LOGO VNBET
Kinh số 18
KINH MẬT HOÀN
(Madhupiṇḍika Sutta)
(M.i, 108)
A. Duyên khởi:
Dandapani hỏi Đức Phật, Ngài dạy những gì, quan điểm của Ngài thế nào. Đức Phật trả lời với bài kinh này.
B. Chánh kinh:
I. Câu trả lời của Đức Phật: Lời dạy của Đức Phật không đem đến một sự tranh luận bất cứ ở thế giới nào. Vị Bà-la-môn vượt qua các dục, không còn nghi ngờ, diệt các hối quá, không tham ái đối với hữu và phi hữu, sẽ không bị các tưởng ám ảnh chi phối.
II. Theo lời yêu cầu các Tỷ-kheo, Thế Tôn giải thích rộng hơn câu trả lời trên: Nếu do nguyên nhân gì, các hý luận vọng tưởng khởi lên cho một người, nếu ở đây không có sự hoan hỷ đón mừng, thời như vậy là sự đoạn tận 7 tuỳ miên, sự chấm dứt tranh luận, ly gián ngữ.

* Trang 56 *
device

III. Theo lời các Tỷ-kheo yêu cầu, Tôn giả Mahkaccna giải thích rộng rãi câu trả lời của Đức Phật. Khi nào có sự tiếp xúc của 6 căn, 6 trần, 6 thức, thời có xúc, có thọ, có tưởng, có suy tư, có hý luận, vọng tưởng hiện khởi; khi nào không có sự thi thiết của 6 căn, 6 trần, 6 thức, thời không có sự thi thiết của xúc, thọ, tưởng, suy tư, của sự hiện hành hý luận vọng tưởng.
Do hý luận làm nhân, một số hý luận vọng tưởng hiện hữu cho một người trong các sắc pháp do nhãn căn nhận thức quá khứ, vị lai, hiện tại.
IV. Các Tỷ-kheo trình lời giải thích của Mahkaccna lên Thế Tôn, và Thế Tôn xác chứng là đúng sự giải thích của Mahkaccna.
V. Tôn giả nanda lấy ví dụ bánh mật để tán thán vị ngọt của lời giảng của Thế Tôn và lời giải thích của Mahkaccna và Đức Phật đặt tên cho kinh này là kinh Mật Hoàn.
C. Kết luận:
Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

* Trang 57 *
device

Kinh số 19
KINH SONG TẦM
(Dvedhvitakka Sutta)
(M.i, 114)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và thuyết giảng.
B. Chánh kinh:
Đức Phật nói lên kinh nghiệm của Ngài đối với các tầm như thế nào khi Ngài chưa thành đạo và khi Ngài thành đạo.
I. Ngài chia các tầm ra hai loại:
Bất thiện tầm tức là dục tầm, sân tầm, hại tầm. Thiện tầm tức là ly dục, vô sân, bất hại.
II. Đối với bất thiện tầm:
a. Làm cho các bất thiện tầm tiêu diệt.
b. Khi có khuynh hướng đến bất thiện tầm, thì từ bỏ thiện tầm. Vậy cần phải thấy sự nguy hại của bất thiện tầm. Ngài nêu ví dụ người chăn bò.

* Trang 58 *
device

III. Đối với thiện tầm:
1. Biết rằng các thiện tầm không đưa đến tai hại, không đưa đến sợ hãi. Nếu quán sát quá lâu, thân mệt mỏi, tâm mệt mỏi, cần phải trấn an tâm để tâm được định tĩnh.
2. Nên quán sát nhiều về thiện tầm, thời có khuynh hướng về thiện tầm. Ngài nêu ví dụ người chăn bò.
3. Tu thiền và chứng được 3 minh.
IV. Thế Tôn kể một ví dụ nói đến vai trò của Ngài trong trách nhiệm của một bậc đạo sư đối với các đệ tử.
C. Kết luận:
Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

* Trang 59 *
device

 
Dàn ý Kinh Trung Bộ & Tóm tắt Kinh Trường Bộ