LOGO VNBET
BỐN LOẠI TỨ ĐẾ
TRONG KINH LĂNG NGHIÊM

 
Phần trước tôi đã nói về sự phán giáo của các Tổ sư Trung Hoa từ nhất tâm đến tứ thời, ngũ thời bát giáo. Sự phán giáo này đã giúp cho ta thêm một sự hiểu biết nữa, để xem xét kinh Lăng Nghiêm được phán giáo ra sao. Thí dụ như trong Nikàya, nói Khổ đế là Khổ đế, Tập đế là Tập đế, Diệt đế là Diệt đế, Đạo đế là Đạo đế. Có Diệt Tập đế thì mới chứng Đạo đế, diệt được Khổ Tập đế thì mới chứng được Diệt đế. Như vậy là đế nào ra đế đó, Khổ là Khổ, Tập là Tập, Diệt là Diệt, Đạo là Đạo. Có Diệt Tập đế (có nghĩa là diệt tham ái) thì mới hết khổ, muốn diệt tham ái thì phải tu đạo, chứ không thể nói chung chung được. Nhưng về sau trong các kinh luận của Đại thừa nói rằng đọc thấy phiền não tức Bồ-đề, sanh tử tức Niết-bàn. Như vậy khi nào nói Niết-bàn là Niết-bàn, là an lạc, sanh tử là đau khổ, bây giờ nói sanh tử tức Niết-bàn. Khi nào nói tham ái là nguyên nhân của khổ, dứt tham ái mới hết quả khổ, bây giờ nói phiền não tức Bồ-đề. Vì sao cùng một giáo lý do Phật nói ra mà có sự khác nhau như vậy ? Sự phán giáo của các Tổ Trung Hoa cho ta hiểu rõ điều đó. Bởi vì chúng ta cũng biết Đức Phật nói : “Giáo lý do Ta nói ra chỉ bằng nắm lá trong tay, còn giáo lý mà Ta đã chứng ngộ được bằng lá giữa rừng cây”. Như vậy lời nào
 

* Trang 42 *
device

của Ngài nói, mà phù hợp nhất với căn cơ trong hiện thời thì áp dụng; để đem đến sự giải thoát cho người đương cơ thì Ngài nói, còn điều gì Ngài chứng ngộ mà nói ra không có lợi cho sự giải thoát của người đương cơ, thì Ngài không nói. Trong giáo lý Đại thừa với tinh thần đó, lời Đức Phật dạy hàm tàng rất nhiều ý sâu sắc hơn nữa chứ không phải chỉ ngang tầm với lời Ngài nói ra lúc đó. Không phải nói một chỉ là một, mà nói một là tất cả. Khi xưa Đức Phật nói một là một chứ có nói, một là tất cả đâu. Không nói tất cả là một, một là một, tất cả là tất cả, không nói tất cả tức một, một tức tất cả, không có cái “tức” đó, mà Đức Phật nói rằng giáo lý Ta nói ra là chỉ một phần nhỏ của điều Ta chứng ngộ.
Như vậy, chúng ta phải hiểu ngầm trong lời nói đó của Đức Phật cũng có nghĩa một tức tất cả. Ngài nói ra một lời nào đó tức là bao hàm tất cả giáo lý mà Ngài đã chứng ngộ được. Bởi vì sao ? Bởi lời Ngài nói ra đó cũng mang cái tính chất giải thoát, mà lời Ngài chưa nói cũng mang tính chất giải thoát giác ngộ chứ không có gì khác hơn. Chẳng qua Ngài chỉ nói ít hay nhiều mà thôi. Cũng như một gáo nước, một thùng nước, một hồ nước, một bể nước, nhưng nước nào cũng có khả năng để giải khát. Vậy uống một gáo nước giải khát được thì tốt, nếu chưa giải khát được thì uống một thùng, nếu uống một thùng chưa giải khác được thì uống một lu, uống một lu chưa giải khát được thì uống một hồ. Từ đó chúng ta suy ra rằng : Câu một tức tất cả thì có thể hiểu, chính ngay lời Đức Phật nói ra, ta nghe chừng mức nào đó, như một câu, năm câu,

* Trang 43 *
device

mười câu, hai ba chục câu, nghĩa là có giới hạn trên ngôn ngữ, nhưng sự liễu ngộ thì tùy theo từng người, cũng như người uống nước trên kia, ý nghĩa sâu xa không phải chỉ nằm giới hạn trong ngôn ngữ đó mà thôi. Thế thì, nếu lấy cái lý mà nói trong ngôn ngữ giới hạn đó, nó có bao trùm một lý nghĩa không có giới hạn, như vậy là một tức tất cả. Một câu nói đó bao hàm tất cả lý nghĩa cũng là một tức tất cả. Như vậy khi Đức Phật nói : Khổ là Khổ, Tập là Tập, Diệt là Diệt, Đạo là Đạo, không phải chỉ ngang tầm của mấy chữ đó, trong câu nói đó, và đóng khung vào trong câu nói đó mà thôi. Nhưng đằng sau câu nói đó cũng một tức tất cả. Vì vậy trong kinh Đại thừa diễn ra như vậy.
Do đó mới phân ra : Tạng, Thông, Biệt và Viên. Tạng giáo thì nói Tứ đế sanh diệt : Khổ ra Khổ, Tập ra Tập, Diệt ra Diệt, Đạo ra Đạo, cái nào ra cái đó. Thông giáo thì cùng nói chung, thông cả trước sau, thông cả Tạng giáo, Biệt giáo, thông cả hai phía. Vì vậy Thông giáo cắt nghĩa Tứ đế là Vô lượng Tứ đế. Khổ không phải chỉ cái khổ sanh tử mà còn có Biến dịch sanh tử nữa. Tập không phải chỉ là tham ái mà có vô minh nữa. Diệt không phải là Hữu dư Niếtbàn, Vô dư Niết-bàn mà còn có Vô trú xứ Niết-bàn, Tự tánh Niết-bàn, Vô lượng tứ đế. Đạo không phải ngang tầm 37 đạo phẩm, bởi vì Phật nói 37 đạo phẩm là với căn cơ
chúng sinh chừng đó, tu chừng đó là được rồi. Nói nhiều nữa cũng không ích gì, vì họ không thể lãnh thọ thêm được. Nhưng đối với căn cơ khác, Phật nói nhiều hơn nữa. Cho nên không thể đặt Đạo đế chỉ ngang tầm 37 trợ đạo

 

* Trang 44 *
device

mà thôi, nên gọi là Vô lượng Tứ đế. Vô lượng Tứ đế nói rằng tất cả các pháp đều là duyên sinh, đã do duyên sinh tức vô tự tính, thế thì Khổ đó cũng vô tự tính, Tập, Đạo cũng vô tự tính, chứ không phải cái khổ đó mới là duyên sinh, Tập không phải duyên sinh, Đạo đế không phải là duyên sinh vì Đạo đế thuộc về hữu vi. Trừ Diệt đế mới là vô vi vô lậu, còn 3 đế kia là : Đạo đế thuộc hữu vi vô lậu, hai đế còn lại vừa là hữu lậu, vừa là hữu vi. Trong 4 đế đó vừa là hữu lậu, vừa là hữu vi. Đạo đế hữu vi nhưng vô lậu. Diệt đế vô lậu và vô vi, có sự khác nhau. Như vậy khổ tập đạo đã là hữu vi tức có sanh diệt, đã là hữu vi tức duyên sinh, mà duyên sinh thì vô tự tính, cho nên là vô sinh. Vì vậy Biệt giáo cắt nghĩa Tứ đế là Vô sinh Tứ đế, không có thật sinh. Đó cũng là lý duyên sinh do Phật nói áp vô đó, áp qua lý Tứ đế mà thôi, chứ còn lý duyên sinh không phải tách rời Khổ Tập Đạo. Thường thường chúng ta cắt nghĩa lý duyên sinh là vật nọ vật kia, pháp nọ pháp kia, ít khi áp lý duyên sinh vào Khổ Tập Đạo trừ Diệt là vô vi, không nói. Bây giờ áp lại lý duyên sinh vào nơi Khổ Tập Đạo, như vậy các pháp khác là duyên sinh vô tự tính, thì Khổ Tập Đạo đế cũng là duyên sinh nên vô tự tính. Vô tự tính là vô sinh – nên gọi là Vô sinh Tứ đế. Cũng đều là Tứ đế nhưng giáo lý mỗi tầng bậc có khác nhau, có sâu cạn như vậy. Rồi đến Viên giáo nói Vô tác Tứ đế, vô sinh thì có tác gì, đã vô sinh thì vô tác. Vô sinh thì Tập đế, Đạo đế không tác, nó đi dần tới, đưa tới pháp giới tính bổn vô sinh diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Như vậy nó là vô tác (vì không sanh không diệt), bất cấu bất tịnh thì đâu có Khổ, có Tập. Bất tăng bất giảm đứng vào trong tự tính
 

* Trang 45 *
device

thực tính của các pháp vốn là bình đẳng, vốn là yên lặng, vốn là vô sinh, vốn là như tính Niết-bàn, là bất sanh bất diệt, bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh, rồi đến Vô tác Tứ đế.
Nhưng lý Tứ đế của Phật nói bao trùm hết nhơn sinh, vũ trụ, y báo chánh báo gì nó cũng trùm hết trong lý Tứ đế. Nhất thiết pháp trùm hết trong lý Tứ đế chứ không có gì ngoài Tứ đế. Tỷ dụ như nói Khổ đế. Khổ đế là nói y báo chánh báo của chúng sinh; còn y báo chánh báo của Phật, ý nghĩa của nó rất rộng. Khi chúng ta nói vũ trụ nhơn sinh là nói con người, nhơn sinh quan chỉ nhắm con người mà nói, không kể các loài vật khác. Trong Phật giáo không nói nhơn sinh quan là vì nghĩa như vậy. Nhơn sinh quan là quan niệm về con người. Còn Phật nói chúng sinh hữu tình là bao quát hết chứ không phải nói nhơn sinh mà thôi, cho nên dùng chữ chánh báo y báo. Y báo Chánh báo là chỉ chung cho tất cả chứ không phải riêng cho con người, mà tất cả các loài đều nằm trong đó cả. Y báo chỉ cho tất cả vũ trụ, vạn vật, cái gì nó làm chỗ nương dựa cho chánh báo, bên ngoài con người, phụ thuộc con người, thì cái đó gọi là y báo. Vậy y báo chánh báo đau khổ của thế gian là Khổ đế. Cho nên nói Tứ đế là nó bao trùm hết cả vạn pháp, chứ không có gì lọt ra khỏi Tứ đế. Do đó trong 4 tạng giáo này cũng chỉ nói Tứ đế, nhưng Tứ đế ở Tạng giáo gọi là Sanh diệt Tứ đế. Tứ đế ở nơi Thông giáo thì gọi là Vô sanh Tứ đế, Tứ đế ở nơi Biệt giáo thì gọi Vô lượng Tứ đế, Tứ đế ở nơi Viên giáo gọi là Vô tác Tứ đế. Cũng là tính cách Tứ đế nhưng cách nhìn Tứ đế là cách

* Trang 46 *
device

nhìn về sanh diệt, hay vô sanh, hay vô lượng, vô tác. Hiểu như vậy để có sự thâm nhập, không cách ngại ai cả, không chướng chi nhau, cũng Tứ đế cả chứ không đi ngoài lý Tứ đế như Đức Phật nói. Nhưng Tứ đế có tầng bậc, nghĩa lý nó khác nhau mà các Tổ phán ra 4 cách. Do sự phán xét đó, nên khi đọc sách, nhất là kinh sách giải thích kinh điển Đại thừa hay nhắc đến thì phải phân biệt cho được. Đó là cách giúp cho ta hiểu giáo lý một cách thông suốt khỏi bị trở ngại, khỏi bị mâu thuẫn lẫn nhau. Đó là một điều quan trọng. Tôi nói như vậy để giúp cho quí vị hậu học có cơ duyên đi sâu vào kinh sách, giáo lý nhất là kinh sách Hán tạng. Còn kinh tạng Pali thì chúng ta chưa thông hiểu nhiều. Nếu dựa vào Hán tạng thì hay vấp các lý luận trên, nếu không thông hiểu thì sẽ bị trở ngại.
Nhân đây tôi cũng nói để quí vị biết, khi Hòa thượng Minh Châu dịch Nikàya ra Việt ngữ, Hòa thượng Hộ Giác có tâm sự rằng : Hòa thượng Minh Châu dịch kinh Nikàya thì tôi cũng đọc cả rồi, nhưng tôi dịch không được là vì tôi thiếu một phần chữ Hán. Hòa thượng Minh Châu sở dĩ dịch được Nikàya là vì Hòa thượng thông hiểu chữ Hán, đã biết từ ngữ bên chữ Hán, nên khi dịch Nikàya, Hòa thượng dùng từ đã có sẵn bên Hán tạng đem qua áp dụng dịch nên nó mau. Nếu không hiểu từ ngữ bên chữ Hán, như Pãncaskandha tương đương với chữ Hán là ngũ uẩn … thì chúng ta ngồi nghiền ngẫm cho ra từ tương đương đó ở trong tiếng Việt biết chừng nào cho ra, khó lắm. Ai có dịch mới biết, tìm cho ra một danh từ mới thích hợp đôi khi mất cả tháng trời. Phải tài ba như ngài Huyền Tráng, La Thập

* Trang 47 *
device

thì may ra dịch mới mau, chứ không cách gì dịch được hết. Vì vậy các thầy phải có vốn cổ ngữ kha khá để sau này có cơ hội nghiên cứu sâu, rộng thêm nữa chứ
không phải ngay chừng này mà cho là đủ thì thật đáng hổ thẹn thay.
*

 

* Trang 48 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm