sống gia đình đạt được kết quả lợi ích và an lạc trong hiện tại?
Đức Phật dạy:
–Này thanh niên, có bốn pháp khiến cho người tại gia đạt được kết quả lợi ích và an lạc trong hiện tại. Thế nào là bốn? Một là siêng năng tinh tấn. Hai là thường giữ gìn các căn. Ba là gần gũi thiện tri thức. Bốn là nuôi dưỡng thân mạng một cách hợp lý.
    Thế nào là tinh tấn? Tùy theo khả năng làm nghề nghiệp mưu

* Trang 388 *
device

sanh trong gia đình, hoặc làm quan cho vua, hoặc làm nghề nông, hoặc kinh doanh, hoặc chăn nuôi, tùy theo công việc làm, siêng năng không biếng nhác. Gặp phải lạnh, nóng, gió, mưa, đói, khát hay no đủ, bị xúc chạm do ruồi muỗi mòng ong… tuy có khổ nhọc nhưng không bỏ công việc làm của mình, khiến cho hoàn thành, không nghĩ đến việc bỏ phế, đó gọi là tinh tấn.
   Thế nào là giữ gìn các căn? Vị tộc tánh tử tích lũy tài sản hợp pháp, đặt ra những cách thức để không bị vua, giặc, nước, lửa cướp đoạt, không bị kẻ thù ghét xâm phạm, không nuôi dưỡng nghịch tử. Đấy gọi là giữ gìn các căn.
   Thế nào là gần gũi bạn tốt? Tộc tánh tử gần gũi bạn tốt; bạn tốt này tư chất hiền lương, không gian xảo trộm cắp. Ai cùng với người này kết làm bạn thân thì sầu khổ chưa sanh khiến cho không sanh; sầu khổ đã sanh khiến cho trừ diệt; hỷ lạc chưa sanh khiến cho phát sanh; hỷ lạc đã sanh thì khiến cho không mất. Đây gọi là gần gũi bạn tốt.
    Thế nào là nuôi dưỡng thân mạng một cách hợp lý? Tộc tánh tử biết rõ tài sản của mình, xem xét nhiều ít để sử dụng một cách điều độ, thu nhiều hơn chi, không sử dụng phung phí. Như người ăn trái Ưu-đàm, khi mới ăn thì trên cây còn rất nhiều, khi ăn ngủ say bảy ngày, tỉnh dậy mới biết là đã hết trái. Phải sử dụng tài sản hợp lý, trung bình giữa phung phí và keo kiệt. Ai có tiền tài không chịu ăn mặc, không chịu bố thí, sử dụng quá keo kiệt, mọi người đều nói: “Người như vậy chết như chó chết”, phải tự trù tính, không xa hoa, không eo kiệt. Đấy gọi là nuôi dưỡng thân mạng một cách hợp lý.
    Người thanh niên lại bạch Phật:
–Tu hành những pháp gì khiến cho người tại gia đời này thọ hưởng lợi ích, đời sau được phước?
Đức Phật bảo thanh niên:
–Có bốn pháp khiến cho thu đạt được phước bảo ấy. Những gì là bốn? Đó là Tín, Giới, Thí và Văn tuệ. Thế nào là Giới? Thường thực hành không sát sanh cho đến không uống rượu.
  Thế nào là Thí? Bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn, Sư trưởng, cha mẹ, người nghèo cùng, người đi xin… các thứ y phục, thức ăn, giường,

* Trang 389 *
device

nệm nằm, thuốc trị bệnh, các loại nhu cầu, hết sức bố thí. Đây gọi là Thí.
    Thế nào là Văn tuệ? Tức trí tuệ do học hỏi tìm hiểu mà có. Đó là nhận thức như thật về khổ, tức nhận thức về Khổ đế; nhận thức như thật về nguyên nhân của khổ, tức nhận thức về Tập đế; nhận thức như thật về con đường diệt khổ, tức nhận thức về Đạo đế; nhận thức như thật về sự diệt khổ tức nhận thức về Diệt đế. Đây gọi là Văn tuệ đầy đủ.1
   Bấy giờ Đức Thế Tôn nói kệ:
Nhiệt tâm tạo sự nghiệp
Siêng giữ gìn không mất
Gần gũi với bạn lành
Thường nuôi mạng hợp lý
Tín, giới, thí, văn tuệ
Trừ bỏ hết sân tham
Người nào làm như vậy
Mau đạt đạo thanh tịnh
Như vậy tám pháp này
Được lợi, vui hiện tại
Và trong đời tương lai
Hưởng an lạc cõi trời.
Đức Phật dạy như vậy, thanh niên Phật-di nghe lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
92. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại vườn Am-bà-la, thuộc nước Di-hy-la. Bấy giờ nữ Bà-la-môn Bà-tư-tra có đứa con thứ sáu vừa chết. Vì con chết nên tâm ý bà ta như điên loạn, lõa lồ cuồng chạy… chạy dần mãi đến vườn Am-bà-la ở Di-hy-la.
    Lúc ấy Đức Thế Tôn đang thuyết pháp cho vô số đại chúng vây quanh. Nữ Bà-la-môn Bà-tư-tra từ xa thấy Thế Tôn, tâm ý phục hồi
_________________________________
1. Thiếu một chi tín; xem Tạp 89-A.8.55

* Trang 390 *
device

 bình thường, xấu hổ ngồi thụt xuống đất. Đức Phật bảo A-nan:
–Ông hãy đưa y Uất-đa-la-tăng cho bà ta và dẫn đến đây, Ta sẽ giảng pháp.
   A-nan vâng lời, đưa y Uất-đa-la-tăng. Nữ Bà-la-môn Bà-tư-tra nhận y mặc vào, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ dưới chân. Đức Thế Tôn vì nữ Bà-la-môn thuyết giảng giáo pháp, chỉ dạy, khiến đạt lợi ích, hoan hỷ. Như thuở xưa chư Phật đã giảng các pháp quan trọng, Ngài giảng về bố thí, trì giới, sanh thiên, dục là bất tịnh, nguồn gốc của khổ não, giải thoát là an lạc. Đức Thế Tôn giảng rộng giáo pháp, biết tâm bà sắp thoát mọi trói buộc che phủ, nên Ngài giảng về bốn Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
    Vị nữ Bà-tư-tra này thông minh lãnh hội nhanh, nghe pháp có thể thọ trì, như tấm vải trắng dễ nhuộm màu, Bà-tư-tra ngay tại chỗ đã nhận rõ bốn chân đế, thấy pháp, đạt pháp, vượt khỏi bờ nghi, tự mình chứng pháp, không hiểu theo người, chứng tín không thoái chuyển; ở trong pháp Đức Phật dạy, đắc vô sở úy. Bà liền rời chỗ ngồi, chắp tay lạy Phật, thưa:
–Bạch Thế Tôn, nay con đã vượt qua ba ác, trọn đời con xin quy y Tam bảo, làm vị Ưu-bà-di, trọn đời chánh tín thanh tịnh không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.
  Nữ Bà-la-môn nghe pháp hoan hỷ, lễ Phật rồi từ giã.
   Vào lúc khác, Bà-tư-tra bị chết đứa con thứ bảy, tâm không ưu sầu, không khổ não cũng không thương nhớ đến nỗi chạy cuồng loạn như trước.
Khi ấy người chồng là Ba-la-đột-la-xà nói kệ hỏi:
Xưa,  khi nàng mất con
Nhớ thương rất đau khổ
Sầu muộn trói tâm ý
Bỏ luôn cả uống ăn
Nay đứa con thứ bảy
Bị bệnh vừa chết đi
Nàng là người từ mẫu
Tại sao không nhớ thương?

* Trang 391 *
device

Bà-tư-tra nói kệ đáp lời chồng:
Vô lượng kiếp đến nay
Thọ thân không bờ bến
Do ân ái cho nên
Con cháu nhiều vô số
Thọ thân khắp nơi nơi
Bỏ mạng không phải một
Trong đường dài sanh tử
Chịu khổ vô cùng rồi
Ta đã thấy rõ đường
Đến đi của sanh tử
Thế nên ngày hôm nay
Không ý niệm sầu khổ.
Người chồng Bà-la-môn lại nói kệ:
Như lời nàng vừa nói
Xưa nay chưa được nghe
Nhờ ai nàng tỏ ngộ
Mà không còn ưu tư?
Bà-tư-tra nói kệ đáp:
Bà-la-môn nên biết
Trước đây Đức Chánh giác
Ở nước Di-hy-la
Trong vườn Am-bà-la
Giảng đoạn tất cả khổ
Và con đường diệt khổ
Tu bát thánh đạo phần
An ổn đắc Niết-bàn.
Bà-la-môn lại nói kệ:
Nay ta cũng muốn đến
Trong vườn Am-bà-la
Thưa hỏi Đức Thế Tôn
Cách trừ khổ nhớ con.
Bà-tư-tra lại nói kệ:

* Trang 392 *
device

Thân Phật chân kim sắc
Ánh sáng chiếu một tầm
Đoạn sạch các phiền não
Vượt trên bờ tử sanh
Đại Đạo Sư như vậy
Điều phục được tất cả
Chúng sanh nhờ ngài độ
Nên hiệu là Chân Tế
Nay chàng hãy đi mau
Đến gặp Đức Phật-đà.
    Vị Bà-la-môn nghe lời vợ nói, vô cùng hoan hỷ, tức thời lên xe đến khu vườn kia. Từ xa thấy Đức Thế Tôn uy quang sáng rực, vị ấy càng sanh tâm cung kính. Đến rồi đảnh lễ, ngồi qua một bên. Đức Phật với tha tâm trí quán sát tâm vị ấy, biết đã thuần thục, Ngài liền giảng về Khổ, Tập, Diệt, Đạo và Bát chánh đạo. Những pháp này có thể đưa đến Niết-bàn.
    Vị Bà-la-môn sau khi nghe pháp ấy, giác ngộ bốn chân đế, được thấy pháp liền xin xuất gia. Đức Phật cho phép. Vị ấy sau khi xuất gia tinh tấn tu hành, chỉ trong ba đêm, đắc đủ ba minh. Đức Phật ghi nhận vị ấy chứng A-la-hán, nên đổi tên là Thiện Sanh.
   Thiện Sanh sau khi chứng ba minh, bảo người đánh xe Bà-la-đề:
–Ông hãy mang chiếc xe quý giá này về nhà, bảo với Bà-tư-tra: Đối với ta, nàng có thể sống tự do tùy ý. Tại sao? Nay Đức Phật giảng bốn Thánh đế cho ta, ta đã xuất gia chứng được ba minh. Thế nên nàng đối với ta phải sanh lòng tin thanh tịnh.
Khi Bà-la-đề đem xe về nhà, Bà-tư-tra thấy xe liền hỏi:
–Chồng ta có gặp Đức Phật không?
Người đánh xe thưa:
–Ông chủ ngay tại chỗ ngồi đã thấy rõ bốn chân đế. Sau khi thấy rõ bốn chân đế, ông cầu xin xuất gia, Đức Phật đã cho người xuất gia. Sau khi xuất gia chỉ trong ba đêm đã chứng quả A-la-hán.
Người vợ bảo với người đánh xe:
–Nay ngươi hãy truyền rộng tin tức này ra. Ta thưởng cho ngươi ngựa và ngàn tiền vàng.
Người đánh xe thưa:

* Trang 393 *
device

–Nay tôi không cần ngựa và tiền vàng, chỉ muốn đến gặp Đức Phật để nghe diệu pháp.
Bà-tư-tra nói:
–Ngươi được như vậy rất là toàn hảo. Nếu ngươi xuất gia sẽ mau đạt đạo quả A-la-hán.
Bà-tư-tra bảo với con gái:
–Con khéo quản lý gia đình, thọ hưởng năm dục lạc, ta muốn xuất gia
Người con tên là Tôn-đà-lợi, thưa với mẹ:
–Cha con có thể từ bỏ năm dục lạc, xuất gia cầu đạo. Nay con cũng nên theo đó xuất gia, xa lìa tâm niệm về anh em quyến thuộc, như voi lớn đi, voi nhỏ đi theo, con cũng như vậy, sẽ xuất gia theo, ôm bát đất đi khất thực. Con có thể tu hành đối với pháp dễ nuôi sống, chứ không sống một cách khó nuôi dưỡng.
Bà-tư-tra nói:
–Sự ưa muốn của con thật là tốt đẹp toàn thiện, nguyện này chắc chắn thành tựu. Ta xem con không bao lâu sẽ đoạn sạch dục vọng, xa lìa những thứ trói buộc.
   Bấy giờ Bà-la-môn Bà-la-xà, Bà-tư-tra và Tôn-đà-lợi giúp đỡ nhau, đồng thời xuất gia, đều đoạn trừ sạch những cảnh giới đau khổ.
93. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu rừng Đại lâm, thuộc nước Tỳ-xá-ly. Khi ấy Đức Như Lai mặc y, bưng bát vào thành khất thực, sau khi thọ trai, thu xếp y bát, rửa chân, ngồi dưới gốc cây, trụ vào thiền định.
    Có một Bà-la-môn tên Uất-thấu-la Đột-la-xà bị mất bò sữa đã sáu ngày, tìm khắp nơi nhưng vẫn chưa gặp. Ông ta tiếp tục tìm kiếm, nên vào rừng Đại lâm, từ xa thấy Đức Như Lai ngồi bên gốc cây, dung mạo đặc biệt, các căn tịch định, tâm ý điềm tĩnh, điều phục tâm ý đạt đến chỗ tối thượng, như lầu bằng vàng, ánh sáng rực rỡ. Thấy như thế, ông ta bèn đến chỗ Đức Phật, đứng trước mặt Ngài nói kệ:
Vui gì Tỳ-kheo độc cư tịnh
Tư duy như vậy đắc được gì?

* Trang 394 *
device

Đức Phật nói kệ đáp:
Đối với việc được thua
Ta không còn vui sầu
Người đừng cho là ta
Giống như người không khác.
Bà-la-môn lại nói kệ:
Trong này đúng là Phạm trú xứ
Thật như Tỳ-kheo đã nêu bày
Tôi muốn hỏi về việc trong nhà
Xin ngài nghe cho lời tôi nói:
Sa-môn Ngài đang ngồi
Yên tịnh giữa rừng cây
Không như tôi mất bò
Đã sáu ngày đau khổ
Nên biết Sa-môn này
Thật là vui tịch nhiên
Người cũng không trồng lúa
Chẳng lo phải tưới nước
Cũng chẳng lo lúa gạo
Có xuất nhập hay không
Những nỗi khổ như vậy
Người từ bỏ đã lâu,
Người cũng không trồng mè
Nên không sợ cỏ hoang
Người cũng đã không có
Khổ não của cày bừa
Nên biết Sa-môn này
Thật hưởng vui tịch nhiên.
Nhà tôi có nệm cỏ
Dùng trải qua bảy tháng
Trong nệm có trùng độc
Bọ cạp chích khổ não
Sa-môn không việc ấy
Ngài thật là an lạc.

* Trang 395 *
device

Ngài không có bảy con
Hoang tàng khó dạy dỗ
Buôn bán mắc nợ người
Ngài không có việc ấy
Sa-môn thật an lạc,
Ngài không, tôi có bảy
Con gái đều có chồng
Có con hoặc không con
Chồng chết đều về nhà
Ngài không khổ việc ấy
Nên biết Sa-môn vui,
Vì không có chủ nợ
Sáng sớm đã tới cửa
Để đòi số nợ kia
Không có những việc ấy
Sa-môn thật là vui,
Ngài không có nhà hư
Nhiều lu vò trống rỗng
Trong đó chuột giỡn nhau
Đụng vật phát ra tiếng
Nhiễu loạn tôi mất ngủ
Suốt đêm nghỉ chẳng yên.
Ngài không có vợ ác
Xấu xí mắt trợn trừng
Nửa đêm đã bắt dâïy
Sớm chiều mắng chửi luôn
Hoặc than nhà khổ lạnh
Hoặc than mắc nợ người
Sa-môn không việc này
Nên biết Ngài thật vui.
Thế Tôn nói kệ:
Bà-la-môn nên biết
Lời ngươi rất thành thực
Ta không bò bị trộm

* Trang 396 *
device

Đã trải qua sáu ngày
Ta không có việc ấy
Nên thật là an lạc
Ta thật không lúa ruộng
Mà lo toan thiếu nước
Lại không lo lúa gạo
Có thu hoạch hay không
Ta không có khổ ấy
Thường biết là an lạc.
Ta không ruộng trồng mè
Bị cỏ mọc hoang sơ
Ta không lo việc ấy
Nên sống thật an lạc.
Ta không có nệm cỏ
Dùng  đến bảy tháng dài
Sanh trùng độc, bò cạp
Cắn đốt khổ cả nhà
Ta hông có việc này
Nên sống thật an lạc.
Ta không có bảy con
Ngang ngược khó dạy bảo
Tự gây ra nợ nần
Bị người khác chèn ép,
Ta không bảy con gái
Có con hay không con
Chồng chết về nhà ở
Ta không có khổ ấy.
Ta không có chủ nợ
Sáng sớm đến gõ cửa
Yêu sách đòi nợ nần,
Lại không có nhà hư
Khắp nơi lu trống rỗng
Chuột giỡn đùa bên trong
Đụng nhau gây tiếng động
Nhiễu loạn Ta bỏ ngủ

* Trang 397 *
device

Suốt đêm ngủ không yên
Ta không có vợ ác
Xấu xí mắt vàng khè
Nửa đêm lôi thức dậy
Sáng chiều mắng chửi luôn
Hoặc than nhà nghèo khổ
Kể lể nợ người ta
Khổ này Ta không có
Nên sống thật an lạc.
Bà-la-môn nên biết
Ngươi không bỏ yêu ghét
Không thoát khổ ấy đâu!
Đoạn dục, xa lìa ái
Sau đó mới an lạc.
   Bấy giờ Thế Tôn thuyết giảng giáo pháp cho Bà-la-môn, khiến cho ông ta được lợi ích,  hoan hỷ… nói rộng như trên… cho đến ông ta đoạn trừ nghiệp phiền não, không thọ sanh đời sau.
   Lúc ấy Tôn giả Uất-thấu-la Đột-la-xà chứng quả A-la-hán, đạt được vị giải thoát, vô cùng hoan hỷ, nói kệ:
Nay tôi rất hoan hỷ
Giáo pháp Đại tiên dạy
Nghe pháp được giải ngộ
Không còn những dấy bỏ
Đến Thế Tôn không uổng
Gặp Phật được chứng đạo.
94. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở xóm Bà-la-môn Sa-la. Vào sáng sớm, Đức Thế Tôn mặc y, cầm bát vào xóm Sa-la khất thực. Gặp lúc mây trái mùa nổi lên, trời mưa xuống, Đức Như Lai tránh mưa, nên đi vào xóm ấy. Khi đó, trong khu này, các Trưởng giả Bà-la-môn đang tụ tập bàn luận. Từ xa thấy Đức Phật đến, họ lên tiếng:
–Đạo nhân cạo đầu biết những pháp gì?

* Trang 398 *
device

Đức Phật nghe nói thế, bảo họ:
–Bà-la-môn các vị có người biết pháp có người không biết pháp? Các hàng Sát-lợi, Cư sĩ… cũng như vậy.
Đức Phật nói kệ:
Không thể với bạn thân
Làm họ sanh khuất phục
Vua chúa không thể hàng
Phục bậc không chịu phục
Vợ không cầu chồng phục
Cha mẹ khi tuổi già
Làm con phải kính dưỡng
Không được sanh bội nghịch
Không có chỗ đông nào
Không có bậc hiền lương
Vị thiện trượng phu nào
Cũng đều giảng pháp ngữ
Đoạn trừ tham, sân, ái
Là lời nói hợp pháp.
Bấy giờ các Bà-la-môn nói:
–Ngài hiểu biết giỏi về pháp Bà-la-môn, hãy vào đây với chúng tôi.
Họ trải tòa mời Đức Phật ngồi và thưa:
–Ngài hãy thuyết pháp cho chúng tôi, chúng tôi muốn nghe.
Thế Tôn vào giữa chúng, ngồi nơi tòa của họ, thuyết giảng nhiều giáo pháp khiến cho họ lợi ích, hoan hỷ.
Thế Tôn nói kệ:
Ai im lặng không nói
Chẳng biết họ trí ngu
Cần phải nhờ lời nói
Sau đó mới thấu đạt
Nếu người giảng diệu pháp
Thuyết pháp hướng Niết-bàn
Thế nên phải giảng nói
Thắp sáng ngọn đuốc pháp

* Trang 399 *
device

Phước Tiên Thánh dựng lên
Đều do lời giảng pháp
Nói pháp là phướn thánh
Vậy không nên im lặng.
Đức Phật giảng như vậy rồi đứng dậy từ giã họ.
95. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật du hóa ở nước Câu-tát-la. Trong nước này, có vị Bà-la-môn tên là  Thiên Kính, ở trong xóm làng có nhà cho khách nghỉ. Khi ấy Tôn giả Ưu-ba-ma-na là thị giả của Phật, đang nghỉ trong nhà khách đó. Bấy giờ Đức Như Lai bị gió động nên đau lưng. Tôn giả Ưu-ba-ma-na mặc y, cầm bát đến nhà Bà-la-môn Thiên Kính. Thiên Kính đang ngồi trong nhà cạo râu, từ xa thấy Tôn giả, bèn nói kệ:
Cạo tóc mặc pháp y
Tay cầm bát ứng khí
Đứng yên bên ngó tôi
Ngài muốn cầu chuyện gì?
Tôn giả Ưu-ba-ma-na nói kệ đáp:
Đại La-hán, Thiện Thệ
Mâu-ni đang đau lưng
Cần chút thuốc nước ấm
Nên đến nhà này xin.
   Bà-la-môn lấy bát và đựng đầy tô, dầu, một cục đường đen, một thùng thuốc nước ấm, đem ra cúng dường. Tôn giả nhận những thứ ấy rồi đem đến chỗ Đức Phật, dùng tô, dầu và nước thuốc tắm rửa thân Phật, uống mật, đường, bệnh đau lưng liền giảm.
    Bà-la-môn Thiên Kính vào sáng sớm hôm sau đến gặp Đức Phật. Sau khi thăm hỏi Thế Tôn xong thì ngồi qua một bên. Thế Tôn nói kệ hỏi vị Bà-la-môn:
Xin hỏi Bà-la-môn
Hành pháp Bà-la-môn
Cho gì được quả lớn

* Trang 400 *
device

Cho khi nào đúng lúc
Cho vào phước điền nào
Được quả báo thù thắng?
Bà-la-môn nói kệ đáp:
Bậc học thức, hiểu biết
Đa văn ghi nhớ nhiều
Cha mẹ dòng chánh tịnh
Dung mạo rất đoan nghiêm
Những vị ấy gọi là
Bà-la-môn tam minh
Ai thí những vị ấy
Thu đạt quả báo lớn
Tùy thời thí y thực
Là phước điền thù thắng.
Bà-la-môn nói kệ hỏi Đức Phật:
Cù-đàm nói hạng nào
Gọi là Bà-la-môn?
Thế nào là ba minh?
Thí đâu được quả lớn?
Thí khi nào đúng lúc?
Thắng phước điền là gì?
Thế Tôn nói kệ đáp:
Biết rõ cả ba đời
Thấy trời, người, đường ác
Không còn sanh tử nữa
Chứng đắc những thần thông
Tâm trí đạt giải thoát
Đấy gọi là ba minh
Thí vị ấy quả lớn
Gọi là thắng phước điền.
Bà-la-môn Thiên Kính nghe lời Phật dạy, hoan hỷ từ giã.

* Trang 401 *
device

96. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật du hóa ở nước Câu-tát-la, ban đêm nghỉ ở rừng Sa-la. Có một Bà-la-môn đang canh tác ở gần rừng, sáng sớm đi thăm ruộng nên đến chỗ Phật, thưa:
–Bạch Thế Tôn, con trồng trọt gần rừng nên ưa thích rừng này. Nay Ngài cũng ưa thích rừng Sa-la này, có phải chăng Ngài cũng muốn canh tác ở đây?
Bà-la-môn nói kệ:
Ngài vì muốn trồng cây
Phải chăng ưa rừng này?
Không bạn, vui cô tịch
Thích rừng này phải không?
Đức Thế Tôn nói kệ đáp:
Ta ở trong rừng này
Chẳng phải làm gì cả
Nhổ sạch hết gốc rễ
Tất cả đều phá khô
Ở rừng nhưng không rừng
Đã xa lìa hẳn rừng
Ta bỏ hẳn thú vui
Thiền định, đoạn nhiễm đắm.
Vị Bà-la-môn lại nói kệ:
Ngài thật tên Phật-đà
Tôn quý nhất thế gian
Diệt trừ các phiền não
Xa lìa sự tích chứa
Bậc Tối Thượng thế gian
Nên hiệu là Thế Tôn.
Bà-la-môn này nói kệ xong, hoan hỷ từ giã.

* Trang 402 *
device

97. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật du hóa tại nước Câu-tát-la, trụ nơi rừng Sa-la. Cách rừng không xa, có một Bà-la-môn dạy học cho năm trăm thanh niên. Bà-la-môn ấy thường nghĩ: “Bao giờ Đức Thế Tôn du hành đến tại rừng này ta sẽ tới thăm hỏi, Ngài sẽ giải thích cho ta những điều nghi ngờ!”
    Lúc đó vị ấy sai các thanh niên vào rừng chặt củi để tế lửa. Các thanh niên kia vào rừng thấy Đức Như Lai ngồi bên gốc cây, đoan nghiêm đặc biệt, dung mạo hòa nhã, như lầu bằng vàng ròng, hào quang rực rỡ. Những thanh niên thấy Như Lai rồi, vội vác củi về, thưa với thầy:
–Trước đây thầy thường nghĩ đến việc thấy Phật, nay Đức Như Lai ở tại rừng này rất gần, nếu thầy muốn gặp thật là đúng lúc.
    Vị Bà-la-môn nghe nói như vậy, liền đến gặp Đức Phật, thăm hỏi sức khỏe, ngồi qua một bên, nói kệ:
Rừng sâu rất rậm rạp
Trông thấy thật đáng sợ
Vì sao ngồi một mình
Tu thiền tâm không hãi
Lại không có tiếng ồn
Nên tự thân hoan hỷ
Vì sao vui tĩnh lặng
Thật là chưa từng có
Ngài vì cầu Phạm thiên
Chúa tự tại thế giới
Hay cầu làm Đế Thích
Vua cõi trời Ba ba?
Vì sao vui ở riêng
Trong rừng sâu đáng sợ
Thường tu hành khổ hạnh
Nhằm mong cầu điều chi?
Đức Thế Tôn nói kệ đáp:
Người nào còn mong cầu
Nghi hoặc đầy tâm ý

* Trang 403 *
device

Với vô số cảnh giới
Tâm nhiễm đắm chạy theo
Tất cả các kết sử
Sanh ra vì không trí
Ta nhổ gốc ngu si
Cạn khô bùn dục buộc
Đoạn sạch ý mong cầu
Không còn các dối trá
Ở trong các pháp thiện
Chứng biết được thanh tịnh
Đắc đạo quả vô thượng
Bậc tu thiền ly dục.
Vị Bà-la-môn lại nói kệ:
Nay con xin đảnh lễ
Quy y Đấng Mâu-ni
Tự tại trong các thiền
Giác ngộ Chánh biến tri
Thế Tôn trong Trời, Người
Đầy đủ ba hai tướng
Đoan chánh không ai bằng
Giống như vua Tuyết sơn
Trong rừng được giải thoát
Nhưng không đắm vướng rừng
Bậc Thanh Tịnh Giải Thoát
Vô sanh nhổ tên độc
Giáo pháp Như Lai thuyết
Cao thượng trong các luận
Lời lẽ vi diệu nhất
Sư tử rống trong đời
Thuyết giảng bốn Thánh đế
Độ khắp cho tất cả
Tự xa lìa khổ lớn
Lại hóa độ quần sanh
Khiến đạt được an lạc

* Trang 404 *
device

Nguyện vì thuyết pháp này
Nay con hướng về lạy
Được sang bờ giải thoát
Xa lìa những sợ hãi.
Lành thay! Ngài đến đây!
Để con được gặp gỡ
Bậc Thầy của Trời, Người
Trừ diệt được tất cả
Khổ não của chúng sanh.
Vị Bà-la-môn nói kệ ấy xong, hoan hỷ từ giã.
98. Tôi nghe như vầy:
     Một thời, Đức Phật du hóa ở nước Câu-tát-la. Bấy giờ Đức Thế Tôn đang ở bên bờ sông
Tôn-đà-lợi. Bên bờ sông này, có một Bà-la-môn đang sống ở đó. Ông ta đến gặp Đức Phật,  sau khi chào hỏi, ngồi qua một bên, thưa Phật:
–Ngài muốn xuống sông tắm phải không?
Đức Phật hỏi lại:
–Xuống tắm ở sông này có lợi ích gì?
Vị Bà-la-môn đáp:
–Sông này là nơi ngày xưa Tiên nhân đi qua. Ai xuống sông tắm rửa, trừ những điều xấu, được thanh tịnh, xinh đẹp tinh khiết, gọi là an lành lớn lao.
Đức Phật nghe như vậy liền nói kệ:
Dầu là sông Tôn-đà
Đắc bế hay Hằng hà,
Yết-xà, Bà-bát-đề
Tắm trong những sông ấy
Không thể trừ sạch được
Những nghiệp ác đã tạo.
Đại lực Bát-kiện-đề
Cùng kẻ ngu hèn kém
Nếu cùng tắm một sông

* Trang 405 *
device

Cho đến trăm ngàn năm
Vẫn không thể trừ ác
Cấu uế của phiền não.
Nếu tâm người thanh tịnh
Trì giới thường bố tát
Người thường tu nghiệp tịnh
Thường được đầy đủ giới
Không giết và không trộm
Không tà dâm, vọng ngữ
Người thường tin tội phước
Không ganh ghét người khác
Nước pháp rửa bụi trần
Nên tắm ở chỗ ấy.
Tuy nơi Tôn-đà-lợi,
Kiệt-xà, những dòng sông
Đều là nước thế gian
Uống nước và tắm rửa
Không thể trừ cấu uế
Và trừ những nghiệp ác.
Tắm, uống để làm gì!
Chân thật, nói nhu hòa
Bỏ sân, không hại vật
Nước này chân tịnh thủy
Ai vào sông tịnh giới
Tẩy trừ những phiền não
Tuy không trừ bẩn ngoài
Nhưng sạch uế bên trong.
Người hung ác tàn hại
Ngu bướng tạo nghiệp ác
Những bất tịnh như vậy
Như uế, ô, cấu, ác
Nước chỉ tắm ngoài thân
Không thể trừ nghiệp ác.
Bà-la-môn nghe lời Phật dạy, tán thán:
–Lành thay! Lành thay! Đúng như lời ngài dạy. Người tắm rửa

* Trang 406 *
device

chỉ trừ cáu bẩn trên thân. Người tạo nghiệp ác không thể trừ ác bằng cách tắm rửa.
99. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật du hóa, bên bờ sông Tôn-đà-lợi, thuộc nước Câu-tát-la. Khi ấy Đức Thế Tôn vừa mới cạo râu tóc, trú đêm bên bờ sông. Đêm tàn, trời sắp sáng, Ngài dùng y phủ lên đầu, chánh thân ngồi thẳng, đặt niệm ở trước mặt.
    Bấy giờ, bên bờ sông ấy có vị Bà-la-môn tế lửa. Theo pháp tế lửa, phần vật phẩm tế xong phải đem cho các vị Bà-la-môn khác. Khi trời sắp sáng, vị ấy cầm vật tế xong đi tìm Bà-la-môn để thí cho họ, trên đường đi gặp Đức Phật. Đức Thế Tôn nghe tiếng ông ta đi, lấy y che đầu xuống, tằng hắng lên tiếng. Bà-la-môn này khi thấy Đức Phật, liền lên tiếng:
–Đây không phải là Bà-la-môn, mà là đạo nhân đầu trọc.
Ông ta muốn trở về nhà, lại suy nghĩ: “Người cạo đầu chưa chắc là Sa-môn, Bà-la-môn cũng có người cạo tóc, ta nên đến gặp ông ấy để hỏi về nguồn ốc, đẳng cấp, tộc họ”.
Vị Bà-la-môn ấy bèn đến gặp Đức Phật, thưa hỏi:
–Người sanh ở đâu và thuộc dòng họ nào?
Đức Thế Tôn nói kệ đáp:
Đừng hỏi sanh ở đâu
Nên hỏi đã làm gì?
Cây nhỏ cũng sanh lửa
Ti tiện sanh hiền đạt
Khéo điều phục đời sống
 Hổ thẹn, làm việc thiện
Siêng năng tự điều thuận
 Vượt khỏi bờ Vi-đà
Định ý thu nhiếp tâm
Tu phạm hạnh đầy đủ
Sáng sớm nên bố thí
Phẩm vật tế tự xong.
Này vị Bà-la-môn,

* Trang 407 *
device

Nếu ai muốn tu phước
Hãy cúng dường vị ấy
Là bậc thiện trượng phu.
Vị Bà-la-môn nói kệ:
Nay tôi đang cúng dường
Nơi này thật tế lửa
Nay tôi quán sát Ngài
 Đã vượt bờ Vi-đà
Xưa nay tế lễ xong
Đem cúng dường người khác
Chưa gặp ai như Ngài
Bậc Thắng Diệu Ứng Cúng.
Vị Bà-la-môn liền đem thực phẩm dâng lên Đức Thế Tôn. Đức Phật không nhận và nói kệ:
Trước không nghĩ bố thí
Nghe thuyết pháp rồi cho
Thức ăn uống như vậy
Thật không nên nhận lấy
Thường pháp quy định vậy
Nên Ta không thọ nhận
Thế nên không được nhận
Vì thuyết giảng kệ pháp.
Các Đại nhân hiện tại
Tận diệt hết phiền não
Nên đem thức ăn uống
Cúng dường các vị ấy
Người muốn cầu phước điền
Nên cúng dường chốn đó
Nếu ai muốn làm phước
Ta chính là phước điền.
Bà-la-môn lại bạch Phật:
–Nay con nên đem thực phẩm này bố thí cho ai?
Đức Phật dạy:
–Ta không thấy có Sa-môn, Bà-la-môn, Trời, Ma, Phạm nào

* Trang 408 *
device

trong thế gian này có thể ăn thực phẩm ấy mà tiêu hóa được. Nên bỏ chúng vào chỗ nước không có trùng.
   Vị Bà-la-môn vâng lời Phật, đem thức ăn bỏ vào chỗ nước không trùng, lửa khói bốc lên, nước sôi phát tiếng. Bà-la-môn thấy sự việc ấy rất sợ hãi, toàn thân nổi ốc. Vì sợ hãi nên ông ta chặt thêm củi dùng để tế lửa.
Đức Thế Tôn đến nơi kia nói kệ:
Ngươi đốt lửa đàng hoàng
Cho là được thanh tịnh
Người ít phước vô trí
Chỉ đốt lửa bên ngoài
Bà-la-môn nên biết
Ngươi bỏ đốt lửa đi
Nên tu lửa trong tâm
Cháy mãi không thể tắt.
Thêm rộng lửa như thế
Gọi là tế chân chánh
Thường tín tâm bố thí
Ngươi nên tế như vậy.
Nay ngươi kiêu mạn nặng
Chẳng xe nào chở nổi
Sân độc như khói tỏa
Như dầu tưới vào lửa
Lưỡi luôn dấy lời ác
Tâm chứa đựng lửa dữ
Không thể tự điều thuận
Sao gọi là trượng phu?
Ai lấy tín làm sông,
Giới làm bờ tế độ
Nước thanh tịnh như vậy
Được người thiện tán thán.
Ai tin tắm bằng giới
Là thần chú Tỳ-đà
Diệt được các tướng ác
Được sang bờ bên kia

* Trang 409 *
device

Dùng pháp để làm ao
Cù-đàm chân tế độ
Nước tịnh thủy thanh khiết
Thiện trượng phu rất quý
Những người thường tắm rửa
Người công đức Tỳ-đà
Thân thể không nhơ bẩn
Được sang bờ bên kia
Nói thật, điều các căn
Chế ngự cả ba nghiệp
Tu đầy đủ phạm hạnh
Nhẫn, hổ thẹn tối thượng
Tín đến người chất trực
Đấy là pháp tắm rửa
Thế nên ông ngày nay
Cần phải biết như vậy.
   Vị Bà-la-môn nghe lời Phật dạy, bỏ dụng cụ tế lửa, đứng dậy lễ Phật, chắp tay cung kính, bạch:
–Cầu mong Đức Phật cho phép con được xuất gia thọ giới cụ túc trong Phật pháp, được làm vị Tỳ-kheo, theo pháp Phật tu phạm hạnh.
   Đức Phật đồng ý cho vị ấy xuất gia, thọ giới cụ túc. Vị Tôn giả ấy siêng năng, dốc tâm tu tập, hết mực tự kiềm chế, vui ở chỗ vắng, xa lìa phóng dật, không ưa gần gũi kẻ tại gia, xuất gia. Vì sao vậy? Tộc tánh tử đó cạo bỏ râu tóc, mặc pháp y, chánh tín xuất gia, tu vô lượng phạm hạnh, hiện tại thấy biết tự thân chứng đạo. Bấy giờ Tỳ-kheo ấy tu tập định tuệ, đắc quả A-la-hán, diệt tận hữu lậu, phạm hạnh đã lập, hoàn tất công việc, không thọ đời sau.
    100. Tôi nghe như vầy:
      Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
     Có một Bà-la-môn bện tóc tên là Bà-la-đột-ra-xà, đến gặp Đức Phật. Sau khi thăm hỏi, ngồi qua một bên, vị ấy nói kệ:

* Trang 410 *
device

Tóc bên ngoài bị bện
Trong có tóc bện không?
Thế gian bị tóc quấn
Ai có thể thoát được?
Thế Tôn nói kệ:
Bậc trí sáng lập giới
Tâm tu bằng trí tuệ
Tinh tấn chuyên cần học
Tuổi trẻ trừ tóc bện.
Bà-la-môn nói kệ:
Bên ngoài bị tóc quấn
Trong có tóc quấn không?
Thế gian bị tóc quấn
Ai có thể đoạn trừ?
Thế Tôn nói kệ:
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
Cùng ý căn pháp trần
Danh sắc đều không còn
Tâm, ý, xứ đều diệt
Ai chứng được như vậy
Đoạn trừ được tóc quấn.
Tổng nhiếp tụng:
Chiên đà, Bà-tư-tra
Mất bò, giảng tập xứ
Thiên kính, rừng Sa-la
Lấy củi, hai Tôn Đà
Nhất bện tóc là mười.
101. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật ở tại gốc cây Bồ-đề, bên bờ sông Nê-liên, thuộc xóm Ưu-lâu-tần-loa, thành đạo chưa được bao lâu.

* Trang 411 *
device

    Bấy giờ Đức Thế Tôn ngồi im lặng một mình, suy nghĩ: “Người nào không có tâm cung kính, không kính thuận với Tôn trưởng của mình, không nhận lãnh sự dạy bảo, không có chỗ để kính sợ, mặc tình phóng túng, thì vĩnh viễn mất sự lợi ích chân thật. Những người như vậy bị các khổ ràng buộc. Người nào hiếu thuận, phụng sự Sư trưởng, kính dưỡng, biết sợ, tùy thuận không nghịch, ước nguyện thành tựu, được lợi ích chân thật lớn. Người như vậy sống ở đâu cũng an lạc”.
    Đức Phật lại suy nghĩ: “Tất cả trong thế gian như: Trời, Người, thế giới chư Thiên, thế giới nhân loại, thế giới Ma, thế giới Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn … tất cả sanh loại trong thế gian, nếu người nào có Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến hơn Ta, Ta sẽ gần gũi, nương tựa, cúng dường cung kính. Sau khi quán sát khắp, Ta đều không thấy tất cả Trời, Người, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, trong thế gian, không có vị nào hơn Ta về Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến để Ta nương tựa”.
    Ngài lại suy nghĩ: “Pháp mà Ta đã giác ngộ được, nay Ta nên gần gũi, cúng dường, cung kính, thành tâm tôn trọng. Vì sao? Tất cả chư Phật trong quá khứ đều gần gũi, nương tựa, cúng dường, cung kính, tôn trọng pháp ấy. Chư Phật trong vị lai và hiện tại cũng gần gũi, nương dựa pháp ấy, cúng dường, cung kính, sanh tâm tôn trọng. Nay Ta cũng như chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại gần gũi, nương tựa, cúng dường, cung kính, tôn trọng Pháp”.
      Bấy giờ Thiên chủ Phạm vương từ xa biết Thế Tôn đang ngồi nơi gốc cây Bồ-đề, bên sông Nê-liên, thuộc xóm Ưu-lâu-tần-loa, suy nghĩ: “Quán sát trong thế gian cả Trời, Người, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, tất cả chúng sanh nếu có ai hơn Ta về Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến, Ta sẽ nương dựa vị ấy, nhưng Ta chẳng thấy có người nào hơn Ta cả”. Ngài lại quán sát chư Phật ở quá khứ, vị lai, hiện tại đều gần gũi, nương tựa Pháp, cúng dường cung kính, sanh tâm tôn trọng. Hiện nay Ngài cũng tùy theo chư Phật đã làm, gần gũi, nương tựa, cúng dường cung kính, tôn trọng Pháp.
     Khi ấy vua trời Phạm thiên lại suy nghĩ: “Ta nên rời chỗ này đến gặp Đức Phật”.
      Vua trời Phạm thiên, chỉ trong thời gian như người tráng sĩ co duỗi cánh tay, đến gặp Đức Phật, bạch:

* Trang 412 *
device

–Thưa Thế Tôn, thật như ý nghĩ của Ngài, đúng như ý nghĩ của Ngài!
Phạm thiên nói kệ:
Quá khứ, hiện tại chư Như Lai
Tất cả Phật-đà trong hiện tại
Bậc Chánh Giác này đã trừ não
Tất cả đều lấy Pháp làm thầy
Gần gũi, nương tựa sống với Pháp
Đấy chính là pháp ba đời Phật
Thế nên muốn tôn trọng bản thân
Trước phải tôn trọng kính Pháp ấy
Cần phải ghi nhớ lời Phật dạy
Tôn trọng cúng dường pháp vô thượng.
Bấy giờ Phạm vương tán thán Thế Tôn, sanh tâm hoan hỷ sâu xa, rồi làm lễ từ giã.
102. Tôi nghe như vầy:
     Một thời, Đức Phật ở tại gốc cây Bồ-đề, bên bờ sông Nê-liên, thuộc xóm Ưu-lâu-tần-loa, thành đạo chưa bao lâu.
     Ngồi một mình bên gốc cây, Đức Phật suy nghĩ: “Có con đường duy nhất đưa chúng sanh đến thanh tịnh, khiến cho xa lìa khổ não, cũng trừ diệt được nghiệp ác, bất thiện, đạt được lợi ích đúng pháp. Pháp ấy là bốn Niệm xứ. Bốn Niệm xứ là gì? Đó là: Quán thân niệm xứ, quán thọ niệm xứ, quán tâm niệm xứ, và quán pháp niệm xứ. Người nào không tu bốn Niệm xứ là xa lìa pháp Hiền thánh, rời bỏ nẻo thánh. Ai xa lìa nẻo thánh là xa lìa pháp cam lộ.  Ai xa lìa pháp cam lộ thời không thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử, ưu bi, khổ não. Những người như vậy, Ta nói rõ: họ không thể nào thoát ly tất cả các khổ. Ai tu bốn Niệm xứ là gần gũi pháp Thánh hiền. Ai gần gũi Thánh hiền là gần gũi đạo Hiền thánh. Ai gần gũi đạo Hiền thánh là gần gũi pháp cam lộ. Ai gần gũi pháp cam lộ là có khả năng thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử, ưu bi, khổ não, chính những người ấy thoát ly hoàn toàn sự khổ”.

* Trang 413 *
device

   Lúc ấy vua trời Phạm thiên từ xa biết ý nghĩ của Đức Thế Tôn nên tự nghĩ: “Nay ta nên đến gặp Đức Thế Tôn, tùy hỷ tán trợ”. Nghĩ như thế xong, trong khoảng thời gian nhanh như người tráng sĩ co duỗi cánh tay, vua trời Phạm thiên đến gặp Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Ngài, đứng qua một bên, bạch Phật:
–Đúng như ý nghĩ của Đức Thế Tôn, có con đường duy nhất đưa chúng sanh đến thanh tịnh… cho đến được thoát khỏi ưu bi, khổ não.
Khi ấy Phạm thiên nói kệ:
Chỉ có đạo cam lộ
Chốn ấy phải tinh cần
Muốn cầu xa lìa khổ
Chỉ có một đường kia
Ai đi trên đường đấy
Như nhạn vượt không gian
Đức Thích-ca Mâu-ni
Đã chứng đắc Phật đạo
Tất cả Chánh Đạo Sư
Đều đem đường giác đó
Chỉ dạy cho chúng sanh
Nên nêu giảng nhiều lần
Để mong mọi người biết
Tận ranh giới sanh hữu
Mong Ngài thuyết nhất đạo
Tế độ các chúng sanh
Chư Phật trong quá khứ
Giải thoát bằng đường này
Phật vị lai, hiện tại
Đi đường ấy giác ngộ.
Thế nào gọi là độ?
Vượt qua được dòng thác
Cứu cánh nơi vô biên
Điều phục được cực tịnh
Thế gian đều sanh tử
Ngài biết các cảnh giới
Vì những người có mắt

* Trang 414 *
device

Chỉ dạy con đường này
Như dòng Hằng hà kia
Chảy hướng về biển lớn
Thánh đạo cũng như vậy
Phật khai thị hiển nhiên
Đạo này như sông kia
Hướng về biển cam lộ
Xưa nay chưa từng nghe
Tiếng chuyển diệu pháp luân
Cầu mong Thiên Tôn Nhân
Đấng Vượt Già, Bệnh, Chết
Nơi tất cả quy y
Xin chuyển diệu pháp luân.
Vua trời Phạm thiên nói kệ xong, đảnh lễ dưới chân Phật, từ giã biến mất.
    103. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
    Khi ấy, vào giữa đêm, vua trời Phạm thiên với hào quang chiếu sáng, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ dưới hân Phật, ngồi qua một bên. Phạm thiên, với hào quang rực rỡ chiếu sáng cả nơi ấy, ngay tại chỗ ngồi, nói kệ:
Sát-lợi, Lưỡng Túc Tôn
Bậc Chủng Tánh Chân Chánh
Đầy đủ cả minh hạnh
Tối thắng trong Trời, Người.
Đức Phật bảo Phạm thiên:
–Lời nói rất đúng! Lời nói rất đúng!
Sát-lợi, Lưỡng Túc Tôn
Đấng Chủng Tánh Chân Chánh
Đầy đủ minh và hạnh
Tối thắng trong Trời, Người.

* Trang 415 *
device

Vua trời Phạm thiên nghe lời Phật dạy, hoan hỷ vui mừng, đảnh lễ nơi chân Phật, biến mất tại chỗ, trở về Thiên cung.
   104. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật du hóa ở nước Câu-tát-la. Trong nước ấy có một trú xứ A-lan-nhã, Đức Thế Tôn cùng đại chúng Tỳ-kheo nghỉ đêm ở đó. Đức Thế Tôn khen ngợi trú xứ ấy, thuyết giảng về pháp trú xứ A-lan-nhã.
     Vua trời Phạm thiên biết Đức Như Lai đang du hóa ở nước Câu-tát-la, cùng đại chúng Tỳ-kheo nghỉ đêm tại trú xứ yên tịnh, tán thán trú xứ ấy, thuyết giảng về pháp trú xứ A-lan-nhã. Vua trời Phạm thiên suy nghĩ: “Nay ta nên đến gặp Thế Tôn, tùy hỷ tán thán”.
     Phạm thiên vương biến mất ở cung trời, nhanh như thời gian người tráng sĩ co duỗi cánh tay, đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Đức Phật, ngồi qua một bên, nói kệ:
Trải tọa cụ chỗ vắng
Nên đoạn mọi trói buộc
Nếu không thích như vậy
Nên về sống giữa Tăng
Luôn luôn tự chánh niệm
Thu nhiếp căn, khất thực
Giữ gìn đủ giới cấm
Nên đến nơi yên tịnh
Xả bỏ hết sợ hãi
Trú vững tâm không sợ
Đoạn trừ sạch kiêu mạn
Kiên tâm trú nơi ấy
Điều con nghe như vậy
Không nên nghi hoặc nữa
Một ngàn A-la-hán
Tại đây đoạn sanh tử
Học hữu hai ngàn rưỡi
Ngàn một trăm Dự lưu
Nhập lưu tu chánh đạo

* Trang 416 *
device

Không còn đi đường tà
Không thể trình bày hết
Người hành đạo đắc quả
Lý do không thể nói
Sợ họ không kính tín.
Khi ấy Phạm thiên chủ nói kệ xong, đảnh lễ chân Phật, trở về Thiên cung.
105. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở rừng Thích-sí, thuộc thành Ca-tỳ-la-vệ cùng đại chúng Tỳ-kheo năm trăm vị, đều là bậc A-la-hán, diệt sạch hết các lậu, đã làm xong việc, bỏ gánh nặng xuống, đạt đến tự lợi, hết nghiệp đời sau, không còn bị phiền não trói buộc, trí tuệ chân chánh giải thoát. Lại có chư Thiên đại uy đức trong mười thế giới đến gặp Phật, thăm hỏi Đức Phật và Tăng.
    Khi ấy Đức Thế Tôn thuyết pháp tùy thuận Niết-bàn. Có bốn vị trời ở cõi Phạm thân, tự nghĩ: “Hiện nay Đức Phật đang ở rừng Thích-sí, thành Ca-tỳ-la-vệ, cùng năm trăm vị Tỳ-kheo Tăng, đều là bậc A-la-hán, đã hết các lậu, việc làm đã xong, bỏ gánh nặng xuống, đạt đủ tự lợi, hết nghiệp đời sau, không còn phiền não trói buộc, trí tuệ chân chánh giải thoát. Lại có chư Thiên đại uy đức trong mười thế giới đến chỗ Phật, thăm hỏi Đức Phật và Tăng. Thế Tôn vì họ thuyết giảng pháp tùy thuận Niết-bàn. Nay ta nên đến chỗ Đức Thế Tôn”.
     Các vị thiên cõi Phạm thân nghĩ như thế rồi, liền biến mất tại chỗ, trong khoảng thời gian nhanh như người tráng sĩ co duỗi cánh tay, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Ngài, rồi đứng qua một bên.
     Vị thiên thứ nhất ở cõi Phạm Thân nói kệ:
Hiện nay tại rừng này
Cả đại chúng tập hội
Thế nên chúng con đến
Vì muốn xem chúng Tăng
Không dùng tâm bất thiện
Hoại phá hòa hợp Tăng.

* Trang 417 *
device

Vị thiên thứ hai cõi Phạm thân nói kệ:
Tỳ-kheo tâm thành thật
Phải làm việc tinh cần
Như người khéo chế ngự
Khiến ngựa phải phục tùng
Tỳ-kheo cũng như vậy
Nên chế ngự các căn.
Vị thiên thứ ba cõi Phạm thân nói kệ:
Thí như ngựa rừng bị cương cột
Nhổ trụ vượt hào thoát an ổn
Các vị Tỳ-kheo cũng như vậy
Nhổ ba trụ độc, vượt hào dục
Được Đạo sư Thế Tôn điều phục
Nên đời có những voi quý lớn.
Vị thiên thứ tư cõi Phạm thân nói:
Những người quy y với Phật đà
Từ bỏ thân người được thân trời.
    Bốn vị trời Phạm thân, mỗi người nói kệ xong, hướng về chúng Tăng cung kính khép nép làm lễ, rồi từ giã.
106. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật ở tại vườn trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương xá. Bấy giờ, vào giữa đêm, vua trời Phạm thiên với hào quang sáng chói, đến gặp Đức Phật.
    Khi ấy Thế Tôn nhập pháp tam-muội Hỏa quang. Vua trời Phạm thiên tự nghĩ: “Hiện nay Đức Như Lai đang vào chánh định. Ta đến đây thật trái thời”.
    Trong thời gian ấy, thân hữu của Đề-bà-đạt-đà là Tỳ-kheo Cù-ca-lê hủy báng Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên. Vị Phạm thiên ấy bèn đến chỗ Ca-lê gõ cửa phòng ông ta, gọi:
–Này Cù-ca-lê, Cù-ca-lê, ông nên sanh tâm tịnh tín đối với Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-liên. Hai vị Tôn giả ấy tâm tịnh, hòa dịu,

* Trang 418 *
device

 phạm hạnh đầy đủ. Ông hủy báng như vậy, sau này phải chịu nhiều đau khổ lâu dài.
Cù-ca-lê hỏi Phạm thiên:
–Ngươi là ai?
Đáp:
–Ta là vua trời Phạm thiên.
Cù-ca-lê nói:
–Đức Phật thọ ký ông đã đắc A-na-hàm phải không?
Phạm thiên đáp:
–Đúng vậy.
Cù-ca-lê nói:
–A-na-hàm nghĩa là không trở lại (Bất hoàn). Tại sao ông trở lại?
Vua trời Phạm thiên tự nghĩ: “Những hạng người này không nên nói chuyện với họ”. Phạm thiên nói kệ:
Muốn lường pháp vô lượng
Bậc trí không làm vậy
Ai lường pháp vô lượng
Tất phải bị thiêu hại.
Phạm thiên nói kệ xong, đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Đức Phật, ngồi qua một bên, đem sự việc với  lời nói của Cù-ca-lê trình bày đầy đủ với Đức Thế Tôn. Phật bảo Phạm thiên:
–Đúng vậy, đúng vậy. Muốn lường pháp vô lượng, có thể đốt cháy kẻ phàm phu.
Thế Tôn nói kệ:
Con người sống trong đời
Lưỡi búa để trong miệng
Do lời ác của họ
Tự chặt lấy thân mình
Hủy báng bậc đáng khen
Ca ngợi kẻ đáng chê
Người xấu ác như vậy
Không bao giờ an vui.
Cù-ca-lê vu báng
Với Phật-đà, Hiền thánh

* Trang 419 *
device

Ca-lê bị đọa lạc
Vào trăm ngàn địa ngục
Ngay khi A-phù-đà
Hủy báng bậc Thánh hiền
Do khẩu ý ác độc
Đọa vào địa ngục ấy.
Vua trời Phạm thiên nghe kệ xong, lễ Phật rồi từ giã.

* Trang 420 *
device

 
Đại Tập VII, Bộ A- Hàm VII, Kinh Tạp A- Hàm Số 3