LOGO VNBET
LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 10




BỘ BẢN DUYÊN
I

SỐ 152 -> 157







HỘI VĂN HOÁ GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN

* Trang 969 *
device

* Trang 970 *
device

LỜI NÓI ĐẦU
 
Ba tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát-Nhã, là chìa khoá của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mười ba thế kỷ trước, thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Tráng đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung văn Đại Tạng Kinh.
Trải năm mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hội đủ duyên để thực hiện bộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồng, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vào sự nghiệp nâng cao đời sống văn hoá, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đứng vững trước bao phong ba, thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
“Vào thời đại Nam Bắc triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất của Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật (khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhậm vào khuynh hướng tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.”*
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn
_______________
* Trung Quốc Triết Học Sử, trang 661, xb.1970 tại Đài Loan.
“Nam Bắc Triều thời, Trung Quốc tư tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thâm nhậm liễu giải. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vi Phật học gia. Phật học học bổn vi Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kỳ gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng, dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học.”

* Trang 971 *
device

Từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh…; them vào những sắc thái đặc biệt của Đại Tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại và hiện tại: tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày một ngàn trang khổ 17x24 cm, như quý vị đang có trước mắt.
Chỉ có sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc của Nhật Bản và Cao Nam Thuận Thứ Lang (Junjiro Takakusu)và Độ Biên Hải Húc (Watanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông Phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tư lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi chút lòng thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tôi đã mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là phương tiện thù thắng để hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hoá dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rộng, cũng xứng đáng là một tông giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sử.
Hôm nay Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó  tránh khỏi những khỏi những khuyết điểm về hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vị cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng như lần tái bản. Ở đây chúng tối xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào  công việc gian lao này. Sau hết, không quên ơn chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt.
Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường
Viết tại chùa Pháp Bảo TP. Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng giêng năm Canh Thìn
P.L: 2544 (2000)
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH.

* Trang 972 *
device

NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH

I- Viết hoa toàn bộ:
1. Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm...
2. Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan...
3. Tôn Xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác...
4. Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu  Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-Hàm...
II- Viết hoa chữ đầu:
1. Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi lợi...
2. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế...
3. Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác, Thái tử (nói về Phật, Bồ-tát thị hiện độ sanh; ví dụ: Thái tử Tỳ-bà-thi), Tôn giả...
4. Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành Vương xá...
III- Viết hoa chữ đầu + gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pàli)
1. Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất...
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ, cõi Diêm-phù-đề...
3. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà, Ba-la-đề-mục-xoa...
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di, A-la-hán...
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát, Càn-thát-bà....
IV- Gạch nối (danh từ chung được phiên âm từ Pàli)
ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-thuần...

* Trang 973 *
device

V- Số: 
1. Viết thành chữ: (những số quá lớn nên chú thích thêm số)
ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)...
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
ví dụ: Đại I, trang 15, cht. 52...
VI- Đặc biệt: 
Âm "y" và "i": dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L,M,T,Q vẫn viết theo thói quen cũ.
ví dụ: kỹ cương, lý luận, hoàn mỹ, quy định, li ti, hoan hỷ ...
- viết là " Phạm" không viết là " Phạn" (phát âm theo chữ Brahma).
- viết là "Tuệ" không viết là "Huệ"
 TP. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
Sa môn Thích Tịnh Hạnh

* Trang 974 *
device

MỤC LỤC
 
BẢN DUYÊN – BỘ 1  (SỐ 152 ->157)
 
Số 152 – KINH LỤC ĐỘ TẬP ……………………………………………………………1
QUYỂN I …………………………………………………………………………………….1
Chương I: BỐ THÍ ĐỘ VÔ CỰC …………………………………………………………….1
QUYỂN II……………………………………………………………………………………27
Chương I: BỐ THÍ ĐỘ VÔ CỰC (tt) ……………………………………………………….27
QUYỂN III …………………………………………………………………………………..50
QUYỂN IV ………………………………………………………………………………….75
Chương II: GIỚI ĐỘ VÔ CỰC …………………………………………………………….75
QUYỂN V ………………………………………………………………………………….110
Chương III: NHẪN NHỤC ĐỘ VÔ CỰC …………………………………………………110
QUYỂN VI ………………………………………………………………………………….147
Chương IV: TINH TẤN ĐỘ VÔ CỰC ……………………………………………………147
QUYỂN VII:………………………………………………………………………………178
Chương V: THIỀN ĐỘ VÔ CỰC …………………………………………………………178
QUYỂN VIII:………………………………………………………………………………..201
Chương VI: MINH ĐỘ VÔ CỰC (Trí tuệ Ba-la-mật)……………………………………….201
SỐ 153 – PHẬT THUYẾT KINH BỒ - TÁT BẢN DUYÊN ………………………………237
QUYỂN THƯỢNG………………………………………………………………………….237
QUYỂN TRUNG…………………………………………………………………………….261
QUYỂN HẠ………………………………………………………………………………….284
SỐ 154 – PHẬT NÓI KINH SINH …………………………………………………………303
QUYỂN I…………………………………………………………………………………..303
Kinh 1: Đức Phật Nói Kinh Na-Lại………………………………………………………..303
Kinh 2: Đức Phật Nói Kinh Tỳ-Kheo Khất Thực……………………………………307
Kinh 3: Đức Phật Thuyết Giảng Kinh Hoà Nan……………………………………….310
Kinh 4: Đức Phật Thuyết Giảng Về Việc Sinh Sống Bằng Tà Nghiệp…………………314
Kinh 5: Đức Phật Thuyết Giảng Về Kinh Ngã Sở……………………………………….317
Kinh 6: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Con Gà Rừng……………………………320
Kinh 7: Đức Phật Thuyết Giảng Về Việc Tranh Người Con Gái Ở Đời Trước………..325
Kinh 8: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Ngọc Bị Rơi Vào Trong Biển……………327
Kinh 9: Đức Phật Giảng Thuyết Về Chuyện Tỳ-kheo-ni Chiên-xà-ma Bộc Chí Huỷ Báng Đức Phật…………………………………………………………………………………..329

* Trang 975 *
device

Kinh 10: Đức Phật Thuyết Giảng Về Con Ba Ba và Con Khỉ Chúa…………………….331
Kinh 11: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Năm Vị Tiên Nhân………………………334
QUYỂN II…………………………………………………………………………………340
Kinh 12: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Hai Cậu Cháu…………………………….340
Kinh 13: Đức Phật Thuyết Kinh Nhàn Cư………………………………………………344
Kinh 14: Đức Phật Thuyết Giảng Về Việc Tôn Giả Xá-lợi-phất Nhập Niết-bàn………..347
Kinh 15: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Người Con Bị Chết………………………351
Kinh 16: Đức Phật Thuyết Giảng Về Quan Điểm Của Các Vị Tỳ-kheo………………... 352
Kinh 17: Đức Phật Thuyết Giảng Về Tôn Giả Ca-chiên-diên Nói Về Vô
Thường………………………………………………………………………………… 360
Kinh 18: Đức Phật Thuyết Giảng Về Việc Hỏi Đáp Cho Trưởng Giả Hòa
Lợi……………………………………………………………………………………. 363
Kinh 19: Đức Phật Nói Kinh Phật Tâm Tổng Trì. …………………………………….367
Kinh 20: Đức Phật Thuyết Giảng Về Kinh Thần Chú Bảo Vệ Các Tỳ-kheo. …………….370
Kinh 21: Đức Phật Thuyết Giảng Kinh Thần Chú Kiết Tường. …………………………371
QUYỂN III………………………………………………………………………… 375
Kinh 22: Đức Phật Thuyết Giảng Kinh Tổng Trì. …………………………………375
Kinh 23: Đức Phật Thuyết Giảng Về Thích Tử Sở Hân. …………………………378
Kinh 24: Đức Phật Thuyết Giảng Chuyện Vị Quốc Vương Và Năm
Người Con………………………………………………………………….. 381
Kinh 25: Đức Phật Thuyết Giảng Về Con Cáo Độïc Và Con Quạ Đen. ………………389
Kinh 26: Đức Phật Thuyết Giảng Về Việc Thầy Tỳ-kheo Bị Bệnh…………………….. 392
Kinh 27: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Ông Thẩm Lõa Hình……………………… 395
Kinh 28: Đức Phật Thuyết Giảng Về Sứ Giả Của Cái Bụng. ………………………………401
Kinh 29: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Người Đệ Tử Qua Đời. ……………………406
QUYỂN IV:………………………………………………………………………………… 412
Kinh 30: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Con Trâu Chúa…………………………….. 412
Kinh 31: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Con Thỏ Chúa. …………………………….414
Kinh 32: Đức Phật Thuyết Giảng Về Việc Không Sợ. ……………………………………….416
Kinh 33: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Năm Trăm Đứa Trẻ Nhỏ. …………………..418
Kinh 34: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Cây Cỏ Độc. …………………………………419
Kinh 35: Đức Phật Thuyết Dụ Về Con Ba Ba. ………………………………………………421
Kinh 36: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Vị Bồ-tát Đã Từng Làm
Con Ba Ba Chúa. ………………………………………………………………………….422
Kinh 37: Đức Phật Thuyết Dụ Về Sự Độc Hại…………………………………………… 424
Kinh 38: Đức Phật Thuyết Giảng Về Việc Dạy Bảo Con. ………………………………426
Kinh 39: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Người Trả Nợ Làm Thân
Trâu (Bò)………………………………………………………………………………. 431
Kinh 40: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Ông Phạm Chí Quang Hoa. ……………..434

