LOGO VNBET
dung, không có sai khác, cho đến loài hữu tình, vô tình cũng đều bằng bậc, không có sai khác. Tất cả đại chúng, được hào quang chư Phật soi đỉnh đầu, đều chứng được Kim cương tam muội, tức là Như huyễn tam muội, là Thủ Lăng Nghiêm tam muội.
*
Bấy giờ, đức Như Lai bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp vương tử rằng : “Ông hãy xét trong 25 vị Vô học Đại Bồ-tát và A-la-hán, mỗi mỗi đều trình bày phương tiện hành đạo lúc đầu, đều nói tu tập tính viên thông chân thật; chỗ tu hành của các vị kia, thật không có hơn, kém, trước, sau gì khác nhau. Nay Ta muốn khiến cho A-nan được khai ngộ, thì trong 25 phép tu, phép nào hợp với căn cơ của ông ấy; lại, sau khi Ta diệt độ rồi, chúng sinh trong cõi này vào thừa Bồ-tát, cầu đạo vô thượng, thì dùng pháp môn gì làm phương tiện cho dễ được thành tựu hơn ?”
Phật bảo ngài Văn Thù lựa chọn căn viên thông
Sau khi Đại chúng đã nghe các vị Đại Bồ-tát và A-lahán trình bày những phương tiện tu chứng đi đến thành đạo, Phật dạy Ngài Văn Thù Sư Lợi, hãy vì Tôn giả A-nan và các chúng sinh trong cõi Ta-bà, nên lựa chọn phép tu nào thích hợp hơn cả. Cả 25 vị Thánh nhân đều chứng được tính viên thông, các phương pháp tu hành của các Ngài. Thật không gì đáng gọi là hơn hay là kém, là nhanh hay là chậm, cho nên, sự lựa chọn của ngài Văn Thù, cũng chỉ là sự lựa chọn, theo cơ cảm hiện tiền mà thôi.

 
 *

* Trang 483 *
device

Ngài Văn thù Sư Lợi Pháp vương tử, vâng từ chỉ của Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ nơi chân Phật, dựa vào uy thần Phật, nói bài kệ đáp lại :
“Bản tính biển giác khắp đứng lặng,
Tính khắp đứng lặng vốn nhiệm mầu,
Bản minh chiếu ra hình như sở,
Lập tướng sở, bỏ mất bản minh.
Do mê vọng, mà có hư không,
Nương hư không, lập thành thế giới;
Tư tưởng chăm chú thành cõi nước,
Hay biết mọi việc, là chúng sinh.
Hư không sinh ra trong đại giác,
Như một bọt nước sinh trong bể;
Các nước hữu lậu, như vi trần,
Đều nương hư không mà phát sinh;
Bọt nước diệt, vốn không hư không,
Huống nữa là hình tướng ba cõi !.”
Tán thán tinh giác vốn diệu và chỉ rõ mê vọng vốn không.
Ngài Văn Thù Sư Lợi lĩnh từ chỉ của Phật, dựa vào uy thần của Phật, nói bài kệ để đáp lại. Ngài Văn Thù Sư Lợi là hiện thân của trí Bát-nhã, nhận rõ căn cơ của chúng sinh, mà phương tiện hóa độ; Ngài dựa vào thần lực của Phật, lựa chọn đường tu cho những căn cơ hiện tiền, vì tất cả các vị Đại Bồ-tát đều dựa vào thần lực của Phật, mà làm Phật sự, thì Phật sự mới được viên mãn.
Hai câu kệ “Bản tính biển giác khắp đứng lặng, tính khắp đứng lặng vốn nhiệm mầu”, chỉ rõ tính giác rộng sâu

 

* Trang 484 *
device

như biển, không có lay động, không có tạp nhiễm, nên thường đứng lặng; tính giác lại trùm khắp pháp giới, đầy đủ tất cả các sự vật, ra ngoài các danh tướng chân, vọng, mê, ngộ, nên gọi là cùng khắp. Bản tính của biển giác cùng khắp, đầy đủ, đứng lặng như thế, lại rất nhiệm mầu, duyên khởi ra tất cả sự vật như huyễn như hóa; nhưng, tất cả những sự vật ấy, đều là cảnh giới không nghĩ bàn, không sai khác.
Hai câu kệ sau “Bản minh chiếu ra hình như sở, lập tướng sở, bỏ mất bản minh” chỉ tính bản giác vốn là sáng suốt, chứ không phải như những vật vô tri. Tính sáng suốt ấy, vẫn nhiệm mầu, chiếu ra thành cảnh giới, đó là tính bản minh. Tính bản minh hiện ra cảnh giới, thì cảnh giới tức là tính bản minh, không có sai khác, không có gì đáng gọi là năng, không có gì đáng gọi là sở. Nếu không nhận được tính bản minh chiếu ra, thành cảnh giác, lập cảnh giới, thành tướng sở minh, thì lại lầm tính bản minh là năng minh; do đó, bỏ mất thật tính của bản minh, bao trùm tất cả, không có năng, sở. Chính cái nhận thức mê lầm này, là cội gốc sinh ra tất cả các sự mê lầm khác; vì thế, nên gọi nó là căn bản vô minh.
Bốn câu “Do mê vọng, mà có hư không … … hay biết mọi việc, là chúng sinh” nghĩa là, đồng một giác tính, lại chia ra có năng, có sở; lúc chưa phân biệt, chỉ thấy có hư không, lúc phân biệt, lại thành có thế giới. Do cố chấp thật có cảnh vật ngoài giác tính, chấp mãi không thôi, lớp trước, lớp sau gắn chặt với nhau, nên thành ra hình tướng các cõi nước và những luồng tâm niệm nhận biết các sự vật, theo

 

* Trang 485 *
device

mỗi mỗi nghiệp, thì gọi là chúng sinh. Tâm niệm, sinh rồi lại diệt, diệt rồi lại sinh, thay đổi mãi mãi, song, vì tâm niệm phát khởi liên tục, theo hiện nghiệp của mỗi loài, trong một thời gian nhất định, nên chúng sinh lầm nhận, thật có cái ta và cùng với cái ta ấy, mà luân hồi sống chết. Nhưng, dầu quanh quẩn trong vòng sinh diệt, chúng sinh luôn luôn có giác tính thường trụ, chỉ cần diệt trừ những nhận thức mê lầm, thì trực nhận được giác tính mà thôi.
Sáu câu “Hư không sinh ra trong đại giác … … huống nữa là, hình tướng ba cõi”, nghĩa là, giác tính trùm khắp mười phương ba đời, ra ngoài thời gian và không gian, chỉ do nhất niệm bất giác chia ra năng, sở, mới thành có hư không. Hư không không sinh ra như thế, chẳng khác gì một bọt nước nổi lên trên bể cả, thật là nhỏ bé, so với giác tính vô lượng vô biên. Hư không không có hình tướng; đối với cái không có hình tướng đó, các cõi hữu lậu có hình, có tướng, như số vi trần, mới hiện ra. Nếu nhất niệm bất giác được diệt trừ, thì vốn không có hư không, làm gì còn có những cõi : Dục, Sắc, Vô sắc đối hiện với hư không ? Chừng ấy bọt nước tiêu diệt, bể cả vẫn mênh mông rộng lớn, không vì bọt nước, mà thành nhỏ bé, cũng không vì sinh ra nhiều bọt nước, mà có thay đổi.
“Bản tính xoay về, vốn không hai,
Phương tiện tu chứng có nhiều cách,
Cách nào cũng thông vào bản tính,
Nói thuận, nghịch, chỉ là phương tiện;
Do hàng sơ tâm vào tam muội,
Bên mau, bên chậm không đồng nhau.”

* Trang 486 *
device

Nêu rõ phương tiện có mau chậm
Sáu câu “Bản tính xoay về … … bên chậm không đồng nhau” nghĩa là, tất cả các pháp môn tu hành đều là những phương tiện, để xoay về trực nhận giác tính. Giác tính vốn không hai, nhưng phương tiện xoay về giác tính thì nhiều; tất cả các phương tiện tu hành của 25 vị thánh nhân, đều đi đến thật chứng giác tính, không có hơn kém. Vì thế nên, dầu nói thuận, hay nghịch, cũng chỉ là phương tiện; do các hàng sơ tâm tu chứng Thủ Lăng Nghiêm tammuội theo phương pháp này hoặc theo phương pháp khác, cho nên kết quả có người mau, kẻ chậm không đồng nhau.
“Vọng tưởng kết lại thành sắc trần,
Hay biết không thể thông suốt được;
Làm sao, chính chỗ không thông suốt,
Tu hành, lại được tính viên thông ?
Âm thanh xen lộn với lời nói,
Chỉ nương theo ý vị danh từ;
Nếu một, không trùm được tất cả,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Hương, chỉ lúc hợp, mới rõ biết,
Lúc rời cách, thì vốn không có;
Nếu sở giác, không được thường xuyên,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Vị, không phải bản nhiên tự có,
Cần phải nếm, mới biết có vị;
Nếu giác quan, không thường duy nhất,
Thì làm sao, được tính viên thông ?

* Trang 487 *
device

Xúc, do các vật chạm mà biết,
Không vật chạm, thì không thành xúc;
Khi hợp, khi ly, không nhất định,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Pháp, cũng có tên là nội trần,
Nương theo trần, tất phải có sở;
Năng sở, không viên dung nhập một,
Thì làm sao, được tính viên thông ?”
Lựa ra 6 trần
Bốn câu “Vọng tưởng kết lại … … được tính viên thông ?” cốt để chỉ rõ chỗ khó khăn của hàng sơ tâm, trong lúc tu chứng về sắc trần. Sắc trần do vọng tưởng kết lại mà thành, có tính ngăn ngại, không thông suốt. Ông Ưu Ba-ni-sa-đà quán sắc trần tan rã, cho đến vi trần, rồi chia chẻ vi trần thành hư không; sắc đã thành không, thì không khác sắc; do đó, chứng được tính sắc, tức là chân không, tính không tức là chân sắc, vào được tính viên thông, không còn ngăn ngại; Ngài Văn Thù nhận thấy bản tính của sắc trần là ngăn ngại, không phải thông suốt; hàng sơ tâm khó bề do sắc trần mà vào được tính viên thông, nên lựa bỏ, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Âm thanh xen lộn … … được tính viên thông ?” cốt để chỉ rõ về ông Kiều Trần Na, nương theo lời nói của Phật mà ngộ; nhưng lời nói xen lộn nhiều danh từ; nếu chỉ phân biệt danh từ, thì làm sao mà ngộ đạo được. Song, âm thanh không phải chỉ là lời nói, âm thanh còn là thanh trần; nó hiện ra khi động, khi tĩnh trong tính

 

* Trang 488 *
device

nghe. Ông Kiều Trần Na theo nghĩa lý của Phật dạy, quán bản tính của âm thanh duyên khởi như huyễn, không có tự tính, giác ngộ tính chung của các thanh trần và của các sự vật, nên vào được tính viên thông. Hàng sơ tâm tu chứng về thanh trần, thường mắc vào danh từ, không nhận được bản tính viên dung cùng khắp, nên ngài Văn Thù lựa bỏ, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Hương, chỉ lúc hợp … … được tính viên thông ?” nghĩa là, Ngài Hương Nghiêm đồng tử, khi nghe mùi thơm, ngộ được bản tính của mùi thơm, cũng như bản tính của các sự vật, đều do duyên khởi như huyễn, không có gì được gọi là đi, lại, sinh hay diệt, nên chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm tu chứng về hương trần, tất nhiên gặp nhiều khó khăn, vì hương trần khi có, khi không, không phải thường xuyên; do đó, nên ngài Văn Thù lựa bỏ, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Vị không phải bản nhiên … … được tính viên thông ?” nghĩa là, vị trần đối với thiệt căn mà thành có, nếu không có thiệt căn mà thành có, nếu không có thiệt căn biết nếm vị, thì các vị không thể thành lập được. Các ngài Dược Vương và Dược Thượng Bồ-tát do quán bản tính của vị trần, theo nhân duyên mà biến hiện, không phải có, không phải không, không phải tức là thân tâm, mà cũng không phải ra ngoài thân tâm; do đó, ngộ được bản tính của sự vật đều như huyễn, không có tự tính và chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm tu chứng về vị trần, chắc sẽ gặp nhiều khó khăn, vì vị trần là pháp đối đãi, là pháp sinh diệt, do phân biệt biến hiện; nếu không biết

 

* Trang 489 *
device

quán bản tính của vị trần, chỉ theo cái phân biệt vị nà hay vị khác, cái phân biệt căn là năng tri và trần là sở tri, thì không thể chứng vào tính viên thông; do đó, Ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Xúc, do các vật chạm … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài Bạt-đà-bà-la nhân xúc trần mà ngộ được Phật pháp không làm cho tâm tính thanh tịnh, vì tâm tính bản lai vẫn là thanh tịnh; Phật pháp cũng không làm cho phiền não mê lầm thành thanh tịnh, vì bản tính nó là nhiễm ô; nhưng Phật pháp là phương tiện tách rời tâm tính với phiền não mê lầm; do đó, ngài phá trừ pháp chấp, chứng được tính viên thông. Nhưng, xúc trần, khi hợp thì có, khi ly thì không, không phải thường, không phải một. Hàng sơ tâm quán về xúc trần, khó viên dung được năng sở, rời bỏ được ly hợp, để chứng vào diệu chân như tính; vì thế ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Pháp, cũng có tên là nội trần … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài Đại Ca-diếp do quán trần cảnh thay đổi tiêu diệt, nên ngộ biết tất cả đều không có tự tính. Ngài dùng cái tâm đã giác ngộ tính không, vào Diệt tận định, thì liền nhận thấy, do nhân duyên phân biệt, mà biến hiện ra thành các sự vật, thời gian và không gian; ngoài phân biệt ra, thì vốn không có gì, nên Ngài phá trừ được pháp chấp, chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm quán về pháp trần, thì khó bề dung hợp được năng tri và sở tri, dung hợp được quán trí và quán cảnh; vì thế, Ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.

 

* Trang 490 *
device

“Cái thấy, tuy rỗng suốt rất xa,
Nhưng thấy trước, mà không thấy sau;
Bốn bề, còn thiếu mất một nửa,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Mũi, có thở ra và thở vào,
Chặng giữa, hiện không có hơi thở.
Nếu không viên dung sự cách bức,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Ngoài sở nhập, tính nếm không thành,
Nhân các vị, mới có hay biết;
Không có vị, rốt ráo không có,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Thân biết xúc với cảnh sở xúc,
Đều có hạn, không phải cùng khắp;
Nếu không nhận tính không bờ bến,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Ý căn xen với các loạn tưởng,
Đứng lặng, rốt cuộc không thấy gì ;
Nếu không thoát được các tưởng niệm,
Thì làm sao, được tính viên thông ?”
Lựa ra 5 căn
Bốn câu “Cái thấy, tuy rỗng suốt rất xa … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài A-na-luật-đà quán về tính thấy, phát minh tính thấy bản lai cùng khắp mười phương, không có sinh diệt, không có năng sở, mà chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm quán về tính thấy, không nhận rõ tính bản minh không theo các căn, chỉ gá nơi căn mà phát
 

* Trang 491 *
device

hiện, nên thường bị dính mắc ở chỗ cái thấy : chỉ thấy phía trước, mà không thấy được phía sau; vì thế, ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Mũi có thở ra và thở vào … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ông Bà-đặc-ca quán cái hơi thở cùng tột các sinh diệt, ngộ được tâm tính bất sinh, bất diệt và chứng được tính viên thông; nhưng hàng sơ tâm quán hơi thở, thì thấy rằng lúc thở ra, thở vào thì có, còn ở chặng giữa, không thở ra, không thở vào thì không có; với hơi thở gián đoạn như thế, hàng sơ tâm khó bề đi đến diệu chân như tính thường trụ, không thay đổi; do đó, ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Ngoài sở nhập, tính nếm không thành … …được tính viên thông ?” nghĩa là, ông Kiều Phạm Bát Đề quán tính biết vị, không phải tâm, không phải vật, duyên khởi như huyễn, nên chứng được tính viên thông; hàng sơ tâm quán về thiệt căn thì gặp khó khăn, vì thiệt căn đối với vị trần mà có, ngoài vị trần ra, không còn gì đáng gọi là thiệt căn; vì thế, nên ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Thân biết xúc với cảnh sở xúc … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ông Tất-lăng-già-bà-ta, trong lúc nhiếp tâm vào chính quán, bị gai độc đâm vào chân, sinh tâm biết đau, thì liền nhận rõ cái đau và cái biết đau đều do nhân duyên phân biệt biến thành, không có tự tính; nơi tâm không phân biệt, thật không có gì đáng gọi là cái đau và cái biết đau; do đó, Ngài nhiếp niệm không bao lâu, đã chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm quán về cái thân

* Trang 492 *
device

căn biết cảm xúc, thì gặp khó khăn, vì cái biết xúc và cái xúc đều có hạn lượng từng nơi, từng chỗ, không phải cùng khắp; nếu không nhận được bản tính của thân căn cùng khắp pháp giới, không có bờ bến, thì không thể chứng được tính viên thông; vì vậy, ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
Bốn câu “ Ý căn xen với các loạn tưởng … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài Tu Bồ Đề tu phép quán không, đến khi phát minh tính giác là chân không, tính không là chân giác, thoát ly cái có và cái không, thì chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm quán về ý căn, thì khó thoát khỏi các vọng tưởng, khi ý sinh thì tất cả đều có, khi nhiếp niệm thì tất cả đều không, những vọng tưởng rằng có, rằng không, thay đổi nhau mà phát hiện, khó thoát ra được; vì thế, ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
“Nhãn thức, phát khởi nhờ căn trần,
Gạn cùng, vốn không có tự tướng;
Cả tự thể, còn không nhất định,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Tâm nghe rỗng thấu cả mười phương,
Là do sức hoằng thệ rộng lớn;
Sơ tâm, không thể đến chỗ ấy,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Quán đầu mũi, vốn là duyên cơ,
Chỉ để nhiếp tâm được an trụ;
Nếu cảnh quán, lại thành sở trụ,
Thì làm sao, được tính viên thông ?

* Trang 493 *
device

Thuyết pháp, diệu dụng các danh từ;
Cốt phải đã được khai ngộ trước;
Nếu lời nói, không phải vô lậu,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Giữ giới, chỉ câu thúc cái thân,
Ngoài cái thân, lấy gì câu thúc;
Vốn không phải cùng khắp tất cả,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Thần thông, do túc tập từ trước,
Nào dính gì ý thức phân biệt;
Tưởng niệm, không thoát ly sự vật,
Thì làm sao, được tính viên thông ?”
Lựa ra 6 thức
Bốn câu “Nhãn thức, phát khởi nhờ căn trần … … được tính viên thông ?” nghĩa là, nhãn thức do nhãn căn duyên với sắc trần mà phát khởi ra, nếu không có căn trần duyên nhau, thì nhãn thức không do đâu mà phát khởi được. Nhãn thức theo duyên mà sinh, không có tự tướng,
không có tự thể; hàng sơ tâm rất khó nương vào nhãn thức mà tu tập, để phát minh trí tuệ như ngài Xá-lợi-phất và chứng được tính viên thông. Vì thế, ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Tâm nghe, rỗng thấu tất cả mười phương … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài Phổ Hiền Bồ-tát đã chứng vào pháp giới tính, do đại nguyện rộng lớn, nghe khắp mười phương, hộ trì các chúng sinh phát Bồ-đề tâm; hàng sơ tâm không thể làm được việc đó, nên ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.


* Trang 494 *
device

Bốn câu “Quán đầu mũi, vốn là duyên cơ … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài Tôn-đà-la-nan-đà thông suốt giáo lý của Phật, chỉ vì tâm thường tán loạn, nên chưa thật chứng, Phật dạy ngài quán đầu mũi trắng, cốt để ngài thu nhiếp tâm niệm, đối trị lòng tán loạn, đi đến dung hợp quán trí và quán lý, chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm trong lúc nhiếp tâm, thường bị dính mắc vào quán cảnh, khó thoát ra được, nên ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Thuyết pháp, diệu dụng các danh từ … …được tính viên thông ?” nghĩa là, Phật dạy ngài Phú-lâu-na tu pháp môn thuyết pháp, vì ngài đã tỏ ngộ đầy đủ các đạo lý của Phật; do ý nghĩ và lời nói của ngài luôn luôn đúng với Phật pháp, nên trong lúc thuyết pháp, ngài tự huân tập chủng tử vô lậu, đi đến chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm chưa rõ Phật pháp, thường bị dính mắc vào các danh từ, khó bề tu chứng pháp môn thuyết pháp có kết quả, nên ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Giữ giới, chỉ câu thúc cái thân … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài Ưu-ba-ly giữ giới thanh tịnh, cho đến cả thân và tâm đều yên lặng sáng suốt, do đó, chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm tu phép trì giới, chỉ biết câu thúc cái thân, thì giác quán bị ràng buộc với thân căn, khó thoát ra được; chính vì hàng sơ tâm khó quán cội gốc phiền não, giữ tâm giới được thanh tịnh, nên ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.

 

* Trang 495 *
device

Bốn câu “Thần thông, do túc tập từ trước … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài Mục-kiền-liên đã nhiều đời tu tập thiền định, phát ra thần thông; nhân nghe bài kệ “nhân duyên” ngộ được tất cả sự vật đều do duyên khởi như huyễn và chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm tu pháp môn này, thường bị dính mắc vào các sự vật, do thần thông biến hóa, khó do những biến hóa đó, mà chứng được pháp tính duyên khởi như huyễn, nên ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
“Nếu quán cái tính của địa đại,
Thì nó ngăn ngại, không thông suốt;
Pháp hữu vi, không phải chân tính,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Nếu quán cái tính của thủy đại,
Quán tưởng, đâu phải là chân thật,
Nếu không đi đến diệu chân như,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Nếu quán hỏa đại, trừ dâm dục,
Chán cái có, không phải thật ly;
Phương tiện, không hợp với sơ tâm.
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Nếu quán cái tính của phong đại,
Động, tĩnh, đâu phải không đối đãi;
Đối đãi, trái với vô thượng giác,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Nếu quán cái tính của không đại,
Hư không vô tri, không hay biết;
Không biết, khác hẳn với Bồ-đề,

 

* Trang 496 *
device

Thì làm sao, được tính viên thông ?
Nếu quán cái tính của thức đại,
Thức sinh diệt, đâu phải thường trụ,
Để tâm trong phân biệt hư vọng,
Thì làm sao, được tính viên thông ?
Tất cả các hành đều vô thường,
Tưởng niệm, vốn trong vòng sinh diệt,
Nhân và quả, khác nhau như thế,
Thì làm sao, được tính viên thông ?”
Lựa ra 7 đại
Bốn câu “Nếu quán cái tính của địa đại … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài Trì Địa Bồ-tát, nhân quán vi trần tạo ra thân thể, và vi trần tạo thành thế giới, đều như nhau không khác, nên diệt các phân biệt, ngộ được tính viên thông. Hàng sơ tâm quán về địa đại, thấy nó ngăn ngại không thông suốt, lại thấy nó là pháp hữu vi theo duyên mà sinh diệt, nên khó bề chứng được diệu chân như tính; vì thế, ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Nếu quán cái tính của thủy đại … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài Nguyệt Quang đồng tử quán về thủy đại, thấy chất nước tạo thành thân thể và chất nước trong thập phương thế giới, đều như nhau không khác, cho đến ngộ được tính thủy là chân không, tính không là chân thủy và chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm tu phép quán này, dễ mắc vào quán cảnh, khó bề nhận được bản tính như như bình đẳng, nên ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.

 

* Trang 497 *
device

Bốn câu “Nếu quán hỏa đại, trừ dâm dục … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài Ô-sô-sắt-ma, tu phép quán về hỏa đại, hóa được lòng đa dâm thành lửa trí tuệ, chứng vào tính viên thông. Hàng sơ tâm tu theo phép này, thường mắc vào sự nhàm chán cái có và khó ra khỏi cái có, cái không, thiết thực thoát ly được nội thân, ngoại cảnh, đi đến không còn gì phải thoát ly nữa. Vì thế, ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Nếu quán cái tính của phong đại … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài Lưu Ly Quang Bồ-tát quán cái thân, cái tâm và thế giới đều do sự lay động giả dối hiện ra. Do tất cả đều giả dối hiện ra, nên sự thật không hiện ra một cái gì. Do tất cả đều là lay động, nên không còn đối với cái gì mà gọi là lay động; nhân đó mà Ngài chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm quán về phong đại, khó bề tiêu diệt cái đối đãi giữa lay động và không lay động; mà đã là đối đãi, thì không phải thường, không phải một, trái với tính viên thông, nên ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.
Bốn câu “Nếu quán cái tính của không đại … … được tính viên thông ?” nghĩa là, ngài Hư Không Tạng Bồ-tát quán tất cả sự vật đều do vọng tưởng biến hiện, không có tự tính, ngộ được tính giác là chân không và chứng được tính viên thông. Hàng sơ tâm quán về không đại, chỉ thấy cái hư không vô tri, vô giác, khó bề dung hợp năng quán và sở quán, nên ngài Văn Thù lựa bỏ pháp môn này, cho là không thích hợp.

 

* Trang 498 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm