LOGO VNBET
Kinh số 5
KINH CỨU-LA-ĐÀN-LẦU
 (Kūṭadanta Sutta)

 
Bà-la-môn Kūṭadanta muốn làm lễ tế đàn và đến thỉnh ý Sa-môn Gotama. Đức Phật kể chuyện vua Mahvijita để gián tiếp khuyên Kṭadanta. Vua Mahvijita là vị vua có oai quyền, tiền rừng bạc biển, cũng muốn làm Đại tế đàn và hỏi ý kiến vị Bà-la-môn cố vấn tế lễ về vấn đề này. Vị Bà-la-môn khuyên vua, trong khi nước nhà còn ly loạn bởi trộm cướp, không nên thêm thuế má mới, cũng không nên trừng phạt vì chỉ là phương pháp tạm thời. Phương pháp hữu hiệu để dẹp loạn ly là đối với nông dân, hãy cấp thực phẩm và lúa mạ; đối với thương gia, hãy cấp vốn đầu tư; đối với công chức, hãy cấp lương bổng, thực phẩm. Nhờ vậy, dân chúng có công ăn việc làm, không còn trộm cắp, ngân khố nhà nước được dồi dào và mọi người được an cư lạc nghiệp. Mahvijita thi hành đúng theo lời khuyên và dân chúng được an cư lạc nghiệp. Vị Bà-la-

* Trang 370 *
device

môn cố vấn tế tự khuyên vua Mahvijita nên mời các vị Sát-đế-lỵ, Bộ trưởng, Bà-la-môn và gia chủ đến chấp thuận ý định tổ chức lễ tế tự của vua, và bốn giai cấp này tán thành và thỏa thuận cung cấp vật liệu tế lễ cho nhà vua. Và vật liệu đây là tám đức tánh tốt đẹp của vua Mahvijita, bốn đức tánh tốt đẹp của vị Bà-la-môn cố vấn tế tự. Vị Bà-la-môn cố vấn lại khuyên vua chớ có hối tiếc trước khi, trong khi và sau khi làm lễ, đối xử với mọi người thiện ác khi chúng đến dự lễ và khiến vua hoàn toàn thoải mái, hoan hỷ. Tế đàn ấy không có giết hại trâu, bò, dê, heo, gà, vịt, không có phá hoại cây cối, không có dùng cỏ dabbha. Các người làm công, tạp dịch không bị đánh đập, bắt buộc, đàn áp, chỉ làm những việc gì muốn làm và thích làm. Lễ đàn chỉ dùng đề hồ, dầu, sinh tố, sữa, mật và đường. Lễ đàn này được sự tán thành và ủng hộ cả bốn giai cấp.
Vị cố vấn tế tự là một tiền thân của Đức Phật và như vậy chúng ta gián tiếp biết quan điểm về tế đàn của Đức Phật như thế nào.
Đức Phật tiếp tục giới thiệu những tế đàn ít phiền phức nhưng nhiều kết quả hơn, như

* Trang 371 *
device

thường xuyên cúng dường cho các ẩn sĩ, tu sĩ, xây dựng Tăng xá cho chúng Tăng, quy y tam bảo, hành bố thí hạnh, thọ trì năm giới cấm, tu hành theo giới, định, tuệ như đã nói trong kinh Sa-môn quả.
Trong mục này, chúng ta thấy rõ thái độ của Đức Phật đối với các vấn đề tế đàn, một nghi lễ rất thông dụng của các Bà-la-môn và xem như một phương tiện để giải thoát. Đức Phật ban đầu không bác hẳn tế đàn nhưng tế đàn phải tổ chức trong sự thanh tịnh cần thiết, không có giết hại trâu bò, cây cối. Đã là tế đàn, tức là hình tướng lễ nghi. Theo đạo Phật, cần phải loại bỏ chúng từ từ, nên Đức Phật giới thiệu các loại tế đàn khác tế nhị hơn, đem lại nhiều kết quả hơn, như thường xuyên cúng dường các tu sĩ trì giới và tu hành giới, định, tuệ để giải thoát sanh tử, mục đích cuối cùng của đạo Phật. Ở đây, chúng ta chứng kiến phương pháp đối thoại tế nhị của Đức Phật, đã khéo léo từ nơi lập trường của kẻ đối thoại hướng dẫn lần lần đến lập trường cứu cánh của mình.
Trong kinh này có hai đoạn đáng chú ý. Đoạn đầu nói đến vấn đề trị nước an dân. Khi

* Trang 372 *
device

trong nước có loạn trộm cướp, không nên đánh thêm thuế, không nên dẹp loạn bằng hình phạt, giam cầm tử hình, vì những kẻ trộm cướp chưa bị hình phạt vẫn cứ tiếp tục hoành hành phá phách. Thái độ dẹp loạn sáng suốt nhất là cấp thực phẩm, lúa mạ cho nông dân, vốn đầu tư cho thương gia, lương bổng cho công chức. Đoạn thứ hai nói về sự đối xử với người lao động và tạp dịch trong lễ tế đàn, không bị bắt buộc đánh đập, đàn áp, chỉ làm những việc muốn làm và thích làm. Hai đoạn này tuy không do chính miệng Đức Phật nói ra, nhưng cũng trình bày được lý tưởng tuyệt đối của đạo Phật. Không dùng một áp lực nào để bắt buộc mọi người phải tránh ác và làm thiện. Đức Phật đặt trọng tâm ở làm việc tự nguyện và sự tùy thuận của từng cá nhân, không bao giờ dùng áp lực mà bắt buộc.
*
 

* Trang 373 *
device

 
Dàn ý Kinh Trung Bộ & Tóm tắt Kinh Trường Bộ