LOGO VNBET
            SỐ 100 →124

    TẠP A-HÀM BIỆT DỊCH

* Trang 245 *
device

* Trang 246 *
device

                                                               SỐ 100
                                            BIỆT DỊCH KINH TẠP A-HÀM

                                                                     Hán dịch: Mất tên người dịch.
                                                                     Phụ vào dịch phẩm đời Tần.

                                                              QUYỂN I
                                                         TỤNG 1: Phần 1
1. Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật ở nơi vườn Am-bà-la, thuộc nước Di-si-la. Bấy giờ Tôn giả Thiện Sanh vừa mới cạo bỏ râu tóc, xuất gia, đến gặp Phật, làm lễ sát chân Ngài, rồi ngồi qua một bên. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Tộc tánh tử Thiện Sanh này có hai mặt đoan nghiêm: Một, dung mạo kỳ vĩ, xinh đẹp đặc biệt. Hai, cạo bỏ râu tóc, mặc pháp y vì tin chắc chắn các pháp thế gian ều quy về vô thường, nên đã xuất gia học đạo, diệt tận các phiền não, đầy đủ vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, thân chứng Niết-bàn, xa lìa sanh tử, phạm hạnh đã lập, không còn luân hồi.
Đức Phật dạy xong, nói kệ:
Tỳ-kheo thường định tịch
Trừ dục, lìa sanh tử
Ngay thân cuối cùng này
Phá tan các ma quân
Tu tâm đoạn phiền não
Đoan chính không ai bằng.

* Trang 247 *
device

Đức Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe dạy đều hoan hỷ phụng hành.
   2. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ. Bấy giờ có vô số đại chúng vây quanh Đức Thế Tôn để nghe thuyết pháp. Có một Tỳ-kheo dung sắc gầy yếu, không có uy nghi, đến chỗ Đức Phật, làm lễ dưới chân Ngài, chắp tay, theo các Tỳ-kheo ngồi qua một bên. Các Tỳ-kheo suy nghĩ: “Tỳ-kheo này vì sao dáng dấp gầy yếu như vậy, không có uy đức?”.
Thế Tôn biết ý nghĩ của các Tỳ-kheo, nên bảo:
–Này các Tỳ-kheo, các thầy có thấy vị Tỳ-kheo vừa làm lễ Ta không?
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy.
Đức Phật bảo:
–Nay các ông chớ sanh tâm xem thường vị ấy. Tại sao? Vì Tỳ-kheo đó việc làm đã xong, chứng đắc A-la-hán, đã bỏ gánh nặng, diệt sạch phiền não, đạt chánh giải thoát. Thế nên các ông không được sanh ý tưởng khinh khi đối với vị ấy. Nếu các ông được thấy biết như Ta, sau đấy mới có thể xét đoán vị ấy. Nếu các ông xét đoán sai lầm là tự hại mình.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Khổng tước màu lông tuy rực rỡ
Đâu bằng Hồng hộc vượt tầng không
Ngoại hình tuy xinh đẹp tươi hồng
Chẳng như Tôn đức sạch phiền não.
Vị Tỳ-kheo ấy như ngựa thuần
Giỏi tự điều phục cả thân tâm
Đoạn dục, diệt kết, thoát sanh tử
Mang thân cuối cùng phá ma quân.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo đều hoan hỷ phụng hành.

* Trang 248 *
device

     3. Tôi nghe như vầy:
     Một thời, Đức Phật ở vườn trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương xá. Bấy giờ Đề-bà-đạt-đa vừa đắc Tứ thiền, tự nghĩ: “Nước Ma-kiệt-đề này, ai là tối thắng?”. Ông ta lại suy nghĩ: “Hiện nay Thái tử A-xà-thế sẽ kế vị ngôi vua, nếu ta điều phục được ông ta thì có thể khống chế được dân chúng cả nước”.
     Suy nghĩ như thế xong, Đề-bà-đạt-đa bèn đi ngay đến chỗ A-xà-thế, hóa làm con voi quý đi vào cửa, rồi bay ra ngoài; lại hóa làm con ngựa quý cũng như vậy; lại hóa làm Sa-môn đi vào cửa rồi bay lên hư không. Ông ta lại hóa làm đứa bé, trên thân trang sức bằng các chuỗi ngọc quý, ngồi trên đùi A-xà-thế. A-xà-thế ôm lấy đùa giỡn, nhổ nước bọt vào miệng đứa bé. Đề-bà-đạt-đa vì tham lợi dưỡng liền nuốt nước miếng ấy. Đề-bà-đạt-đa bèn bỏ thân đứa bé biến trở lại thân cũ.
    A-xà-thế thấy sự việc ấy liền sanh tà kiến, cho rằng thần thông biến hóa của Đề-bà-đạt-đa hơn cả Đức Thế Tôn. Do đó, A-xà-thế sanh tâm vô cùng tín ngưỡng đối với Đề-bà-đạt-đa, hằng ngày chở đến năm trăm xe lương thực để cúng dường Đề-bà. Đề-bà-đạt-đa và năm trăm đồ chúng cùng nhau thọ hưởng các vật cúng dường ấy.
   Bấy giờ có nhiều Tỳ-kheo mặc y, mang bát vào thành khất thực. Sau khi thọ trai, họ đến gặp Thế Tôn, thưa:
–Bạch Thế Tôn, trước đây chúng con vào thành khất thực, thấy Đề-bà-đạt-đa chiêu tập những kẻ gần xa, thu đạt lợi dưỡng lớn.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Các ông không nên đối với địa vị của Đề-bà-đạt-đa mà sanh tâm tham muốn. Tại sao vậy? Đề-bà-đạt-đa chắc chắn bị lợi dưỡng làm hại. Như cây chuối ra buồng rồi phải chết, cây trúc, cây lau ra bông rồi chết, con la mang thai rồi phải chết, Đề-bà-đạt-đa được nhiều lợi dưỡng rồi sẽ như các loại trên không khác. Đề-bà-đạt-đa ngu si vô trí, không biết nghĩa lý, phải chịu khổ lâu dài. Vì vậy, này các Tỳ-kheo, ai thấy Đề-bà-đạt-đa bị lợi dưỡng làm hại, cần phải xả bỏ những việc tham cầu, quan sát rõ ràng, hiểu cho thật đúng, đừng tham lợi dưỡng.
Đức Phật nói kệ:

* Trang 249 *
device

Trổ buồng, cây chuối chết
 Trúc, lau nào khác gì
Người tham lợi cũng vậy
Gây tổn thương cho mình.
Người được nhiều lợi dưỡng
Sẽ tổn giảm, suy tàn
Trẻ ngu vì lợi dưỡng
Làm hại đến pháp thiện
Cũng như cây Đa-la
Đứt đầu không mọc lại.
Đức Phật dạy kinh này, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
   4. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ. Bấy giờ có nhiều Tỳ-kheo, đến giờ thọ trai, đắp y mang bát vào thành khất thực. Các Tỳ-kheo nghe Tỳ-kheo Thích Tử Tượng Thủ bị bệnh qua đời ở trong thành, nên sau khi thọ trai, họ đến gặp Phật, lạy sát chân Ngài, rồi ngồi qua một bên, bạch:
–Bạch Thế Tôn, sáng sớm, Tỳ-kheo chúng con đắp y mang bát vào thành khất thực, nghe Tỳ-kheo Tượng Thủ đã qua đời. Cầu mong Thế Tôn vì chúng con mà nói rõ Tỳ-kheo Tượng Thủ sanh vào chỗ nào và thọ quả báo gì?
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Người nào thường gia tăng ba loại phi pháp, sau khi qua đời phải đọa vào địa ngục. Ba loại phi pháp là gì? Đó là: tham lam, ngu si, giận dữ. Nay Tỳ-kheo ấy đã phạm ba thứ phi pháp, các Tỳ-kheo nên biết, ông ấy bị đọa vào địa ngục.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Ai sanh tâm bất thiện
Kết nên tham, sân, si
Chính thân này làm ác
Trở lại hại thân này.

* Trang 250 *
device

Như cây chuối trổ buồng
Tự hại cho thân nó
Ai không tham sân si
Chính là bậc trí tuệ.
Không làm hại bản thân
Là trượng phu tối thắng
Thế nên phải trừ diệt
Bệnh lớn tham, sân, si.
Các Tỳ-kheo nghe Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
 
5. Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ. Bấy giờ Trưởng lão Nan-đà đắp y sang trọng, bưng bát tốt đẹp, ý khí kiêu mạn, xem thường mọi người, nói lời tự cao, ta là em Phật, con của Di mẫu.
Có nhiều Tỳ-kheo đến gặp Đức Phật, lạy sát chân Phật, ngồi qua một bên, thưa:
–Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Nan-đà đắp y sang trọng, tay cầm bát đẹp, tự xưng là em Phật, con của Di mẫu, trong lòng kiêu mạn, khinh miệt người khác.
Đức Phật nghe lời ấy, bèn sai một vị Tỳ-kheo đi gọi Nan-đà đến. Một Tỳ-kheo vâng lệnh Đức Phật, đến nơi bảo với Nan-đà:
–Thế Tôn gọi Hiền giả.
Nghe xong, Nan-đà đến gặp Đức Phật, lạy sát chân Ngài, đứng qua một bên. Đức Phật hỏi Nan-đà:
–Ông mặc y sang trọng, tay cầm bát đẹp, tự xưng là em Phật, con của Di mẫu, kiêu mạn với người khác, việc này có thật không?
Nan-đà đáp:
–Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Thế Tôn bảo Nan-đà:
–Nay ông không được làm những việc như thế. Ông nên ưa thích ở nơi vắng lặng, giữa gò mả, bên gốc cây, mặc y vá, sống bằng khất thực. Nếu ông là em Ta, do Di mẫu sanh ra, cần phải tu hành những việc như vậy.

* Trang 251 *
device

Đức Phật nói kệ:
Ta muốn thấy Nan-đà
Tinh tấn vui tu hành
Ở nơi a-luyện-nhã
Bên gò mả, khất thực
Chỗ núi rừng yên tịnh
Bỏ dục,nhập thiền định.
Đức Phật nói kệ này, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

6. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ. Tôn giả Nan-đà đến chỗ Phật, lạy sát chân Ngài, ngồi qua một bên. Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Trong những người giỏi thuyết pháp, Tỳ-kheo Nan-đà vào hàng thứ nhất. Về hình dáng tuấn tú, con nhà quý tộc, Tỳ-kheo Nan-đà cũng là hàng thứ nhất. Về xả bỏ ái dục đang dấy mạnh, Tỳ-kheo Nan-đà là bậc đứng đầu. Về việc giữ gìn các căn, biết tiết độ trong ăn uống, vào đầu đêm, cuối đêm tinh tấn tu hành, luôn luôn an trú trong chánh niệm tỉnh giác, Tỳ-kheo Nan-đà cũng là bậc đứng đầu.
   Vì sao nói Tỳ-kheo Nan-đà thường giữ gìn các căn? Vì vị ấy không tham đắm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Thế nên gọi Tỳ-kheo Nan-đà thường giữ gìn các căn.
    Vì sao nói Tỳ-kheo Nan-đà thường tiết độ trong ăn uống? Vị ấy ăn để khỏi đói, không phải vì sắc đẹp và sự cường tráng, chỉ vì để tu phạm hạnh, chỉ thọ dụng vừa đủ, như mỡ bôi vào xe, như trị mụt ghẻ, không vì sắc đẹp, cường tráng, mập mạp, xinh đẹp. Nên nói rằng là Nan-đà biết tiết độ trong ăn uống.
    Vì sao nói Tỳ-kheo Nan-đà đầu đêm, cuối đêm luôn tinh tấn tu hành, ngày thì kinh hành, đêm thì tọa thiền, trừ bỏ tâm bị trói buộc che phủ; vào đầu đêm sau khi rửa chân, vững thân ngồi ngay ngắn, đặt chánh niệm trước mặt, nhập thiền định; qua khỏi đầu đêm, đến giữa đêm, nằm nghiêng hông bên phải xuống đất, hai chân xếp vào nhau,

* Trang 252 *
device

tâm nghĩ đến ánh sáng, tu niệm giác ý; vào cuối đêm giữ thân ngồi ngay thẳng, đặt chánh niệm trước mặt? Tỳ-kheo Nan-đà vào đầu đêm, cuối đêm chuyên tâm hành đạo, như nói ở trên. Tộc tánh tử Nan-đà được chánh niệm tỉnh giác tối thượng. Tỳ-kheo Nan-đà nhất tâm không tán loạn, chánh quán phương Đông, các phương Nam, Tây, Bắc cũng như vậy, nhất tâm quán sát, không cho tán loạn, đối với Khổ thọ, Lạc thọ, Xả thọ đều biết duyên khởi, biết rõ sự sanh diệt nhanh chậm của các thọ ấy, cũng biết nhân duyên sanh diệt của các tưởng, cũng biết nhân duyên sanh diệt mà các giác sẽ trụ.
     Này các Tỳ-kheo, nên học như vậy, giữ gìn các căn, biết tiết độ trong ăn uống, đầu, giữa, cuối đêm luôn tinh tấn hành đạo, tu chánh niệm tỉnh giác tối thượng, như là Nan-đà.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Nay Ta dạy các ông học tập theo sự tu hành của Nan-đà. Nếu các Tỳ-kheo nào tu hành cũng như Nan-đà thì Ta cũng dạy các ông nên học theo vị ấy.
Thế Tôn nói kệ:
Người nào thường giữ gìn các căn
Tiết độ ăn uống, thường chánh niệm
Đây mới thật là người có trí
Biết rõ tánh tướng tâm sanh diệt
Ta khen Nan-đà đã đạt được
Các ông cần phải học như thế.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.

7. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ. Có Tỳ-kheo tên Trất Sư, là con người cô của Phật, ỷ lại Đức Phật nên tâm ý kiêu mạn, không kính trọng các Tỳ-kheo Trưởng lão có đức độ, không biết hổ thẹn, thường luôn nói nhiều. Nếu các Tỳ-kheo nói về ông một ít điều gì, ông thường sanh tâm sân hận.
     Bấy giờ các Tỳ-kheo thấy ông ta như vậy, nên đến gặp Phật, làm lễ rồi ngồi qua một bên, bạch:

* Trang 253 *
device

–Thưa Thế Tôn, Tỳ-kheo Trất Sư thường sanh tâm kiêu mạn, tự tuyên bố mình là em, con người cô của Phật, khinh mạn các Tỳ-kheo Trưởng lão khác, thường nói nhiều lời. Nếu bị các Tỳ-kheo nói một ít điều gì, vị ấy liền phát sanh sân hận.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Nay các ông đến gọi Tỳ-kheo Trất Sư lại đây.
Các Tỳ-kheo theo lời Phật dạy, đến gọi Trất Sư. Trất Sư vâng lời, đến ngay chỗ Phật, lạy sát chân Ngài, đứng qua một bên. Bấy giờ Đức Phật bảo Trất Sư:
–Ông gặp các vị Tỳ-kheo Trưởng lão, không có tâm cung kính, không biết hổ thẹn, phóng túng về lời nói, nếu bị các Tỳ-kheo nói ít lời gì liền sanh tức giận, có đúng vậy không?
Trất Sư thưa:
–Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Phật bảo Trất Sư:
–Nếu ông cho rằng mình là con người cô của Ta, phải đối với các vị Tỳ-kheo Trưởng lão túc đức luôn có tâm ý cung kính, biết hổ thẹn, giữ gìn lời nói mình, lắng nghe lời nói của họ, cần phải gắng sức thọ trì.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Thường phải tu thiện không khởi sân
Nếu sanh sân hận là bất thiện
Trất Sư, ông phải nghe Ta dạy
Cần phải trừ sân, bỏ kiêu mạn
Hành trì các thiện, tu phạm hạnh
Ông làm như thế Ta hoan hỷ.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

8. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ. Bấy giờ Tỳ-kheo Tỳ-xá-khư con dòng Ban-xà-la, ở trên giảng đường, tập hợp các Tỳ-kheo, thuyết pháp cho họ, ngôn từ viên mãn, lời lẽ thông suốt, khiến cho đại chúng nghe rất hoan hỷ, không chán, được hiểu rõ ràng.

* Trang 254 *
device

     Các Tỳ-kheo nghe lời Tôn giả giảng dạy, hoan hỷ, vui mừng, chí tâm nghe và ghi nhận, cúng dường cung kính, chuyên tâm chú ý nghe Tôn giả thuyết pháp, không vì lợi dưỡng, không vì tiếng khen. Tôn giả có biện tài ứng hợp với nghĩa lý, lưu loát bất tuyệt, làm cho người nghe ghi nhớ không quên.
Trong đại chúng, có những Tỳ-kheo nghe như vậy, bèn đi đến chỗ Phật, làm lễ dưới chân Ngài, đứng qua một bên, thưa:
–Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Tỳ-xá-khư, con dòng họ Ban-xà-la, ở trên giảng đường thuyết pháp cho mọi người, không vì để được lợi dưỡng, không vì tiếng khen, biện luận hợp nghĩa lý, lưu loát vô cùng, làm cho người nghe ghi nhận không quên.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Ông hãy đến gọi Tỳ-kheo Tỳ-xá-khư, con nhà Ban-xà-la đến đây.
Các Tỳ-kheo vâng lệnh Đức Phật, đến gọi Tỳ-xá-khư. Sau khi được gọi, Tỳ-xá-khư đến chỗ Phật, lạy sát dưới chân Ngài, đứng qua một bên. Đức Phật hỏi Tỳ-xá-khư:
–Có thật ông đã tập hợp các Tỳ-kheo lại để thuyết pháp cho họ, cho đến… làm cho các Tỳ-kheo chí tâm ghi nhận. Có việc này không?
Đáp:
–Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật khen ngợi:
–Lành thay! Lành thay! Này Tỳ-xá-khư, ông tập hợp các Tỳ-kheo trên giảng đường, thuyết pháp cho họ không vì danh lợi, ngôn từ viên mãn, người nghe hoan hỷ, chí tâm tín thọ. Từ đây về sau, ông thường nên thuyết pháp tạo lợi ích như vậy. Này các Tỳ-kheo, dù ít hay nhiều người, phải làm hai việc: Một, phải giảng thuyết giáo pháp. Hai, nếu không có gì đáng nói thì nên trả lời bằng cách im lặng. Không được bàn luận các việc thế sự. Nay các ông đừng khinh thường sự im lặng. Sự im lặng có lợi ích lớn.
Thế Tôn nói kệ:
Giữa đại chúng hội họp
Có cả ngu và trí
Nếu không trình bày rõ
Thì người không hiểu được.
Nếu giảng giải rõ ràng

* Trang 255 *
device

Nhờ vậy người mới hiểu
Vì thế nay các ông
Phải thường giảng pháp yếu.
Đốt sáng ngọn đuốc pháp
Dựng cao cờ chư Phật
Các vị A-la-hán
Lấy diệu pháp làm cờ
Chư Phật và Thánh hiền
Lấy thiện ngữ làm cờ.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

9. Tôi nghe như vầy:
     Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ. Trong thời gian ấy, có nhiều Tỳ-kheo tập hợp ở giảng đường cùng nhau may y. Khi ấy, có một Tỳ-kheo trẻ, xuất gia chưa lâu, mới thọ giới cụ túc, chỉ ngồi yên giữa Tăng chúng, không giúp đỡ chúng Tăng may y.
Bấy giờ các Tỳ-kheo may y xong, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Ngài, ngồi qua một bên, thưa:
–Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo chúng con ở trong giảng đường may y phục. Vị Tỳ-kheo trẻ ấy chỉ ngồi yên giữa chúng Tăng, không phụ giúp công việc may y phục.
Đức Phật hỏi vị Tỳ-kheo trẻ:
–Ông thật đã không giúp đỡ chúng Tăng may y phải chăng?
Vị ấy thưa với Phật:
–Bạch Thế Tôn, con tùy theo sức lực, khả năng của mình để làm việc cho Tăng chúng.
Thế Tôn biết ý nghĩ trong tâm của vị Tỳ-kheo kia, nên bảo các Tỳ-kheo:
–Các ông đừng phiền lòng vì vị Tỳ-kheo trẻ kia không làm. Tỳ-kheo đó việc làm đã xong, đắc quả A-la-hán, các lậu đã hết, bỏ gánh nặng xuống, chứng đạt chánh trí, tâm được giải thoát.
Thế Tôn nói kệ:

* Trang 256 *
device

Pháp giác ngộ giải thoát
Trọn không phải vì kẻ
Biếng nhác và vô trí
Có thể chứng đắc được.
Cũng như con ngựa giỏi,
Bậc Trượng phu cao thượng
Cắt đứt dây tham ái
Diệt sạch các não phiền
Phá tung cả bốn thủ
Chứng được quả tịch diệt
Diệt trừ chúng ma quân
Sống với thân sau chót.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

10. Tôi nghe như vầy:
     Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ. Có một Tỳ-kheo tên là Trưởng Lão, ở riêng trong một phòng, hết lời ca ngợi việc ở riêng.
Các Tỳ-kheo đến chỗ Phật, lạy sát chân Phật, ngồi qua một bên, bạch Phật:
–Thưa Thế Tôn, Tỳ-kheo Trưởng Lão này đã hết lời ca ngợi việc ở một mình, đi một mình, ngồi một mình.
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
–Ông hãy đến gọi Tỳ-kheo Trưởng Lão.
Một Tỳ-kheo đến chỗ vị ấy, bảo Trưởng Lão:
–Thế Tôn gọi thầy.
Tỳ-kheo Trưởng Lão vâng lời dạy, đến chỗ Phật, làm lễ dưới chân Ngài, đứng qua một bên. Đức Phật hỏi Trưởng Lão:
–Có thật ông ở một mình, tán thán pháp ngồi, đi một mình không?
Trưởng Lão bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, đúng như vậy.
Thế Tôn dạy:

* Trang 257 *
device

–Nay ông ưa thích việc sống một mình và tán thán việc sống một mình như thế nào?
Trưởng Lão bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, con thật có vào làng một mình, đi về một mình, ngồi một mình.
Đức Phật dạy:
–Có cách sống một mình khác hơn cách sống một mình của ông. Đó là gì? Là làm khô kiệt nguồn gốc tham dục, chận đứng tham dục trong tương lai không cho phát sanh, diệt trừ tham dục hiện tại không cho phát triển. Đây gọi là Bà-la-môn không có ngã và mọi sở hữu của ngã, đoạn trừ nghi kết, xa lìa các nhập, diệt trừ phiền não.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Tất cả thế gian
Ta đều biết rõ
Xả bỏ tất cả
Diệt các ái kết
Thắng pháp như thế
Gọi là độc trụ.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

11. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ. Thượng tọa Tăng Kiềm từ nước Kiều-tát-la du hành đến nước Xá-vệ, vào khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc. Bấy giờ người vợ cũ biết Tăng Kiềm đến nước Xá-vệ, liền mặc y phục, đeo chuỗi ngọc, trang sức xinh đẹp, bồng con nhỏ đến phòng của Tăng Kiềm.
Khi Tôn giả Tăng Kiềm đang đi kinh hành trên chỗ đất trống, bà ta tới chỗ Tôn giả, nói:
–Con tôi còn nhỏ, không thể tự sanh sống, vì thế đến đây gặp Tôn giả.
Tuy gặp gỡ nhau nhưng Thượng tọa Tăng Kiềm không trả lời bà ta. Lần thứ hai, lần thứ ba, bà ta cũng nói như vậy. Tôn giả Tăng Kiềm tuy nghe thấy nhưng không nhìn ngó, cũng không nói chuyện. Người vợ

* Trang 258 *
device

 cũ liền nói:
–Thiếp đến đây gặp chàng, chàng không thèm nói chuyện với thiếp. Đây là con chàng, hãy nuôi nấng nó.
   Nói xong, bà đặt đứa nhỏ ở đầu đường kinh hành rồi bỏ đi, đứng ở chỗ xa xa nhìn lại. Bấy giờ Tôn giả cũng không nói chuyện với đứa con. Người vợ cũ lại suy nghĩ: “Nay vị Sa-môn này đã giải thoát hoàn toàn, đoạn hẳn tham ái như các vị Tiên thánh đã đoạn. Vị này đã chứng đắc đầy đủ”.
   Không được mãn nguyện, người vợ cũ quay lại bồng con trở về nhà. Bấy giờ Đức Thế Tôn với thiên nhĩ thanh tịnh hơn hẳn mọi người, nên đã nghe đầy đủ lời nói nơi người vợ cũ của Thượng tọa Tăng Kiềm. Thế Tôn nói kệ:
Thấy đến không vui mừng
Thấy đi cũng không buồn
Người xả trừ ái dục
Bà-la-môn tối thượng
Khi đến đã không mừng
Khi đi cũng không buồn
Lìa cấu hạnh thanh tịnh
Gọi trí Bà-la-môn.
Đức Phật thuyết kệ xong, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.
Nhiếp tụng:
Thiện Sanh và Sắc xấu
Đề-bà và Tượng Thủ
Nhị Nan-đà, Trất Sư
Thiếu niên Ban-xà-la
Trưởng lão và Tăng Kiềm.

* Trang 259 *
device

12. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật trú ở trong núi Tiên nhân, thuộc thành Vương xá. Bấy giờ Tôn giả A-nan ở nơi yên tịnh, suy nghĩ: “Trước đây Thế Tôn có giảng về ba loại hương, đó là hương của rễ, hương của cành và hương của hoa. Tất cả các mùi hương đều không ngoài ba loại này. Nhưng ba loại hương này thuận chiều gió thì nghe, ngược chiều gió thì không nghe”.
Tôn giả A-nan suy nghĩ như vậy, liền rời chỗ ngồi, đến chỗ Đức Phật, lạy sát dưới chân Ngài rồi đứng qua một bên, bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, vừa rồi con ở một mình nơi yên tĩnh, vắng lặng suy nghĩ: “Thế Tôn có dạy về mùi hương của ba loại rễ, cành và hoa là thơm nhất trong các loại hương. Nhưng mùi hương của chúng, thuận chiều gió thì nghe, ngược gió thì không nghe. Bạch Thế Tôn, có loại hương nào dù nghịch hay thuận gió đều nghe không?
Thế Tôn bảo A-nan:
–Đúng vậy! Đúng vậy! Trong thế gian có loại hương thơm dù nghịch hay thuận gió đều nghe. Đó là loại hương gì? Trong xóm làng, thành phố có người đàn ông hay đàn bà sống nếp sống không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối, không uống rượu thì chư Thiên và các vị chứng đắc thiên nhãn đều khen ngợi người nam hay nữ thọ trì năm giới ở thành phố, xóm làng kia. Mùi hương của giới đức như vậy thì thuận hay ngược chiều gió đều nghe.
Bấy giờ, Thế Tôn nói kệ:
Hương hoa hồng, trầm hương
Ở rễ, nhánh, lá, hoa
Hương này thuận chiều gió
Ngược gió, không nghe mùi.
Hương thơm bậc Trì giới
Bay thơm khắp thế gian
Mười phương đều khen ngợi
Thuận, nghịch gió đều nghe.
Hoa hồng và trầm hương
Thiết mộc lan, nguyệt quế

* Trang 260 *
device

Mùi hương này thoang thoảng
Không bằng hương trì giới.
Các loại hương như vậy
Mùi thơm không bay xa
Hương giới bay mười phương
Thù thắng hơn hương trời.
Giới thanh tịnh như vậy
Không phóng dật làm gốc
An trú pháp vô lậu
Chánh trí đắc giải thoát.
Chúng ma tuy muốn tìm
Chẳng biết họ ở đâu
Đây là đạo an ổn
Đạo này rất thanh tịnh
Xa lìa sự loạn động
Từ bỏ nẻo luân hồi.
Đức Phật nói kệ xong, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

     13. Tôi nghe như vầy:
       Một thời, Đức Phật du hóa ở nước Ma-kiệt-đề, cùng với một ngàn vị Tỳ-kheo trước đây là hàng Bà-la-môn kỳ cựu, đức độ, chứng A-la-hán, các lậu đã tận, hết các kết nghiệp, chỗ làm đã xong, bỏ gánh nặng xuống, chứng đắc tự lợi. Đức Như Lai đến chùa Thiện trụ thiên, trong rừng Từ tự. Vua Tần-bà-sa-la nghe Đức Phật đến ngự trong rừng Từ tự, liền dẫn đầu một đoàn gồm một vạn tám ngàn kî binh, một vạn hai ngàn chiếc xe, ngàn ức vạn Bà-la-môn, cư sĩ, trước sau nối nhau đi đến chỗ Phật. Đến nơi, nhà vua xuống xe voi ngựa, bỏ những trang sức, đến gặp Đức Phật, quỳ chắp tay, bạch ba lần:
–Bạch Thế Tôn, con là Tần-bà-sa-la, vua nước Ma-kiệt-đề.
Đức Phật nói:
–Lành thay! Lành thay! Tần-bà-sa-la vua nước Ma-kiệt-đề.
Vua Tần-bà-sa-la lạy sát chân Phật rồi ngồi qua một bên. Các

* Trang 261 *
device

Bà-la-môn và Trưởng giả nước Ma-kiệt-đề cùng lạy sát chân Phật rồi đều ngồi ở trước. Bấy giờ, trong hội có người chắp tay, có người im lặng ngồi.
   Khi ấy Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp ngồi ở bên Đức Phật, người nước Ma-kiệt-đề đều sanh nghi ngờ, suy nghĩ: “Phật và Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, ai là đạo sư?”. Đức Thế Tôn biết tâm niệm của người nước Ma-kiệt-đề nên dùng kệ hỏi Ca-diếp:
Ông ở vùng Ưu-lâu
Tu theo pháp thờ lửa
Nay vì nhân duyên gì
Bỏ hẳn được nghiệp ấy?
Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp nói kệ đáp:
Trước kia con thờ lửa
Tham đắm nơi mùi vị
Cùng năm dục sắc trần
Đấy đều là cấu uế
Vì vậy nên vứt bỏ
Pháp thờ lửa, tế lửa.
Thế Tôn nói kệ:
Ta biết ông không ưa
Năm dục và sắc vị
Nay ông tín ngưỡng gì?
Hãy vì Trời, Người nói!
Tôn giả Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp nói kệ:
Trước con rất ngu si
Không biết pháp chí chân
Khổ hạnh thờ tế lửa
Cho là nhân giác ngộ.
Như người mù bẩm sanh
Không thấy đường giải thoát
Nay gặp Đấng Đại Long
Dạy con pháp chánh kiến.
Ngày nay con mới thấy

* Trang 262 *
device

Nẻo vô vi chân chánh
Lợi ích cho tất cả
Điều ngự khiến giải thoát.
Phật xuất hiện trong đời
Khai thị pháp chân đế
Làm cho các chúng sanh
Đều được thấy tuệ sáng.
Thế Tôn lại nói kệ:
Nay ông đã khéo đến
Đạt được điều mong cầu
Ông có sức tư duy
Phân biệt pháp tối thắng
Nay ông phải quán sát
Thâm tâm của đại chúng
Vì họ hiện thần thông
Khiến họ sanh kính tín.
  Bấy giờ Tôn giả Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp tức thời nhập định, hiện các thần thông, bay lên hư không, nằm, ngồi, kinh hành; ngay ở phương Đông đi, đứng, ngồi, nằm hiện bốn uy nghi, trên thân phun nước, dưới thân phát lửa, dưới thân phun nước, trên thân phát lửa, nhập Hỏa quang tam-muội, phát ra các loại hào quang, hiện thần biến này ở phương Đông, rồi  phương Nam, Tây, Bắc cũng như vậy. Tôn giả hiện thần biến xong, đứng ở trước Phật, lạy sát chân Ngài, chắp tay thưa:
–Đại Thánh Thế Tôn là thầy của con, hiện nay con là đệ tử của Phật.
Đức Phật nói:
–Đúng vậy! Đúng vậy! Ông học nơi Ta, là đệ tử của Ta.
Đức Phật bảo:
–Ông hãy về chỗ ngồi của mình.
Lúc ấy vua Tần-bà-sa-la nước Ma-kiệt-đề nghe lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

* Trang 263 *
device

14. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại vườn trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương xá. Bấy giờ có Tỳ-kheo Đà-phiêu, là con của người lực sĩ. Đức Thế Tôn sai Tỳ-kheo này xử lý công việc của chúng Tăng. Tỳ-kheo Đà-phiêu phụng mệnh làm Tri sự cho Tăng.
   Sau đó có một Tỳ-kheo tên là Di-đa-cầu, là người đến lượt được mời thọ thỉnh trong Tăng. Bấy giờ Đà-phiêu y theo thứ lớp trong Tăng bố trí Tỳ-kheo Di-đa-cầu đi thọ thỉnh. Tỳ-kheo này gặp phải thí chủ thiết cúng thực phẩm không ngon. Như vậy đến ba lần, nên vị ấy rất buồn bực, rất là khổ não, đến gặp em gái mình là Tỳ-kheo-ni Di-đa-la, nói:
–Ta bị khổ não bởi vì Đà-phiêu cắt ta đến thọ trai ở chỗ thức ăn rất dở. Này em, Tỳ-kheo Đà-phiêu đã ba lần cho ta thức ăn quá dở, ta rất bực tức. Vậy em lẽ nào chẳng vì ta tạo các phương tiện để trả thù cho ta hay sao?!
Tỳ-kheo-ni Di-đa-la nói:
–Em làm sao tương trợ được?
Tỳ-kheo Di-đa-cầu nói:
–Để ta tính toán cho. Em hãy đến gặp Phật, bạch: “Trước đây Tỳ-kheo Đà-phiêu làm việc phi tịnh hạnh với con”. Ta sẽ làm chứng, nói: “Đúng vậy, đúng vậy”.
Tỳ-kheo-ni Di-đa-la nói:
–Em làm sao lại hủy báng người trì giới thanh tịnh?
Di-đa-cầu nói:
–Này em, nếu em không chịu làm việc ấy cho anh, từ nay về sao anh không thèm nói chuyện với em nữa.
Vị Tỳ-kheo-ni nói:
–Ý anh đã quyết, em sẽ nghe theo.
Tỳ-kheo Di-đa-cầu nói:
–Này em, nay anh đi trước, em đến sau.
Tỳ-kheo Di-đa-cầu đến chỗ Phật, lạy sát chân Phật, ngồi qua một bên.
Tỳ-kheo-ni Di-đa-la lại đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân Phật, ngồi qua một bên, bạch Phật:

* Trang 264 *
device

–Bạch Thế Tôn, không biết vì sao Đà-phiêu, con của người lực sĩ, vừa rồi hành động phi phạm hạnh với con?!
Tỳ-kheo Di-đa-cầu thưa:
–Bạch Thế Tôn, đúng như vậy!
Bấy giờ Tỳ-kheo Đà-phiêu đang ở trong đại chúng. Đức Phật bảo Tỳ-kheo Đà-phiêu:
–Ông nghe lời nói này không?
Tỳ-kheo Đà-phiêu bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, Phật biết rõ con.
Phật bảo Đà-phiêu:
–Nay ông không nên phát biểu như vậy. Nếu có làm việc ấy, ông phải nói là nhớ có. Nếu không làm các việc ấy, ông phải nói là nhớ không có.
Đà-phiêu liền bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, con nhớ rõ là không có việc như vậy.
Bấy giờ La-hầu-la bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Đà-phiêu này cùng với Tỳ-kheo-ni Di-đa-la hành động phi phạm hạnh. Tỳ-kheo Di-đa-cầu phát biểu làm chứng. Con thấy Tỳ-kheo Đà-phiêu đối với Tỳ-kheo-ni Di-đa-la hành động phi phạm hạnh. Tỳ-kheo Đà-phiêu vì sao lại nói như vậy?!
Đức Phật bảo La-hầu-la:
–Nếu Tỳ-kheo-ni Di-đa-la vu báng ông bằng lời thế này: “La-hầu-la làm việc phi phạm hạnh đối với con”, Tỳ-kheo Di-đa-cầu lại phát biểu làm chứng: “Con thật thấy La-hầu-la đối với Tỳ-kheo-ni Di-đa-la đã hành động phi phạm hạnh”, thế thì ông sẽ nói gì?
La-hầu-la thưa:
–Bạch Thế Tôn, nếu con bị vu báng, con chỉ nói Đức Bạc-già-phạm tự chứng biết cho con.
Phật bảo La-hầu-la:
–Ông còn biết như vậy, huống chi vị kia thanh tịnh không vi phạm, lại không biết phát biểu như vậy hay sao?
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Các ông nên vì Tỳ-kheo Đà-phiêu tiến hành pháp Ức niệm Yết-ma. Tỳ-kheo-ni Di-đa-la vì tự phát ngôn, phải bị xử lý riêng.

* Trang 265 *
device

Các Tỳ-kheo vâng lệnh Phật, kiểm tra Tỳ-kheo Di-đa-cầu, hỏi ông ta:
–Tỳ-kheo Đà-phiêu cùng Tỳ-kheo-ni Di-đa-la hành động phi phạm hạnh, ông thấy ở chỗ nào? Thấy một mình hay cùng nhiều người thấy?
Các Tỳ-kheo xét hỏi như vậy. Tỳ-kheo Di-đa-cầu không trả lời được, mới thú thật là vu báng:
–Trước đây Tỳ-kheo Đà-phiêu theo thứ lớp trong Tăng bố trí tôi thọ thỉnh, ba lần bị ăn không ngon. Thực ra tôi vì tham, sân, si nên gây ra sự vu báng này.
Bấy giờ Thế Tôn ra khỏi tịnh thất, trải tọa cụ ngồi trước chúng Tăng. Các Tỳ-kheo bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, chúng con đã vì Tỳ-kheo Đà-phiêu tiến hành Yết-ma Ức niệm, đã hỏi Di-đa-cầu nên biết rõ việc kia là vu báng, lại đã tiến hành diệt tẫn Tỳ-kheo-ni Di-đa-la.
Thế Tôn nói kệ:
Để thành tựu tất cả
Bằng lời nói dối trá
Là vứt bỏ đời sau
Không ác gì không làm
Thà dùng thân miệng này
Nuốt viên sắt cháy nóng
Không được sống phá giới
Nhận tịnh tín cúng dường.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

15. Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại vườn trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương xá. Bấy giờ Tỳ-kheo Đà-phiêu đến chỗ Phật, ở giữa đại chúng, đảnh lễ chân Phật, bạch ba lần:
–Bạch Thế Tôn, nay con muốn vào Niết-bàn. Ngưỡng mong Thế Tôn cho phép con diệt độ.

* Trang 266 *
device

Đức Phật bảo Đà-phiêu:
–Ông muốn vào Niết-bàn, Ta không ngăn ông.
    Tỳ-kheo Đà-phiêu ở trước Đức Như Lai hiện mười tám phép biến hóa, vọt lên hư không, ngay ở phương Đông hiện bốn oai nghi với sắc thân đủ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hoặc hiện ra nước, hoặc hiện lửa cháy; trên thân phun nước, dưới thân phun lửa, trên thân phun lửa, dưới thân phun nước, hoặc hiện thân to lớn đầy cả hư không, rồi lại hiện nhỏ, bước trên nước như trên đất bằng, đi vào đất như trong nước, phương Nam, Tây, Bắc cũng hiện như vậy. Tôn giả biến hóa như thế xong, ngay giữa không trung nhập tam-muội Hỏa quang, lửa cháy rực rỡ, như đống lửa lớn, nhập vào Niết-bàn, không có tro tàn để lại, cũng như dầu bơ cháy hết một lần.
Thế Tôn nói kệ:
Ví như sắt nóng
Đập xẹt lửa ra
Tan rồi diệt ngay
Không biết nơi nào
Đắc chánh giải thoát
Cũng giống như vậy
Đã thoát phiền não
Chốn dục bùn lầy
Không thể biết được
Nơi vị ấy đến.
Đức Phật dạy như vậy. Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

16. Tôi nghe như vầy:
     Một thời, Đức Phật du hóa ở rừng cây bên sông Đào thuộc nước Ma-kiệt-đà. Một mục đồng gặp Ngài, thưa:
–Trong rừng này có tên cướp Ương-quật-ma-la có thể làm hại người.
Đức Phật bảo mục đồng:
–Tên giặc ấy không thể làm hại Ta được.

* Trang 267 *
device

    Ngài liền tiến bước lại gặp một mục đồng khác cũng nói như vậy, Phật đáp như trước. Cho đến lần thứ ba, Đức Phật vẫn đáp: “Kẻ ác ấy không thể hại Ta”.
    Đức Phật vào trong rừng, Ương-quật-ma-la từ xa thấy Đức Phật đến, tay trái cầm bao dao, tay phải cầm dao, vọt chạy tới. Ương-quật chạy nhanh, Đức Như Lai đi chậm rải, nhưng hắn không thể đuổi kịp. Ương-quật-ma-la cố chạy nên hết sức mệt mỏi, bèn nói với Phật:
–Đứng lại! Đứng lại! Này Sa-môn.
Đức Phật bảo:
–Ta luôn luôn đứng lại, chỉ tại ngươi không chịu dừng lại đấy thôi!
Ương-quật-ma-la nói kệ:
Sa-môn đi không ngừng
Lại nói mình luôn đứng
Còn ta đã đứng lại
Ông bảo ta chưa dừng
Tại sao ông nói đứng
Nói ta đi không ngừng?
Thế Tôn nói kệ:
Ta đối với chúng sanh
Không sát hại lâu rồi
Ông não loạn chúng sanh
Không bỏ nghiệp ác ấy
Vì vậy nói Ta đứng
Còn ông chưa dừng lại.
Ta với loài hữu tình
Không có tâm độc hại
Ngươi không ngừng nghiệp ác
Thường tạo nghiệp bất thiện
Vì vậy nói Ta đứng
 Còn ngươi không dừng lại.
Ta đối với chúng sanh
Trừ bỏ những não hại
Ngươi hại mạng mọi người

* Trang 268 *
device

Chưa  trừ nghiệp hắc ám
Vì vậy nói Ta dừng
Còn ngươi chưa đứng được.
Ta vui nơi pháp mình
Nhiếp tâm không phóng dật
Ngươi không thấy Tứ đế
Không biết đứng chỗ nào
Nên Ta nói đứng hẳn
Còn ngươi vẫn còn đi.
Ương-quật-ma-la nói kệ:
Ta ở nơi hoang dã
Chưa gặp người thế này
Bà-già-bà đến đây
Dạy pháp thiện cho ta
Từ lâu ta làm ác
Hôm nay quyết từ bỏ
Nay con nghe Ngài dạy
Thuận pháp, đoạn các ác
Để dao vào trong vỏ
Ném hết xuống hố sâu
Tức thời con đảnh lễ
Quy y với Thế Tôn
Lòng tin rất dũng mãnh
Phát tâm cầu xuất gia.
Phật rải tâm đại bi
Lợi ích khắp thế gian
Gọi thiện lai Tỳ-kheo!
Ương-quật thành Sa-môn.
   Bấy giờ Tộc tánh tử Ương-quật-ma-la râu tóc tự rụng, thân mặc pháp y, đã được xuất gia, ở nơi vắng lặng tâm không phóng dật, chuyên tinh hành đạo, tu tập tinh tấn, luôn luôn siêng năng nhiếp tâm chánh niệm, tu pháp phạm hạnh vô thượng, diệt tận các khổ, trong hiện pháp này tự thân chứng tri, tự biết pháp chứng, sự sanh khởi về ngã đã hết, phạm hạnh đã lập, chỗ làm đã xong, không thọ thân sau. Khi ấy,

* Trang 269 *
device

Tôn giả Vô Hại đã thành vị A-la-hán, đắc an lạc giải thoát, nói kệ:
Nay ta tên Vô Hại
Sau khi tàn hại nhiều
Nên tên đúng của ta
Chân thật là Vô Hại.
Nay thân ta thoát khổ
Miệng, ý cũng như vậy
Không còn hại người khác
Đúng với tên Vô Hại.
Trước thân ta đầy máu
Tên Ương-quật-ma-la
Được nước mạnh dội sạch
Thế nên quy y Phật.
Quy y thọ cụ túc
Chứng đắc được ba minh
Biết đủ giáo pháp Phật
 Thọ trì tu hành theo.
Kẻ ngự trị trong đời
Hành xử bằng dao gậy
Móc sắt, roi, dây cương
Các hình phạt cấm, đánh.
Thế Tôn Đại Điều ngự
Xả ly các pháp ác
Từ bỏ đao, trượng, gậy
Là điều ngự chân chánh.
Qua sông cần cầu đò
Uốn tên cần dùng lửa
Thợ nhờ rìu đẽo thẳng
Trí dùng tuệ tự điều.
Ai trước đây làm ác
Sau bỏ không làm nữa
Người ấy sáng thế gian
Như trăng thoát mây che.
Ai trước sống phóng dật
Sau không còn phóng dật

* Trang 270 *
device

Chánh niệm tránh gai độc
Chuyên tâm đến bờ kia.
Tạo đủ hành động ác
Phải đọa cảnh giới ác
Nhờ Phật, tội con diệt
Được thoát khỏi nghiệp ác.
Những người nghe con nói
Đều bỏ ý oán thù
Đắc nhãn tịnh, được nhẫn
Phật dạy: không tranh, thắng.

 
17.Tôi nghe như vầy:
  Một thời, Đức Phật ở tại vườn trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương xá. Vào lúc trời mờ sáng, có một Tỳ-kheo đến bên bờ sông, cởi y phục để một nơi, xuống sông tắm rửa. Sau đó, vị ấy ra khỏi nước, lên bờ sông, ở trần phơi mình cho khô.
Có vị trời tỏa chiếu hào quang sáng rực nơi bờ sông ấy, nói với Tỳ-kheo:
–Thầy xuất gia chưa bao lâu, mái tóc tốt đẹp, sức khỏe cường tráng, tại sao không thọ hưởng năm dục lạc, xuất gia phi thời vậy?
Tỳ-kheo đáp:
–Nay tôi xuất gia chính vì đúng thời, chứng đắc nơi phi thời.
Vị trời nói với Sa-môn:
–Thế nào là xuất gia đúng thời, chứng đắc nơi phi thời?
Sa-môn đáp:
–Đức Phật Thế Tôn dạy năm dục lạc là thời, Phật pháp là phi thời. Lạc thú của năm dục ý vị rất ít, nguy hiểm lại nhiều, là chỗ tập hợp của khổ não. Tôi ở trong Phật pháp tự thân tác chứng, không có các phiền não, kết quả tu hành không đợi ngày giờ, trồng nhân duyên nhỏ ít, được quả báo lớn.
Vị trời lại hỏi:
–Vì sao Phật dạy năm dục là thời? Vì sao gọi Phật pháp là phi thời?
Tỳ-kheo đáp:
–Tôi còn nhỏ tuổi, xuất gia chưa lâu, học vấn cạn cợt, làm sao có

* Trang 271 *
device

 thể trình bày ý nghĩa rộng lớn, sâu sa của Đức Như Lai Chí Chân. Đức Bà-già-bà đang ở nơi vườn trúc Ca-lan-đà gần đây, ông có thể đến đó hỏi về điều nghi ngờ này.
Vị trời đáp:
–Nay trời uy đức lớn đang hầu cận Đức Phật đầy cả hai bên. Tôi phận thấp hèn không thể gặp được. Thầy hãy vì tôi đến bạch Thế Tôn. Nếu Đức Như Lai từ bi cho phép, tôi sẽ đến gặp Ngài thưa hỏi chỗ nghi ngờ.
Tỳ-kheo đáp:
–Nếu ông có thể cùng đi, tôi sẽ vì ông bạch với Thế Tôn.
Vị trời đáp:
–Tôi sẽ đi theo thầy đến gặp Thế Tôn.
Khi ấy vị Tỳ-kheo đến chỗ Thế Tôn đảnh lễ dưới chân Phật, đứng qua một bên, đem đầy đủ lời hỏi của vị trời thưa với Đức Phật. Đức Thế Tôn nói kệ:
Từ Danh sắc sanh tưởng
Cho là chân thật có
Nên biết người như vậy
Là đi trên đường chết
Nên biết rõ Danh sắc
Vốn không, không có tánh
Đó là tôn kính Phật
Thoát ly hẳn luân hồi.
Đức Phật hỏi vị trời:
–Ông đã hiểu chưa?
Vị trời đáp:
–Bạch Thế Tôn, chưa hiểu.
Đức Phật lại nói kệ:
Thắng mạn và đẳng mạn
Cùng với mạn không bằng
Có ba loại mạn này
Thì phải có tranh luận.
Trừ diệt ba mạn ấy
Gọi là tưởng bất động.

* Trang 272 *
device

Đức Phật hỏi vị trời:
–Ông đã hiểu chưa?
Vị trời đáp:
–Bạch Thế Tôn, con chưa hiểu.
Đức Phật lại nói kệ:
Đoạn ái và danh sắc
Diệt trừ ba loại mạn
Không tiếp xúc các dục
Diệt trừ những giận dữ
Nhổ sạch các gốc độc
Diệt tận tưởng nguyện dục
Người làm được như vậy
Vượt qua biển sanh tử.
Vị trời bạch Phật:
–Con đã hiểu.
Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

18. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại vườn trúc Ca-lan-đà, thuộc thành Vương xá. Vào sáng sớm có một Tỳ-kheo đến bên bờ sông, cởi y phục, tắm rửa. Sau đó lên bờ, hong cho khô thân.
Có vị trời chiếu hào quang sáng xuống chỗ bờ sông ấy, hỏi Tỳ-kheo:
–Đây là hang ổ, ban đêm phun khói, ban ngày lửa cháy. Có vị Bà-la-môn thấy sự việc này nên muốn phá hang ổ kia và đào đất ấy lên. Có người trí bảo Bà-la-môn: “Hãy để tôi cầm dao đào đất lên”. Đào lên thấy có một con rùa, Bà-la-môn nói: “Lấy con rùa này lên”. Lại bảo đào đất, thấy một rắn độc, bảo bắt đem đi. Lại bảo đào đất, thấy một miếng thịt, bảo hãy lấy lên. Lại bảo đào đất, thấy một con dao phay, Bà-la-môn nói: “Đây là con dao, hãy lấy lên”. Lại bảo đào đất, thấy độc trùng Lăng-kỳ-mang, bảo hãy lấy lên. Lại bảo đào đất, thấy có hai con đường, bảo đem lên. Lại bảo đào đất, hãy đào nữa, thấy có năm cục đá,
bảo hãy đem đá lên. Lại bảo đào đất, thấy một

* Trang 273 *
device

con rồng. Bà-la-môn nói: “Đừng làm phiền rồng”, liền quỳ bái con rồng kia.
Vị trời bảo Tỳ-kheo:
–Đừng quên lời tôi. Hãy đến hỏi Đức Phật, hãy chí tâm thọ trì những gì Phật dạy. Vì sao? Tôi không thấy Trời, Ma, Phạm nào có thể phân biệt được, trừ Đức Phật và Tỳ-kheo Thanh văn đệ tử ra, không ai có thể giải đáp được câu hỏi này.
Bấy giờ Tỳ-kheo đến chỗ Đức Phật, lạy sát chân Ngài, đứng qua một bên, hướng về Ngài trình bày hết những lời được nghe từ vị trời:
–Bạch Thế Tôn, thế nào là hang ổ, đêm phun khói, ngày lửa cháy. Ai là vị Bà-la-môn, ai là người có trí. Dao là gì, đào lên là gì, con rùa là gì, rắn độc là gì? Miếng thịt là gì, dao vừa là gì, độc trùng Lăng-kỳ-mang là gì, hai đường là gì, đống đá là gì, con rồng là gì?
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
–Hãy lắng nghe! Ta sẽ giảng cho ông. Hang ổ là thân này, do tinh khí của cha mẹ, bốn đại hợp thành, nuôi dưỡng bằng cơm áo mới trở thành thân. Nhưng thân này khi chết đi thì tan rã sình trướng, trùng ăn nát ra cho đến tan hoại.
  Ban đêm phun khói là ban đêm suy nghĩ, quán sát. Ban ngày lửa cháy là từ thân khẩu nghiệp có các hành động rộng lớn.
   Bà-la-môn chỉ cho Đức Như Lai. Người có trí chỉ cho các vị Thanh văn. Con dao dụ cho trí tuệ. Đào đất dụ cho tinh tấn. Con rùa dụ cho năm thứ che phủ trói buộc. Rắn độc dụ cho tai hại của sân hận, phiền não. Cục thịt dụ cho tham lam keo kiệt, ganh ghét. Dao phay dụ cho năm dục. Độc trùng Lăng-kỳ-mang dụ cho ngu si. Hai con đường dụ cho sự nghi ngờ. Các cục đá dụ cho ngã mạn. Con rồng dụ cho vị A-la-hán đoạn tận các hữu, kết.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Hang ổ gọi là thân
Giác quán như khói lửa
Hành động là lửa cháy
Bà-la-môn như Phật
Người trí là Thanh văn
Dao đào là trí tuệ
Đào đất là tinh tấn

* Trang 274 *
device

Năm che phủ dụ rùa
Sân giận như rắn độc
 Tham, ganh như cục thịt
Ngũ dục như dao phay
Ngu si như Lăng-kỳ
Nghi ngờ là hai đường
Ngã kiến như đống đá
Ông chớ làm phiền rồng
Rồng là chân La-hán
Khéo trả lời người hỏi
Chỉ có Phật, Thế Tôn.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

19. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở trong vườn Tiên nhân Lộc dã, thuộc nước Ba-la-nại.
     Bấy giờ Đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành Ba-la-nại, thấy một Tỳ-kheo thân ý không được định tĩnh, các căn tán loạn. Tỳ-kheo ấy từ xa thấy Thế Tôn, cúi đầu xấu hổ.
Sau khi thọ trai, Đức Phật rửa chân, đến chỗ chư Tăng, vào tịnh thất ngồi giữa chúng, bảo các Tỳ-kheo:
–Sáng nay Ta thấy một Tỳ-kheo không thu nhiếp các căn. Khi vị ấy từ xa thấy Ta thì có sắc thái thẹn thùng, cúi đầu khép nép. Đó là ai vậy?
Tỳ-kheo ấy rời khỏi chỗ ngồi, sửa y Uất-đa-la-tăng, chừa vai phải, chắp tay bạch Phật:
–Thế Tôn, người tâm ý không ổn định, các căn tán loạn chính là con.
Đức Phật dạy:
–Lành thay! Này Tỳ-kheo, ông thấy Ta mà có thể hộ tâm nhiếp ý thì khi thấy các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di cũng phải hộ tâm nhiếp ý như thấy Ta vậy. Ông làm được như thế thì đạt được an lạc, lợi ích suốt cả đời mình.

* Trang 275 *
device

Có một Tỳ-kheo ở trước Đức Phật nói kệ:
Tỳ-kheo khất thực vào xóm làng
Tâm ý loạn động không chánh niệm
Thấy Phật tinh tấn, thu nhiếp căn
Thế nên Đức Phật khen lành thay.

 
20. Tôi nghe như vầy:
     Một thời, Đức Phật ở nơi vườn Lộc dã, chỗ ngự của Tiên nhân xưa, thuộc nước Ba-la-nại.
Bấy giờ Đức Thế Tôn đắp y cầm bát vào thành khất thực. Có một Tỳ-kheo ở bên miếu Thiên thần, tâm niệm hướng đến những tiếp xúc xấu ác, trong tâm cảm thọ dục lạc. Đức Thế Tôn bảo Tỳ-kheo:
–Này Tỳ-kheo, này Tỳ-kheo! Ông đang trồng hạt giống khổ, rất là ô uế, các căn tiết ra điều ác, nơi có nước ác rỉ ra thì có ruồi lằn tụ tập.
Khi Tỳ-kheo nghe lời Đức Phật nói, biết Đức Thế Tôn đã rõ tâm niệm của mình nên rất sợ hãi, toàn thân nổi gai ốc, vội vàng bỏ đi.
Sau khi khất thực, Đức Phật trở về, thọ trai xong, rửa chân, đến chỗ ở chư Tăng, vào phòng yên tịnh ngồi. Sau đó Ngài ra khỏi phòng, đến trước chúng Tăng, trải tọa cụ ngồi, bảo các Tỳ-kheo:
–Sáng nay, Ta vào thành khất thực, thấy một Tỳ-kheo ở bên cạnh miếu thờ trời, tâm niệm hướng đến các mối tiếp xúc xấu ác, trong tâm cảm thọ dục lạc. Ta liền bảo: “Tỳ-kheo, Tỳ-kheo! Ông đang trồng hạt giống khổ, rất là ô uế, các căn tiết ra điều ác, nơi có nước rỉ ra thì có ruồi lằn tụ tập”.  Khi Tỳ-kheo ấy nghe Ta nói, rất sợ hãi, toàn thân nổi gai ốc, vội vàng bỏ đi.
Đức  Phật nói như vậy, có một Tỳ-kheo rời chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, tại sao gọi là trồng hạt giống khổ, tại sao gọi là ô uế, tại sao gọi là lậu ác, tại sao gọi là ruồi lằn tụ tập?
Đức Phật dạy:
–Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ giảng cho ông. Sân giận, hiềm khích, mưu hại là trồng hạt giống khổ. Buông lung tâm theo năm dục là ô uế. Theo sáu xúc xứ, không giữ giới hạnh gọi là rỉ chảy điều ác.

* Trang 276 *
device

Sống trong phiền não, dấy khởi vô minh kiêu mạn, không hổ, không thẹn, phát sanh các kết sử, gọi là ruồi lằn tụ tập.
Thế Tôn nói kệ:
Người nào không thu nhiếp các căn
Tăng trưởng ái dục trồng hạt khổ
Làm các ô uế thường chảy ra
Thân cận dục cảm và não hại.
Ở tại làng xóm hay chỗ vắng
Tâm không khi nào nghĩ dục lạc
Tự thân tinh tấn hành chánh định
Tụ tập thông đạt đắc ba minh.
Vị ấy an lạc và yên định
Diệt ruồi ác giác không còn gì
Tu hành đạt đến không thoái chuyển
Đi trên đường Thánh đến chỗ thiện.
Đắc quả chánh trí, không trở lại
Thẳng vào Niết-bàn, vui tịch diệt.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe xong đều hoan hỷ phụng hành.

    21. Tôi nghe như vầy:
      Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ. Có một Tỳ-kheo đắp y cầm bát vào thành khất thực. Sau khi thọ trai, vị ấy trở về, rửa chân, cầm tọa cụ đi vào rừng Đắc nhãn, trải tọa cụ ngồi bên một gốc cây, phát sanh ý niệm về những tiếp xúc xấu ác, tham muốn năm dục.
Vị thần rừng Đắc nhãn biết tâm niệm của Tỳ-kheo ấy đang nghĩ đến điều bất tịnh, đã ở trong rừng này thì không nên tham muốn điều ác. Vị thần tự nghĩ: “Ta nên cảnh tỉnh vị ấy” liền lên tiếng:
–Này Tỳ-kheo, này Tỳ-kheo! Làm sao trị vết thương?
Tỳ-kheo đáp:
–Ta sẽ băng lại.
Thần rừng lại nói:
–Vết thương như cái bình, thì lấy gì băng lại?

* Trang 277 *
device

Tỳ-kheo đáp:
–Tôi dùng chánh niệm tỉnh giác để băng vết thương ấy.
Thần rừng tán thán:
–Lành thay! Lành thay! Thầy giỏi biết cách băng vết thương, băng vết thương đúng cách.
Đức Phật với thiên nhĩ thanh tịnh, nghe thần rừng cùng Tỳ-kheo nói chuyện. Thế Tôn nói kệ:
Thế gian khát dục
Làm theo ý tà
Vết thương đã sanh
Ruồi lằn bu đến
Tham dục là ghẻ
Tiếp xúc là ruồi
Ngã mạn theo tham
Tâm trượng phu nát
Tham danh và lợi
Trói trong hoặc, nghi
Không biết đường thoát
 Nội tâm tu định
Học hành thông suốt
Không tạo ghẻ lở
An ổn giác ngộ
Chứng được Niết-bàn.
Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

  22. Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ-đà Cấp cô độc, thuộc nước Xá-vệ.
     Bấy giờ có nhiều Tỳ-kheo đắp y cầm bát vào thành khất thực. Có một Tỳ-kheo trẻ tuổi mới tu học, đi vào làng xóm không đúng lúc. Các Tỳ-kheo ở các nơi thấy Tỳ-kheo mới tu học kia, bảo vị ấy:
–Ông mới tu học, chưa biết pháp môn đối trị, vì sao la cà đến nhiều nhà vậy?

* Trang 278 *
device

Tỳ-kheo tân học bạch với các Tỳ-kheo:
–Các Thượng tọa, Đại đức đều đến nhiều nhà, tại sao ngăn không cho con đến những nhà ấy?
Sau khi các Tỳ-kheo khất thực, thọ trai xong, xếp y bát, rửa chân, đến chỗ Phật, lạy sát chân Ngài, ngồi qua một bên. Họ bạch Thế Tôn:
–Bạch Thế Tôn, chúng con vào thành khất thực, thấy một tân Tỳ-kheo trẻ tuổi, chẳng kể ngày giờ, lui tới nhiều nhà. Chúng con bảo vị ấy: “Ông là tân học, chưa biết pháp đối trị, vì nhân duyên gì lui tới nhà người khác lúc phi thời?”. Vị ấy trả lời: “Các Trưởng lão Tỳ-kheo cũng đến nhiều nhà, tại sao ngăn cản riêng con?”.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Trong đồng trống mênh mông có một hồ nước rộng. Có những voi lớn vào trong hồ, dùng vòi nhổ ngó, rễ sen, giũ cho sạch, dùng nước rửa, sau đó mới ăn, nhờ vậy thân thể mập mạnh, khí lực sung mãn. Những con voi nhỏ cũng ăn ngó sen, nhưng không biết giũ sạch và dùng nước rửa. Chúng ăn cả ngó lẫn bùn nên bị bệnh hoạn, không còn sức lực, bị chết hay gần chết.
Thế Tôn nói kệ:
Khi voi lớn vào hồ
Dùng vòi nhổ ngó sen
Giũ, rửa sạch hết bùn
Sau đó mới chịu ăn.
Nếu có các Tỳ-kheo
Tu nhiều pháp thanh tịnh
Nếu thọ dụng lợi dưỡng
Không lỗi bị nhiễm đắm.
Đây là bậc tu hành
Cũng như voi lớn kia
Nếu không hiểu phương tiện
Sau phải chịu nguy hiểm
Sau phải chịu khổ não
Như các chú voi con.
Các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.

* Trang 279 *
device

Kệ tóm lược:
A-nan và Kết phát
Cùng với hai, Đà-phiêu
Tặc và tán đảo thác
Bạt-di, tàm quý căn
Hạt khổ và băng lở
Lớn nhỏ ăn ngó sen.

* Trang 280 *
device

 
Đại Tập VII, Bộ A- Hàm VII, Kinh Tạp A- Hàm Số 3