LOGO VNBET
Giới thiệu về
KINH THỦ LĂNG NGHIÊM

 
Kinh này gọi là Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhơn Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ-tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm. Kinh này do Sa-môn Bát-thứ-mật-đế (Pramiti) người Thiên Trúc dịch. Sa-môn Di-già-thích-ca (Meghasákya) người Ô Trành dịch theo tiếng Trung Hoa và đệ tử thọ Bồ-tát giới tên là Phòng Dung, giữ chức Đồng trung thư môn hạ Bình Chương sự, ghi chép lời dịch.
Xưa các Ngài thường hay nhận xét những tên kinh của Phật đặt ra; có khi Phật dùng nhơn đặt tên, có khi dùng pháp đặt tên, có khi dùng cả nhơn cả pháp cả dụ đặt tên, có khi dùng nhơn và dụ đặt tên, có khi dùng nhơn và pháp đặt tên, có khi dùng pháp và dụ đặt tên. Ví dụ dùng nhơn đặt tên kinh như : Phật thuyết A-di-đà kinh (nhơn là tên Đức Phật). Có kinh dùng dụ đặt tên như kinh Trăng Rằm, kinh Dụ Bắt Rắn (Nikàya). Có kinh dùng cả dụ cả pháp đặt tên như Diệu Pháp Liên Hoa kinh (Liên Hoa là dụ; Diệu Pháp là pháp) đặt tên kinh. Lại có kinh dùng cả nhơn, dụ và pháp để đặt tên như : Đại Phật đảnh Như Lai mật nhơn tu chứng liễu nghĩa chư Bồ-tát Vạn hạnh Thủ Lăng Nghiêm (Như Lai, Bồ-tát là nhơn; Thủ Lăng Nghiêm, Vạn hạnh là pháp; Đại Phật đảnh là dụ).

 

* Trang 7 *
device

Trong Nikàya, Phật nói Vô ngã tướng đó là pháp như kinh Trăng Rằm, kinh Bộc Lưu (dòng nước). Cũng vậy, tuy gồm 19 chữ nhưng chủ yếu gọi tắt là Lăng Nghiêm, hay Thủ Lăng Nghiêm. Thông thường thì gọi là Kinh Thủ Lăng Nghiêm, chứ không gọi 19 chữ trên vì dài. Đây là gọi tắt, gọn nhưng đúng. Chính danh của nó là kinh Thủ Lăng Nghiêm chứ không có những chữ trên. Như vậy chúng ta biết những chữ trên dùng để diễn tả, bổ túc, cho rõ nghĩa tính cách của chữ Thủ Lăng Nghiêm mà thôi.
Vậy Thủ Lăng Nghiêm là gì ? Thủ Lăng Nghiêm là từ Hán Việt, phiên âm từ tiếng Phạn Súramgama. Thủ Lăng Nghiêm là một cái đỉnh, một cái tháp Tam-muội, cho nên có khi gọi là Thủ Lăng Nghiêm, hay Thủ Lăng Nghiêm Tam-muội. Thủ Lăng Nghiêm Trung Hoa dịch là Kiện tướng hay là Nhất thiết sự cứu kính. Trí độ luận cắt nghĩa Kiện tướng là một thứ định rất có uy lực, phân biệt được các định khác, các Tam-muội khác, nhiều ít, sâu cạn, mạnh yếu. Nó như một vị tướng có uy lực nhìn quân đội của mình nhiều ít, mạnh yếu ra sao. Nghĩa thứ hai là Nhất thiết sự cứu kính. Nhất thiết sự là tất cả pháp, cứu kính là rốt ráo. Do đó có thể gọi Nhất thiết sự là sự, cứu kính là lý. Đây là một thứ định mà tất cả pháp đến đó đều trở thành cứu kính viên mãn. Định Thủ Lăng Nghiêm này lấy gì làm thể ? Tức lấy chân tính diệu minh làm thể. Định Thủ Lăng Nghiêm nó sâu xa, siêu việt ví dụ như đảnh tướng của Phật. Các tướng của Phật trong Nikàya, không thấy nói; còn trong Đại thừa có tướng nhục kế. Nên các tướng Phật bây giờ trên đỉnh đầu có chỗ lồi ra, đó là nhục kế. Nhục kế về hình tướng bên ngoài

* Trang 8 *
device

nó là một nhúm tóc bọc khối thịt bên trên đỉnh đầu. Nhục kế của Phật theo trong kinh Đại thừa thì gọi là Vô kiến đảnh tướng (đảnh tướng của Phật không làm sao thấy được hết). Ví cho định Thủ Lăng Nghiêm này lấy tự tính diệu minh làm bản thể, như vậy tự tính diệu minh này cũng là vô kiến, khó thấy được, y như đảnh tướng của Phật, nên lấy Đại Phật đảnh làm ví dụ. Như Lai mật nhơn, chính Đức Phật cũng từ nơi Thủ Lăng Nghiêm đó mà làm các nhơn tu hành để thành Phật, nhơn đó là nhơn sâu thẳm, khó nhận biết, sâu nhiệm khó nhận thấy gọi là Như Lai mật nhơn. Trong chúng ta ai cũng có mật nhơn hết. Bề ngoài quí vị thấy tôi uống nước, tụng kinh, gõ mõ, nhưng tâm của tôi ngộ đến lý ngang chừng nào, tôi dựa vào cái hiểu biết như thế nào để tu thì mấy ai thấy được ? Tôi đoan chắc chả ai mà thấy được ! Có khi tôi tụng kinh cả ngày nhưng tâm không đứng yên một chỗ cũng có. Trái lại nhiều khi niệm Phật một chút mà tâm rất yên, vậy cái nhơn đó ai thấy được ? Chắc không thấy được ! Huống gì nhơn của Đức Phật tu ai mà thấy được, cho nên gọi là Như Lai mật nhơn. Dựa theo bản tánh diệu minh tu tập để làm cái nhơn hạnh tu hành nhiệm mật như vậy, thì sự tu hành đó cũng thành liễu nghĩa và chứng như vậy, sự chứng đó cũng trở thành liễu nghĩa. Ngộ được tự tính diệu minh mà tu và để chứng đạt thì gọi là liễu nghĩa. Nếu không dựa vào tính diệu minh đó để tu thì không liễu nghĩa. Nói về ngoại đạo trong kinh nhà Phật cắt nghĩa có 2. Ngoại đạo có phái này phái kia. Có người không nhận biết tự tâm của mình cho rằng ngoài tâm có pháp mà tu, cũng gọi là ngoại đạo. Đức Phật cốt nơi chỗ giác ngộ, cốt chỉ rõ cái mê lầm chúng sinh. Vì chúng sinh không thấy chỗ mê lầm giác ngộ

* Trang 9 *
device

đó để mà tu, nên cái tu đó nó chỉ đi ngoài lề, chứ không phải là cái tu chính thức. Vì vậy sự tu đó không phải là liễu nghĩa. Nên Phật lấy Thủ Lăng Nghiêm để làm cái nhơn hạnh tu hành, nhờ hạnh đó nó trở thành vi diệu bí mật, tu theo nhơn đó cũng trở thành liễu nghĩa. Liễu nghĩa tức là cái nghĩa rốt ráo, viên mãn. Chư Bồ-tát vạn hạnh : nếu các Bồ-tát có được vạn hạnh thì cũng lấy Thủ Lăng Nghiêm, căn cứ trên Thủ Lăng Nghiêm đó mới thành tựu vạn hạnh của Bồ-tát. Nếu không căn cứ vào Thủ Lăng Nghiêm mà tu thì cũng y như cái pháp nhơn chấp ngã, trở thành cái pháp thế gian, chứ chưa phải là pháp thật xuất thế gian. Chư Bồ-tát vạn hạnh nghĩa là vậy.
Vậy thì cái định Thủ Lăng Nghiêm là một cái định lấy bản tính diệu minh làm thể từ đó mà tâm được định, từ đó mà tu hành thành liễu nhơn, chứng được liễu nhơn muôn hạnh đầy đủ. Nói về chư Bồ-tát vạn hạnh, chúng ta nói lục độ vạn hạnh, theo Nam truyền có 10 hạnh (độ). Kinh Niếtbàn nói có 4 hạnh : Thánh hạnh, Phạm hạnh, Bệnh hạnh và Anh nhi hạnh.
a. Thánh hạnh : là tu định tuệ để trở thành thánh quả.
b. Phạm hạnh : là tu về từ bi hỷ xả. Theo Bà-la-môn giáo, người tu về từ bi hỷ xả thì sẽ được cọng trú với Phạm thiên. Phật cũng tu từ bi hỷ xả, nhưng từ bi hỷ xả của Phật phải có quán. (Thiền phải có quán). Từ bi hỷ xả trong Phật giáo phải có thiền, vì nó được coi như là một đối tượng quán. Còn từ bi hỷ xả như ta nói đạo Phật là đạo từ bi, thì nó không phải giới hạn trong quán từ bi, mà còn thể hiện trong hành động từ bi, nên từ bi đó trở thành Bồ-tát hạnh.

* Trang 10 *
device

Còn nếu quán không thì mới đạt được phần quán. Nghĩa là trên phương tiện quán tâm không khởi ác, tâm không có xúc não chúng sinh, tâm không có độc hại, tâm muốn làm vui chúng sinh, nhưng mà nó chỉ trên phần quán mà thôi. Do đó từ bi trong Tứ thiền cũng là từ bi nhưng chú trọng quán chứ chưa chú trọng về sự thực hiện cái hạnh từ bi qua Lục độ, mà cũng chưa đạt đến cái mức gọi là Vô duyên từ, nó chỉ được gọi là Chúng sinh duyên từ mà thôi.
Nói như vậy để quí vị biết phân biệt. Trong Tứ thiền hay nói về quán từ bi, mà tứ thiền thì ngoại đạo cũng có, chứ không phải riêng trong Phật mới có. Tứ thiền là hướng đi nhưng hướng đi của tứ thiền nơi Phật và ngoại đạo khác nhau. Cũng đi trên con đường đó mà đích quả của ngoại đạo thì khác, đến đó coi như đạt được; còn đối với Phật thì đó chỉ là phương tiện ban đầu để bước tới giải thoát, cứu cánh mà thôi.
Nhơn đây tôi nói thêm về từ bi. Từ bi trong Tứ thiền cũng hay đề cập, nhưng từ bi trong đó cốt là quán từ bi. Trên phương tiện quán, dùng từ bi làm đối tượng để duyên cái tâm mình vào đó, duyên vào từ, bi, hỷ, xả đừng để tán loạn. Còn khi nói đạo Phật là đạo từ bi thì nó chú trọng vào trong sự thực hành. Thực hành đây là đi vào lục độ vạn hạnh và đi vào trong cái thánh hạnh, đi vào trong cái Phạm hạnh này nên gọi là Phạm hạnh.
c. Bệnh hạnh : Bồ-tát nhiều khi không bệnh nhưng vì chúng sinh bệnh mà thành ra bệnh. (Duy-ma-cật). Một hôm có người hỏi ngài Duy-ma-cật khi nào lành bệnh ? Ngài trả lời : “Khi nào chúng sinh lành bệnh thì bệnh tôi

* Trang 11 *
device

mới lành”. Thế gian ai cũng muốn tránh bệnh, nhưng Bồ-tát thấy chúng sinh bệnh nên mình bệnh !
Ngày xưa có một người thờ bức tượng Quan Âm đại sĩ mà thờ ngược đầu lại. Rồi ông viết một câu một bên : “Vấn đạo sĩ vân hà đảo tọa” (xin hỏi đạo sĩ cớ sao ngồi ngược). Để đối với câu trên, ông viết một câu khác trả lời : “Hận chúng sinh bất cẩn hồi đầu” (vì ta giận chúng sinh không chịu hồi đầu). Hồi đầu ở đây ngụ ý chỉ cho chúng sinh và cũng chỉ cho Ngài. Khi nào chúng sinh hồi đầu thì Ngài hồi đầu, mà chúng sinh không chịu hồi đầu nên Ngài cứ đảo tọa.
d. Anh nhi hạnh : Đây là từ trong kinh Niết-bàn xuất ra. Anh nhi hạnh là cái hạnh hài nhi. Trong khi nói về trẻ nít, chúng ta có thể mường tượng được hạnh trẻ nít vô tư, khen cũng được, chê cũng được, không sao cả; còn người lớn khó mà vô tư lắm ! Cho nên anh nhi hạnh có 2 mặt. Về mặt tự lợi là sống với tinh thần vô phân biệt như anh nhi, như đồng ấu, không phân biệt, đơn giản, thuần hậu như trẻ thơ (vô phân biệt). Còn về mặt lợi tha, Anh nhi hạnh có nghĩa là Đức Phật đáng lý Ngài không cần làm những việc nhỏ nhặt, nói những điều nhỏ nhặt, nhưng bây giờ Ngài vẫn làm những việc nhỏ nhặt, vẫn làm cái việc nhỏ nhặt như trẻ nít ấy, là vì chúng sinh. Ngài nghĩ làm như vậy họ mới thấm, mới hiểu được, phải nói những chuyện thông thường, tùy theo căn cơ của chúng sinh mà nói. Nếu chúng sinh cười thì phải cười theo, nó khóc phải khóc theo, nó buồn phải buồn theo,vui phải vui theo. Làm cái hạnh như hạnh trẻ con, thì mới tùy cơ giáo hóa họ được. Cũng y như người lớn giáo

 

* Trang 12 *
device

hóa trẻ con, khi nó đánh bi, đánh đu, thì cũng phải hòa đồng chơi với nó, đó là anh nhi hạnh. Về mặt tự lợi, thì phải sống với một tinh thần vô phân biệt, đơn giản thuần hậu y như anh nhi. Về mặt lợi tha phải hạ mình xuống y như trong kinh Pháp Hoa, trưởng giả cũng phải mặc áo nhớp, phải hốt phân thì mới gần gũi con được và dẫn nó về để trao gia sản cho nó. Đó là hạnh anh nhi. Cũng vậy, pháp Đức Phật nói ra là Ngài muốn nói pháp thật siêu, chứ Ngài không pháp
thông thường như : Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo – Nhà thơ Bạch Cư Dị hỏi Ô Sào Thiền sư xin Ngài cho tôi hiểu đại ý Phật pháp, chân lý của Phật Pháp. Ô Sào liền trả lời là : Các việc ác không làm, hãy làm các điều thiện, tự thanh tịnh ý chí. Đó là điều Phật dạy. Nghe xong, ông nói : Ôi chao, tôi tưởng Ngài nói cái đạo lý gì cao siêu, chứ Ngài nói cái đó thì em bé 10 tuổi nó cũng hiểu được. Thiền sư trả lời : Thưa tiên sinh, có những việc em bé 10 tuổi hiểu được chứ cụ già 100 tuổi chưa chắc đã làm được !
Như vậy đối với Đức Phật Ngài dạy thật đơn giản chính xác nhưng ông Bạch Cư Dị cho là tầm thường, thì quí vị nghĩ sao ? Lời nói và việc làm có cần đi đôi với
nhau không ? Đức Phật đâu muốn nói vậy, nhưng vì căn cơ chúng sinh, nói như vậy họ mới hiểu, còn nói vô ngã vô thường sâu xa quá, thì chưa được. Đó cũng là Anh nhi hạnh.

 
*

* Trang 13 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm