LOGO VNBET
ông Kiều-phạm-bát-đề lấy lưỡi dị loại mà nếm vị, thần Thuấn-nhã-đa không thân mà biết xúc; thân này vì ở trong hào quang Như Lai nên đối chiếu tâm hiện ra thân; chớ đã là chất gió thì đâu có thân thể; các hàng đắc tịch (chứng đặng tịch diệt) Thanh văn, vào Diệt định như Maha Ca-diếp trong Hội này, đã diệt ý căn lâu rồi, thì đến cái tỏ rõ hay biết không phải nhơn nơi tâm niệm.
Này A-nan, nếu như hiện nay các căn của Ông được rút ra khỏi dính một cách viên mãn, thì cái trong suốt bề trong phát ra ánh sáng làm cho các thứ phù trần cùng các tướng biến hóa trong khí thế gian tiêu tan như nước sôi làm tan giá, và trong đương niệm liền hóa thành vô lượng trí giác.
Này A-nan, như người thế gian nhóm cái thấy nơi mắt, nếu bảo nhắm mắt gấp thì tướng tối hiện ra trước, sáu căn mù mịt, đầu chân y nhau; người kia lấy tay rờ quanh ngoài thân thể thì, tuy là không thấy, nhưng một phen nhận được đầu được chân rồi, thì sự hay biết cũng đồng nhau. Vì cái thấy Ông nhân nơi sáng, nên tối thành ra không thấy, chớ đã không cần sáng mà tự phát ra, thì các cái tối không thể làm mờ đặng; căn và trần đã tiêu rồi thì làm sao tánh giác minh lại không thành viên diệu (diệu dụng đầy đủ, theo duyên hiện các căn trần mà bị căn trần hạn chế).
*
Phật chỉ sáu căn đều giả dối không có tự tánh, hễ phát minh chơn tánh thì được viên thoát.
 
Ngài A-nan nghe Phật dạy : Hễ giải thoát nơi một căn, tất cả các căn đều thanh tịnh, thì chưa hiểu rõ ràng, vì Ông
 

* Trang 398 *
device

còn chấp thật có các căn, nên nghi một và sáu khác nhau, có hết sáu mới thành một, hết một mới thành sáu. Thành sáu tức là sanh tử, thành một tức là Niết-bàn, song đã có Niếtbàn thì không thể không có sanh tử; nhơn đó pháp chấp chưa trừ và không chứng được thường trú chơn tâm.
Phật dạy cho ông A Nan biết rằng, ông tuy đặng Tu-đà-hoàn, đã diệt được tất cả kiến hoặc trong tam giới (hoặc là điều lầm, chia ra làm 10 kiết sử là tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới thủ, tà kiến. Các kiết sử lại chia ra hai thứ là phân biệt và cu sanh. Phân biệt tức là kiến hoặc, đối chiếu với Tứ đế và tam giới thành 88 kiến hoặc. Các kiến hoặc ấy đến khi kiến đạo chứng quả Tu-đà-hoàn thì đoạn hết) nhưng Ông còn chưa biết các tập khí hư vọng tích tụ từ vô thỉ; các tập khí ấy là tư hoặc (các kiết sử cu sanh), đến khi tu đạo viên mãn, chứng quả A-lahán mới diệt hết được. Thế thì quyết định Ông không thể nhận những sự sanh, trú, dị, diệt, những sự chia chẻ số mục trong nơi sáu căn hiện tiền là một hay là sáu. Nói rằng một thì con mắt sao không nghe, lỗ tai sao không thấy; mà nói là sáu thì vì sao khi tôi nghe pháp, miệng lại biết hỏi nghĩa, thân lại biết cung kính lãnh thọ. Thế thì biết sáu căn đều là giả dối, không phải do nơi một mà thành sáu, cũng không phải do nơi sáu mà thành một; và cái căn tánh thật ra ngoài các số mục, không phải một, cũng không phải sáu; chỉ vì vọng tưởng vô thỉ phân biệt chấp
trước, nên nơi nhất tâm lại chia ra những một những sáu. Chính ngài A-nan đã được quả Tu-đà-hoàn, thoát ly thân kiến, không còn thấy gì đáng gọi là sáu căn, nhưng vẫn chưa quen cái một là Niết-bàn.

 

* Trang 399 *
device

Chơn tâm chúng ta vốn không chia rẽ, không tự tánh, gá nơi căn phát khởi trí giác; thật chẳng khác gì hư không rỗng suốt, tùy theo hình dáng các khí mãnh, mà hiện ra hư không tròn trong đồ tròn, hư không vuông trong đồ vuông; có người bỏ các đồ, nhìn hư không rồi cho hư không là một, kỳ thật hư không có lúc nào sai khác gì đâu, mà gọi là một hay không phải là một.
Sáu căn chúng ta cũng ví như những hình tướng hư không trong các khí mãnh; trong khí mảnh tròn thì in tuồng có hư không tròn, trong khí mãnh vuông thì in tuồng có hư không vuông, thật ra thì hư không vẫn không có tròn vuông, không có hình tướng. Trong bản tánh diệu viên chúng ta, cái sáng và cái tối đối hiện cùng nhau làm cho bản tánh trạm minh dính vào những tướng sáng tối mà phát hiện ra cái thấy. Cái thấy đối với cái bị thấy mà phát hiện, rồi cuộn lại một nơi mà thành căn; nhơn đó người đời gọi cái gốc của căn là thanh tịnh tứ đại (giống tứ đại thanh tịnh không thể thấy được, như điển lực, nhiệt lực v.v…) và lấy cái tròn tròn như trái nho làm cái nhãn căn; đến nổi con mắt thịt kia cũng đeo đuổi theo sắc. Các căn khác cũng như nhãn căn và đều do không ngộ bản tánh, phân biệt sai quấy có năng giác, sở giác, năng tri, sở tri, mà có trần, có căn, làm cho những giống tứ đại vô tình cũng hóa thành có hay biết. Xét ra bản tánh cùng khắp mười phương, vốn không năng sở; nhận riêng cái biết làm bản tánh thì đối đãi lại thành có cái không biết; không biết là sở, biết là năng, năng sở đối nhau, giả dối phân biệt nên mới có căn trần sai khác. Nhưng căn không thể rời trần, năng không

* Trang 400 *
device

thể rời sở; ngoài cái bị thấy thì không còn gì đáng gọi là cái bị thấy; nhơn đó nên đến khi bỏ các phân biệt, dung hiệp năng sở, chứng rõ đồng thể nơi một căn, ra
ngoài các vọng tưởng, thì tất cả các căn đều được giải thoát. Chừng ấy duy tâm tự biết tâm, ngoài tâm không có pháp, ngoài pháp không có tâm, trần cảnh đâu phải ngoại vật, sáng suốt chẳng thuộc nơi căn, thì mắt có thể nghe, tai có thể ngửi, cả sáu căn đều dùng thế cho nhau được. Vì vậy nên ông A-na-luật-đà tuy đui hai con mắt mà vẫn thấy, ngài Ma-ha Ca-diếp tuy diệt ý căn mà vẫn hay biết.
Chúng sinh do căn trần mà phân biệt, nên không căn trần thì mịt mờ; chớ đã chứng được cái sáng suốt ra ngoài căn trần rồi, thì quyết định đời đời không còn điều gì làm mờ được nữa.
*
Ông A-nan bạch Phật rằng : “Bạch Thế Tôn, như lời Phật dạy : muốn cầu quả thường trú thì giác tâm nhơn địa cốt phải cân xứng với danh mục nơi quả vị. Bạch Thế Tôn, như trong quả vị, nào Bồ-đề, Niết-bàn, Chơn như, Phật tánh, Yêm-ma-la thức, Không Như Lai tạng, Đại viên cảnh trí, tên bảy thứ ấy tuy khác nhau, nhưng đều thể tánh cứng chắc, thanh tịnh viên mãn, như Kim cang vương, thường trú không nát. Vậy nếu các cái thấy nghe ấy rời các trần sáng, tối, động, tịnh, thông, tắc, hẳn không tự thể. Cũng như tâm rời các tiền trần, vốn không thật có; thì làm sao lại đem những cái rốt ráo sanh diệt kia làm Nhơn tu hành mà cầu được bảy quả thường trú của Như Lai. Bạch Thế Tôn, nếu rời sáng, tối, cái thấy rốt ráo là không; nếu không tiền

* Trang 401 *
device

trần, tự tánh tâm niệm chẳng phải có; tới lui xoay vần, xét tìm cặn kẻ, vốn không có ngã tâm (tâm ta) và ngã tâm sở (sở hữu của tâm ta) thì đem cái gì mà lập thành Nhơn đặng cầu Quả vô thượng giác ?
Trước đức Như Lai có nói : Cái trạm tịnh (tánh biết yên lặng) là viên thường, nhưng đã trái với lẽ thường thì rốt cuộc chỉ thành hý luận, làm sao nhận được lời nói của Như Lai là chơn thật ? Xin Phật mở lòng đại từ khai ngộ chỗ mờ chấp của con.”
Phật dạy : “A-nan, Ông học về mặt đa văn, chưa hết các lậu, trong tâm chỉ biết suông cái Nhơn điên đảo, mà cái điên đảo thật hiện trước đó, vẫn chưa biết đặng, e tâm ông thành thật còn chưa tín phục. Nay Ta thử đem các sự trần tục mà trừ cái nghi của ông.” Khi bấy giờ, đức Như Lai bảo ông La-hầu-la đánh một tiếng chuông và hỏi ông A-nan rằng : “Ông nay có nghe chăng ?” Ông A-nan và Đại chúng đều nói : “Chúng con nghe !” Chuông hết ngân vang Phật lại hỏi rằng : “Nay Ông còn nghe chăng?” Ông A-nan và Đại chúng đều nói : “Chẳng còn nghe.” Khi ấy ông La-hầu-la lại đánh một tiếng chuông nữa, Phật lại hỏi rằng : “Nay Ông nghe chăng ?” Ông A-nan và Đại chúng đều nói là nghe. Phật hỏi : “A-nan, thế nào ông gọi là có nghe, còn thế nào là không nghe ?” Ông A Nan và Đại chúng đều bạch Phật rằng : “Chuông nếu đánh lên thì chúng con được nghe tiếng, đánh lâu tiếng hết, tăm vang đều không thì gọi là không nghe.”
Như Lai lại bảo ông La-hầu-la đánh chuông rồi hỏi ông A Nan rằng : “Theo Ông nay có tiếng chuông ngân

 

* Trang 402 *
device

vang hay không ?” Ông A-nan và Đại chúng đều nói : “Có tiếng !” Giây phút tiếng chuông hết, Phật lại hỏi rằng : “Theo Ông, nay có còn tiếng không ?” A-nan và Đại chúng đều nói : “Không có tiến !” Phật hỏi ông A - nan : “Thế nào Ông gọi là có tiếng, còn thế nào gọi là không tiếng ?” Ông A-nan và Đại chúng đều bạch Phật rằng : “Chuông nếu được đánh lên thì gọi là có tiếng, đánh lâu tiếng hết, tăm vang đều không thì gọi là không tiếng.” Phật bảo ông A-nan và Đại chúng rằng : “Hôm nay, sao các ông lại càn dở lẫn lộn, trước sau trái nhau?” Đại chúng và ông A-nan cùng một lúc hỏi Phật : “Làm sao hôm nay Phật dạy chúng tôi là càn dở lẫn lộn?” Phật nói : “Ta hỏi có nghe thì các ông đáp là có nghe, Ta hỏi có tiếng thì các ông đáp là có tiếng; chỉ cái nghe và cái tiếng mà trả lời không nhất định, thế thì làm sao lại không gọi là càn dở lẫn lộn ? Nếu thật không nghe thì tánh nghe đã diệt như cây khô, đến tiếng chuông thứ hai, làm sao Ông còn biết được. Biết có, biết không, là tự thanh trần hoặc không, hoặc có, đâu phải tánh nghe kia vì Ông mà thành có, thành không ! Nếu cái biết nghe thật hẳn là không, thì còn cái gì biết là không nữa ?
Này A-nan, vậy cái tiếng ở trong tánh nghe tự có sanh diệt; chẳng phải vì Ông nghe cái tiếng sanh, cái tiếng diệt mà làm cho tánh nghe của Ông thành có thành không. Ông còn lẫn lộn, lầm cái tiếng với cái nghe, lạ gì chẳng bị mê mờ, lấy cái thường làm cái đoạn; rốt cuộc lại Ông không nên nói : rời các trần động, tịnh, đóng, mở, bịt, thông, làm cho cái nghe không có tánh ?

 

* Trang 403 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm