LOGO VNBET
cho nên có hỏa đại làm tánh biến hóa. Ngọn lửa xông lên, kim bảo sanh ra tánh ướt, cho nên có thủ luân trùm khắp các cõi mười phương.
Lửa bốc lên, nước sa xuống, giao phát hiện thành chất cứng, chỗ ướt làm bể lớn, chỗ khô làm gò nổi; do nghĩa ấy nên trong bể lớn kia, hơi nóng thường bốc lên, trong gò nổi kia, sông ngòi thường chảy. Thế nước kém thế lửa, kết lại làm núi cao, vậy nên đá núi đập thời ra lửa, nấu thời chảy ra nước. Thế đất kém thế nước, rút ra thành cỏ cây, vậy nên rừng rú bị đốt thành đất, vắt ra thì có nước.
Vọng tưởng giao xen phát sanh, xoay vần làm chủng tử, do nhơn duyên ấy mà thế giới tiếp tục.”
*
Phật chỉ chỗ vọng sanh tương tục

 
Trong khi Phật đã quy nạp ngũ ấm, lục nhập thập nhị xứ, thập bát giới thất đại về Như Lai tạng tánh thì các thính giả có căn đại thừa đã nhận rõ Như Lai tạng tâm, xưng tán công đức Phật và phát nguyện độ sanh thành Phật. Duy chỉ có định tánh Thanh văn pháp chấp còn nhiều, chưa rõ chỗ Phật muốn chỉ nên ông Phú-lâu-na thể theo lòng đại bi của Phật, phô bày các điều nghi hoặc trong chúng, để cho Phật chỉ dạy lại một cách rốt ráo.
Điều thứ nhất là nghi rằng : Nếu giữa thế gian vạn sự vạn vật đều một tánh thanh tịnh bản nhiên của Như Lai tạng, thì vì duyên cớ gì lại sanh ra có núi có sông, có đại địa, các tướng hữu vi thay đổi mãi mãi. Điều thứ hai là

 

* Trang 356 *
device

nghi rằng : Các món địa thủy hỏa phong v.v… tánh trái ngược nhau, nơi có thủy thì không thể có hỏa, nơi có địa thì không thể có không, làm sao các món đại đều cùng khắp được pháp giới. Đáp lại điều nghi hoặc trên, Phật nhắc lại cho ông Phú-lâu-na một câu mà Phật đã thường dạy là câu : “Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu”. Câu đó rất sâu xa, hàng Nhị thừa thường chỉ lãnh được một phần chứ không thể lãnh toàn phần ý nghĩa. Tự tánh chúng sinh là giác nên gọi là tánh giác, cái tánh đó là diệu và minh, nơi tánh diệu vẫn thường minh, nơi tánh minh vẫn thường diệu, diệu là duyên khởi ra các pháp, minh là nhận rõ các pháp, duy chúng sinh không nhận rõ tánh giác như vậy, theo các điên đảo vọng tưởng, các danh ngôn hý luận mà phân biệt, nên chấp có thật ngã thật pháp. Đến khi nhờ Phật khai thị tinh tấn tu hành, bắt đầu nhận biết tánh giác bản lai là diệu minh, ra ngoài các món phân biệt thì gọi là thỉ giác. Đối với các trí thỉ giác thì cái tánh giác bản lai kia gọi là bản giác; thỉ giác chỉ có thể nhận cái diệu nơi tánh minh, nên gọi là bản giác minh diệu. Song Phật nhắc phá trừ cái pháp cháp “Giác đối với mê” của Nhị thừa; vì nghĩa lý trong hai câu đó, cho nên Phật dạy : “Ông đã nhận cái giác là minh, vậy lại là cái tánh nó là minh nên gọi là giác, hay vi giác được cái không minh mà ông gọi là minh giác trái với vô minh.”
Ông Phú-lâu-na, theo chỗ pháp chấp của Nhị thừa, đáp lại rằng : “Nếu cái bất minh kia cũng gọi là giác, thì cái giác ấy không minh được chơn lý gì cả”.

 

* Trang 357 *
device

Phật dạy: “Theo lời Ông nói, nếu không minh được cái gì là không có minh giác, nhưng theo chỗ Ông đã nhận hiểu, cần phải đoạn trừ năng sở, mới gọi là giác ngộ. Vậy nếu còn có sở minh, thì không phải là giác; nếu không có sở minh, thì không thể gọi là minh, lại cái vô minh điên đảo sanh diệt cũng không phải cái tánh minh trừng trạm của bản giác, thật ra cái tánh giác vốn tự mà minh; vì vọng tưởng nên lập thành minh giác. Vọng tưởng đã không thật, cái minh giác trừ được vọng tưởng cũng không thật, mà cái tánh giác vẫn tự diệu tự minh, không hề thay đổi. Nơi tánh giác vốn không có sở minh, chỉ vài minh mà giả dối lập ra có sở, đã lập cái sở minh hư vọng nên mới sanh ra cái năng minh hư vọng của Ông.”
Cũng vì lập có năng minh, sở minh mà trong tánh giác chúng sinh vốn không đồng dị, hiện ra có điều sai khác. Rồi cái gì khác với những cái đã cho là khác kia thì gọi nó là đồng. Đã phát minh ra cái đồng cái dị, lại nhơn cái đồng dị mà lập ra cái không đồng không dị, hữu, vô, đồng, dị, đối đãi nhau, rối loạn mãi mãi, sanh ra lao lự, phát ra trần cảnh, làm cho bản tánh thanh tịnh trở thành ô nhiễm; do đó cho nên dắt dẫn phát khởi ra các món trần lao phiền não, rồi sinh ra đối đãi tạo thành thế giới; lặng yên nhưng đối đãi thì hóa thành hư không; hư không thì gọi là đồng, thế giới thì gọi là dị, mà cái thực tánh vô đồng dị khi nổi khi lặng kia, mới thật là pháp hữu vi; vì cái thức tánh đó là cội gốc tạo thành thế giới, chúng sinh nghiệp quả.
Về thế giới, không ngoài tứ đại là địa thủy hỏa phong. Phong đại gồm các sức lay động vô hình. Các động lực vô

 

* Trang 358 *
device

hình ấy không tri giác, có gì đáng gọi là lay động hay không lay động; chỉ vì giác tánh phân biệt, đối đãi với cái vô hình kia, tạo thành sự lay động, nên mới có các động lực, gọi là phong đại, cùng khắp thế giới. Lại các món địa đại vô tri vô giác chẳng tự biết là hữu hình hay vô hình, là mềm hay cứng; chỉ vì giác tánh phân biệt, phát minh ra tánh cứng, lập ra các sự ngăn ngại, nên mới có các món địa đại, như đất đá v.v… cùng khắp thế giới. Giác tánh đã phát minh ra phong đại và địa đại, phong đại lay động địa đại, chà xát lẫn nhau, nên mới có hỏa đại biến đổi hóa thay các vật. Hỏa đại làm cho các vật thay đổi biến hóa, nên mới có món địa đại chảy ra, vì vậy có thủy đại cùng khắp thế giới. Bốn món địa thủy hỏa phong, chỗ nào cũng cùng khắp, tùy theo thế lực món nào lớn hơn mà phát sanh ra núi sông đất nước giữa thế gian. Thủy đại nhiều thì thành biển lớn, địa đại nhiều thì thành gò nổi; hỏa đại thường nổi lên, thủy đại thường chảy xuống; thế hỏa đại mạnh hơn, thì nổi lên thành núi cao; thế thủy đại mạnh hơn thì mọc ra thành cây cỏ, tùy theo nhân duyên mà thành hình tượng khác nhau, nhưng kỳ thật chỗ nào cũng vẫn đủ tứ đại. Các món tứ đại đều do vọng tưởng phát sanh, vọng tưởng giao kết, cùng nhau làm nhơn làm quả, trong biển lớn hơi nóng vẫn thường bốc lên, nơi ngọn lửa vẫn có phát sanh hơi nước, một khúc cây đốt thì ra lửa, ép thì ra nước, một viên đã nấu thì ra nước, đánh thì ra lửa, bốn món đại xoay vần làm nhơn quả cho nhau; do nhơn duyên đó mà hình tướng thế giới nổi luôn không dứt.
 
*

* Trang 359 *
device

“Lại nữa Phú-lâu-na, vọng tưởng chẳng phải chi khác, do tánh minh giác hóa ra lỗi lầm; cái sở minh hư vọng đã thành lập, thì phạm vi của cái năng minh không vượt ra ngoài vòng ấy được. Do nhơn duyên đó, nghe không ra ngoài tiếng, thấy không vượt khỏi sắc; sáu cái vọng : sắc, thanh, hương, vị, xúc v.v… đã thành lập, do đó chia ra có thấy nghe hay biết. Đồng nghiệp ràng buộc nhau mà hiệp mà ly, mà thành mà hóa.”
Cái thấy phát minh thì các sắc phát ra, nhận rõ nơi sự thấy, thì tưởng tượng thành lập; ý kiến khác nhau thì thành ra ghét, tư tưởng đồng nhau thì thành ra ưa, gieo cái ưa thành hột giống, thu nạp cái tưởng niệm vào làm cái thai, giao xen phát sanh, hút dẫn bọn đồng nghiệp tới, cho nên có nhơn duyên sanh ra kiết-la-lam (hình trạng cái thai trong bảy ngày đầu như chút bạng nhạng đọng lại), ác bồ đàm (hình trạng cái thai trong bảy ngày tiếp sau như cái bong bóng nước) v.v… Bọn ấy tùy phần sở ưng mà thai sanh, noãn sanh, thấp sanh hay hóa sanh; noãn thì duy cái tưởng mà sanh, thai còn nhơn cái tình mà có; thấp thì do cái hiệp mà chiêu cảm; hóa thì do cái ly mà ứng hiện; khi nặng về tình tưởng, khi thiên về hiệp ly, thay đổi mãi mãi; và các loài chịu nghiệp báo cũng theo đó mà bay lên chìm xuống. Do nhơn duyên ấy mà chúng sinh tiếp tục.
“Này Phú-lâu-na, do lòng tưởng nhớ thương yêu, ràng buộc cùng nhau, thương yêu mãi không biết rời ra, nên trong thế gian, cha mẹ con cháu sanh nhau mãi không dứt, hạng ấy thì lấy lòng dục tham làm gốc. Lòng tham muốn, lòng yêu thương nương nhau mà tăng trưởng, làm cho tham

* Trang 360 *
device

muốn không biết đâu là cùng, nên trong thế gian các noãn sanh, hóa sanh, thai sanh, theo sức mạnh yếu, ăn nuốt lẫn nhau; bọn này thì lấy lòng tham làm gốc.”
Lấy cái thân người mạnh hơn ăn con dê, dê chết rồi làm người, người chết rồi làm dê, mười loại chúng sinh cứ như vậy, chết rồi sống, sống rồi chết, ăn nuốt lẫn nhau, do nghiệp dữ cùng nhau sanh ra tột đời vị lai; bọn này thì lấy đạo tham làm gốc.
Người này mắc nợ thân mạng người kia, người kia trả lại nợ cũ người này, do nhơn duyên ấy trải qua trăm ngàn kiếp, thường ở trong đường sanh tử, người này mến cái tâm người kia, người kia ưa cái sắc người này, do nhơn duyên ấy trải qua trăm nghìn kiếp, thường ở trong vòng ràng buộc. Lấy ba thứ sát, đạo, dâm làm gốc, và vì nhơn duyên ấy nên nghiệp quả nối nhau.
“Này Phú-lâu-na, ba thứ điên đảo : thế gian, chúng sinh, nghiệp quả nối nhau như vậy đều là tánh rõ biết sáng suốt của tánh minh bản giác, nhân rõ biết mà phát khởi ra tướng, từ nơi vọng tưởng mà phát sanh ra; nào núi nào sông nào đại địa, các món hữu vi thứ lớp dời đổi, đều nhơn nơi các hư vọng ấy, xoay vần sau trước.”
*
Sau khi Phật đã dạy về cái hư vọng tạo thành ra thế giới, nguyên nhân vì nơi tánh giác diệu minh, riêng nhận cái minh làm giác, giả dối lập ra năng minh, sở minh, và
phân biệt sở minh ra tứ đại, ra thế giới; Phật lại chỉ rõ vì đâu mà có chúng sinh, vì đâu? Xét ra chỉ vì chúng sinh

* Trang 361 *
device

không rõ bản tánh, nhận riêng cái minh làm giác, nên mới tạo ra các tướng sở minh; các tướng sở minh đã tạo ra rồi thì cái tánh minh của bản giác lại thành ra năng minh, mà đã là năng minh thì không thể ra ngoài cái hạn lượng của sở minh được; vì năng minh bị cuộc vào trong hạn lượng sở minh, nên nghe thì không ngoài các tiếng, thấy thì không ra ngoài các sắc, và đối với sáu trần lại chia ra có sáu căn. Sáu căn là thân, sáu trần là cảnh, đối với mỗi thân thì hoàn cảnh hiện ra mỗi khác.
Những loài thân thể giống nhau thì gọi là đồng nghiệp; thân thể đã giống nhau thì hoàn cảnh cũng giống nhau rồi nhơn vì thấy như nhau mà phát sanh ra các sự giao thiệp, ràng buộc lẫn nhau. Lại do tâm niệm chiêu cảm, các chúng sinh đến thác sanh nơi cảnh giới của loài đồng nghiệp, hoặc vì hiệp (như hai tinh trùng hiệp lại), hoặc vì ly (như một vi trùng chia ra thành hai vi trùng), hoặc vì thành (như do tiêu thụ các thực phẩm trong trứng mà thành hình) hoặc vì hóa (như biến hóa) mà thành ra có thân.
Chúng sinh do nơi lục căn mà biến hiện ra nơi lục trần, lục căn đối với lục trần phát khởi ra các tưởng niệm, rồi tưởng niệm khác nhau thì ghét, tưởng niệm đồng nhau thì ưa, cảm triệu lẫn nhau nên chúng sinh về nghiệp nào chỉ sanh về nghiệp ấy; rồi tùy theo mỗi nghiệp, hoặc thai sanh, hoặc noãn sanh, hoặc thấp sanh, hoặc hóa sanh. Chúng sinh khi thì vì tình, khi thì vì tưởng, khi vì hòa hiệp, khi thì vì ly tán, nhơn tình mà sanh tưởng, nhơn tưởng mà sanh tình, nhơn hiệp mà thành ly, nhơn ly mà thành hiệp, gây ra ác nghiệp, rồi theo các nghiệp mà nổi trôi

* Trang 362 *
device

chìm đắm; do đó, nên chúng sinh xoay vần mãi mãi trong lục đạo.
Vậy chúng sinh xoay vần trong lục đạo đều vì gây nghiệp nhơn nên phải chịu nghiệp quả. Chúng sinh gây nhơn chịu quả, luân hồi mãi mãi, chỉ vì vọng tưởng phân biệt, sanh ra có ưa có ghét; ghét thì tránh xa, ưa thì không rời; chúng sinh ưa cái phân biệt, ưa cái thân thể nên hết đời này sang đời khác, hết thân này nhận thân khác luân hồi mãi mãi.
Lại muốn những cái mình ưa về phần mình thì gọi là tham; càng tham thì lại càng ưa, càng ưa thì lại càng tham, tham mãi không thôi, nên vì sự nuôi thân mà chúng sinh thường lấy sức mạnh mà giết nhau ăn nhau; bọn ấy gây nghiệp là vì lòng tham mà sát hại. Lại chúng sinh nào cũng yêu quí cái thân thể, mà những chúng sinh sức mạnh cướp đoạt cái thân của chúng sinh yếu hơn làm đồ ăn, thì đời này mình ăn cướp cái thân mạng của người ta, đời sau người ta ăn cướp lại thân mạng của mình, trộm cướp lẫn nhau, giết hại lẫn nhau mãi mãi không thôi; đó là vì lòng tham trộm cướp mà gây nghiệp.
Lại yêu nhau vì sắc, mến nhau vì tình, thương yêu nhau, ràng buộc nhau đời đời kiếp kiếp; đó là vì lòng tham thành ra dâm ái gây nghiệp.
Nói tóm lại, thế gian, chúng sinh, nghiệp quả mà giả dối mà thành lập, cho nên cứ lầm nhận riêng một cái minh làm giác, nhơn năng minh mà phát ra cái tướng sở minh; vì năng minh duyên với sở minh phát minh sanh ra các vọng tưởng phân biệt ưa ghét mãi mãi không thôi,

 

* Trang 363 *
device

nên mới có thế giới, chúng sinh, nghiệp quả xoay vần không ngớt.
*
Ông Phú-lâu-na bạch Phật rằng : “Nếu cái diệu giác đó, bản tánh là diệu minh cùng với tâm Như Lai, không hề thêm bớt; lại không cớ chi sanh ra sơn hà đại địa và các tướng hữu vi khác; và hiện nay đức Như Lai đã được chứng đặng bản tánh diệu minh, không còn hư vọng, chẳng biết lúc nào mới phát sanh ra lại các thói quen mê lầm, tạo thành núi sông, đất liền và các tướng hữu vi ?”
Phật dạy : “Này Phú-lâu-na, ví như một người mê (không biết) ở trong một xóm, lầm nhận phương Nam làm phương Bắc, thì mê ấy lại là nhân mê mà có hay nhân ngộ (biết) mà thành ?
Ông Phú-lâu-na bạch : “Người mê như vậy cũng phải vì ngộ, vì sao ? Vì cái mê ấy vốn không có nguyên do, lẽ đâu lại vì mê, mà cái ngộ không thể sanh ra mê, làm sao lại vì ngộ ?”
Phật dạy : “Người mê kia chính lúc mê bỗng có người ngộ chỉ bày cho được ngộ; Phú-lâu-na, ý Ông nghĩ thế nào ? Người ấy dù đã mê, nhưng ở trong xóm làng ấy, lại còn mê được nữa chăng ?”
- Thưa đức Thế Tôn, không thể vậy.
“Này Phú-lâu-na, các đức Như Lai trong mười phương thì cũng như vậy; cái mê ấy vốn không có gốc, tánh nó rốt ráo là không, xưa vốn không có mê, chỉ in tuồng có mê có

* Trang 364 *
device

giác ? Hễ giác được cái mê thì mê diệt và cái giác không thể sanh ra cái mê.
Lại cũng như một người lòa mắt thấy hoa đốm giữa hư không; nếu trừ đặng bệnh lòa, thì như hoa đốm giữa hư không tiêu diệt không còn nữa; bỗng có người ngu đợi cho hoa đốm sanh ra, lại nơi chỗ hư không có hoa đốm khi trước, Ông xét thử người ấy là người ngu hay là người trí?”
Phú-lâu-na thưa : “Hư không vốn không có hoa đốm, vì hư vọng mà thấy hoa đốm sanh diệt, thấy hoa lại còn muốn biểu nó sanh ra lại thì thật là điên dại, vậy làm sao gọi những người điên như vậy là ngu hay trí ?”
Phật dạy : “Ông đã hiểu như vậy, làm sao Ông còn hỏi tính giác diệu minh, không có phân biệt của các đức Như Lai lúc nào sanh ra núi sông đất liền.
Lại như trong đó quặng có lộn vàng ròng, một phen lấy được vàng ròng ra thì không thể lộn vào trong đó; cũng như cái cây đốt ra tro, không thể trở lại thành cây; Bồ-đề Niết-bàn của các đức Phật Như Lai thì cũng như vậy.”
*
 Ông Phú-lâu-na nghe Phật dạy chỗ vọng sanh tương tục rồi, thì lại nghĩ rằng thể theo lời Phật dạy tâm tánh của chúng sinh và tâm tánh của Phật vẫn bằng bậc như nhau, không thêm không bớt, bỗng dưng bị vọng niệm sanh ra các tướng hữu vi; lại chỗ Phật chứng là chứng được tâm tánh ấy mà thôi; vậy hiện tuy Phật không còn các tướng hư vọng, nhưng về sau biết đâu lại không sanh ra các tướng hư vọng như chúng sinh.

* Trang 365 *
device

Ông Phú-lâu-na nghĩ như vậy, vì Ông còn nhận cái vọng là thực sự, nên cũng còn cái giác là thực sự vậy.
Phật nhân đó lấy nhiều ví dụ mà chỉ Ông biết rằng Bồ-đề Niết-bàn của Phật không lúc nào sanh ra được vọng tưởng.
Cũng như một người vào trong một xóm, đường nẻo quanh co nhận lầm phương Nam làm phương Bắc, thì người ấy tuy lầm, nhưng người ấy vẫn là người ấy, làng xóm vẫn là làng xóm, phương hướng vẫn là phương hướng không hề thêm bớt. Đến khi có người chỉ cho biết sự lầm lạc, người ấy nhận phương hướng đúng rồi thì tuy trước sau cảnh vật thân thể như nhau, nhưng quyết định người ấy không thể còn lầm hướng này hướng khác. Cái lầm như vậy thật không có căn cứ, hễ biết được là lầm, thì còn thế nào mà lầm lạc được nữa.
Lại như một người bị bệnh lòa mắt, thấy giữa hư không có hoa đốm, đến khi con mắt hết lòa thì hoa đốm giữa hư không cũng mất, xét ra thì chính lúc có hoa đốm giữa hư không cũng chỉ vì bệnh mà thấy, thật ra hư không chưa hề có hoa đốm: Thấy có hoa đốm sanh hoặc mất đi giữa hư không đã là một điều sai lầm lắm rồi, lẽ đâu có người lành bệnh rồi lại còn ước mong hư không sanh ra hoa đốm. Các tướng hữu vi đều là huyễn hóa cũng như hoa đốm giữa hư không: thấy cái mê, có cái hết mê đối với bậc giác ngộ đã là sai lầm rồi, huống nữa là phát sanh lại cái tướng hữu vi.
Lại như vàng ròng lộn trong đá núi, nếu luyện ra được vàng ròng rồi, thì không thể còn lộn vào trong đá; tâm tánh

* Trang 366 *
device

vì che lấp bởi các vọng tưởng, nếu một phen nhận được tâm tánh rồi, thì quyết định không lúc nào còn xen lộn với vọng tưởng.
Lại như vậy đốt ra tro không đâm chồi mọc lá, các đức Phật đã giác ngộ hoàn toàn, diệt hết các cội gốc mê lầm thì làm sao còn sanh ra vọng tưởng được nữa.
Nói tóm lại, tâm tánh vẫn là tâm tánh, chúng sinh một mặt theo vọng tưởng nhưng tâm tánh cũng không hề bớt; chư Phật nhận rõ tâm tánh trừ hết cội gốc vọng tưởng, nhưng tâm tánh cũng không hề thêm; nhưng đã nhận rõ cái tâm rồi thì quyết định không thể lầm; đã dụng tâm đúng với tâm tánh rồi thì quyết định không thể còn theo vọng tưởng.
*
“Này Phú-lâu-na, Ông lại hỏi về bản tánh viên dung của địa thủy hỏa phong cùng khắp pháp giới, nghi tánh của nước và lửa không có hình tướng tiêu diệt lẫn nhau, sao hư không không hình tướng và đại địa có hình tướng lại cùng khắp pháp giới, vì lẽ ra thì không thể dung nhau đặng. Này Phú-lâu-na, ví như thể tánh hư không vốn không phải là các tướng mà không phát huy ra sự chống trái với các tướng kia. Vì sao ? Này Phú-lâu-na, như hư không kia, mặt trời soi thì sáng, mây ùn thì tối, gió thổi thì động, tạnh ráo yên lặng thì trong, mù động lại thì đục, bụi bay lên thì mờ, nước đứng thì ánh. Ý Ông nghĩ sao ? Các tướng hữu vi sai khác như trên, lại là nhơn các cái kia mà sanh ra hay là từ nơi hư không mà có ? Phú-lâu-na, nếu nhơn các cái kia mà sanh, thì khi mặt trời soi, cái sáng đã là cái sắc của mặt trời, thập phương thế

* Trang 367 *
device

giới toàn là cái sắc của mặt trờ; cớ sao ở giữa hư không lại còn thấy vừng mặt trời được ? Nếu do hư không mà có sáng, thì cái hư không lẽ phải tự soi lấy,
làm sao trong lúc ban đêm mây mù lại không sanh ra sáng suốt ? Vậy Ông nên biết, cái sáng như vậy, cũng không phải là mặt trời, cũng không phải là hư không, nhưng cũng không ra ngoài hư không, và mặt trời xét các tướng vốn là vọng, không thể chỉ bày cũng như muốn cho hoa đốm hư không kết thành hư không, lẽ nào còn gạn hỏi sự không diệt lẫn nhau. Nhưng xét cái tánh vốn là chơn, chỉ là diệu giác minh, cái tâm diệu giác minh, vốn không phải là nước hay là lửa, lẽ nào còn gạn hỏi chỗ không dung đặng nhau ?
Cái tính diệu minh chơn thật in như cái ví dụ trên kia; tâm Ông phát minh các tướng như địa, thủy, hỏa, phong thì mỗi cái mỗi cái hiện ra, nếu đồng thời phát
minh thì đồng hiện một lần. Thế nào lại đồng hiện ? Phú-lâu-na, ví như trong một dòng nước hiện ra cái bóng mặt trời, hai người đồng xem bóng mặt trời trong nước rồi người đi phương Đông, kẻ đi phương Tây, mỗi người đi mỗi ngã, thì mỗi người đều có một cái mặt trời theo mình; một cái đi qua phương Đông, một cái đi qua phương Tây vẫn không nhất định là phương nào. Vậy không nên gạn hỏi rằng : “Mặt trời đi phương đông, mặt trời đi phương tây, đã làm hai cái, sao trước kia chỉ thấy có một ? Cái hư vọng nó quanh lộn đến thế, không thể lấy gì làm bằng cứ. Này Phú-lâu-na, ông đem cái sắc cho nó lấn nhau, cướp nhau trong Như Lai tạng, thì Như Lai tạng cũng theo Ông làm sắc, làm không, cùng khắp pháp giới. Vậy nên trong ấy, gió thì động, không thì lặng, mặt trời thì sáng, mây thì mù tối,

* Trang 368 *
device

các chúng sinh mê muội trái với bản giác, theo dõi trần cảnh nên phát sanh các trần lao phiền não, tạo thành các tướng thế gian; còn con lấy cái diệu minh bất diệt bất sanh mà hiệp với Như Lai tạng, thì Như Lai tạng chỉ là tánh diệu minh chơn thật soi khắp pháp giới; vậy nên trong ấy, một là vô lượng, vô lượng là một, trong nhỏ hiện ra lớn, trong lớn hiện ra nhỏ, cái đạo trừ bất động kia cùng khắp thập phương thế giới, cái thân trùm cả hư không vô tận mười phương, nơi đầu một sợi lông hiện ra bửu vương sát (tức là Phật sát : một ngàn thế giới) ngồi trong một vi trần mà chuyển đại pháp luân; vì diệt hết trần tướng, hiệp với giác tánh nên phát ra cái chơn như diệu giác minh tánh.
Mà cái Như Lai tạng bản diệu viên tâm là không phải tâm, không phải không; không phải địa, thủy, hỏa, phong; không phải nhãn, không phải nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; không phải sắc, không phải thanh, hương, vị, xúc, pháp; không phải nhãn thức giới cho đến cũng không phải là ý thức giới; không phải minh, không phải vô minh, minh tận hay vô minh tận, cho đến cũng không phải lão tử, cũng không phải lão tử tận, không phải tận không phải diệt, không phải đạo, không phải trí, không phải đắc, không phải đànna (bố thí) không phải thi-la (trì giới), không phải tỳ-lê-da (tinh tấn), không phải sằng-đề (nhẫn nhục), không phải thiền-na (thiền định), không phải Bát-thứ-nhã (trí huệ), không phải Ba-la-mật-đa, cho đến cũng không phải Đácthác-a-kiệt (Như Lai), không phải A-la-ha-tam-gia-tam-bê
(Ứng cúng chánh biến tri), không phải đại Niết-bàn, không phải đức thường, không phải đức lạc, đức ngã, không phải

* Trang 369 *
device

đức tịnh; vì cái ấy không phải các pháp thế gian và xuất thế gian vậy.
Tức chỗ diệu của Như Lai tạng nguyên minh tâm thì lại tức là tâm, tức là không, tức là địa, thủy, hỏa, phong, tức là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, tức là sắc, tức là thanh, hương, vị, xúc, pháp tức là nhãn thức giới cũng cho đến là ý thức giới, tức là vô minh, là vô minh tận cho đến cũng tức là lão tử, là lão tử tận, tức là khổ, tức là tập, tức là diệt, tức là đạo, tức là trí, tức là đắc, tức là đàn-na, tức là thi-la, tức là tỳ-lê-da, tức là xằng-đề, tức là thiền-na, tức là Bát-thứ-nhã, tức là Ba-la-mật-đa, cho đến cũng tức là Đác-thác-a-kiệt, tức là A-la-ha-tam-gia-tam-bê, tức là đại Niết-bàn, tức là đức thường, tức là đức lạc, tức là đức ngã, tức là đức tịnh, vì chỗ ấy đều tức là các pháp thế gian và xuất thế gian vậy.
Mà chính vì bản tánh của Như Lai tạng, diệu minh tâm là ly cái tức, ly cái phi mà cũng tức cái tức tức cái phi tức, ly cái phi là cũng tức cái phi tức, thì làm sao chúng sinh trong ba cõi thế gian và các hàng Thanh văn, Duyên giác xuất thế gian, đem cái tâm sở tri mà đo lường được cái Vô thượng Bồ-đề của Như Lai, dùng lời nói của thế gian mà nhập được cái Tri kiến của Phật.
Ví như những cái đờn cầm sắc, không hầu, tỳ bà, tuy có tiếng hay nhưng nếu không có ngón tay hay thì rốt cuộc cũng không phát ra tiếng hay đặng; Ông và chúng sinh cũng đều như vậy; cái bản giác minh tâm ai ai cũng đều đầy đủ, mà Ta nhấn ngón tay thì nơi hải ấn đã phát ra hào quang; còn các ông mới móng tâm thì trần lao đã nổi, đó chỉ vì các Ông không siêng năng quyết cầu vô

* Trang 370 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm