LOGO VNBET
ruổi chạy xin ăn; tuy thật nghèo cùng, nhưng hạt châu vẫn không hề mất. Bỗng có bậc trí giả chỉ hạt châu cho thì muốn gì được nấy, thành bậc đại phú, chừng đó mới biết hạt thần châu kia không từ ngoài mà đặng.
*
Phật dạy hết mê tức là Bồ-đề

 
Ông Phú-lâu-na nghe nói chúng sinh đều có Như Lai tạng tâm như Phật, thì không rõ chúng sinh tại sao lại mê vọng, đến nỗi che lấp chơn tánh và phải bị luân hồi mãi mãi.
Nhiều người mới học Phật pháp cũng nghi như vậy, vì nếu bản tánh là mê thì không thể giác ngộ, mà nếu bản tánh là ngộ thì lẽ gì lại hóa ra mê. Đáp lại câu hỏi ấy, Phật lấy một người điên trong thành Thất-la-phiệt để làm ví dụ. Người điên ấy tên là Diễn-nhã-đạt-đa; một buổi mai kia Diễn-nhã-đạt-đa lấy gương soi mặt, thấy cái đầu trong gương mặt mày hẳn hoi, bỗng phát điên nghĩ cái đầu anh bị ma quỷ lấy mất; vì không thể thấy được, rồi sợ hãi bỏ chạy. Diễn-nhã-đạt-đa phát điên sợ hãi, nhưng xét ra cho kỹ thật chẳng có nhân duyên gì đủ làm cho anh nghĩ một cách điên cuồng như vậy. Soi gương thì ai lại chẳng soi, thấy bóng cái đầu trong gương thì ai lại không thấy, mặt mày của mình thì có ai thấy được, mà đã mấy ai điên như Diễn-nhã-đạt-đa.
Cũng như người dại thấy bóng mặt trăng dưới nước, tưởng thật dưới nước có mặt trăng, lặn lội tìm mãi không được lấy làm tức tối; mà nào có nhơn duyên gì sanh ra cái

 

* Trang 376 *
device

lầm như vậy đâu ! Nhưng đã là điên thì tất phải có kết quả của cái điên, lầm lại càng lầm, đến nổi có người chỉ vẻ cũng không biết tỉnh ngộ.
Nếu thật biết điên vì lầm mà nghĩ càn nghĩ quấy, thì quyết định hết điên hết lầm. Đến khi hết điên hết lầm, xét lại những việc điên lầm trước kia thật không còn nghĩa lý gì cả.
Cái mê của chúng sinh cũng vậy; bản tánh diệu giác vốn không có thật ngã thật pháp, chúng sinh lầm nhận thật ngã thật chấp rồi theo chỗ lầm nhận ấy mà gây nghiệp chịu quả, ngoài cái lầm ra thật chẳng có nguyên nhân gì. nhưng chúng sinh dù mê lầm mà bản tánh diệu giác vẫn không hề thêm bớt. Diễn-nhã-đạt-đa hết điên, thì cái đầu vẫn nguyên hiện không hề thêm bớt, chúng sinh hết lầm thì bản tánh Bồ-đề tự hiện.
Cũng như một người trong áo có một hột châu Như ý mà không biết, nghèo khổ lưu lạc xin ăn phương xa, tuy nghèo khổ thật nhưng vẫn sẵn có hột châu vô giá. Đến khi có bậc tri thức chỉ hột châu cho biết thì liền trở thành một nhà phú hộ; chúng sinh cũng vậy; chúng sinh sẵn có Như Lai tạng tâm, đến khi nhờ Phật chỉ bảo, không theo những điều phân biệt giả dối, hết sự mê lầm, và nhận được cái Như Lai tạng tâm sẵn đủ diệu dụng rộng lớn, thì mới biết Như Lai tạng tâm vốn đã có sẵn, duy cần phải chứng nhận mà thôi.
Khi bấy giờ ông A-nan ở trong Đại chúng đảnh lễ dưới chân Phật rồi đứng dậy bạch Phật : “Đức Thế Tôn nói những nghiệp sát, đạo, dâm nếu ba cái duyên này
đoạn rồi thì ba cái nhơn không sanh, mà Diễn-nhã-đạt-đa trong tâm

* Trang 377 *
device

cũng hết tánh điên, hết điên tức là Bồ-đề tâm, không phải tự người mà đặng. Đó thật rõ ràng minh bạch là nhơn duyên rồi; chính con đây cũng do nhơn duyên mà tâm đặng khai ngộ. Bạch đức Thế Tôn, chẳng những bọn hữu học Thanh văn tuổi trẻ chúng con như vậy, cho đến hiện trong hội này, ông Mục-kiền-liên, ông Xá-lợi-phất, ông Tu-bồ-đề cũng nhờ nghe ông lão Phạm Chí giảng nhơn duyên của Phật mà phát tâm khai ngộ, thành đặng đạo quả. Nay Phật dạy tâm Bồ-đề không nhơn duyên thì cái thuyết tự nhiên của bọn ngoại đạo như Câu-xá-ly ở thành Vương-xá là đệ nhất nghĩa hay sao ? Xin nhờ đức Đại bi chỉ dạy chỗ mê lầm cho chúng con. Phật dạy : A- nan, tức như Diễn Nhã Đạt Đa trong thành, nếu diệt trừ đặng nhơn duyên tánh điên, thì tánh không điên tự nhiên hiện ra; lý nhơn duyên tự nhiên chỉ như vậy thôi.
Này A-nan, như đầu của Diễn-nhã-đạt-đa vốn là tự
nhiên, thì khi nào lại không tự nhiên. Vậy vì nhơn duyên gì phải sợ hãi bỏ chạy. Lại cái đầu tự nhiên vì nhơn duyên mà điên, sao lại không tự nhiên vì nhơn duyên mà mất ? Cái đầu vốn không mất, chỉ nghĩ điên mà sợ chạy, chớ nào có thay đổi gì mà phải nhờ đến nhơn duyên. Lại nếu tự nhiên vốn có tánh điên thì lúc chưa điên, cái điên núp ẩn chỗ nào ? Còn nếu tự nhiên vốn có tánh không điên, thì cái đầu vẫn không việc gì, cớ sao phát điên sợ chạy ?
Nhưng nếu nhận được cái đầu sẵn có, biết vì điên và sợ chạy thì nhơn duyên và tự nhiên đều là hý luận (lời nói chơi) cả. Vậy nên Ta nói : đoạn ba cái duyên rồi tức là Bồ-đề tâm.

 

* Trang 378 *
device

Song nói tâm Bồ-đề sanh, tâm sanh diệt diệt, thì cũng chỉ là sanh diệt; phải làm sao cho sanh diệt đều hết thì mới gọi là vô công dụng đạo. Lại như nói có tự nhiên thì tức là nói tâm tự nhiên sanh, tâm sanh diệt diệt, đó cũng chỉ là sanh diệt, dù gọi cái không sanh diệt là tự nhiên, thì cũng như trong thế gian khi các tướng xen lộn, hòa hiệp thành một thể thì gọi là hiệp, còn cái không phải là hòa hiệp thì gọi là bản nhiên đó thôi. Nói bản nhiên mà phi cái tướng bản nhiên, nói hòa hiệp mà phi cái tướng hòa hiệp, hòa hiệp và bản nhiên đều bỏ, bỏ và không bỏ đều phi, câu ấy mới là pháp không hý luận.
Bồ-đề Niết-bàn còn xa xôi lắm, nếu ông không siêng năng tu chứng nhiều kiếp thì dù có ghi nhớ diệu lý thanh tịnh trong 12 bộ kinh của thập phương Như Lai như số cát sông Hằng, cũng chỉ thêm hý luận mà thôi. Ông tuy nói rõ ràng quyết định những lý nhơn duyên, tự nhiên làm cho nhơn gian khen Ông là đa văn đệ nhất, nhưng với cái huân tập đa văn nhiều kiếp kia, ông không tránh khỏi nạn Ma-đăng-già và phải đợi Phật đảnh thần chú của Ta làm cho nàng Ma-đăng-già lịm tắt lửa dâm, chứng A-na-hàm, thành bậc tu hành tinh tấn trong Phật pháp, cạn khô sông ái rồi Ông mới được giải thoát.
Này A-nan, vậy nên Ông tuy nhiều kiếp ghi nhớ những Pháp bí mật diệu nghiêm của Như Lai, cũng không bằng tu vô lậu nghiệp cách xa hai cái khổ ưa ghét của thế gian trong một ngày !
Như Ma-đăng-già, xưa là người dâm nữ, do sức thần chú diệt hết ái dục, tu hành trong Phật pháp, nay gọi là

 

* Trang 379 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm