LOGO VNBET
Ông cũng in như vậy, trong chỗ rốt ráo đồng nhau, sanh ra rốt ráo khác nhau.”
Phật bảo ngài A-nan : “Nay Ông chắc đã muốn sáu gút ấy không thành lập và ưa cầu thành lại một, thời làm thế nào cho đặng ? Ngài A-nan bạch : các gút ấy nếu còn thì thị phi sôi nổi, trong đó tự sanh ra gút này không phải gút kia, gút kia không phải gút này. Nếu ngày nay đức Như Lai mở trừ hết, nếu không sanh gút thì không có bỉ thử, còn không gọi là một, làm sao thành được sáu ?”
Phật dạy : “Cái pháp mở sáu quên một cũng in như vậy; do từ vô thỉ, tâm tánh Ông điên loạn, tri kiến vọng phát ra, phát mãi hư vọng không thôi, làm cho tri kiến rối động phát ra trần tướng; cũng như tròng con mắt mỏi mệt thì có hoa đốm lăng xăng, không nhơn gì loạn phát ra giữa hư không trong suốt yên lặng. Vậy hết thảy pháp trong thế gian, nào núi sông đất liền, nào sanh tử Niết-bàn đều là những tướng hoa đốm điên đảo trong tánh cuồng lao.”
*
Phật cột khăn để chỉ sự triền phược và cách giải thoát.(1)

 
Tôn giả A-nan nghe lời Phật dạy, đã nhận biết tâm tánh vốn thường thanh tịnh, chỉ vì tự tâm trở lại chấp tự tâm, nên mới phát sanh các quan niệm sai lầm thành ra các pháp như huyễn; chớ nếu không có chấp một chút gì là
_____________________
(1) Từ trang 421 đến trang 481 là do HT.Thiện Siêu dịch và in năm 1949.

* Trang 420 *
device

thật có, dù là chơn hay phi chơn, thì liền được nhập với pháp tánh và thành bậc Chánh giác. Vậy Tôn giả A-nan đã nhận rõ yếu điểm của đường tu đạo Phật, trong ấy cũng không có gì đáng gọi là tu, cũng không có gì đáng gọi là chứng. Nhưng về lý tuy ngộ liền mà về sự thì phải tuần tự bước tới; mà cách tuần tự bước tới để giải thoát các điều triền phược, nghĩa là mở cả sáu mà quên cái một, ông còn chưa rõ nên xin Phật từ bi dạy vẽ. Phật liền lấy một cái khăn cột thành một gút, rồi đưa hỏi ngài A-nan thì ngài Anan và cả Đại chúng đều bạch Phật : “Đó là cái gút”. Phật cột luôn sáu lần như vậy, mỗi lần hỏi thì trong đại chúng đều đáp rằng : “Đó là cái gút”. Phật hỏi : “Cái khăn này vốn chỉ có một, thì lẽ đáng lúc nào cũng một, sao mỗi lần tôi cột khăn, các ngươi đều gọi là một gút”. Ngài A-nan bạch rằng : “Khăn vốn có một; nhưng một lần cột thì gọi là một gút, nay Như Lai cột sáu lần thì phải thành sáu gút.”
Nhơn đó Phật dạy A-nan xét nghiệm nơi cái khăn ấy, bản thể là đồng mà vì cột sáu lần nên thành ra sáu gút khác nhau; khác nhau đến nổi không thể chỉ cái gút thứ nhất là cái gút thứ sáu; cũng như một. Như Lai tạng tánh không hai không khác, lầm sanh ra hai đầu : kiến phần và tướng phần; nhơn hai đầu kiến phần và tướng phần ràng buộc nhau mà sanh ra sáu căn. Xét rõ nguyên do sáu gút chỉ do hai đầu cột lại thì rõ nguyên do sáu căn chỉ do kiến phần tướng phần dính nhau; nhưng đã dính thì mỗi chỗ mỗi khác, không thể nhận được đồng thể; cũng như đã cột thì mỗi gút mỗi khác, không thể nói cái gút này là gút kia đặng. Vậy tùy nơi cái khăn, nói Như Lai tạng tánh quyết định là đồng; mà nói sáu gút, nói sáu căn, rõ ràng

* Trang 421 *
device

là khác. Cái khác tuy khác, nhưng đứng về phương diện cái đồng để nhìn thì lúc nào nó cũng là đồng; cái đồng tuy đồng nhưng đứng trên phương diện khác để nhìn thì nó thành nhiều cái khác. Thế mới biết căn trần hiện ra không phải là không nguyên nhơn, nhưng đến khi nhận biết nguyên nhơn ấy chỉ là vô minh, căn trần ấy đều là giả dối, thì dẩu ngàn khác vạn khác cũng vẫn là đồng, đồng cho đến nổi không còn gì đáng gọi là đồng; vì không còn gì đáng gọi là đồng, cho nên cũng không còn gì đáng gọi là khác.
Trong thế gian, nào núi sông, nào thân cảnh, nào luân hồi, nào Niết-bàn đều là những quan niệm sai lầm do căn, trần đối đãi mà giả dối hiện ra; các quan niệm ấy đều là những gút nơi cái khăn Như Lai tạng tánh. Cũng như người đui con mắt thì thấy hoa đốm lăng xăng giữa hư không; tâm chúng sinh vì bị vô minh nên thấy các pháp tướng; đã thấy các pháp tướng thì phát sinh ra thấy có cái này cái kia, có người có mình, có chơn có vọng; như cái khăn đã cột gút, thì gút này không phải gút khác. Vậy nên cần phải mở hết các gút, mở hết rồi thì đầu đuôi vẫn một cái khăn, có gì đáng gọi bỉ thử; nơi cái khăn ấy chưa hề có gì đáng gọi là sáu, nên cũng chưa hề có gì đáng gọi là một.
*
Ngài A-nan bạch Phật rằng : “Thói cuồng lao ví như cái gút ấy, làm sao mới mở trừ được ?” Đức Như Lai lấy tay cầm khăn có gút, kéo xiên một bên tả rồi hỏi ông A-Nan rằng : “Gút như thế này có thể mở được chăng ?”
 

* Trang 422 *
device

- Thưa Thế Tôn, không được.
Đức Phật lại kéo xiên một bên hữu rồi hỏi ông A Nan rằng : “Gút như thế này có thể mở được chăng ?”
- Thưa Thế Tôn, không được.
Phật bảo Tôn giả A-nan : “Nay Ta lấy tay kéo mối bên tả, rồi kéo mối bên hữu mà rốt cuộc không mở được, vậy Ông dùng phương tiện thế nào mà mở cho được ?”
A-nan bạch Phật rằng : “Thưa Thế Tôn, phải mở nơi trung tâm cái gút ấy thì nó được tháo ra ngay.”
Phật bảo Tôn giả A-nan : “Như vậy là đúng. Nếu muốn tháo cái gút thì phải mở nơi trung tâm.”
“Này A-nan, Ta nói Phật pháp do nhơn duyên mà sanh, không phải theo như các tướng hòa hiệp thô phù của thế gian. Như Lai phát minh các pháp thế gian và xuất thế gian, đều biết rõ nguồn gốc nhơn duyên từ đâu mà phát ra, cho đến giọt mưa ở ngoài hằng sa thế giới cũng biết số mục, hiện tiền các thứ cây tùng thẳng, cây cước cong, chim hạc trắng, chim quạ đen đều rõ nguyên do cả. Này A-nan, vậy Ông cứ tùy tâm lựa chọn nơi sáu căn; nếu trừ được cái gút nơi căn ấy rồi thì trần tướng tự tiêu diệt; mà các cái vọng tiêu mất thì chả phải chơn còn gì.
Này A-nan, Ta nay lại hỏi Ông, cái khăn Kiếp-ba-la nay hiện có sáu gút, nếu đồng thời mở ra, có thể đồng thời trừ hết đặng chăng ?”
“Bạch Thế Tôn, không được. Các gút ấy trước đã do thứ lớp mà cột thì nay cũng do thứ lớp mà mở; sáu gút tuy

 

* Trang 423 *
device

đồng một thể nhưng khi cột không đồng một thời, thì trong lúc mở, làm thế nào đồng một thời mà trừ hết được !”
Phật dạy : “Cách trừ mở nơi sáu căn cũng in như vậy. Căn ấy bắt đầu mới mở ra thì được nhơn không; khi tánh không viên mãn sáng suốt thì thành giải thoát pháp chấp. Pháp chấp đã giải thoát rồi thì cái u không (cả nhơn và pháp đều không) cũng chẳng sanh, ấy gọi là vị Bồ-tát do Tam-ma-đề mà nhập vô sanh nhẫn.”
*
Tôn giả A-nan sau khi nhờ Phật phương tiện chỉ bày liền nhận biết Như Lai tạng tánh vốn là nhất thể, không phải một cũng không phải sáu, chỉ vì lầm chấp tự tâm rồi phân thành năng sở; năng là kiến phần, sở là tướng phần, ràng buộc cùng nhau mà sanh ra có sáu căn; những căn ấy là những gút nơi Như Lai tạng tánh, cho đến nào sanh tử, nào luân hồi, nào Niết-bàn, nào Bồ-đề; những tướng phân biệt đối đãi trong thế gian cũng đều là các cái gút do vô minh ràng buộc, căn trần giả dối đối đãi hiện ra. Vậy nên hiện nay sáu căn tuy khác mà rốt ráo không hai; tuy rốt ráo không hai song chúng ta còn mê thì chưa làm sao nhận được một, huống gì được gọi là mở cả sáu mà quên luôn cái một.
Dù ngài A-nan đã nhận sáu căn mê lầm đối với Như Lai tạng, cũng như sáu gút đối với cái khăn, nếu sáu căn giải thoát đặng rồi thì trước sau không khác. Bây giờ nơi Như Lai tạng không có gì đáng gọi là sáu, nên cũng không do đâu mà gọi là một. Về phần lý giải tuy là như vậy, song

 

* Trang 424 *
device

về phần sự tu thì cần hiểu phương tiện và phải gia công; hiểu phương tiện tu là hiểu cách giải thoát các căn, cũng như người muốn hết gút, phải biết cách mở, cho nên ngài A-nan lại cầu Phật dạy cho cách thứ mở trừ. Đức Như Lai liền lấy cái khăn đã cột thành sáu gút trước kia, nắm một mối khăn kéo xiên về bên hữu rồi lại nắm một khăn kéo xiên về bên tả, đưa hỏi ngài A-nan thế này mở được không ?
Cả hai lần ngài A-nan đều đáp không thể mở được. Nhân đó Phật mới chỉ cho ngài A-nan biết muốn mở trừ cái gút cần phải mở chính nơi trung tâm của nó.
Hiện tiền căn tánh vốn thường hiển liễu minh tri không phân biệt, không ghét thương, không hạn cuộc; nhưng chỉ vì vô thỉ các tập khí hư vọng, đồng sanh đồng diệt làm ngăn che trở ngại, phân ra làm sáu thứ, đối hiện với nhau giả dối hiện ra sáu thức. Nếu chưa trải qua một phen phát minh căn tánh thì làm sao chứng được bản tâm phi nhất phi dị tự tại giải thoát.
Trước đây Phật chỉ cách mở trừ các gút nơi cái khăn là cốt nương đó để dạy cách trừ diệt các kiết căn nơi Như Lai tạng.
1. Phải tháo mở từ chính nơi trung tâm của kiết căn. Do kiến tướng dính nhau mà có sáu căn phát hiện; đã có sáu căn hiện thì căn này không phải căn kia, căn kia không phải căn này, đối đãi với nhau mà thành có bỉ thử phân biệt. Nhưng xét ra cho kỹ, thì căn nào cũng đều không thật có, tùy duyên mà hiện có, tùy duyên mà hiện không, tự tánh vốn là vô tánh, vốn là tánh Diệu Chân Như của Như Lai tạng; mặc dù vào sanh ra tử, hoặc Thánh hoặc phàm, căn

 

* Trang 425 *
device

tánh ấy vẫn không thêm không bớt. Mê lầm nó là nguyên do cột thành gút, phát minh đặng nó ấy là mở gút do trung tâm. Như nay nơi sáu căn ấy, tùy theo hạn lượng thích hợp với căn nào, hãy lựa lấy một căn mà hạ thủ công phu, không hạn cuộc nơi tướng phần, chẳng chấp nói kiến phần; chỉ suy tìm cho ra Như Lai tạng tánh, thì mặc dù kiến phần, tướng phần đối nhau; mà cai gút đã tiêu trừ, thì các trần tướng không làm sao ô nhiễm. Cái mê cọng nhiễm ô đã tiêu mất rồi thì chơn tánh liền đặng tỏ rõ.
2. Khi mở phải có tuần tự . Khăn vốn là một, do cột sáu lần mà thành ra sáu gút. Cột thành gút thứ nhất rồi lần lượt cột thành gút thứ sáu; sáu gút tuy cột đồng thể, song khi cột có trước có sau, nên khi mở không thể đồng thời mà mở hết liền được. Sáu căn khi giải trừ cũng như thế; nghĩa là sáu căn nhơn mê không liễu đạt đạo lý vô sanh, trở chấp, các pháp thật có, phân thành năng sở, rồi chấp riêng một phần thật pháp để làm tự ngã; thế là khi mê chấp thì từ sâu ra cạn, từ tế đến thô. Vậy nên lúc giải trừ phải lần lượt từ cạn vào sâu, từ thô đến tế. Khi đã chọn căn để tu hành, xả bỏ các duyên trần : sắc, hương, vị, xúc cùng kiến văn tri giác, mà xoay về nơi căn tánh; căn tánh đã không hai, nên một căn hễ được không mê thì tất cả sáu căn đều được trọn mở. Vậy thì còn do đâu mà chấp ngã. Nên trước hết chứng đặng nhơn không. Tuy vọng đã hết mà chơn chưa quên, còn thấy có cái chơn chưa quên, còn thấy có cái chơn không phải là vọng, thành thử còn bị pháp chấp ràng buộc. Cái tánh không chưa đặng viên mãn sáng suốt, vì mới không một phần nhơn chấp, hết phiền

 

* Trang 426 *
device

não hoặc. Lần lần diệt trừ quan niệm sai lầm chơn không phải là vọng ấy, thì cái tánh không đặng viên mãn, giải thoát hết thảy pháp chấp, dứt trần sa hoặc. Chẳng những không thấy có cái hư vọng tiêu trừ, cũng không cái chơn nào đối lại.
Nhơn và pháp đã đều không rồi, thì cái đều không (cu không) ấy cũng không thật có, phá trừ hoặc kiết vô minh,
chứng tánh chơn không và an trú vô sanh pháp nhẫn.
*
Ngài A-nan và cả Đại chúng nhờ Phật khai thị mà huệ giác đặng viên mãn dung thông, không còn điều chi nghi hoặc, đồng thời chắp tay đảnh lễ chân Phật mà bạch Phật rằng : “Chúng con ngày nay thân tâm đều được sáng suốt không còn nghi ngại; song tuy ngộ biết cái nghĩa một và sáu đều không còn, mà còn chưa đạt thấu cái nghĩa căn viên thông thù thắng ra thế nào ? Bạch đức Thế Tôn, chúng con bị phiêu linh lâu đời, bơ vơ nhiều kiếp, đâu ngờ ngày nay lại được dự vào làm anh em với Phật; thế cũng như đứa con mất sữa bỗng gặp đặng Từ mẫu ! Nếu lại nhân cơ hội gặp này, đặng thành Đại quả, thì những lời vi mật được nghe trước kia lại đồng chỗ bổn ngộ, cùng với lúc chưa nghe không có sai khác. Trông mong Phật rủ lòng Đại bi, ban dạy cho con lời bí mật trang nghiêm, thành tựu lời chỉ dạy cuối cùng của Như Lai.” Nói lời ấy xong, năm vóc gieo sát đất lễ Phật, rồi lui về an trụ nơi cơ cảm sâu nhiên, mong chờ lời trao dạy của Phật. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn khắp bảo các Bồ-tát và A-la-hán đã hết các lậu,

* Trang 427 *
device

hiện ở trong chúng : “Các Ông là những vị Bồ-tát và A-la-hán đều đã được thành bậc Vô học ở trong pháp của Ta, Ta nay hỏi các Ông lúc ban sơ phát tâm trong mười tám giới, ai đã do món nào mà chứng ngộ viên thông và do phương tiện gì mà vào Tam-ma-địa ?”
Ông Kiều-trần-na trong hàng năm Tỳ-kheo, liền từ chỗ ngồi đứng dậy mà bạch Phật rằng : “Con ở nơi Lộc Uyển về Kê Viên, xem thấy đức Như Lai khi mới thành đạo; nhân đó nghe âm thanh của Phật thuyết pháp mà tỏ ngộ lý Tứ đế, Phật hỏi các Tỳ-kheo, thì con trước hết được gọi là “Hiểu”, Như Lai ấn chứng cho con tên A-nhã-đa, con do nơi âm thanh vi diệu viên mãn mà thành bậc A-lahán. Nay Phật hỏi phép viên thông, thì như chỗ sở chứng của con, âm thanh là hơn cả.”
Ông Ưu-ba-ni-sa-đà, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật mà bạch Phật rằng : “Con cũng xem thấy Phật lúc mới thành đạo, nhơn quán tướng bất tịnh, sanh tâm rất nhàm chán xa lìa; trừ tướng bất tịnh đến tướng xương trắng, vi trần, rồi tan về hư không, sắc không không hai, ngộ thật tánh các sắc, thành vô học đạo. Đức Như Lai ấn chứng cho con tên Ni-sa-đà, sắc phù trần tiêu hết, sắc diệu tánh châu mật viên dung. Con từ sắc tướng kia mà thành bậc A-la-hán. Nay Phật hỏi viên thông thì như chỗ sở chứng của con, quán sắc làm nhơn là hơn cả.”
Bấy giờ ngài Hương Nghiêm Đồng Tử, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật rồi bạch rằng : “Con nghe đức Như Lai dạy con chín chắn quán các tướng hữu vi. Con liền từ tạ Phật lui về nhà thanh trai yên tịnh, trông thấy

* Trang 428 *
device

các Tỳ-kheo đốt hương trầm thủy, mùi hương lặng lẽ bay vào trong mũi; con quán sát mùi hương đó : chẳng phải là gỗ, chẳng phải hư không, chẳng phải khói, chẳng phải lửa, đi không chỗ tới, đến không chỗ bắt đầu, do đó vọng ý tiêu diệt phát minh tánh vô lậu. Đức Như Lai ấn chứng cho con hiệu là Hương Nghiêm, hơi hương phù trần thoạt diệt, hơi hương diệu tánh được mật viên. Con do nơi hương trần kia mà thành bậc A-la-hán.
Nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng của con, Hương Nghiêm là hơn cả.”
Hai vị Pháp vương tử Dược Vương, Dược Thượng cùng năm trăm Phạm thiên trong hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng : “Con từ vô thỉ kiếp làm vị lương y trong đời, miệng con từng nếm các vị cỏ, cây, vàng, đá của thế giới Ta-bà này, số đến mười vạn 8 ngàn thứ; như vậy thảy đều biết thấu vị của nó, đắng, chua, mặn, lạt, ngọt, cay, các vị hòa hiệp, cu sanh biến dị, cho đến nào là lạnh, là nóng, có độc, không độc, đều biết khắp cả. Sau lại nhân thừa sự đức Như Lai mà hiểu rõ vị tánh chẳng phải không, chẳng phải có, chẳng phải tức thân tâm, chẳng phải ly thân tâm, phân biệt vị trần mà đặng khai ngộ, được Phật ấn chứng anh em tôi hiệu là Dược Vương Bồ-tát, Dược Thượng Bồ-tát. Nay làm Pháp Vương Tử ở trong hội này là nhơn vị mà đặng giác ngộ lên hàng Bồ-tát. Nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng của con, quán vị làm nhơn là hơn cả.

 
*

* Trang 429 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm