LOGO VNBET
Kinh số 16
KINH ĐẠI BÁT-NIẾT-BÀN
(Mahparinibbna Sutta)

Kinh này là kinh thứ 16 trong tập Dīgha Nikāya (Trường Bộ kinh), diễn tả những ngày cuối cùng của Đức Phật và những lời di giáo của Ngài trước khi thị tịch. Sau 45 năm thuyết pháp, tự thấy đã già yếu và sống không bao lâu, Đức Phật tin trước ngày nhập diệt ba tháng và dành những giờ phút cuối cùng căn dặn, nhắc nhủ những giáo lý căn bản cho đệ tử xuất gia và tại gia của mình. Cứ đi theo cuộc hành trình cuối cùng của Ngài, chúng ta cũng cảm thấy tất cả sự nỗ lực của một bậc Đạo sư dùng những ngày cuối cùng của cuộc đời để phục vụ chúng sanh, không chút dừng nghỉ.
Từ Vương-xá tại núi Linh Thứu, Ngài đi đến Ambalaṭṭhikā, Nāḷandā, Pāṭaligma, vượt qua sông Hằng, hướng đến Koṭigāma, Nādikā, Vesālī, Beluva. Tại đây, Đức Phật an cư trong ba tháng và viếng đền Cāpāla, giảng đường Kutagara ở Mahāvana. Rồi Ngài đi đến

* Trang 395 *
device

Bhaṇḍagma, Hatthigāma, Ambagāma, Jambugāma, Bhoganagara, Pāvā và cuối cùng là Kusināra. Nhìn những hoạt động trong những ngày tháng cuối cùng, chúng ta càng rõ tâm tư một vị Đạo sư, không nghĩ gì đến sức khỏe của mình, chỉ lo làm sao đệ tử của mình khỏi bơ vơ, lạc lõng một mình khi không còn bậc Đạo sư nữa để dạy bảo. Tại Vương Xá, vua Ajtasattu (A-xà-thế) cử vị đại thần Vassakāra đến yết kiến Đức Phật để hỏi có nên cử quân tàn sát dân Vajjī hay không. Đức Phật không trả lời thẳng câu hỏi này. Ngài hỏi Đại đức Ānanda về những đức tánh của dân Vajjī hiện tại và gián tiếp chỉ cho vua Ajātasattu thấy sự cường thịnh và hùng mạnh của xứ Vajjī.
Ở đây, chúng ta thấy thái độ sáng suốt, hợp tình, hợp lý của Ngài. Nếu Đức Phật khuyên vua Ajātasattu nên cử quân tàn sát dân Vajjī, thời như vậy đã trực tiếp khuyên nhà vua tàn hại sinh linh, trái hẳn với lòng từ bi của chính mình. Nếu Đức Phật khuyên vua chớ có dấy binh đánh dân Vajjī thời dân Vajjī có thể nổi lên đánh cướp xứ Magadha và như vậy Đức Phật gián tiếp chịu trách nhiệm về sự mất nước của xứ Magadha. Đức Phật tránh hai cử

* Trang 396 *
device

chỉ trên, gián tiếp hỏi Đại đức nanda về những đức tánh, đời sống, cách tổ chức của dân Vajjỵ. Đại đức Ānanda trả lời cho biết dân Vajjī thường hay tụ họp đông đảo, tụ họp trong niệm đoàn kết, không ban hành những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjī như đã ban hành thời xưa, tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjī, nghe theo lời dạy của những vị này, không có bắt cóc và cưỡng ép phụ nữ và thiếu nữ Vajjī phải sống với mình, tôn sùng, kính trọng, cúng dường các tự miếu của Vajjī, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp, bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjī. Đại thần Vassakāra, vị sứ giả của vua Ajtasattu, nghe Đại đức nanda trình bày đời sống và những đức tánh của dân Vajjī, nên vị đại thần tự kết luận là không thể đánh bại dân Vajjī ở chiến trận, và vua Ajātasattu lẽ dĩ nhiên không còn dám mưu toan thôn tính xứ sở của dân Vajjī nữa. Thái độ sáng suốt và thận trọng của Đức Phật khi được hỏi đến những vấn đề liên quan đến quân sự và chánh trị là cả một sự khuyến cáo cho các vị Tỷ-kheo sau này, phải

* Trang 397 *
device

hết sức thận trọng khi được hỏi đến những vấn đề chính trị hay quân sự, kẻo tự mình phản lại giáo lý của Đức Phật mà không hay.
Luôn dịp, Đức Phật dạy những điều kiện căn bản để chúng Tỷ-kheo được cường thịnh, không bị suy giảm. Khi các vị Tỷ-kheo tụ họp đông đảo, làm việc Tăng sự, giải tán trong niệm đoàn kết, kính trọng giữ gìn những luật lệ, những học giới ban hành trong giáo hội, kính trọng và nghe theo lời dạy của vị Tỷ-kheo Thượng tọa, không bị tham ái chi phối, an trú chánh niệm, không thích thế sự, không ưa phiếm luận, không bạn bè với ác dục vọng, v.v. thời nhất định chúng Tỷ-kheo được cường thịnh, không bị suy giảm.
Trong những ngày cuối cùng của Ngài, Đức Phật nhắc đi nhắc lại những giáo lý chính yếu trong những lời dạy của Ngài. Tại Vương-xá, Ambalaṭṭhikā, Nāḷand, Koṭigāma, vườn Ambapāli, Bhaṇḍagāma, Hatthigāma, Ambagāma, Jambugāma, Bhoganagara, Đức Phật nhấn mạnh và nhắc lại nhiều lần ba pháp vô lậu học Giới, Định và Tuệ, đường hướng phương pháp tu hành căn bản của đạo Phật.
 

* Trang 398 *
device

Tại Kūtagara, Đức Phật khuyên các vị Tỷ-kheo nên khéo học hỏi, thực chứng, tu tập, truyền rộng những pháp Ngài đã dạy trong khi sanh tiền vì hạnh phúc, an lạc cho chúng sanh và những pháp ấy là Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy bồ-đề phần và Bát thánh đạo. Trước khi nhập diệt tại Kusināra, Đức Phật tuyên bố hết sức rõ ràng rằng pháp luật nào có Tám chánh đạo mới có đệ nhất Sa-môn, đệ nhị Sa-môn, đệ tam Sa-môn và đệ tứ Sa-môn, ngoài Tám chánh đạo ra, không thể có Thánh quả, không thể có giải thoát.
Tại Koṭigāma, Đức Phật đề cập đến vấn đề nguyên nhân của sanh tử và tuyên bố với các vị Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn thánh đế –khổ, tập, diệt, đạo– mà Đức Phật và tất cả chúng sanh phải luân hồi sanh tử.
Tại Vdik, Thế Tôn giảng gương Chánh pháp, gương này soi sáng cho chúng ta thấy rõ khi chúng ta có chánh tín đối với Phật, Pháp, Tăng thời nhất định chúng ta không thác sanh vào ác đạo.

* Trang 399 *
device

Chính tại Beluva, khi Thế Tôn bị nhuốm bịnh, Ngài lại căn dặn một lần nữa, những lời dạy thật đáng khắc cốt ghi tâm: “Này Ānanda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta? Này Ānanda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài, vì này Ānanda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư còn nắm tay. Vậy nên, này Ānanda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa nơi chính mình, chớ y tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa gì khác.”
Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, tức là: “đối với thân, quán thân, tinh tấn, giác tỉnh, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ,... đối với tâm... đối với pháp, quán pháp, tinh tấn, giác tỉnh, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời.”
Và lời dạy cuối cùng của Đức Phật, khi Ngài sắp nhập diệt là: “Này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường, hãy tinh tấn lên để tự giải thoát.”

* Trang 400 *
device

 
Dàn ý Kinh Trung Bộ & Tóm tắt Kinh Trường Bộ