LOGO VNBET
                                                     BIỆT DỊCH KINH TẠP A-HÀM
                                                                    QUYỂN VIII
132. Tôi nghe như vầy:
  Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
   Bấy giờ, vào giữa đêm, có một vị trời với hào quang rực rỡ đến chỗ Đức Phật, lạy sát dưới chân, ngồi qua một bên. Ánh sáng của vị trời ấy chói lọi, chiếu sáng khắp cả Kỳ viên. Vị trời ấy sau khi an trụ, nói kệ:
Sống ở A-lan-nhã
Tịch diệt, tu phạm hạnh
Ngày chỉ ăn một bữa
Dung mạo rất hoan hỷ.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Không sầu nhớ quá khứ
Không lo cầu vị lai
Chánh trí hiện tại, ăn
Chỉ để nuôi thân thể
Sáu tình đều vui vẻ
Nên dung mạo nhu hòa.
Lo lắng việc chưa đến
Hối tiếc việc đã qua
Như cỏ non mới mọc
Bị cắt phơi giữa trưa
Phàm phu tự phơi khô
 Việc này cũng như vậy.
Vị trời lại nói kệ tán thán:
Thuở xưa đã từng thấy
Bà-la-môn Niết-bàn

* Trang 479 *
device

Từ lâu bỏ ghét sợ
Vượt tham ái thế gian.
Vị trời ấy nói kệ xong, hoan hỷ trở về Thiên cung.
133. Tôi nghe như vầy:
  Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vào giữa đêm có vị trời hào quang rực rỡ khác thường, chiếu sáng cả khu Kỳ viên, đến gặp Đức Phật, lạy sát dưới chân Ngài rồi ngồi qua một bên, bạch Phật bằng kệ:
Có những kẻ kiêu mạn
Không chế ngự các căn
Giả dạng tu thiền định
Sống phóng dật trong rừng
Do phóng dật như vậy
Không thể thoát bờ chết.
Thế Tôn nói kệ:
Lìa mạn, thường nhập định
Quán tưởng biết rõ pháp
Giải thoát hết trở ngại
Rừng vắng, không phóng dật
Do sống không phóng dật
Vượt qua khỏi bờ chết.
Vị trời nói kệ khen:
Thuở xưa đã từng thấy
Bà-la-môn Niết-bàn
Vứt bỏ sợ và ghét
Vượt qua ái ở đời.
Vị trời này nói kệ xong, hoan hỷ trở về Thiên cung.

* Trang 480 *
device

134. Tôi nghe như vầy:
     Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
     Vào giữa đêm có một vị trời với hào quang rực rỡ khác thường, chiếu sáng cả khu Kỳ viên, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ sát dưới chân rồi ngồi qua một bên, nói kệ:
Làm sao suốt ngày đêm
Phước nghiệp thường tăng trưởng
Trì giới đúng như pháp
Ai đến được cõi thiên?
Đức Thế Tôn nói kệ:
Trồng cây, gây vườn rừng
Làm cầu đò qua sông
Đào giếng nơi đồng khô
Làm nhà trọ đường chính
Người này suốt ngày đêm
Phước nghiệp thường tăng trưởng.
Người trì giới chánh pháp
Đúng vậy, hưởng cõi trời.
Vị trời tán thán:
Thuở xưa đã từng thấy
Bà-la-môn Niết-bàn
Bỏ hẳn ganh tị, sợ
Vượt qua ái thế gian.
Vị trời nói kệ xong, hoan hỷ trở về Thiên cung.
135. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
    Vào giữa đêm có một vị trời với hào quang rực rỡ khác thường, chiếu sáng cả khu Kỳ viên, đến gặp Đức Phật, ngồi qua một bên, nói kệ:

* Trang 481 *
device

Làm gì được sức mạnh,
Làm gì được sắc đẹp,
Cho gì được an lạc
Duyên gì được mắt tịnh?
Cho tất cả là gì?
Xin vì con giảng dạy.
Đức Phật nói kệ đáp:
Cho ăn uống được sức
Cho áo được sắc đẹp
Cho xe được an lạc
Cho đèn được mắt sáng
Cho tất cả chỗ ở
Dạy đệ tử đúng pháp
Thường bố thí như vậy
Gọi là thí cam lộ.
Vị trời tán thán:
Thuở xưa đã từng thấy
Bà-la-môn Niết-bàn
Xả lìa hẳn ghét, sợ
Vượt qua ái thế gian.
Vị trời nói kệ xong, hoan hỷ trở về cung.
136. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
     Vào giữa đêm, có một vị trời với hào quang rực rỡ khác thường chiếu sáng cả Kỳ viên, đến gặp Phật, lạy sát chân Ngài, ngồi qua một bên, nói kệ:
Trời, người trong thế gian
Ăn uống sanh vui mừng
Trong thế gian không có
Ăn uống không vui thích.

* Trang 482 *
device

Đức Thế Tôn nói kệ:
Ai tín tâm bố thí
Khiến tâm rất thanh tịnh
Đời này và đời sau
Phước ăn uống theo luôn.
Vị trời ấy nghe lời Phật dạy, bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, thật là hy hữu! Ngài nói kệ này rất hay! Bạch Thế Tôn, con nhớ thời quá khứ có một vị vua ở cõi người, tên là Trì Hoãn, vị Quốc vương này thường bố thí thức ăn uống ở bốn cửa thành và chợ búa trong thành.
Phu nhân của vua tâu với vua:
-Nay nhà vua làm phước, xin cho phép chúng thiếp hỗ trợ theo vua làm phước.
Nhà vua nghe tâu, đem thức ăn để bố thí ở cửa thành phía Đông giao lại cho phu nhân.
Thái tử của vua cũng tâu lên phụ vương:
-Cha mẹ tu tập phước đức, con cũng muốn làm theo.
Nhà vua nghe tâu, đem thức ăn để bố thí ở cửa thành phía Nam giao lại cho Thái tử.
Sau đó, phụ tướng tâu lên vua:
–Nay nhà vua, phu nhân, thái tử đều làm phước nghiệp. Xin cho phép hạ thần được hỗ trợ công việc ấy.
Nhà vua nghe tâu, đem thức ăn để bố thí ở cửa thành phía Tây giao lại cho quan phụ tướng.
Khi ấy, quần thần cùng tâu vua:
–Phu nhân, thái tử, quan phụ tướng đều tu tập phước đức, chúng hạ thần muốn hổ trợ công việc này.
Nhà vua nghe tâu, bèn đem thức ăn để bố thí ở cửa thành phía Bắc giao lại cho quần thần.
Lúc ấy dân chúng trong nước lại tâu vua:
-Phu nhân, thái tử, phụ tướng, quần thần đều tu phước đức, xin cho phép chúng thần được tu tập phước nghiệp.
Nhà vua nghe tâu lại đem của bố thí giao cho dân chúng. Khi ấy người quản lý việc bố thí tâu vua:

* Trang 483 *
device

-Sở  hữu của vua để bố thí ở bốn cửa thành đều giao lại cho phu nhân, thái tử, phụ tướng, đại thần, dân chúng trong nước, như vậy sự bố thí ấy đã cắt đứt công việc bố thí của vua và làm kiệt quệ kho tàng.
Nhà vua liền ra lệnh:
–Những vật đã xuất thì đem cho hết. Từ nay về sau những vật tiến cống của các nước nhỏ ở phương khác, một nửa nhập kho tàng, một nửa dùng bố thí, tu phước.
Bạch Thế Tôn, bây giờ con luôn luôn làm phước, con luôn luôn được quả báo đầy đủ, thường được hỷ lạc, được thọ hưởng phước báo vô cùng tận, không thấy giới hạn. Theo như quả báo lớn con đã thọ nhận được, mới biết Thế Tôn nói kệ này thật hoàn toàn.
Bấy giờ thiên tử Trì Hoãn nghe lời Phật dạy, vô cùng hoan hỷ, đảnh lễ sát chân Phật, rồi trở về Thiên cung.
137. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vào giữa đêm, có một vị trời với hào quang rực rỡ khác thường, chiếu sáng cả khu Kỳ viên, đến gặp Phật, lạy sát chân Ngài, ngồi qua một bên, nói kệ:
Đi xa đến nước khác
Lấy ai làm người thân
Trong đời sống gia đình
Lấy ai làm người thân
Trong vấn đề tài sản
Lấy ai làm bạn thân
Và khi đến đời sau
Lấy ai làm người thân?
Khi ấy Thế Tôn nói kệ:
Ai đi đến nước khác
Bạn đường là người thân,
Sống trong gia đình mình
Mẹ hiền là chí thân

* Trang 484 *
device

Trong kinh doanh tài lợi
 Quyến thuộc là thân hữu
Phước đức người thường tu
Là bạn thân đời sau.
Vị trời tán thán:
Thuở xưa đã từng thấy
Bà-la-môn Niết-bàn
Từ bỏ, ghét và sợ
Vượt qua ái thế gian.
Bấy giờ vị trời nghe lời Phật dạy, hoan hỷ từ giã.
138. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vào giữa đêm, có một vị trời với hào quang rực rỡ khác thường chiếu sáng cả khu Kỳ viên, đến chỗ Đức Phật, ngồi qua một bên, bạch Phật:
Tuổi thọ người không định
Từng ngày về đường chết
Bị vô thường cướp đoạt
Mạng sống quá ngắn ngủi.
Già đến giết trẻ đẹp
Không ai có thể cứu
Lo sợ hướng về chết
Làm phước đến cõi vui.
Thế Tôn nói kệ đáp:
Tuổi thọ người bất định
Từng ngày đi đường chết
Bị vô thường cướp đoạt
Mạng sống quá ngắn ngủi.
Già đến cướp trẻ đẹp
Không có ai cứu được

* Trang 485 *
device

Lo sợ hướng về chết
Muốn được vui tịch diệt
Nên bỏ năm dục lạc
Không được tham đắm nữa.
Vị trời tán thán bằng kệ:
Thuở xưa đã từng thấy
Bà-la-môn Niết-bàn
Từ bỏ hẳn ghét sợ
Vượt hẳn ải thế gian.
Vị trời nghe lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành, rồi từ giã.
139. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vào giữa đêm, có một vị trời với hào quang rực rỡ khác thường chiếu sáng khắp khu Kỳ viên, đến gặp Đức Phật, ngồi qua một bên, bạch Phật:
Bốn mùa trôi qua mãi
Mạng sống cạn theo ngày
Tráng niên không dừng lâu
Sợ hãi chết đến nơi
Vì hướng đến Niết-bàn
Phải siêng năng tu phước.
Thế Tôn nói kệ đáp:
Bốn mùa trôi qua mãi
Mạng sống cạn theo ngày
Tráng niên không ngừng lại
Sợ hãi chết đến nơi
Thấy được khổ sanh tử
Nên sanh tâm sợ hãi
Bỏ năm dục ở đời
Nên cầu nơi giải thoát.

* Trang 486 *
device

Vị trời nói kệ:
Thuở xưa đã từng thấy
Bà-la-môn Niết-bàn
Từ bỏ hẳn ghét sợ
Vượt qua ái thế gian.
Vị trời này nghe lời Phật dạy, hoan hỷ từ giã.
140. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vào giữa đêm, có một vị trời với hào quang rực rỡ khác thường chiếu sáng khắp khu Kỳ viên, đến gặp Đức Phật, ngồi qua một bên, bạch Phật bằng kệ:
Chánh tư duy pháp gì?
Nên vứt bỏ pháp gì?
Tu hành thắng sự gì?
Thành tựu những điều gì?
Vượt qua dòng nước mạnh
Được gọi là Tỳ-kheo?
Thế Tôn nói kệ đáp:
Ai đoạn trừ năm che
Vứt bỏ hẳn năm dục
Tu năm căn tăng trưởng
Thành tựu năm phần pháp
Vượt qua dòng nước mạnh
Được gọi là Tỳ-kheo.
Vị trời tán thán:
Thuở xưa đã từng thấy
Bà-la-môn Niết-bàn
Từ bỏ hẳn ghét sợ
Vượt hẳn ái thế gian.
Vị trời nghe lời Phật dạy, hoan hỷ từ giã.

* Trang 487 *
device

141. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vào giữa đêm, có một vị trời với hào quang rực rỡ khác thường chiếu sáng khắp cả khu Kỳ viên, đến gặp Đức Phật, ngồi qua một bên, bạch Phật:
Ai ngủ gọi là thức
Ai thức nhưng là ngủ
Nhiễm trần cấu là gì
Thế nào được thanh tịnh?
Đức Phật nói kệ đáp:
Người nào giữ năm giới
Tuy ngủ gọi là thức
Ai làm năm điều ác
Tuy thức gọi là ngủ
Ai bị năm ấm che
Gọi là nhiễm trần cấu
Chứng năm phần vô học
Là thanh tịnh lìa bụi.
Vị trời nói kệ tán thán:
Thuở xưa đã từng thấy
Bà-la-môn Niết-bàn
Từ bỏ hẳn ghét sợ
Vượt hẳn ái thế gian.
Vị trời nghe lời Phật dạy hoan hỷ từ giã.
Kệ tóm tắt:
A-luyện-nhã, kiêu mạn
Tu phước ngày đêm tăng
Làm sao được sức mạnh
Vật gì sanh hoan hỷ
Viễn chí, cường thân bức
Ngày đêm có tổn giảm
Tư duy và ngủ thức.

* Trang 488 *
device

142. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật ở khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Vào giữa đêm, có một vị trời với hào quang rực rỡ khác thường chiếu sáng cả khu Kỳ viên, đến chỗ Đức Thế Tôn, ngồi qua một bên, nói kệ:
Người nào có con cháu
Thì sống được hoan hỷ
Có của báu, vật nuôi
Thì cũng được hoan hỷ
Khi người nào thọ thân
Thì cũng được hoan hỷ
Người nào thấy không thân
Thì tâm không hoan hỷ.
Thế Tôn nói kệ đáp:
Người nào có con cháu
Thì thường sanh phiền não
Của báu và vật nuôi
Đều là gốc khổ não
Khi người nào thọ thân
  Thời còn khổ ưu não
Nếu ai không thọ thân
Thì sống vui tịch diệt.
Vị trời nói kệ tán dương:
Thuở xưa đã từng thấy
Bà-la-môn Niết-bàn
Từ bỏ hết ghét, sợ
 Vượt qua ái thế gian.
Vị trời nghe lời Phật dạy, hoan hỷ từ giã.
143. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.

* Trang 489 *
device

Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Trên đời có ba loại ngựa chưa được điều phục, mà tất cả mọi người đều biết. Có loại ngựa chạy nhanh, không có sắc đẹp, không đủ khả năng để vận tải. Lại có loại ngựa chạy nhanh, có sắc đẹp, không đủ khả năng để vận tải. Có loại ngựa tốt, chạy nhanh, có sắc đẹp, lại có đủ khả năng để chuyên chở.
    Có ba hạng người như ba loại ngựa chưa được điều phục. Ba hạng này biểu hiện cho tri kiến của họ trong giáo pháp của Đức Phật. Thế nào là ba?
  Có người đủ khả năng chạy nhanh, không có sắc đẹp, không có khả năng vận tải.
  Có người đủ khả năng chạy nhanh, sắc đẹp đầy đủ nhưng không có khả năng vận tải.
  Có người có khả năng chạy nhanh, sắc đẹp, khả năng vận tải đều đầy đủ.
   Hạng người nào đủ khả năng chạy nhanh, không đầy đủ sắc đẹp, không có khả năng vận tải?
    Sống trong giáo pháp, có người như thật tri về khổ, như thật tri về nguyên nhân của khổ, như thật tri về khổ diệt, như thật tri về con đường đưa đến khổ diệt. Với tri kiến này, họ đoạn trừ ba kết sử là thân kiến, giới cấm thủ và nghi. Sau khi đoạn trừ ba kết sử này, họ đắc quả Tu-đà-hoàn, không còn đọa vào xứ ác, đã quyết định với đạo, chỉ còn sanh tử trong các cõi Trời, Người bảy lần là chấm dứt cảnh giới khổ. Đây gọi là hạng có khả năng chạy nhanh.
     Hạng người nào không đầy đủ sắc đẹp?
     Người được hỏi về A-tỳ-đàm, Tỳ-ni thì không hoàn toàn thông suốt. Họ không thể hiểu và giải thích câu hỏi sâu xa, không thể giảng thuyết với câu và ý nghĩa tương ứng, không thể thuyết minh đầy đủ, đúng lý. Đây gọi là người không đầy đủ sắc đẹp.
     Thế nào gọi là hạng không vận tải đầy đủ?
     Hạng người ít phước đức, sống trong hoàn cảnh không có phước đức, không được lợi dưỡng về y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược. Đây là hạng không vận tải đầy đủ.
     Trên đây là hạng có khả năng chạy nhanh, không đầy đủ sắc đẹp và không vận tải đầy đủ.

* Trang 490 *
device

Thế nào là hạng đủ khả năng chạy nhanh, đầy đủ sắc đẹp, nhưng không vận tải đầy đủ?
Hạng đủ khả năng chạy nhanh là gì?
Sống trong giáo pháp, có người như thật tri về khổ, như thật tri về khổ tập, như thật tri về khổ diệt, như thật tri về con đường đưa đến khổ diệt. Với tri kiến này, họ đoạn trừ ba kết sử, đó là thân kiến, giới cấm thủ và nghi. Sau khi đoạn trừ ba kết sử này, họ chứng quả Tu-đà-hoàn, không còn đọa vào xứ ác, đã quyết định với đạo, chỉ còn sanh tử trong cõi Trời, Người bảy lần là chấm dứt cảnh giới khổ. Đây là hạng đủ khả năng chạy nhanh.
Thế nào là hạng đầy đủ sắc đẹp?
  Khi được vấn nạn về A-tỳ-đàm, Tỳ-ni, họ đủ khả năng giải thích với văn từ và ý nghĩa thích ứng, phô diễn hợp lý. Đây là hạng đầy đủ về sắc đẹp.
   Thế nào là hạng vận tải không đầy đủ?
   Hạng người ít phước đức, sống trong hoàn cảnh không có phước đức, không được lợi dưỡng về y phục, thức ăn, ngọa cụ và thuốc thang.
   Đây là hạng đầy đủ việc chạy nhanh, đầy đủ sắc đẹp, nhưng không vận tải đầy đủ.
   Thế nào là hạng có sức chạy nhanh, có sắc đẹp, khả năng vận tải đầy đủ?
    Hạng nào là có sức chạy nhanh?
    Trong giáo pháp này, người như thật tri về khổ, như thật tri về tập, như thật tri về khổ diệt, như thật tri về con đường đưa đến khổ diệt. Với tri kiến như thật này, họ đoạn trừ ba kết sử, đắc quả Tu-đà-hoàn, chỉ bảy lần sanh lại trong cõi trời, người, không còn đọa vào xứ ác. Đây gọi là hạng có đủ sức chạy nhanh.
    Hạng nào là có đầy đủ sắc đẹp? Nếu có người vấn nạn về A-tỳ-đàm, Tỳ-ni, họ có khả năng giải thích thông suốt, văn nghĩa khế hợp nhau, trình bày hợp lý. Đây gọi là hạng đầy đủ sắc đẹp.
    Hạng nào vận tải đầy đủ? Hạng người có nhiều phước đức, sống trong cảnh có nhiều phước đức, thường được lợi dưỡng về y phục, thức ăn, ngọa cụ, thuốc thang. Đây gọi là hạng vận tải đầy đủ.
   Đấy gọi là hạng đầy đủ cả ba phương diện: chạy nhanh, sắc đẹp và vận tải.

* Trang 491 *
device

Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
144. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
 Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Trên đời có ba loại ngựa được huấn luyện thuần thục. Có loại ngựa đầy đủ sức khỏe, chạy nhanh nhưng không đầy đủ về sắc đẹp và vận tải. Có loại ngựa đầy đủ sức chạy nhanh, sắc đẹp nhưng không đầy đủ về vận tải. Có loại ngựa đầy đủ cả ba việc ấy.
Có ba hạng người khác nhau như ba loại ngựa trên. Ba hạng này được biểu hiện bằng tri kiến của họ trong Phật pháp.
Có người đầy đủ sức chạy nhanh, nhưng sắc đẹp và khả năng vận tải không đầy đủ. Có người đầy đủ hai điều kiện sau nhưng không đầy đủ điều kiện thứ nhất. Có người đầy đủ cả ba điều kiện.
  Người nào đầy đủ điều kiện một, không đầy đủ hai điều kiện sau?
  Trong Phật pháp có người như thật tri về khổ, như thật tri về khổ tập, như thật tri về khổ diệt, như thật tri về con đường đưa đến khổ diệt, đoạn năm hạ phần kết, đắc quả A-na-hàm. Người này không còn trở lại, không còn đọa vào xứ ác.
   Thế nào là không đầy đủ sắc đẹp?
    Có người vấn nạn về A-tỳ-đàm, Tỳ-ni, họ không thể giải thích với văn và nghĩa hợp lý, không thể trình bày thích đáng. Đây gọi là sắc đẹp không đầy đủ.
    Thế nào là vận tải không đầy đủ?
    Người có ít phước đức, đời sống không thuận tiện, không có phước đức lớn, không được lợi dưỡng về y phục, ăn uống, ngọa cụ, thuốc thang. Đây gọi là không đầy đủ điều kiện vận tải.
     Thế nào là hạng thứ hai? Đầy đủ hai điều kiện đầu, không đầy đủ điều kiện thứ ba?
     Hạng người này ở trong Phật pháp thấy bốn Chân đế, cho đến đoạn trừ năm hạ phần kết, đắc A-na-hàm. Có người vấn nạn về A-tỳ-đàm, Tỳ-ni, họ có khả năng diễn giải thuyết minh. Ngoài ra như đã

* Trang 492 *
device

trình bày ở trên. Điều kiện thứ ba không đầy đủ như trình bày ở trên. Đây là hạng thứ hai, đầy đủ hai điều kiện trên, không đầy đủ điều kiện thứ ba.
   Thế nào là hạng thứ ba đầy đủ cả ba điều kiện?
   Người này ở trong Phật pháp đã như thật tri về kiến về bốn Chân đế, đắc quả A-na-hàm… cho đến có nhiều phước đức, được nhiều lợi dưỡng. Đây là hạng thứ ba đầy đủ cả ba điều kiện.
    Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
145. Tôi nghe như vầy:
  Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
   Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Trong thế gian đã có ba loại ngựa đã được điều phục hoàn toàn. Người cũng có ba hạng như vậy.
    Hạng thứ nhất đầy đủ một trong ba mặt: chạy nhanh, sắc đẹp, vận tải. Có người sống trong Phật pháp như thật tri về bốn Chân đế, đã đoạn trừ ba lậu; là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, đầy đủ giải thoát tri kiến, đoạn tận các hữu kết, tâm được tự tại, sanh tử đã tận, phạm hạnh đã lập, việc đã làm xong, không thọ thân sau, đắc A-la-hán. Đây là đầy đủ về chạy nhanh. Ngoài ra như đã nói ở trên.
    Thế nào là hạng thứ hai đầy đủ mặt một và hai, không đầy đủ mặt thứ ba?
    Có người ở trong Phật pháp như thật tri về kiến về bốn Thánh đế… cho đến đắc A-la-hán. Nếu có người hỏi, trả lời thông suốt… như trên…
    Thế nào là hạng thứ ba, đầy đủ cả ba mặt?
    Người này ở trong Phật pháp như thật tri về kiến về bốn Thánh đế,… cho đến có phước đức… được lợi dưỡng,… đây gọi là ba sự việc đều đầy đủ.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

* Trang 493 *
device

146. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Có ba loại ngựa được khéo huấn luyện để cỡi, xứng đáng được vua và vương tử cỡi. Thế nào là ba loại? Đó là đầy đủ về chạy nhanh, đầy đủ về sắc đẹp, đầy đủ về vận tải.
Có ba hạng Tỳ-kheo cũng như ba loại ngựa kia. Tỳ-kheo nào đầy đủ ba việc, đáng được lễ bái, cúng dường, tán thán. Đây gọi là đầy đủ ba việc.
Thế nào là đầy đủ về sắc đẹp?
Tỳ-kheo nào trì giới đầy đủ, hộ trì hoàn toàn Ba-la-đề-mộc-xoa, qua lại, ra vào, đầy đủ các uy nghi, tâm sợ hãi đến những tội lỗi nhỏ nhặt, kiên trì về giới luật, không có vi phạm. Đây gọi là đầy đủ sắc đẹp.
Thế nào là đầy đủ về sức lực?
Tỳ-kheo nào đối với pháp ác chưa sanh, làm cho không sanh; pháp ác đã sanh, làm cho tiêu diệt; pháp thiện chưa sanh, làm cho phát sanh; pháp thiện đã sanh làm cho tăng trưởng. Đây gọi là đầy đủ sức lực.
Thế nào là đầy đủ về chạy nhanh?
Tỳ-kheo nào ở trong Phật pháp đã như thật tri về kiến về bốn chân đế, đây gọi là đầy đủ về chạy nhanh.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
147. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Có bốn loại ngựa hay, xứng đáng để hàng vương giả cỡi. Thế nào là bốn? Được điều phục hoàn toàn, chạy nhanh, kham nhẫn ở yên, không đá lộn.

* Trang 494 *
device

Tỳ-kheo thành tựu bốn đức tánh như vậy, xứng đáng được mọi người quy y, cúng dường, lễ bái, chắp tay cung kính là phước điền vô thượng trong thế gian. Thế nào là bốn? Đó là được điều phục hoàn toàn, nhanh nhẹn, kham nhẫn an định, không tán loạn.
   Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy hoan hỷ phụng hành.
148. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Có bốn loại ngựa đáng để người hiền cỡi, có mặt trong thế gian này. Thế nào là bốn?
.Loại thứ nhất: Thấy bóng roi giơ lên liền kinh sợ, tùy ý người điều khiển.
.Loại thứ hai: Roi vừa chạm vào lông trên thân liền kinh sợ, tùy ý người điều khiển.
.Loại thứ ba: Roi chạm đến thịt thì sợ, tùy ý người điều khiển.
.Loại thứ tư: Roi buốt đến thịt xương sau đó mới kinh sợ, tùy ý người điều khiển.
Bậc trượng phu cũng có bốn hạng. Thế nào là bốn?
.Hạng thứ nhất: Nghe ở thôn xóm khác có người nam hay nữ bị bệnh nặng, rất đau khổ đến gần chết; nghe nói như vậy, người này đối với pháp thế tục nhàm chán, biết rõ, do nhàm chán nên chí tâm tu tập pháp thiện. Đây gọi là hạng trượng phu được điều thuận, như ngựa thấy bóng roi liền theo ý người điều khiển.
.Hạng thứ hai: Nghe ở trong xóm làng của mình có người nam hay nữ bị bệnh nặng đến gần chết rồi qua đời; thấy sự việc này rồi, người ấy sanh tâm nhàm chán, do nhàm chán nên chí tâm tu tập pháp thiện. Đây gọi là hạng trượng phu được điều thuận, như ngựa bị roi vừa chạm vào lông thân liền tùy ý người điều khiển.
.Hạng thứ ba: Tuy thấy trong làng xóm mình có người bị bệnh, chết vẫn không sanh tâm nhàm chán, nhưng khi thấy thân thuộc, bạn bè, người hỗ trợ mình bị bệnh quá nặng, cho đến qua đời, sau đó mới

* Trang 495 *
device

sanh tâm nhàm chán thế gian. Do nhàm chán nên siêng năng tu hành hạnh thiện. Đây là hạng trượng phu được điều thuận như ngựa bị roi chạm vào thịt liền theo ý người điều khiển.
.Hạng thứ tư: Tuy thấy bà con thân thuộc, bạn bè bị bệnh qua đời, vẫn không sanh lòng nhàm chán, nhưng khi tự thân bị bệnh rất nguy kịch, rất đau đớn, quá đau khổ, không vui chút nào, sau đó mới sanh tâm nhàm chán. Do tâm nhàm chán, tu hành các hạnh thiện. Đây là bậc trượng phu như ngựa bị roi đánh buốt vào xương cốt mới theo ý người điều khiển.
Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
149. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
 Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Ngựa có tám tánh xấu, cả thế gian đều biết và thấy trong hiện tại. Những gì là tám?
.Thứ nhất: Khi người cỡi ngựa, giật dây cương điều khiển bằng roi để đi đường xa thì ngựa dữ này cắn ngàm, nhảy vòng vòng, bứt dây cương, phá nát dụng cụ để cỡi, làm thân thể bị tổn thương. Đây là tánh xấu của ngựa.
. Thứ hai: Khi được người cỡi, ngựa dữ này không tiến tới, nhảy vọt lên, không chịu sự khống chế, phá nát dụng cụ cỡi ngựa.
.Thứ ba: Khi được người cỡi, không chịu đi trên đường lộ, nhảy bừa vào hào, vào hố.
.Thứ tư: Khi được người cỡi, không chịu tiến tới lại chạy thụt lui.
.Thứ năm: Không biết sợ đau đớn chút nào với roi vọt của người điều khiển.
.Thứ sáu: Khi bị người cỡi điều khiển bằng roi, ngựa nhảy chồm lên đứng bằng hai chân.
.Thứ bảy: Người cỡi muốn ngựa chạy, nó lại nằm lăn ra đất, không chịu chạy tới.
.Thứ tám: Người cỡi muốn ngựa đi, nó lại đứng yên.

* Trang 496 *
device

Những người tu học trong Phật pháp cũng có tám lỗi như vậy. Thế nào là tám?
 .Thứ nhất: Tỳ-kheo nào được vị đồng phạm hạnh đem việc thấy, nghe, nghi để cảnh giác cho, liền bảo với vị kia rằng: “Hiện nay ông còn nhỏ, không trí tuệ, không hoàn thiện, không hiểu rõ, hãy đi cảnh giác người khác, tại sao lại muốn cảnh giác ta? Ông đã có lỗi còn đi nêu việc của người khác ra”. Tỳ-kheo như vậy giống như loại ngựa thứ nhất.
.Thứ hai: Vị đồng phạm hạnh thấy Tỳ-kheo có tội về kiến, văn, nghi nên nhắc bảo với người có tội rằng: “Hiện nay ông đã phạm tội như thế”. Khi ấy người có tội lại bảo với vị kia: “Hiện nay ông cũng đã phạm tội như vậy, hãy sám hối đi rồi mới nêu tội tôi lên”. Người như vậy có những lỗi lầm như loại ngựa thứ hai.
.Thứ ba: Tỳ-kheo nào có tội về kiến, văn, nghi, bị người khác nêu ra, liền nói quanh co, tùy theo nơi ái, sân, sợ, si mà tâm sanh phẫn nộ. Người như vậy có lỗi như loại ngựa thứ ba.
.Thứ tư: Tỳ-kheo nào có tội về kiến, văn, nghi, bị người khác nêu lên, liền bảo người cử sự: “Về iệc phạm tội ấy, tôi không nhớ gì cả”. Nên biết người này có lỗi như loại ngựa thứ tư.
.Thứ năm: Tỳ-kheo nào phạm vào tội về kiến, văn, nghi, bị vị đồng phạm hạnh đến nêu tội ấy ra. Khi đó người phạm tội thu xếp y bát tự ý bỏ đi nơi khác, tâm không nể sợ chúng Tăng và người cử sự gì cả. Nên biết người này có lỗi như loại ngựa thứ năm.
.Thứ sáu: Tỳ-kheo nào phạm tội về kiến, văn, nghi, bị đồng phạm hạnh cử tội ấy lên. Khi đó, người phạm tội vẫn ngồi ở chỗ cao, cùng các vị Trưởng lão Tỳ-kheo tranh luận đạo lý, quơ tay nói lớn, bày tỏ: “Tất cả các người đều phạm tội về kiến, văn, nghi vậy mà nói tôi phạm tội ấy”. Nên biết người này có lỗi như loại ngựa thứ sáu.
.Thứ bảy: Tỳ-kheo nào phạm tội về kiến, văn, nghi, các Tỳ-kheo thanh tịnh cùng nêu việc ấy ra, người phạm tội đứng im lặng không chịu nói có tội hay không có tội, làm não loạn chúng Tăng. Nên biết người này có lỗi như loại ngựa thứ bảy.
.Thứ tám: Tỳ-kheo nào phạm tội về kiến, văn, nghi, Tỳ-kheo thanh tịnh phát hiện và nêu việc ấy ra, người phạm tội liền xả giới, thiện căn thoái chuyển, bỏ đạo hoàn tục. Sau khi hoàn tục vị ấy đứng

* Trang 497 *
device

bên cửa chùa nói với các Tỳ-kheo: “Nay tôi đã hoàn tục, làm thỏa mãn ý nguyện các người chưa? Nay các người có vô cùng hoan hỷ, thích thú không?”. Nên biết người này có lỗi như loại ngựa thứ tám.
   Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
150. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Có tám loại ngựa xứng đáng để bậc Hiền nhân cỡi. Bậc Hiền nhân là Chuyển luân Thánh vương. Thế nào là tám?
.Tướng hiền thứ nhất của ngựa là sanh ra từ giống ngựa hiền.
.Thứ hai: Được điều phục hoàn toàn, không gây phiền não cho các ngựa thường khác. Đây là tướng hiền thứ hai của ngựa.
.Thứ ba: Khi ăn cỏ không chọn tốt xấu, ăn hết không rơi vãi. Đây là tướng ngựa hiền thứ ba.
.Thứ tư: Không bao giờ đứng lại, nằm nghỉ nơi có vật ô uế, bất tịnh, nơi đại tiểu tiện. Đây là tướng ngựa hiền thứ tư.
.Thứ năm: Thường chỉ cho người điều khiển về lỗi lầm của ngựa dữ và dạy người điều khiển sửa trị ngựa dữ về những tật xấu. Đây là tướng ngựa hiền thứ năm.
.Thứ sáu: Thường kham chịu chở nặng không cầu nhẹ, luôn suy nghĩ: “Khi ta gặp ngựa khác chuyên chở, ta sẽ chở thay cho nó”. Đây là tướng ngựa hiền thứ sáu.
.Thứ bảy: Thường đi giữa đường, bắt đầu đi không nhảy vọt, đường đi nhỏ hẹp thì biết rõ để đi qua. Đây là tướng ngựa hiền thứ bảy.
.Thứ tám: Tuy bị bệnh nặng đến gần chết vẫn không thay đổi sức làm việc. Đây là tướng ngựa hiền thứ tám.
 Bậc Trượng phu hiền thiện cũng có tám hạng. Những gì là tám?
. Thứ nhất: Tỳ-kheo nào trì giới trọn vẹn, đầy đủ uy nghi, quan hệ với thế gian không bị phạm giới, lỡ phạm vào tội nhỏ tâm cũng rất sợ hãi, giữ giới đã thọ như người bị chột giữ gìn con mắt còn lại. Nên biết người này giống như hạng ngựa hiền thứ nhất sống hiền thiện.
.Thứ hai: Tỳ-kheo nào sống với đầy đủ pháp thiện, không bao

* Trang 498 *
device

 giờ làm phiền vị đồng phạm hạnh khác, sống chung một cách an lạc như nước hòa với sữa. Nên biết người này như loại ngựa thứ hai sống hiền thiện.
.Thứ ba: Tỳ-kheo nào khi thọ nhận sự ăn uống không chọn ngon dở, ăn hết không để rơi vãi. Nên biết người này như loại ngựa thứ ba sống hiền thiện.
.Thứ tư: Tỳ-kheo nào thấy các pháp ác, không thanh tịnh, tâm sanh nhàm chán, ba nghiệp đều xa lìa hành động bất thiện, chê trách pháp ác là xấu xa hạ tiện.  Nên biết người này như loại ngựa thứ tư sống hiền thiện.
.Thứ năm: Tỳ-kheo nào sau khi đã phạm tội, tự thân đến trước Đức Phật hay các vị đồng phạm hạnh để phát lộ sám hối tội lỗi của mình. Phải biết người này như hạng ngựa thứ năm sống hiền thiện.
.Thứ sáu: Tỳ-kheo giữ gìn đầy đủ học giới, thấy các vị Tỳ-kheo đồng phạm hạnh khác bị phạm giới, nên tâm sợ sệt tự nghĩ: “Ta phải tu học đừng để phạm giới như họ”. Phải biết người này như hạng ngựa thứ sáu sống hiền thiện.
.Thứ bảy: Tỳ-kheo nào hành tám Chánh đạo, không đi đường tà, phải biết người này như hạng ngựa thứ bảy sống hiền thiện, không đi sai đường.
.Thứ tám: Tỳ-kheo nào tuy bị bệnh rất nặng đến gần chết nhưng vẫn tinh tấn không biếng nhác, tâm chí kiên cố không thay đổi, luôn luôn tiến tới cầu các pháp thắng diệu, tâm không mệt mỏi. Phải biết người này như hạng ngựa thứ tám, tận lực đến chết luôn sống hiền thiện, chắc chắn chứng quả chân thật trong giáo pháp của Phật.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
151. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tinh xá Bồn-thật-ca, nước Na-đề-ca. 
Thế Tôn bảo Tôn giả Đại Ca-chiên-diên:
–Hãy định ý, chớ loạn tưởng, phải như ngựa toàn thiện chế ngự các căn, đừng như ngựa dữ tán loạn các căn. Như con ngựa dữ bị cột trong chuồng, chỉ nghĩ đến cỏ và nước, ngoài ra không biết gì cả, nếu

* Trang 499 *
device

không được cho ăn, bứt cả dây cương. Như có người tương ưng với nhiều dục trói buộc, vì tham dục nên tâm có nhiều giận hờn, sanh ra nhiều dục giác, vì có dục giác nên sanh ra nhiều não hại, nhiều loại ác giác do đó phát sanh. Do sự việc này nên không biết xuất ly, cuối cùng không thể nhận thức được thể tướng của dục.
    Lại có người đam mê ngủ nghỉ, vì thường ngủ nghỉ nên sanh nhiều loạn tưởng, các loại phiền não phát sanh từ đấy. Do sự việc này nên không biết pháp đối trị để xuất ly.
    Lại có người sanh nhiều trạo hối, vì tâm thường sanh trạo hối nên không thể phân biệt rõ hình tướng của các pháp. Phải biết trạo hối là nguyên nhân đưa đến tán loạn. Vì lý do này không biết pháp đối trị để xuất ly.
    Như con ngựa được huấn luyện hoàn toàn, bị cột trong chuồng, tâm không nghĩ đến cỏ và nước, không bứt dây cương. Như có người tâm không bị dục trói buộc, chỉ có tưởng tịnh, vì không nhiễm đắm dục tưởng nên không sanh ra sự che phủ, chướng ngại cho trạo hối, do nghi, do thùy miên… vì họ có năng lực không dấy tâm với năm thứ vây buộc, ngăn che nên biết pháp đối trị để xuất ly. Tỳ-kheo như vậy không dựa vào địa, thủy, hỏa, phong, cũng không dựa vào bốn định vô sắc mà sanh các pháp thiền, không căn cứ vào đời này, không căn cứ vào đời khác, cũng không căn cứ vào nhật, nguyệt, tinh tú, không căn cứ vào thấy nghe, không căn cứ vào chỗ phân biệt của thức, không nương vào trí tri, không nương vào cảnh giới do tâm thức suy cầu, không dựa vào giác tri mà chứng đắc thiền vô sở y chỉ. Tỳ-kheo nào không nương tựa vào các cảnh giới thiền pháp như vậy mà đạt được định thâm sâu thì được Thích Đề-hoàn Nhân, trời Tam thập tam và các Phạm chúng đều chắp tay cung kính, tôn trọng, quy y. Họ bày tỏ:
–Hiện nay chúng con không biết Tôn giả nương tựa vào phép tắc nào mà đắc thiền định như vậy.
Khi ấy Tôn giả Bạc-ca-lê đứng ở sau Phật, cầm quạt quạt Phật, lên tiếng thưa:
–Bạch Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo tu các thiền định mà không căn cứ vào bốn đại hay bốn vô sắc, cho đến không căn cứ vào tưởng giác quán. Nếu như thế thì các Tỳ-kheo làm sao đắc được thiền định

* Trang 500 *
device

như vậy để được Thích Đề-hoàn Nhân cùng đại chúng chắp tay cung kính, tôn trọng, tán thán người đắc thiền định này, và bày tỏ: “Vị thiện nam này là bậc cao thượng trong hàng trượng phu đã nương tựa vào pháp gì mà tu tập các thiền định như vậy!”
Đức Phật bảo Bạc-ca-lê:
–Tỳ-kheo nào tu tập thâm sâu nơi thiền định, quán sát địa đại đều hư ngụy, hoàn toàn không thấy có một tướng trạng của địa đại nào là chân thật, đối với thủy, hỏa, phong đại chủng và bốn vô sắc, đời này đời khác, nhật, nguyệt, tinh tú, phân biệt, biết, thấy, nghe, cảnh giới do tâm ý suy cầu, xem biết cùng với cảnh giới không do trí tri đạt được, tất cả đều hư giả, không có pháp thật, chỉ là giả hiện, do nhân duyên hòa hợp nên có tên gọi. Quán sát sự không tịnh ấy, không thấy có pháp và phi pháp.
Thế Tôn nói kệ:
Này ông Bạc-ca-lê
Cần phải biết thế này
Tu tập pháp tọa thiền
Quan sát vô sở hữu
Thiên chủ Kiều-thi-ca
Và trời Tam thập tam
Bậc chúa tể thế giới
Trời Đại Phạm thiên vương
Chắp tay cung kính lễ
Bậc tôn quý trong đời
Đều xưng tán bằng lời
Nam-mô Thiện Trượng Phu
Chúng tôi không biết ngài
Dựa nơi phương pháp nào
Chứng đắc thiền định này
Mà không ai biết cả.
Khi Đức Thế Tôn giảng pháp này, Đại Ca-chiên-diên xa lìa bụi bặm cấu nhiễu, đắc pháp nhãn thanh tịnh. Tỳ-kheo Bạc-ca-lê diệt sạch phiền não, không còn thọ đời sau, đoạn hết kết nghiệp.
Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

* Trang 501 *
device

Kệ tóm lược:
Ác mã, điều thuận mã
Hiền thừa, ba và bốn
Tiên ảnh tịnh điều thừa
Hữu quá, tám loại ác
Ca-chiên-diên ly cấu
Mười việc đều hoàn thành.
152. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại rừng Ni-câu-đà, thuộc nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ, Thích-ma-nam đến gặp Đức Phật, đảnh lễ sát dưới chân rồi ngồi qua một bên, thưa Phật:
–Bạch Thế Tôn, Ưu-bà-tắc nghĩa là gì? Cầu mong Như Lai giảng cho con.
Đức Phật bảo Ma-ha-nam:
–Người tại gia bạch y, quy y Tam bảo thì gọi là Ưu-bà-tắc, ông chính là hạng này.
Ma-ha-nam lại bạch Phật:
–Thế nào là Ưu-bà-tắc có lòng tin?
Phật bảo Ma-ha-nam:
–Ai đối với Như Lai có tâm tận tín, an trú trong lòng tin ấy, không bị Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm, Người, phá hoại mất lòng tin, đấy gọi là Ưu-bà-tắc có lòng tin.
Ma-ha-nam lại bạch Phật:
–Thế nào là giới của Ưu-bà-tắc?
Đức Phật bảo Ma-ha-nam:
–Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Đây là giới của Ưu-bà-tắc.
Hỏi:
–Thế nào là bố thí đầy đủ?
Phật bảo Ma-ha-nam:
-Pháp của Ưu-bà-tắc là cần phải bỏ tham lam keo kiệt, tất cả chúng sanh đều bị tham lam ganh ghét như vậy. Vì thế cần phải xa lìa

* Trang 502 *
device

tâm ý tham lam keo kiệt, ganh ghét, phát tâm buông bỏ, hết sức tự mình bố thí không có mệt mỏi. Đấy gọi là bố thí đầy đủ.
Hỏi:
–Thế nào là trí tuệ đầy đủ?
Đức Phật bảo Thích-ma-nam:
–Vị Ưu-bà-tắc như thật tri về khổ, như thật tri về khổ tập, như thật tri về khổ diệt, như thật tri về con đường dẫn đến khổ diệt, biết bốn Thánh đế này một cách chắc chắn rõ ràng, đây gọi là trí tuệ đầy đủ.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.
153. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại rừng Ni-câu-đà, thuộc nước Ca-tỳ-la-vệ.
Lúc ấy Thích-ma-nam cùng năm trăm Ưu-bà-tắc đến gặp Đức Phật, đảnh lễ sát chân Ngài rồi ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, như lời Phật dạy, Ưu-bà-tắc là người tại gia bạch y, đủ tâm trí trượng phu, quy y Tam bảo, tự mình nói rõ tôi là Ưu-bà-tắc. Họ làm thế nào để đắc quả Tu-đà-hoàn, cho đến quả A-na-hàm?
Phật bảo Thích-ma-nam:
–Ai đoạn trừ hết ba kết là thân kết, giới cấm thủ và lưới nghi thì chứng Tu-đà-hoàn, không còn bị đọa vào ba đường ác, có lòng tin quyết định với đạo vô thượng, qua lại bảy lần trong cõi Trời, Người thì đoạn sạch cảnh giới khổ, chứng Niết-bàn. Đây gọi là Ưu-bà-tắc chứng Tu-đà-hoàn.
Hỏi:
–Làm thế nào để đắc quả Tư-đà-hàm?
Đức Phật bảo Ma-ha-nam:
–Ai sau khi đoạn xong ba kết, giảm thiểu dâm, nộ, si, gọi là Tư-đà-hàm.
Hỏi:
–Làm thế nào đắc quả A-na-hàm?
Đức Phật bảo Ma-ha-nam:

* Trang 503 *
device

–Ai đoạn trừ được ba phần kết và năm hạ phần kết sử, thì chứng A-na-hàm.
Ma-ha-nam cùng năm trăm vị Ưu-bà-tắc nghe pháp này rồi, sanh tâm hoan hỷ, bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, rất là ít có. Những người tại gia mà được lợi ích thù thắng này, tất cả nên trở thành Ưu-bà-tắc.
Ma-ha-nam thưa như vậy xong, lễ Phật rồi từ giã.
Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.
154. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại rừng Ni-câu-đà, thuộc nước Ca-tỳ-la-vệ.
Lúc ấy Ma-ha-nam đến gặp Đức Phật, sau khi lễ kính thì ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, thế nào gọi là Ưu-bà-tắc đủ chí khí trượng phu… như đã trình bày ở trước. Lại phải như thế nào mới có đầy đủ các hạnh?
Đức Phật bảo Ma-ha-nam:
–Vị Ưu-bà-tắc đầy đủ lòng tin nhưng không giữ giới đầy đủ, gọi là có tín nhưng chưa đủ giới. Người muốn cầu đầy đủ tín và giới cần phải siêng năng tu tập các phương pháp làm cho đầy đủ. Đây là Ưu-bà-tắc có đầy đủ tín và giới. Này Ma-ha-nam, vị Ưu-bà-tắc đầy đủ tín giới, nhưng chưa đầy đủ xả, cần phải tu tập các phương pháp làm cho đầy đủ.
Ma-ha-nam bạch Phật:
–Hiện nay con đầy đủ cả ba chi: tín, giới, xả.
Đức Phật bảo Ma-ha-nam:
–Ông nay tuy đầy đủ ba việc trên, nhưng không thường lui tới tăng phòng, tinh xá, vì lý do này gọi là không đầy đủ, cần phải siêng năng tìm phương pháp thường đến chùa, tháp.
Bấy giờ Ma-ha-nam bảo các Ưu-bà-tắc:
–Chúng ta cần phải có đầy đủ lòng tin, giữ giới, tâm xả và thường lui tới chùa.
Đức Phật bảo Ma-ha-nam:
–Ai có thể có đầy đủ cả lòng tin, giữ giới, tâm xả, thường đến

* Trang 504 *
device

chùa thân cận Tăng bảo, được gọi là đầy đủ. Này Ma-ha-nam, nếu có đầy đủ bốn việc trên nhưng không chịu nghe pháp, là không đầy đủ.
Ma-ha-nam thưa:
–Con thường nghe pháp.
Phật bảo:
–Này Ma-ha-nam, người nào tuy thường nghe kinh, nhưng không thọ trì thì không gọi là đầy đủ. Ai tuy thường thọ trì mà không hiểu nghĩa, cũng là không đầy đủ. Ai tuy hiểu ý nghĩa mà không tu hành đúng lời nói, cũng là không đầy đủ. Ai đầy đủ lòng tin, giữ giới, tâm xả, thường đến chùa nghe pháp, thọ trì, hiểu đúng ý nghĩa, theo đúng như thuyết tu tập, đây là hành động đầy đủ viên mãn. Này Ma-ha-nam, người nào đủ tín, giới, tâm xả, thường đến chùa, thân cận Tăng bảo, nhưng không chuyên tâm nghe pháp, cũng gọi là không đầy đủ hạnh. Vì lý do này cần phải có phương tiện chuyên tâm nghe pháp, nhưng có nghe pháp mà không thọ trì cũng gọi là không đầy đủ. Thế nên cần phải thọ trì chánh pháp. Tuy thường thọ trì, nếu không hiểu nghĩa cũng gọi là không đầy đủ. Thế nên cần phải hiểu rõ nội dung ý nghĩa của lời nói. Tuy hiểu rõ đúng nghĩa nhưng không tu tập theo đúng lời nói ấy, cũng gọi là không đầy đủ. Thế nên cần phải tu tập đúng như giáo thuyết. Ai có thể đầy đủ cả tín tâm, trì giới, tâm xả, thường đến chùa, chuyên tâm nghe pháp, thọ trì không quên, hiểu rõ ý nghĩa… nhưng không tu tập đúng theo giáo thuyết cũng gọi là không đầy đủ. Này Ma-ha-nam, vị Ưu-bà-tắc nhờ tín tâm nên trì giới, nhờ trì giới nên đầy đủ tâm xả, nhờ đầy đủ tâm xả nên thường thân cận Tăng bảo, nhờ thân cận Tăng bảo nên chuyên tâm nghe pháp, do chuyên tâm nghe pháp nên thường thọ trì, do thường thọ trì nên hiểu được ý nghĩa, do hiểu được ý nghĩa nên thường tu tập đúng lời nói, siêng năng tu tập các phương pháp làm cho đầy đủ.
Ma-ha-nam lại bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, vị Ưu-bà-tắc đủ bao nhiêu chi phần để tự lợi và chưa lợi tha?
Phật bảo Ma-ha-nam:
–Người nào có đầy đủ tám chi phần là tự lợi, chưa lợi tha. Những gì là tám? Vị Ưu-bà-tắc có tín tâm không dạy người có tín tâm, có giữ giới không dạy người giữ giới, tự tu hạnh xả không dạy người bố thí, tự

* Trang 505 *
device

đến chùa tháp thân cận Tăng bảo nhưng không dạy người đến chùa tháp thân cận Tăng bảo, tự mình nghe pháp không dạy người nghe chánh pháp, tự mình thọ trì không dạy người thọ trì, tự mình hiểu nghĩa không dạy người hiểu nghĩa, tự mình tu tập đúng lời nói không dạy người tu tập đúng lời nói. Đây là Ưu-bà-tắc đủ tám chi phần tự lợi, không lợi tha.
Ma-ha-nam lại bạch Phật:
–Đầy đủ bao nhiêu chi phần thì gọi là đầy đủ tự lợi và lợi tha?
Đức Phật dạy:
–Ai có thể đầy đủ mười sáu chi phần thì người ấy tạo được tự lợi và lợi tha. Đó là: Tự mình sanh lòng tin, dạy người có lòng tin. Tự trì giới, dạy người trì giới. Tự tu tập tâm xả, dạy người bố thí. Tự đi đến chùa, dạy người đến chùa thân cận Tăng bảo. Tự nghe pháp, dạy người nghe chánh pháp. Tự mình thọ trì, dạy người thọ trì. Tự mình giải rõ ý nghĩa, dạy người giải rõ. Tự mình tu hành đúng lý thuyết, dạy người tu hành đúng lý thuyết. Ai thực hành đầy đủ mười sáu chi phần này, được gọi là tự lợi và lợi tha đầy đủ. Người như vậy đến với chúng Sát-lợi, Bà-la-môn, Cư sĩ, Sa-môn nào, đều làm cho những chúng hội ấy sáng rực lên, như ánh sáng mặt trời  phá tan các bóng tối. Nên biết người này thật ít có.
Đức Phật dạy như vậy, Thích-ma-nam lễ Phật rồi từ giã. Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
155. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại rừng Ni-câu-đà, thuộc nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ Thích-ma-nam đến gặp Đức Phật, đảnh lễ sát dưới chân Phật rồi ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, thành Ca-tỳ-la này dân chúng phồn thịnh, giàu có an lạc. Con sống trong cảnh này có lúc suy nghĩ: “Nếu có voi dữ, xe chạy nhanh, ngựa lồng, người cuồng, chạy đụng vào người con, vào trường hợp ấy có khi con không còn nhớ đến Phật, Pháp, Tăng”. Con lại nghĩ: “Nếu ta qua đời trong lúc tâm không có nhớ đến Tam bảo thì sẽ sanh vào nơi nào, cảnh giới nào và thọ quả báo gì?”.
Đức Phật dạy:

* Trang 506 *
device

–Trường hợp ấy ông không nên sợ hãi. Sau khi qua đời, ông sẽ sanh vào cảnh giới thiện, không bị đọa nơi cõi ác, không thọ quả báo ác. Như cây đại thọ khi mọc lên luôn luôn hướng về phương Đông, nếu nó bị hạ xuống sẽ ngã về phương nào? Phải biết cây này chắc chắn ngã về phương Đông. Cũng như vậy, ông đã luôn luôn tu tập pháp thiện lâu ngày, nếu bị đọa vào cõi ác, thọ ác báo là điều không thể có.
  Ma-ha-nam nghe lời Phật dạy, đảnh lễ sát chân Phật, trở về nhà. Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
156. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại rừng Ni-câu-đà, thuộc nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ Thích-ma-nam đến gặp Đức Phật, đảnh lễ sát dưới chân, ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, vị Tỳ-kheo ở địa vị hữu học, việc làm chưa xong, thường muốn tiến tới quả vị A-la-hán, nhập Niết-bàn, vị ấy cần phải tu tập bao nhiêu pháp để diệt sạch các hữu lậu, đắc tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời này chứng đắc quả vị La-hán, đạt được giới vô lậu, tự biết chắc chắn: “Ta không còn sanh tử, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không thọ thân đời sau nữa”?
Phật bảo Ma-ha-nam:
–Vị Tỳ-kheo ở địa vị hữu học, chưa đắc vô học, ý luôn cầu tiến, muốn chứng đắc Niết-bàn, phải thường tu tập sáu niệm. Như có người thân thể gầy yếu muốn an vui phải ăn món ngon, các Tỳ-kheo cũng vậy, vì muốn chứng Niết-bàn, phải tu tập sáu niệm. Thế nào là sáu?
    Một: niệm Đức Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh  Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Khi niệm Phật không có tham dục, sân hận, ngu si, chỉ có tâm thanh tịnh chân chính. Nhờ tâm chân chính nên đắc pháp và nghĩa, thân cận Phật. Thân cận Phật nên tâm hoan hỷ, nhờ hoan hỷ nên thân hỷ lạc, thân hỷ lạc nên tâm đắc định, do đắc định nên đối với kẻ oán gia và thân tộc của mình, không nghĩ đến yêu, ghét, giữ tâm bình đẳng, an trụ nơi dòng nước pháp, tâm nhập định, nhờ tu tập niệm Phật, tiến đến Niết-bàn, gọi là niệm Phật.

* Trang 507 *
device

Thứ hai: niệm Pháp là niệm công đức của Như Lai có mười Lực, bốn Vô sở úy, chắc chắn đưa đến Niết-bàn, cần phải chí tâm quan sát pháp này, chỉ có người trí mới biết rõ. Thánh đệ tử cần phải niệm Pháp, ngay khi ấy xa lìa tham dục, sân hận, ngu si, chỉ có tâm chân chính thanh tịnh, nhờ tâm chân chính nên hiểu đúng Pháp, thân cận Pháp nên tâm sanh hoan hỷ, nhờ hoan hỷ nên thân hỷ lạc, do hỷ lạc nên tâm đắc định, tâm đã định nên bình đẳng, đối với thù oán không còn yêu ghét, trụ nơi dòng nước pháp, tâm nhập định nhờ tu tập quán niệm pháp hướng đến Niết-bàn. Đây là niệm Pháp.
     Thứ ba: niệm Tăng. Chúng Tăng là đệ tử Đức Như Lai đắc pháp vô lậu, xứng đáng  là ruộng phước tốt của thế gian. Những gì là ruộng phước tốt? Tăng có Tu-đà-hoàn hướng và quả, Tư-đà-hàm hướng và quả, A-na-hàm hướng và quả, A-la-hán hướng và quả nên gọi là ruộng phước tốt. Tăng có đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến, nên xứng đáng được chắp tay cung kính. Ai niệm Tăng thì được pháp và nghĩa, thân cận với Tăng, tâm sanh hoan hỷ, vì hoan hỷ nên hỷ lạc, vì hỷ lạc nên đắc định, vì tâm định nên bình đẳng với oán thù, không có tham dục, sân hận, ngu si, chỉ có tâm thanh tịnh chân chính, trụ nơi dòng nước pháp, nhờ tu tập quán niệm Tăng, tiến đến Niết-bàn. Đây là niệm Tăng.
Thế nào là niệm Giới?
   Nghĩa là niệm giới không hoại, giới không khuyết, giới không tạp, giới không cấu uế, giới thoát ly sợ hãi, giới lìa hạnh tà, giới lìa trộm cắp, giới thanh tịnh, giới hoàn toàn thiện. Ai niệm các giới như vậy thì xa lìa tham dục, sân hận, ngu si, tà kiến, xa lìa pháp ác, đắc pháp và nghĩa, thân cận giới, tâm sanh hoan hỷ, vì hoan hỷ nên hỷ lạc, nhờ hỷ lạc nên tâm đắc định, tâm định nên bình đẳng đối với oán thù, thanh tịnh chân chính, trụ nơi dòng nước pháp, tâm nhập định nhờ tu quán niệm giới. Đây là niệm Giới.
   Thế nào là niệm Thí?
    Niệm sự bố thí của ta có kết quả hoàn hảo. Khắp thế gian đều bị keo kiệt, ganh tị phủ vây, nay ta được thoát ly cấu uế của sự tham lam keo kiệt, đem tất cả các vật bố thí với tâm không luyến tiếc. Sau khi bố thí, ta hoan hỷ như gặp ngày hội lớn, phân phối tài vật của ta cho người khác. Người nào có thể tu tập tâm bố thí như vậy, ngay trong đời

* Trang 508 *
device

này đắc pháp với nghĩa, thân cận bố thí, không có tâm tham dục, sân hận, ngu si, chỉ có tâm chân chính thanh tịnh, nhờ đó sanh hoan hỷ, nhờ hoan hỷ nên thân hỷ lạc, thân hỷ lạc nên tâm nhập định, tâm đã định nên bình đẳng đối với oán thù, trụ trong dòng nước pháp. Tâm nhập định nhờ tu tập quán niệm thí.
   Thế nào là niệm Thiên?
   Đó là Tứ Thiên vương, Tam thập tam thiên, Diệm-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hóa lạc thiên, Tha hóa tự tại thiên. Ai có lòng tin nơi chư Thiên này, nhờ năng lực ấy sẽ sanh vào các cõi của chư Thiên. Cũng vậy, ta có tín, giới, văn, thí, tuệ, nhờ công đức này sanh lên cõi thiên. Ta cũng thấy những người có công đức như vậy sanh lên cõi thiên. Niệm thiên như vậy nên thoát ly tham dục, sân hận, ngu si, chỉ có tâm thanh tịnh ngay thẳng, ngay trong đời này đắc pháp với nghĩa, thân cận chư Thiên nên tâm hoan hỷ, tâm hỷ nên thân hỷ lạc, thân lạc nên tâm nhập định, tâm định nên bình đẳng đối với oán ghét, trụ nơi dòng nước pháp, tâm nhập định nhờ tu tập quán niệm thiên, gọi là niệm Thiên.
     Này Ma-ha-nam, Tỳ-kheo nào ở địa vị hữu học, việc làm chưa xong, thường muốn cầu tiến đến quả A-la-hán, nhập Niết-bàn, cần phải chí tâm tu tập sáu niệm này. Ai tu tập được sáu niệm ấy thì đoạn sạch các hữu lậu, đắc tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời này chứng quả giải thoát. Khi đã chứng đắc, vị ấy bày tỏ: “Ta đã hết sanh tử, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không thọ thân đời sau nữa”.
     Ma-ha-nam và các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
157.
Khi ấy Đức Thế Tôn an cư kiết hạ tại rừng Ni-câu-đà, thuộc nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ vào cuối mùa hạ, có nhiều Tỳ-kheo tập hợp ở giảng đường may y cho Đức Phật. Sau khi may y, các Tỳ-kheo suy nghĩ: “Chúng ta đã may vá y xong rồi, hãy theo Đức Phật du hành”.
Thích-ma-nam nghe nói các Tỳ-kheo may vá y đã xong sẽ theo

* Trang 509 *
device

 Phật du hành, nghe như vậy, ông ta đến gặp Đức Phật, lạy sát chân Ngài, rồi ngồi qua một bên, bạch:
–Thân tâm của con đang rất nặng nề, trì độn, không còn phân biệt được gì cả, tuy có nghe pháp nhưng tâm không cảm thấy thích thú. Tại sao? Con nghe các Tỳ-kheo may vá y đã xong, sẽ theo Phật du hành, nên con suy nghĩ: “Bao giờ mới gặp lại Thế Tôn và các Tỳ-kheo để tu tâm?”.
Đức Phật dạy:
–Ta và các Tỳ-kheo tuy rời khỏi nơi này nhưng ông muốn luôn luôn được thấy Như Lai và các Tỳ-kheo, phải dùng pháp nhãn, chí tâm quan sát, thường tu tập năm việc. Thế nào là năm?
    Đó là đầy đủ tín tâm, thường tùy thuận giáo pháp, chẳng phải không có tín tâm mà tùy thuận giáo pháp. Trì tịnh giới tùy thuận giáo pháp, chẳng phải phá giới mà tùy thuận giáo pháp. Đa văn tùy thuận giáo pháp, chẳng phải ít hiểu biết mà tùy thuận giáo pháp. Không phải keo kiệt mà thực hành bố thí, vì tâm xả nên thường hành bố thí. Không phải tu tâm trí tuệ bằng ngu si, vì tâm trí tuệ nên có thể phân biệt hình tướng các pháp. Thế nên, này Ma-ha-nam, ai muốn thường thấy Đức Phật và các Tỳ-kheo phải thường tu tập năm pháp như vậy và sáu pháp niệm. Ai thực hiện được như thế, ta cùng chúng Tỳ-kheo luôn luôn có ở trước mặt họ. Tăng có nghĩa là hòa hợp.
   Ma-ha-nam nghe lời Phật dạy, hoan hỷ đảnh lễ rồi từ giã.
158. Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Đức Phật ở tại rừng Ni-câu-đà, thuộc nước Ca-tỳ-la-vệ.
    Bấy giờ Thích-ma-nam đến gặp Đức Phật, đảnh lễ sát chân Phật, ngồi qua một bên, bạch:
–Thưa Thế Tôn, theo như con hiểu ý nghĩa lời Phật dạy, tâm được định mới đắc giải thoát. Như vậy thì đắc định trước, giải thoát sau; hay giải thoát trước, đắc định sau; hay định và giải thoát cùng đắc một lần? Đây là việc con chưa từng gặp, chưa từng làm, chưa từng phát sanh trong quá khứ, hiện tại và vị lai.
    Thế Tôn im lặng không đáp. Ma-ha-nam hỏi lần thứ hai, thứ ba, Như Lai vẫn im lặng không đáp. Tôn giả A-nan đang ở bên cạnh Như

* Trang 510 *
device

Lai, cầm quạt quạt Phật, suy nghĩ: “Ma-ha-nam đem ý nghĩa thâm diệu thưa hỏi Đức Thế Tôn, Thế Tôn đang vừa mới khỏi bệnh, khí lực còn yếu, chưa thuyết pháp được. Ta sẽ thay Ngài lược nói một ít giáo pháp để ông ta đi về”.
Tôn giả A-nan nghĩ như thế rồi, bảo với Thích-ma-nam:
–Đức Như Lai có giảng dạy về hữu học giới và vô học giới, hữu học định và vô học định, hữu học tuệ và vô học tuệ, hữu học giải thoát và vô học giải thoát.
Ma-ha-nam bạch Tôn giả A-nan:
–Thế nào là học giới, vô học giới; học định, vô học định; học tuệ, vô học tuệ; học giải thoát, vô học giải thoát, do Đức Như Lai giảng dạy?
Tôn giả A-nan đáp:
–Thánh chúng của Như Lai sống trong giới luật, hộ trì Ba-la-đề-mộc-xoa, đầy đủ uy nghi, chánh hạnh, đối với tội lỗi nhỏ nhặt, tâm cũng sợ hãi, giữ gìn đầy đủ giới cấm. Đây là trì giới đầy đủ. Vị ấy nhàm chán pháp ác, dục, bất thiện, lìa dục sanh hỷ lạc, nhập Sơ thiền, cho đến đệ Tứ thiền. Đây là đắc thiền định. Vị ấy như thật tri về khổ, như hật tri về khổ tập, như thật tri về khổ diệt, như thật tri về khổ diệt đạo. Với tri kiến như vậy, đoạn năm hạ phần kết là: thân kiến, giới cấm thủ, nghi ngờ, tham dục, sân hận. Sau khi đoạn năm hạ phần kết, được hóa sanh đến cảnh giới khác để đắc Niết-bàn. Vị này gọi là A-na-hàm, không còn tái sanh đến Dục giới này nữa. Đây gọi là hữu học giới, hữu học định, hữu học tuệ, hữu học giải thoát.
    Vào lúc khác, vị ấy đoạn tận các hữu lậu, đắc vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong pháp này tự biết chứng đắc vô sanh; sanh tử đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không còn thọ thân ở đời sau. Lúc đó vị ấy đắc vô học giới, vô học định, vô học tuệ, vô học giải thoát. Này Ma-ha-nam, vì vậy Đức Phật giảng dạy có hữu học và vô học.
     Khi ấy Ma-ha-nam nghe lời dạy này, hoan hỷ đảnh lễ rồi từ giã. Sau khi Ma-ha-nam đi chưa bao lâu, Đức Phật hỏi A-nan:
–Các Tỳ-kheo cùng chúng họ Thích ở nước Ca-tỳ-la-vệ này có cùng nhau giảng luận những ý nghĩa sâu xa như vậy không?
A-nan bạch Phật:

* Trang 511 *
device

–Các Tỳ-kheo và chúng họ Thích ở nước Ca-tỳ-la-vệ này thường bàn luận với nhau về ý nghĩa sâu xa như vậy.
Đức Phật bảo A-nan:
–Các Tỳ-kheo cùng chúng họ Thích ở nước Ca-tỳ-la-vệ này được thuận lợi to lớn, đã hiểu rõ về tuệ nhãn của thánh hiền như vậy.
Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
159. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại rừng Ni-câu-đà, thuộc nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ Thô Thủ Thích đến gặp Ma-ha-nam hỏi:
–Như Lai giảng dạy về Tu-đà-hoàn, có bao nhiêu bất hoại tín?
Ma-ha-nam đáp:
–Theo lời dạy của Như Lai, vị Tu-đà-hoàn có bốn chi bất hoại tín. Đó là đối với Phật bất hoại tín, với Pháp…, với Tăng…, với Thánh giới đã thọ bất hoại tín.
Thô Thủ Thích nói:
–Bạn không nên nói Đức Như Lai giảng thuyết bốn Bất hoại tín. Vì sao? Như Lai chỉ dạy có ba bất hoại tín. Đó là không được hoại tín đối với Tam bảo.
Hai người phân vân tranh cãi theo ý kiến của mình, không thể xác quyết nên cùng đi đến gặp Phật, đảnh lễ sát dưới chân, ngồi qua một bên, thỉnh Phật giải quyết chỗ nghi ngờ. Ma-ha-nam bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, Thô Thủ Thích này đến gặp con hỏi: “Như Lai dạy có bao nhiêu bất hoại tín?”. Con đáp: “Như Lai dạy có bốn Bất hoại tín là Tam bảo và Thánh giới đã thọ”. Thô Thủ Thích nói: “Như Lai chỉ dạy có ba Bất hoại tín là Tam bảo, tại sao nói có bốn?”. Bạn ấy nói ba lần như vậy, con đều đáp: “Sự thật Như Lai nói có bốn, không nói có ba”. Cả hai chúng con không hiểu nhau.
Thô Thủ Thích đứng dậy bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, giả sử Phật không dạy con, Tăng không dạy con, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Trời, Ma, Phạm, những hạng ấy đều không dạy con hướng đến với Phật, con cũng nhất tâm hướng về Phật, Pháp, Tăng.

* Trang 512 *
device

Phật bảo Ma-ha-nam:
–Thô Thủ Thích nêu bày như vậy, ông đáp thế nào?
Ma-ha-nam bạch Phật:
–Như vậy con không còn gì để đáp, ngoài Phật pháp ra không có chỗ thiện nào khác, ngoài Phật pháp ra không có chỗ chân thật nào khác, không còn chỗ nào đúng và hoàn thiện hơn nữa.
Phật bảo Ma-ha-nam:
–Từ nay về sau ông nên hiểu rằng: có đầy đủ bốn Bất hoại tín là Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới đã thọ.
Thô Thủ Thích vì không hiểu rõ nên đã bày tỏ như vậy, khi nghe Phật giảng liền hiểu rõ.
Ma-ha-nam và Thô Thủ Thích nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
160.
    Một thời, Đức Phật ở tại rừng Ni-câu-đà, thuộc nước Ca-tỳ-la-vệ.
   Bấy giờ những người họ Thích trong nước tập hợp ở chỗ bình luận. Sau khi an tọa, những người này cùng nhau bàn bạc, nói với Ma-ha-nam:
–Không có liên hệ giữa trước và sau. Theo ý ông thì lấy nhân gì để làm quả sau? Thô Thủ Thích được Như Lai thọ ký ông ấy đắc quả Tu-đà-hoàn, chỉ còn sanh tử bảy lần trong cõi trời, người thì vượt qua bờ khổ, nhưng ông ta đã phạm giới cấm uống rượu, vậy mà Phật còn thọ ký đắc quả Tu-đà-hoàn. Như vậy thì có liên hệ gì giữa trước và sau?
   Họ lại bảo Ma-ha-nam:
–Ông hãy đến gặp Thế Tôn hỏi về ý nghĩa này.
Ma-ha-nam theo lời nói ấy, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ sát chân Phật, ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Những người họ Thích ở Ca-tỳ-la tập hợp nơi chỗ bàn luận. Tại đó họ lý luận với con thế này: “Cái gì là trước và sau? Khi Thô Thủ Thích qua đời, Như Lai đã thọ ký ông ta đắc Tu-đà-hoàn, sanh tử bảy lần trong cõi nhân thiên, thì vượt qua bờ khổ, nhưng Thô Thủ Thích phạm giới cấm, phóng dật, uống rượu. Nếu ông ta được thọ

* Trang 513 *
device

ký đắc quả Tu-đà-hoàn, như vậy biết rằng không có quan hệ trước và sau”.
Đức Phật dạy:
–Người nào tôn xưng Ta là Thiện Thệ, Thế Tôn, khi gọi là Thiện Thệ tất họ có tâm hướng đến Thiện Thệ. Đệ tử Hiền thánh có tâm chánh niệm, thấy đúng đắn nên miệng tôn xưng Thiện Thệ. Này Ma-ha-nam, vị Thánh đệ tử một lòng quy y Phật, Pháp, Tăng, Tam bảo nên đắc trí nhanh nhạy, trí sắc bén, trí xa lìa, trí hợp với đạo, không đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và cõi khác, đắc tám giải thoát, đắc thân chứng, đầy đủ tám giải thoát, sống đầy đủ với giới, dùng trí tuệ thấy rõ, dứt sạch các lậu. Vị này gọi là đắc câu phần giải thoát A-la-hán. Lại nữa, này Ma-ha-nam, vị Thánh đệ tử như trên đã nói, nhưng chỉ đắc tuệ giải thoát A-la-hán vì không đắc tám giải thoát. Lại nữa, này Ma-ha-nam, vị đệ tử Hiền thánh hết lòng quy y Phật, ngoài ra như trên…, thân chứng A-na-hàm, thành tựu tám giải thoát, nhưng chưa hết các lậu.
   Này Ma-ha-nam, vị đệ tử Hiền thánh một lòng quy y Phật như trên, không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, không đọa vào nẻo ác; đối với chánh pháp của Như Lai, tùy thuận không trái nghịch, gọi là Kiến đạo.
   Này Ma-ha-nam, vị đệ tử Hiền thánh một lòng quy y Phật như trên đã nói, tin theo giáo pháp của Phật, tùy thuận với giải thoát, gọi là Tín giải thoát.
   Này Ma-ha-nam, vị đệ tử Hiền thánh tin theo lời Phật, hoan hỷ tu tập, chấp nhận năm pháp là: tín, tấn, niệm, định, tuệ, không đọa vào ba đường ác, gọi là Kiên pháp.
    Này Ma-ha-nam, vị đệ tử Hiền thánh tin một phần lời Phật, chấp nhận yêu thích năm pháp ở trên, không đọa ba đường ác, gọi là Kiên tín.
     Này Ma-ha-nam, nếu ta nói mà rừng cây Sa-la hiểu được ý nghĩa, thì việc này không đúng, nhưng giả sử chúng hiểu được ý nghĩa thì ta cũng thọ ký chúng đắc quả Tu-đà-hoàn. Với ý nghĩa này, tại sao ta không thọ ký cho Thô Thủ Thích đắc quả Tu-đà-hoàn! Vì sao? Thô Thủ Thích không phạm tánh giới, chỉ phạm giá giới, khi lâm chung lại sám hối việc đã làm, nhờ sám hối nên giới được trọn vẹn. Người có

* Trang 514 *
device

phạm tội nhỏ, biết sám hối đầy đủ, tại sao không thọ ký Thô Thủ Thích đắc quả Tu-đà-hoàn!
Thích Ma Nam nghe lời Phật dạy, hoan hỷ đảnh lễ rồi từ giã.
Kệ tóm lược:
Ưu-bà-tắc là gì
Đắc quả, tất cả hạnh
Tự khinh và trú xứ
 Mười một cùng mười hai
Giải thoát với Xá-ly
Thô Thủ là đủ mười.

* Trang 515 *
device

 
Đại Tập VII, Bộ A- Hàm VII, Kinh Tạp A- Hàm Số 3