* Trang 976 *
device

Kinh 41: Đức Phật Thuyết Giảng Kinh Biến Hối Dụ. ………………………………….436
Kinh 42: Đức Phật Thuyết Dụ Về Chuyện Con Ngựa. ………………………………..438
Kinh 43: Đức Phật Thuyết Giảng Kinh Tỳ-kheo-ni Hiện Biến. …………………………440
Kinh 44: Đức Phật Thuyết Giảng Kinh Cô Độc. …………………………………………441
QUYỂN V………………………………………………………………………………… 443
Kinh 45: Đức Phật Thuyết Về Chuyện Ông Phạm Chí………………………………….. 443
Kinh 46: Đức Phật Thuyết Giảng Kinh Về Vua Tôi……………………………………… 446
Kinh 47: Đức Phật Thuyết Giảng Kinh Về Vua Quạ Ở Nước Câu-tát-la………………….. 449
Kinh 48: Đức Phật Thuyết Giảng Kinh Mật Cụ. …………………………………………….452
Kinh 49: Đức Phật Thuyết Giảng Kinh Tạp Tán. ……………………………………………..455
Kinh 50: Đức Phật Thuyết Giảng Kinh Lư-đà……………………………………………….. 457
Kinh 51: Đức Phật Thuyết Giảng Kinh Khổng Tước. ………………………………………460
Kinh 52: Đức Phật Thuyết Giảng Về Kinh Bát Kiếp Tiên Nhân……………………………. 462
Kinh 53: Đức Phật Thuyết Giảng Về Chuyện Cha Con Ông Thanh
Tín Sĩ A-di-phiến-trì………………………………………………………………………… 465
Kinh 54: Đức Phật Thuyết Giảng Về Kinh Phu Thê. ………………………………………..468
Kinh 55: Đức Phật Thuyết Giảng Kinh Thí Dụ……………………………………………… 471
Số 155 – KINH BỒ-TÁT BẢN HẠNH ……………………………………………………..481
QUYỂN THƯỢNG …………………………………………………………………………..481
QUYỂN TRUNG …………………………………………………………………………….506
QUYỂN HẠ ……………………………………………………………………………… 531
Số 156 – KINH ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN …………………………………….555
QUYỂN I …………………………………………………………………………………..555
Phẩm 1: MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………..555
Phẩm 2: HIẾU DƯỠNG ……………………………………………………………………..567
QUYỂN II ……………………………………………………………………………………580
Phẩm 3: ĐỐI TRỊ ……………………………………………………………………………..580
Phẩm 4: PHÁT TÂM BỒ-ĐỀ ………………………………………………………………..599
QUYỂN III …………………………………………………………………………………….604
Phẩm 5: LUẬN NGHỊ ………………………………………………………………………..604
QUYỂN IV………………………………………………………………………………..631
Phẩm 6: ÁC HỮU ……………………………………………………………………………631
QUYỂN V ……………………………………………………………………………………658
Phẩm 7: TỪ BI ……………………………………………………………………………..658
QUYỂN VI …………………………………………………………………………………..680
Phẩm 8: ƯU-BA-LY ……………………………………………………………………….680
QUYỂN VII …………………………………………………………………………………..711
Phẩm 9: THÂN CẬN ……………………………………………………………………….711

* Trang 977 *
device

Số 157 – KINH BI HOA …………………………………………………………………...731
QUYỂN I …………………………………………………………………………………731
Phẩm 1: CHUYỂN PHÁP LUÂN ………………………………………………………..731
Phẩm 2: ĐÀ-LA-NI …………………………………………………………………….736
QUYỂN II ……………………………………………………………………………….755
Phẩm 3: BỐ THÍ LỚN (Phần 1) ………………………………………………………..755
QUYỂN III ……………………………………………………………………………….779
Phẩm 3: BỐ THÍ LỚN (Phần 2) ………………………………………………………..779
Phẩm 4: NGUỒN GỐC CÁC BỒ-TÁT ĐƯỢC THỌ KÝ (Phần 1) ……………………786
QUYỂN IV …………………………………………………………………………….. 805
Phẩm 4: NGUỒN GỐC CÁC BỒ-TÁT ĐƯỢC THỌ KÝ (Phần 2)…………………… 805
QUYỂN V …………………………………………………………………………….831
Phẩm 4: NGUỒN GỐC CÁC BỒ-TÁT ĐƯỢC THỌ KÝ (Phần 3) …………………..831
QUYỂN VI ……………………………………………………………………………856
Phẩm 4: NGUỒN GỐC CÁC BỒ-TÁT ĐƯỢC THỌ KÝ (Phần 4) …………………856
QUYỂN VII …………………………………………………………………………..878
Phẩm 4: NGUỒN GỐC CÁC BỒ-TÁT ĐƯỢC THỌ KÝ (Phần 5) …………………..878
QUYỂN VIII …………………………………………………………………………..903
Phẩm 4: NGUỒN GỐC CÁC BỒ-TÁT ĐƯỢC THỌ KÝ (Phần 6)……………………..903
Phẩm 5: BỐ THÍ BA-LA-MẬT (Phần 1) ………………………………………………918
QUYỂN IX ……………………………………………………………………………….926
Phẩm 5: BỐ THÍ BA-LA-MẬT (Phần 2) ………………………………………………..926
QUYỂN 10 ……………………………………………………………………………….947
Phẩm 5: BỐ THÍ BA-LA-MẬT (Phần 3) …………………………………………………947
Phẩm 6: MÔN NHẬP ĐỊNH, TAM-MUỘI ………………………………………………953

* Trang 978 *
device

VÀI NÉT VỀ BỘ BẢN DUYÊN

Bộ Bản Duyên gồm tám tập, Mỗi tập dày trên dưới một ngàn trang, khổ 17x24, cũng như Bộ A – hàm, được in trên giấy tốt vào loại bậc nhất thế giới, kiểu chữ hài hoà, trình bày mỹ thuật trang nhã, bìa cũng có hộp bọc, đẹp.
Bản Duyên đồng nghĩa với Bản Sanh (Jātaka). Nội dung của Bộ Bản Duyên là tập hợp giới thiệu sáu mươi tám Kinh dài, ngắn, vừa, cùng các kệ tán, sưu tập mang số hiệu từ 152 đến 219 nơi Đại Tạng Kinh chánh tân tu (ĐTK/ĐCTT), viết về lịch sử đức Phật Thích Ca Mâu Ni,tiền thân của Phật Thích Ca Mâu Ni, tiền thân Phật A Di Đà, Phật Di Lạc, chư vị Bồ tát và các vị đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni. Do vậy các kinh thuộc Bộ Bản Duyên có thể chia làm hai mảng chính: Mảng kinh viết về Lịch sử đức Bổn sư và mảng kinh viết về tiền thân.
I. Mảng Kinh viết về lịch sử:
Gồm mười bốn Kinh, kệ tán, sưu tập, mang số hiệu từ 184 đến 197 nơi ĐTK/ĐCTT. Có mấy điều đáng chú ý:
1.Ngoài yếu tố lịch sử vẫn luôn được tôn trọng, các Kinh viết về cuộc đời của đức Bổn sư đều có những chi tiết tô đậm khía cạnh linh diệu, kỳ vĩ, mang tính tượng trưng, ẩn dụ cao, cũng là đều thường gặp nơi hầu hết các Kinh thuộc Phật giáo Bắc truyền.
2.Về niên đại xuất gia-thành đạo: Có hai thuyết:
a.Thuyết thứ nhất:
- Số 184 (Kinh Tu Hành Bản Khởi, hai quyển, do Trúc Đại Lực và Khang Mạnh Tường Hán dịch vào đời Hậu Hán 25 – 220)
- Số 185 (Kinh Thái Tử Thuỵ Ứng Bản khởi, hai quyển, do cư sĩ Chi

* Trang 979 *
device

Khiêm Hán dịch vào đời Đông Ngô 229 - 280)
-Số 189 (Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả, bốn quyển do Sa môn Cầu – na – bạt – đà – la Hán dịch vào đời Lưu Tống 420 – 478). Đã nêu rõ mười bảy tuổi kết hôn với công chúa Da-du-đà-la, mười chín tuổi xuất gia, hai mươi lăm tuổi thành đạo. Đây chính là những tư liệu căn bản để các nhà nghiên cứu về Hán tạng thuộc thế hệ trước hình thành kiến giải mang tính khẳng định về niên đại xuất gia – thành đạo của đức Bổn sư: Theo Phật giáo Bắc truyển, đức Phật Thích Ca xuất gia năm mười chin tuổi, thành đạo năm hai mươi lăm tuổi.
b.Thuyết thứ hai
Kinh số 195 (Kinh Thập Nhị Du, một quyển, do Sa môn Ca-lưu-dà-đà Hán dịch vào đời Đông Tấn 317 – 419) là một bản Kinh rất ngắn, giới thiệu sơ lược về cuộc đời đức Phật Thích Ca, đã ghi rõ hai mươi chin tuổi xuất gia, ba mươi lăm tuổi thành đạo . Nhất là Kinh số 190 (Kinh Phật Bản Hạnh Tập, sáu mươi quyển, do Sa môn số 190 (Kinh Phật Bản Hạnh Tập, sáu mươi quyển , do Sa môn Xa-na-quật – đa Hán dịch vào đầu đời Tuỳ 580 – 618) là bộ Kinh bề thế nhất thuộc Hán tạng viết về lịch sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nơi các quyển 10,12,14,16 đã cho thấy niên đại xuất gia và thành của Đức Bổn sư là hai mươi chín và ba mươi lăm tuổi. Như thế, nơi bộ Bản Duyên thuộc Hán tạng của Phật giáo Bắc truyền đã có ít nhất là hai Kinh (190,195) nêu rõ về niên đại xuất, thành thạo của đức Bổn sư giống với Phật giáo Nam truyền. Hầu hết các nhà nghiên cứu Phật học hiện đại đều theo thuyết này: hai mươi chín tuổi xuất gia, ba mươi lăm tuổi thành đạo, tám mươi tuổi nhập niết bàn.
3.Các tác phẩm”
- Số 192 (Phật Sở Hành Tán, thi kệ, Bồ tát Mã Minh Tạo, năm quyển Sa môn Đàm Vô Sấm Hán dịch vào đời Bắc Lương 397 – 439).
- Số 193 (Kinh Phật Bản Hạnh, thi kệ, bảy quyển, do Sa môn Bảo Vân Hán dịch vào đời Lưu Tống 420 – 478), là một bản dịch khác của Phật Sở Hành Tán).
-.Số 194 (Kinh Tăng Già La Sát Sở Tập, do Tăng Già –la-sát soạn tập, Sa môn, Tăng-già-bạt-trừng Hán dịch vào đời Phù Tần 351 – 394). Là những thi kệ, sưu tập, tác giả là các bậc Bồ tát, Đại sĩ, nổi bật nhất là

* Trang 980 *
device

Tác phẩm Phật Sở Hành Tán (Buddhacarita) của Bồ tát Mã Minh. Đây là tác phẩm thi ca đầu tiên thuộc Phật giáo Bắc truyền viết về lịch sử đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Sở Hành Tán, qua bản Hán dịch của đại sư Đàm Vô Sấm (385 – 433) gồm 5 quyển 28 phẩm với 9216 câu thơ 5 chữ, là một thành tựu rất đáng kể trong nổ lực “thi ca hoá” cuộc đời của đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni. Về chi tiết linh diệu nơi ngày đản sanh của Phật. Phật Sở Hành Tán nói đến: Bồ tát vừa sinh ra đã đi bảy bước với câu nói:
“ Thử sinh vi Phật sanh
Tắc vi hậu biên sanh
Ngã duy thử nhất sanh
Đường độ ư nhất thiết...”
(ĐTK/ĐCTT, Tu, trang 1B)
“ Đây là Phật thị hiện
Lần sinh ấy cuốn cùng
Ta với một đời này
Muôn loài nguyền độ thảy…”
Đối chiếu với một số Kinh đã nêu trên thì câu nói của Bồ tát khi đản sanh là:
-Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn (Kinh số 184, 185)
-Thiên thượng thiên hạ, vi thiên nhân tôn (Kinh số 186)
-Thiên thượng thiên hạ, tôn vô quá ngã giả (Kinh số 188)
-Thế gian chi trung ngã vi tối thượng (Kinh số 190)
Như vậy, cụm từ “Duy ngã độc tôn” rõ rang là do sự thêm bớt của người đời sau. “ Duy ngã vi tôn” ở đây nên được hiểu là: chỉ có Như Lai và giáo pháp của Như Lai là tôn quý bậc nhất, không ai có thể vượt hơn được, không gì có thể so sánh. Vì chỉ có Giáo pháp vô thượng của bậc tối thượng ấy mới giúp con người đạt đến giác ngộ và giải thoát. “Duy ngã vi tôn” ở đây không hề có đại ngã, tiểu ngã gì cả, mà cũng ko hề mâu thuẫn gì với giáo lý vô ngã, một trong những giáo pháp tiêu biểu mà đức Phật đã chứng đắc, đây chỉ là sự khẳng định, nói rõ hơn là sự khẳng định của người biên chép Kinh, mang ý nghĩa báo trước về tính cách xuất chúng của đức Phật vừa ra đời, cùng giáo pháp mà đức Phật sẽ chứng đắc.

* Trang 981 *
device

II. Mảng kinh viết về tiền thân:
Gồm năm mươi bốn kinh ngắn, vừa, còn lại nơi bộ Bản Duyên, có mấy ghi nhận:
1.Đây là mảng kinh mang đậm tính chất văn học hơn hết, đã có một ảnh hưởng rất lớn đối với văn học Trung Quốc, là điều mà học giả Lương Khải Siêu (1873-1929) đã khẳng định. Học giả Nguyễn Hiến Lê (1912 – 1984) nơi bộ sách Sử Trung Quốc, phần bàn về tiểu thuyết đời Đường (618 – 906) đã cho rằng: Nhờ đọc kinh Phật, trong đó chép đời nhiều vị Phật, nhiều truyện tương đương, nên văn nhân Trung Quốc bắt chước lối viết truyện của Ấn . (Sử Trung Quốc, TL, trang 351). Kinh Phật mà ông Nguyễn nói đến ấy chính là phần Kinh thuộc bộ Bản Duyên.
2.Một số truyện tiền thân mang dáng dấp thần thoại nên đã chịu ảnh hưởng theo hệ thần thoại Ấn Độ. Một số truyện khác khi mô tả phản ảnh các sự việc các tương quan về xã hội nhân sinh, cũng không vượt quá yếu tố thời đại, yếu tố lịch sử, khiến chúng hầu như không còn thích hợp theo cách nhìn của con người trong xã hội hôm nay. Đây là những vấn đề cần được các nhà nghiên cứu Phật học Việt Nam hiện tại soi rọi, đối chiếu, biện minh để tìm ra những lý giải hợp lẽ.
3.Một số truyện tiền thân mô tả quá trình hành hoá , độ sinh thuộc loại “vượt bậc” nên được lãnh hội theo ý nghĩa tượng trưng thuộc phạm trù “ không thể nghĩ bàn”. Đó là những : Nhân không thể nghĩ bàn” (Tiền thân) để dẫn tới “Quả không thể nghĩ bàn” là thành tựu quả vị Phật đà Chánh đẳng Chánh giác vô thượng. Tóm lại, ở phần này, người đọc Kinh, học Kinh, nói như Hoà Thượng Thiện Siêu là phải có “con mắt trạch pháp” vậy.

 
BAN PHIÊN DỊCH ĐẠI TẠNG KINH

* Trang 982 *
device

LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 10
 



BỘ BẢN DUYÊN
1
 
SỐ 152 →157
 




HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN

* Trang 983 *
device

* Trang 984 *
device

 
Đại Tập X, Bộ Bản Duyên I (Số 152 - 157)