LOGO VNBET
Phật gạn hỏi chỗ chứng ngộ để lựa chọn căn
viên thông thù thắng.

 
Viên dung thông nhập Như Lai tạng diệu chân như tánh của các pháp nên gọi là viên thông. Vì vậy nên viên thông là bất cứ do một pháp nào trong các pháp căn, trần, thức mà thông đạt Tạng tánh thì cũng đều viên chứng chân như của tất cả pháp.
Trong các đoạn trước Phật chỉ rõ cho chúng ta thấy sanh tử luân hồi do nơi sáu căn, mà được an vui diệu thường cũng do nơi sáu căn; sáu căn là vọng, song cũng
không thể ngoài sáu căn mà tìm có cái chơn. Vì rằng trong khi chúng ta đang mê, đem sáu căn này mà thấy, nghe, cảm xúc, đến khi chúng ta giác ngộ cũng chỉ đem sáu căn tiếp xúc với các trần tướng. Vậy mà khi mê thì gọi các căn là ràng buộc (kiết) đến khi ngộ thì gọi là viên thoát. Vì sao ? Bởi vì khi mê, cái kiết nguyên mê chưa mở trừ vậy.
Vì sao mà thành ra kiết, và làm sao để mở kiết, thì trước Phật đã dùng phương tiện cột khăn mở khăn để chỉ dạy rõ ràng. Đồng một tánh Như Lai tạng mà vì nguyên do mê lầm hiện ra sáu căn ràng buộc; nếu nói rằng vọng thì căn nào cũng vọng, mà nói rằng bỏ vọng về chơn thì căn nào cũng chơn, chơn đến nơi một căn tức là tất cả các căn, các căn tức là một căn, không còn bị bó buộc trong phạm vi mắt chỉ thấy sắc, tai chỉ nghe tiếng, mũi chỉ ngửi hương v.v… mà trái lại, sáu căn đắp đổi thọ dụng viên dung, bởi đã thật chơn thì không còn bỉ thử ngăn ngại. Vậy nên tu nhãn căn không phải là liệt, tu nhĩ căn không phải là thắng v.v… cho đến bất luận tu một căn nào hay một món đại

 

* Trang 430 *
device

nào cũng như nhau cả, không gì hơn hay gì kém, miễn làm sao thấu rõ thật tánh của một pháp mà được viên ngộ viên thoát. Ngài A-nan tuy đã thâm ngộ cái ý nghĩa viên ngộ viên tu ấy, nhưng hiện tiền chưa rõ sáu căn, món nào thù thắng có thể hợp với căn tánh của mình và chúng sinh ở Ta-bà này hơn cả, nên cầu Phật chỉ dạy. Phật liền gạn hỏi trong Đại chúng, các vị Đại Bồ-tát lậu tận A-la-hán đã chứng quả vô học để xem mỗi người, khi ban sơ phát tâm đã tu theo phương tiện gì mà đặng ngộ đạo ? Một điều mà chúng ta nên chú ý, Phật gạn hỏi chỗ ngộ đạo của các bậc Thánh, Hiền, Tăng đây không phải để so sánh chỗ hơn kém mà cốt nghiệm để rõ lời Phật đã dạy trước, để chỉ rõ lối tu viên đốn của Đại thừa khác lối tu tiệm thứ của nhị thừa và để cho Ngài A-nan nhân đó, tự lựa cái căn viên thông thích hợp mà tu hành; nếu có tu hành thì pháp môn nào cũng thành giải thoát cả. Không chỉ riêng ngài A-nan, nếu chúng ta sau khi nghe hiểu, cũng lựa lấy một pháp để suy nghiệm tu hành thì chắc mau đặng ngộ nhập viên thông tam muội.
Phật hỏi xong, kế đó 25 vị Thánh lần lượt tỏ bày chỗ sở ngộ của mình :
Thanh trần viên thông
Ngài Kiều-trần-như cùng 5 vịTỳ-kheo (5 ông này lúc trước theo tu khổ hạnh với Phật và được Phật hóa độ trước tiên khi Ngài mới thành đạo) nhân âm thanh của Phật thuyết mà ngộ lý Tứ đế, chứng Viên thông; nên đối với pháp thích hợp làm cho Ông chứng ngộ thì thanh trần là hơn cả. Thứ nhất nhờ âm thanh của Phật giảng về Tứ đế
 

* Trang 431 *
device

mà ngộ được lý Tứ đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo). Thứ hai Ông quán sát rõ thấu thật tướng của âm thanh mà ngộ đạo. Thật tướng của âm thành là vô tướng, không đọa về nhơn duyên, tự nhiên, hòa hiệp, phi hòa hiệp như trước Phật đã chỉ dạy : nó thường vắng lặng cùng khắp mười phương, theo nghiệp cảm, theo tâm lượng của chúng sinh mà phát hiện; nên khi chúng ta không đem tâm phân biệt, mà khi ấy tiếng cũng chẳng phải không, chẳng phải các chúng sinh khác cũng tuyệt không nghe thấy như ta. Xưa nay chúng ta chỉ phân biệt theo giả ảnh của thanh trần sanh diệt đối đãi với ta, nên bị thống khổ theo khi có tiếng hay khi không có tiếng, chứ chưa hề lắng lòng định trí rời vọng trần để quán thật tánh của những tiếng động tịnh là từ đâu, nên cũng chưa hề liễu nhập tánh âm thanh vốn là tánh diệu chơn như của Như Lai tạng. Thật tướng của âm thanh đã như vậy thì thật tướng trí do âm thanh thuyết minh cũng vậy.
 
Sắc trần viên thông
Ngài Ưu-ba-ni Sa-đà (Trung Hoa dịch là trần tánh, nhơn chỗ ngộ mà đặt tên), nhân quán sắc tướng mà chứng quả. Hàng Nhị thừa thì quán bất tịnh để sanh tâm nhàm chán, diệt tham dục, cầu chứng Niết-bàn. Trái lại, hàng Bồ-tát quán bất tịnh để nhận rõ nhân duyên thống khổ, chỗ đảo chấp bất tịnh kế tịnh của chúng sinh mà hóa độ, phá trừ tâm tham đắm sắc thân ngũ dục. Ông Ưu-ba-ni Sa-đà tu theo phép quán đó, tịnh tâm nhiếp ý, quán sát thân phần của chúng sinh chỉ toàn là một vật nhơ nhớp thối tha, cả từ đầu đến chân, từ trong ra ngoài, và rõ ràng nhất khi

* Trang 432 *
device

thân ấy đã thành một tử thi phình trướng, bầm xanh, bại hoại, máu mủ chảy ra, gân thịt ứa vữa, cầm thú rúc ăn, xương gân ly tán, chỉ còn nắm xương khô lần lữa tiêu ra tro bụi, biến vào hư không. Cái sắc thân đã tan về hư không, đâu có phân biệt chia rẽ sai khác; chỉ vì đem tâm phân biệt, tương đối với sắc mà gọi là không, tương đối với không mà gọi là sắc; vậy nên, sắc hoặc là không đều không tự tánh cả.
Hương trần viên thông
Ngài Hương Nghiêm đồng tử (nhân chỗ ngộ mà đặt tên) nhân quán sát cái tướng hữu vi là hương trần mà chứng được viên thông. Thường thường chúng ta chỉ tưởng mùi hương là một thứ sẳn có của gốcrầm v.v… hễ có gỗ trầm là có hương; nhưng xét kỷ thì mùi hương ấy đâu phải chỉ do gỗ trầm mà có được; còn do không khí, do lửa đốt và do tỷ căn của ta tiếp xúc, tỹ thứ giác xúc, ý thức phân biệt nữa, nếu ngoài công năng của hai thứ năng tri, sở tri trên ra, thì không thành múi hương được. Vậy thật ra tánh chân thật hương trần không phải là năng tri sở tri, cũng không phải ly năng tri sở tri, nó có ra chỉ tùy theo nghiệp của mỗi chúng sinh mà phát hiện.
Vị trần viên thông
Vị trần là các vị cay chua đắng ngọt; vị hòa hợp như các món ăn do nhiều thức hợp lại; vị cu sanh như ớt sẳn cay, bồ hòn sẳn đắng; vị biến dị là do thay đổi mà ra, như mật ong để lâu hóa chua, rượu để lâu thì lạt … Ngài Dược Vương Dược Thượng, Bồ-tát do phân biệt quán sát bổn
 

* Trang 433 *
device

nhân của vị trần mà chứng đạo. Quán sát nguyên nhân của vị như thế nào ? Nếu nói vị do hư không thì sao nếm hư không không biết ngọt, đắng; nói rằng thật có thì vị vốn vô hình; nói rằng vị tức là thân tâm, thành ra nó có tánh biết; còn nói vị ly thân tâm thì cái gì phân biệt mà biết vị. Hai vị Bồ-tát quán sát như vậy ngộ nhập cái tánh phi tức phi ly, phi không phi hữu của vị trần, nên vọng ý tiêu tan mà giác tánh được tỏ bày vậy.
*
Ngài Bạt-đà-bà-la với 16 người bạn Bồ-tát sơ phát tâm, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật rồi bạch rằng : “Kiếp trước, lúc đức Phật Oai Âm Vương ra đời, chúng con nhân đặng gặp Phật nghe pháp và xuất gia, trong ngày Chúng tăng tắm gội, con theo thứ tự vào nhà tắm, thì thoạt nhiên ngộ biết thủy trần vốn không, rửa bụi trần hay không rửa bụi trần, tâm giác thường vắng lặng, không có tướng gì … tập cũ ấy nhớ mãi cho đến ngày nay, theo Phật xuất gia được thành bậc vô học. Đức Oai Âm Vương kia gọi con tên là Bạt-đà-bà-la, nhân diệu xúc tỏ bày sáng suốt, thành vị Phật tử trú. Nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng của con, quán xúc làm nhơn là hơn cả.”
Ngài Đại Ca-diếp và Tỳ-kheo-ni Tử Kim Quang liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật rồi bạch Phật rằng : “Con nhớ kiếp trước, trong thế giới này có đức
Phật ra đời hiệu Nhật Nguyệt Đăng, con được gần gũi thân cận nghe pháp tu học, sau khi Phật diệt độ thì cúng dường xá lợi, đốt đèn nối ánh sáng, lại dùng vàng tử kim sáng chói mà thếp

* Trang 434 *
device

hình tượng của Phật. Từ đó đến nay, đời đời thân con thường được đầy đặn sáng như đống vàng tử kim, còn Tỳ-kheo-ni Tử Kim Quang này chính là quyến thuộc của con, từng đã phát tâm cùng con một lúc. Con xem thấy thế gian sáu trần biến hoại, nên chỉ đem tâm không tịch tu hành, thành diệt tận định. Thân tâm tự tại hay vượt qua trăm ngàn kiếp, dường như khảy móng tay. Con do quán sát pháp không tịch mà thành bậc A-lahán; đức Thế Tôn cho con là người tu hành đầu đà bậc nhất. Diệu pháp mở sáng, các lậu tiêu trừ, nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng của con, quán Pháp trần làm nhơn là hơn cả.”
Tôn giả A-na-luật-đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật mà bạch Phật rằng : “Con khi mới xuất gia thường ưa ngủ nghỉ nên bị Như Lai quở trách là loại súc sanh. Nghe lời Phật quở, con khóc lóc tự trách suốt bảy ngày không ngủ, hư cả hai mắt. Đức Thế Tôn dạy cho con phép Tam-muội nhạo kiến chiếu minh kim cang. Con không do con mắt mà vẫn xem thấy mười phương, tính chơn rỗng suốt như xem hoa quả giữa bàn tay. Như Lai ấn chứng cho con thành bậc A-la-hán. Nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng của con, xoay cái thấy trở về tánh nguyên, ấy là thứ nhất.”
Tôn giả Châu-lợi-bàn-đặc-ca, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật rồi bạch rằng : “Con vì thiếu sự tụng trì nên tánh tình ngu độn; khi mới đầu gặp Phật, nghe pháp xuất gia, chỉ ức trì một câu kệ của Như Lai mà trong trăm ngày không thuộc. Hễ nhớ trước thì quên sau, nhớ sau thì quên trước; Phật thương con ngu muội, dạy phép an cư,

* Trang 435 *
device

điều hòa hơi thở ra vào; con liền quán hơi thở đến vi tế cùng tột, thấy các hạnh sanh, trú, dị, diệt từng mỗi sát-na mà tâm được rỗng rang tự tại không chút ngăn ngại; hết các món lậu thành A-la-hán, ở dưới tọa của Phật, được ấn chứng thành vô học đạo. Nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng của con, xoay hơi thở trở về tánh không, ấy là thứ nhất.
Ông Kiều-phạm-bat-đề, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật rồi bạch Phật rằng : Con bị khẩu nghiệp nặng nề; trong kiếp quá khứ đã chê bai vị Sa-môn nên đời đời mắc bịnh, miệng thường nhai như trâu; đức Như Lai dạy cho pháp môn Nhất vị thanh tịnh tâm địa; con nhân đó mà tâm được tịch diệt vào Tam-ma-địa, quán sát cái tánh biết vị không phải thân, cũng không phải vật; liền trong niệm ấy vượt bỏ các lậu thế gian, bề trong giải thoát thân tâm, bề ngoài không dính mắc thế giới, xa lìa ba cõi như chim ra khỏi lồng, tiêu hết các món cấu trần, nên con được con mắt pháp thanh tịnh, thành A-la-hán; Đức Như Lai ấn chứng thành vô học đạo. Nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng của con, xoay về quán sát tánh biết vị, ấy là thứ nhất.
 *
Xúc trần viên thông
Ngài Bạt-đà-bà-la (Trung Hoa dịch là Thiên-thủ hay Hiền-hộ) nhân quán xúc trần mà ngộ nhập Viên thông. Xúc là đụng chạm, tiếp xúc. Cảnh bị biết của thân căn, hay nói cách khác là sắc cảnh ứng hợp thân căn phát sinh

* Trang 436 *
device

nhân biết có lạnh, nóng, trơn, nhám v.v… đều gọi là xúc trần cả. Như vậy, xúc trần được phát hiện là bởi có thân căn với sắc cảnh, thiếu một không thành, xúc trần hư dối. Vả lại, như khi đối trước một lò lửa, nếu kẻ rét thì có cảm xúc ấm, còn kẻ sốt thì lại có cảm giác nóng thêm. Vậy thì biết chỉ tùy chúng sinh mà thành lạnh hay nóng không có thật thể nhất định. Đối với nước cũng vậy, khi chúng ta dùng nước tắm gội thân thể, nước chảy trên mình mà phát sanh cảm giác thế này thế khác gọi là xúc trần. Nhưng xét nghiệm kỹ thì ta gọi là tắm rửa, ấy là rửa thân thể hay rửa bụi trần ? Nếu nói là rửa thân thể thì như không bụi trần lấy gì để rửa; nếu nói là rửa bụi trần, thì như nước chảy trên đất cũng gọi là tắm rửa đặng sao ? Thế thì nước, bụi trần, thân thể vốn thật an nhiên nước không phải hay rửa (năng) mà bụi trần và thân thể không phải bị rửa (sở), cho nên xúc trần chỉ là tướng giả dối đối đãi theo vọng nghiệp chúng sinh không xúc mà hiện xúc, nên xúc trần đều là như huyễn, phi hữu phi vô. Ngộ được như vậy mà tu hành, tức thành đặng bậc Vô học.
Pháp trần viên thông
Ngài Đại Ca-diếp nhân quán Pháp trần mà ngộ nhập Viên thông. Pháp trần là tất cả ấn tượng của tiền trần : sắc, thanh, hương, vị, xúc, lưu lại trong tâm ý mà làm cảnh sở duyên cho ý thức. Tất cả cảnh giới thế gian tóm lại không ngoài sáu trần : sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp ấy. Những pháp đó luôn luôn biến chuyển, hoặc âm thầm kín đáo, hoặc rõ rệt phô bày, chứ không niệm nào yên lặng dừng nghĩ. Vừa vị lai đã thành hiện tại vừa hiện tại đã
 

* Trang 437 *
device

thành quá khứ; như vậy hãy chỉ vào đâu mà cho là có Pháp thật. Chỉ vào vị lai ư ? hay chỉ vào quá khứ, hiện tại ư ? thật không thể chỉ vào đâu được. Pháp trần đã không thật, pháp trần là chơn không, thì các món thọ tưởng, hư vọng phiền não nương pháp trần sanh ra cũng liền tiêu diệt, phá trừ ý thức, chứng Diệt tận định. Khi ấy thân tâm tự tại, đối với không gian cũng như đối với thời gian; không rời chỗ ngồi mà ở khắp mười phương, vượt trăm ngàn kiếp mà đường trong giây phút khảy móng tay, thoát ngoài vòng chướng ngại của những sự lâu, mau, xa, gần, hạn cuộc.
Nhãn căn viên thông
Ngài A-na-luật-đà nhân tu về nhãn căn, xả bỏ sắc trần, xoay cái thấy (hư vọng) trở về kiến tính (chơn tính) mà thành bậc Vô học.
Kiến tánh thường diệu thường minh, nương nơi con mắt mà phát ra cái dụng thấy sắc gọi là nhãn căn; kiến tánh vốn đã diệu minh, cho nên kiến dụng chẳng lúc nào không minh không diệt. Chúng sinh nhiều kiếp mê lầm không tự nhận biết, trở lại chấp rằng cái thấy chỉ do con mắt và có sắc trần; hễ có sắc trần thì gọi rằng có thấy; còn không sắc trần thì gọi rằng không thấy : mở mắt là thấy, nhắm là không. Đã đem tánh thấy viên dung cùng khắp mà khuôn khổ một nơi, nên bị cách ngại, thấy không ngoài hai sống mũi, thấy không thấu đặng hai đời. Dù khi nhắm mắt, khi ngủ mê không thấy đã đành, mà khi mở mắt cũng chẳng thấy được sự thật của muôn pháp. Trong một đoạn trước, Phật gạn hỏi Tôn giả A-nan về cái thấy là tâm hay

 

* Trang 438 *
device

con mắt ? Và Ngài đã bảo : Tâm thấy chớ không phải mắt thấy. Đây, Phật chỉ cái kiến tánh này cho đến chỉ văn tánh, khứu tánh v.v… cho chúng sinh rõ. Thế nên biết rằng có mắt không tâm, không thành có thấy; có tâm không mắt cũng thấy khắp mười phương, ấy gọi là nhạo kiến chiếu minh. Kiến tánh bản minh đó xưa nay không hề lay chuyển, ấy gọi là Kim cang Tam muội.
Tỉ căn viên thông
Ngài Châu-lợi Bàn-đặc-ca (là hai anh em. Trung Hoa dịch là Đại lộ biên và Tiểu lộ biên. Đây cốt chỉ ông em) nhân tuy tỷ căn mà chứng nhập viên thông.
Kiếp xưa của Ngài là một vị Đại Pháp sư vì tâm xan lẫn Phật pháp, không muốn nói cho ai nghe nên bị quả báo ngu mê, thiếu tánh nghe nhiều hiểu rộng. Nhân đó Phật mới dạy phương pháp nhiếp tâm là điều hòa hơi thở ra vào, đếm từ một đến trăm, từ trăm lui một; sau khi tâm định tĩnh xét cùng tột đến tướng vi tế của hơi thở, thảy đều sanh, trú, dị, diệt từng mỗi sát na. Tâm chỉ chú vào hơi thở, ngoài hơi thở không riêng có sự vật gì, cũng không có tướng hơi thở nữa bởi vì hơi thở đã từng sát na chuyển biến, hơi thở không có thật tánh; vậy do tánh yên lặng mà quán cảnh thanh tịnh; do quán cảnh thanh tịnh mà được rỗng rang sáng suốt.
Thiệt căn viên thông
Ngài Kiều-phạm-bát-đề (Trung Hoa dịch là Ngưu từ) nhân tu thiệt căn mà chứng nhập viên thông. Trong một kiếp quá khứ, Ông từng buông lời chê bai vị lão tăng, nên
 

* Trang 439 *
device

nhiều đời mắc lấy cái tật : miệng thường nhai suông như trâu. Phật thuyết pháp lúc nào cũng tùy căn cơ, tùy tập quán chúng sinh cả; nên Ngài đã tùy tập quán của Ông mà dạy cho các pháp môn nhất vị thanh tịnh tam địa; nghĩa là quán cái tánh biết vị phát hiện nơi thiệt căn, vốn thường thanh tịnh, không phải đối đãi giả dối, không thay đổi theo mặn, đắng, ngọt, cay nên gọi là nhất vị. Đã vậy, thì cái tánh biết vị ấy không phải là thiệt căn và không phải là vị trần : vì chẳng phải trần nên chẳng phải vô tri, mà chẳng phải căn nên không giả dối; vì vậy các món dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu trong thế gian không thể ô nhiễm buộc ràng; tuy ở trong ba cõi mà vốn xa lìa ba cõi như chim ra khỏi lồng, thông dung tự tại, thấy biết rộng xa. Ấy gọi là pháp nhãn thanh tịnh, thành A-la-hán, không còn thọ sanh trong vòng luân hồi sanh tử.
*
Ngài Tất-lăng-già-bà-ta liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đầu lạy chân Phật rồi bạch Phật rằng : “Lúc con mới phát tâm theo Phật nhập đạo, thường nghe đức Như Lai dạy những điều thống khổ trong thế gian; con đi khất thực trong thành để tâm tư niệm pháp môn đó, bất giác giữa đường đạp nhằm gai độc, bị thương chân, sự đau nhức khắp cùng thân thể. Con liền nghĩ rằng : Có tánh biết mới biết sự đau nhức đó. Tánh biết ấy chính là giác tâm thanh tịnh, tuy cái biết đau mà không phải bị đau. Con lại suy nghĩ : nếu như vậy thì một thân lẽ nào có hai tánh biết ? Nhiếp niệm chưa bao lâu, thân tâm bỗng nhiên không tịch; trong 21 ngày thì các lậu tập tiêu hết, thành quả A-la-hán, được

* Trang 440 *
device

Phật ấn ký chứng bậc Vô học. Nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng của con, là xả bỏ thân chấp, thuần một giác tánh, ấy là thứ nhất.”
Ngài Tu-bồ-đề liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đầu lạy chân Phật mà bạch rằng : “Nhiều kiếp lại đây, tâm con rỗng rang không ngại, nhớ lại kiếp thọ sanh nhiều như số cát sông Hằng, lúc còn ở trong thai liền biết muôn pháp không tịch; như thế cho đến thấy cả mười phương toàn không, và giáo hóa khiến cho chúng sinh chứng đặng không tánh. Nhờ đức Như Lai phát minh tánh chơn không của bản giác, tánh không viên mãn sáng suốt, chứng A-la-hán, kíp vào biển giác không tịch sáng suốt tôn quý của Như Lai, đồng tánh tri kiến với Phật, nên được ấn chứng thành bậc vô học. Con do tánh không mà giải thoát, không ai sánh bằng. Nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng của con, là đem các tướng qui vào phi tướng, mà năng phi sở phi cũng diệt, xoay tánh biết nơi ý căn về không vô, ấy là thứ nhất.”
Ngài Xá-lợi-phất liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật mà bạch Phật rằng : “Con nhiều kiếp lại đây, tâm thấy rất thanh tịnh, như vậy trong nhiều đời thọ sinh như cát sông Hằng, mà đối với các pháp biến hóa của thế gian, xuất thế gian, hễ một phen thấy, liền thông suốt không bị ngăn ngại. Một hôm nhân ở giữa đường gặp đặng hai anh em ông Ca-diếp-ba cùng đi với nhau, tuyên nói kệ, nhân duyên mà ngộ biết tự tâm vốn không ngằn mé. Theo Phật đi xuất gia, tánh thấy biết viên mãn sáng suốt, được sức vô úy, thành A-la-hán làm trưởng tử của Phật, từ

* Trang 441 *
device

miệng Phật mà có, do pháp Phật mà hóa sinh. Nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng của con, là do tâm thấy phát sáng, sáng cùng tột các pháp sở tri, sở kiến, ấy là thứ nhất.
Ngài Phổ Hiền Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng : “Con đã từng làm vị Pháp vương tử với hằng sa đức Như Lai. Mười phương các đức Như Lai mỗi khi dạy hàng đệ tử có căn cơ Bồ-tát, tu hạnh Phổ Hiền thảy đều lấy tên con mà đặt tên. Bạch Thế Tôn ! Con dùng tâm mà nghe và phân biệt mọi niệm lự tư kiến của chúng sinh; nếu ở phương nào khác, ngoài hằng sa cõi nước, có một chúng sinh phát tâm tu hạnh Phổ Hiền, thì con liền trong khi ấy, cỡi voi trắng sáu ngà, phân hóa trăm ngàn thân đến khắp các nơi ấy; dù cho chúng sinh đó nghiệp chướng sâu dày không thể thấy con thì con nhân trong khi tối tăm lấy tay rờ đầu, gia hộ an ủi khiến đặng thành công đức. Nay Phật hỏi viên thông, như bổn nhân chứng ngộ của con là phát minh tánh nghe, phân biệt tự tại, ấy là thứ nhất.”
*
Thân căn viên thông
Ngài Tất-lăng-già-bà-ta (dịch là dư tập) nhân tu thân căn mà ngộ nhập Viên thông. Giác tâm thanh tịnh vốn thường bất biến hàm dung không có năng sở, không có trong ngoài, không bị khổ vui làm lay động; chúng sinh nhân mê, khởi ra vọng tưởng phân biệt, chấp có ngoại cảnh có nội thân, buộc tánh biết nơi thân căn làm nơi y chỉ
 

* Trang 442 *
device

mà lãnh nạp các cảnh thuận nghịch giữa thế gian. Vì vậy nên không tránh khỏi các món khổ. Ông Tất-lăng-già-bà-ta theo lời Phật, quán khổ đế giữa thế gian trong khi đi khất thực, bất giác chân đạp nhầm gai độc, đau buốt toàn thân, mà càng chứng rõ khổ đế một cách thống thiết. Nhân đau nhức mà phát suy nghĩ : tự mình biết mình đang đau; vậy đã có cái đau lại có cái biết đau; đau là cái biết hư vọng nơi thân căn, tùy nhân duyên ngoại cảnh mà phát hiện có năng có sở; chứ “biết đau” chính là giác tâm thanh tịnh ra ngoài có không, dù đau với không đau cũng không thể làm tăng giảm. Ngặt vì trong lúc tâm ngã pháp chưa tiêu, nên tướng năng sở vẫn còn hiện tiền, cần phải nhiếp niệm vậy sau mới không cả thân tâm đoạn trừ năng sở, không thấy có cái tướng hay đau, không thấy cái tướng bị đau, chỉ thuần một Giác tâm thanh tịnh. Lúc ấy, chẳng những giác tức là giác, mà mê cũng tức là giác; tánh giác hoàn toàn viên mãn không còn bị điều chi ô nhiễm.
Ý căn viên thông
Ngài Tu-bồ-đề (Trung Hoa dịch là Không sinh) nhân tiêu trừ ý căn mà chứng nhập viên thông. Ý căn là tánh hay hiểu biết tất cả pháp trần, hễ có pháp trần thì có ý căn, mà ý căn tiêu trừ thì pháp trần không tịch. Pháp pháp đều không tịch cả, dù sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn tất cả đều không; ở trong thân tâm chánh báo không ở ngoài thế giới y báo cũng không, nên tâm đặng tự tại không bị 5 uẩn ngăn che, không bị cái hôn mê cách ám; khi ở trong thai cũng như khi ra khỏi thai, chỉ là tùy tưởng thọ sinh mà vẫn không bị sắc thân chướng cách. Tuy vậy,

* Trang 443 *
device

mặc dù ngộ được không lý, nhưng chưa ngộ tánh chân như của Như Lai tạng, là tức nơi không mà tùy duyên hiện hữu, tức nơi diệu hữu mà vốn không, cái không ấy mới thật là tánh chân không của đệ nhất nghĩa, của nhất chân pháp giới; vậy nên nhất thời đốn ngộ tánh chân không, ấy tức đồng một tánh thấy biết cùng khắp như chư Phật, không có sai khác.
Nhãn căn viên thông
Ngài Xá-lợi-phất (Trung Hoa dịch là Thu từ) do tu nhãn thức mà chứng nhập viên thông. Do Nhãn thức thanh tịnh nên tất cả pháp tướng của thế gian đều thấy thông suốt cả; nhận thấy thông suốt các pháp biến hóa ấy nên đến khi nghe thấy bài kệ nhân duyên, liền ngộ đặng thật tướng Trung đạo, ngộ Tạng tâm cùng khắp pháp giới, không phải lớn nhỏ, không có ngằn mé trong ngoài. Bài kệ nhân duyên theo Đại thừa nghĩa là : “Các pháp nhân duyên sanh, tôi nói nó là không, gọi nó là giả danh, cũng gọi trung đạo nghĩa” (nhân duyên sở sanh pháp, ngã thuyết tức thị không, diệc danh thị giả danh, diệc danh trung đạo nghĩa). Các pháp do nhân duyên hòa hợp sanh không có thật tánh tức là không; tuy không nhưng đã tùy vọng nghiệp cơ cảm của chúng sinh chẳng phải không có giả tướng phát hiện; ngoài giả không thể có không, ngoài không không thể có giả, không và giả không hai cái ấy tức là thực tướng Trung đạo của các pháp. Đã ngộ lý Trung đạo tức là ngộ được Tạng tâm tùy thuộc bất biến, bất biến tùy duyên, không phải giả không mà thật không, nhưng không chỗ nào không có, không pháp nào không do Tạng
 

* Trang 444 *
device

tâm; tùy duyên bất biến hiện, mà thấy biết cùng tận tất cả pháp không chút ngăn che sợ hãi.
Nhĩ thức viên thông
Ngài Phổ Hiền Bồ-tát (hạnh độ sanh cùng pháp giới là phổ, gần địa vị cực thánh là hiền) nhân tu Nhĩ thức mà chứng nhập viên thông. Phổ Hiền có ba vị khác nhau :
1. Vị tiền Phổ Hiền tức là hai vị Tư lương và Gia hạnh.
2. Đương vị Phổ Hiền tức là sơ địa cho đến Đẳng giác, Diệu giác.
3. Vị hậu Phổ Hiền, tức là khi chứng Phật quả rồi, nhưng không đắm trước cái vui nơi cảnh Niết-bàn, chỉ vì nguyện đại bi luôn luôn trở lại độ sanh tế vật. Như Ngài Văn Thù, Quán Âm, Phổ Hiền v.v… Vậy biết Ngài Phổ Hiền là vị đại Bồ-tát đã thành Phật mà trở lại độ sanh. Chính trong nhân địa, Ngài đã phát 40 lời đại nguyện : từ lễ kỉnh chư Phật cho đến phổ giai hồi hướng. Ngài đã phát minh tánh nghe chân thật của bản tâm thanh tịnh, không còn tùy tùng theo cái nghe hư vọng của nhĩ căn và nhĩ thức, nên không bị điều chi cách ngại; nên hễ có mỗi một chúng sinh nào cách xa hằng sa thế giới mà phát tâm tu hạnh Phổ Hiền, thì Ngài liền quán biết rõ ràng, phân vô số thân, cưỡi voi trắng sáu ngà (biểu tượng hóa độ sáu độ của Bồ-tát) đến tận nơi mà tìm cách an ủi khuyên lơn, tán thán, gia hộ, khiến chúng sinh ấy mau thành tựu như Ngài. Các vị muốn tu Bồ-tát thừa, sau khi thấy rõ Chơn tâm, phát minh căn bản trí, đều phải khởi sai biệt trí, tùy nghi phương tiện mà giáo hóa độ sanh mới thành tựu viên mãn Phật

* Trang 445 *
device

quả; nếu thiếu hạnh Phổ Hiền tế độ quần sanh thì hạnh giác tha bị thiếu, nên Phật dạy các Bồ-tát tu hạnh lợi tha đều nên tu theo hạnh đức Phổ Hiền và cũng lấy tên ấy mà làm tên của mình.
*
Ngài Tôn-đà-la-nan-đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng : “Con lúc đầu xuất gia theo Phật nhập Đạo, tuy đối với giới luật (giới) giữ gìn đầy đủ, mà đối với phép Tam-ma-địa (định) thì tâm thường loạn động, nên chưa thành vô lậu. Đức Thế Tôn dạy con cùng ông Câu-thi-la quán tướng trắng trên chót sóng mũi. Lúc đầu quán kỹ, trải qua 21 ngày thấy hơi trong mũi ra vào như khói, thân tâm thế giới trong ngoài rỗng suốt, khắp đều trong sạch như ngọc lưu ly. Rồi dần dần tướng khói tiêu tan mà hơi thở lại biến thành các sắc trắng, tâm đặng khai ngộ; các lậu tiêu trừ, hơi thở ra vào hóa thành ánh quang minh soi cùng mười phương thế giới chứng quả A-la-hán. Đức Thế Tôn thọ ký cho con, tương lai chứng đặng Bồ-đề. Nay Phật hỏi về viên thông, con do
tiêu trừ hơi thở, hơi thở tiêu nên tâm phát sáng; sáng càng viên mãn, các lậu trừ, ấy là thứ nhất.”
Ngài Phú-lâu-na-di Da-la-ni tử, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đầu lạy chân Phật rồi bạch rằng : “Con từ nhiều kiếp lại đây, biện tài vô ngại, tuyên nói các pháp khổ, không đạt cùng thật tướng; như vậy cho đến tất cả pháp môn bí mật của hằng sa Như Lai, con đều đem giảng bày rất rõ ràng vi diệu ra giữa đại chúng không chút sợ sệt. Đức Thế Tôn biết con có tài hùng biện, nên dùng âm thanh tuyên

 

* Trang 446 *
device

nói pháp luân dạy con đem ra truyền bá. Con ở trước Phật dùng tiếng thuyết pháp như sư tử rống, để giúp Phật chuyển pháp luân, đặng thành A-la-hán. Đức Thế Tôn ấn chứng cho con là người thuyết pháp không ai bằng. Nay Phật hỏi về viên thông, con do pháp âm, hàng phục lũ ma oán, tiêu diệt các lậu, ấy là thứ nhất.”
Ngài Ưu-ba-ly liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Phật rồi bạch rằng : “Con thân tùy với Phật, thấy Ngài vượt thành xuất gia, chính con quán thấy đức Như Lai sáu năm tu khổ hạnh, hàng phục loại ma, uốn dẹp ngoại đạo, giải thoát các tham dục thế gian; lại được thừa lãnh giáo giới của Phật chế; như thế cho đến 3.000 oai nghi, 80.000 hạnh vi tế, nào tánh nghiệp nào giá nghiệp, con đều giữ gìn thanh tịnh, thân tâm vắng lặng, thành bậc A-la-hán. Con là giềng mối trong chúng đệ tử của Như Lai; Phật ấn chứng tâm con, giữ giới tu thân, chúng suy tôn làm thượng thủ. Nay Phật hỏi viên thông thì con trước do chấp giữ thân, thân đặng tự tại; sau lại do chấp giữ tâm, tâm đặng thông suốt. Vậy sau tất cả thân tâm thảy đều thông lợi, ấy thứ nhất.”
Ngài Đại Mục-kiền-liên, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Phật rồi bạch rằng : “Lúc trước con đi khất thực, giữa đường gặp ba anh em ông Ca-diếp-ba, là Ông Ưu-lâu-tần-loa, ông Già-gia và ông Na-đề tuyên nói nghĩa nhơn duyên sâu xa của Như Lai; con liền phát tâm, thấu suốt rộng lớn, đức Như Lai cho mặc y ca-sa, râu tóc tự rụng hết. Con dạo đi cùng mười phương, không bị ngăn ngại, phát minh thần thông, suy con là hơn cả, thành A-la-hán. Đâu

* Trang 447 *
device

chỉ một mình Thế Tôn, mà mười phương Như Lai cũng đều khen thần lực con, tròn sáng thanh tịnh, tự tại không e sợ. Nay Phật hỏi viên thông, con xoay ý thức về tánh viên trạm, tâm quang mở bày, ví như lắng dòng nước đục, lâu ngày thành trong suốt, ấy là thứ nhất.”
Ngài Ô-sô-sắc-ma ở trước Như Lai chắp tay cúi đầu đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng : “Con thường nhớ lại nhiều kiếp xa xôi về trước, tánh nhiều tham dục. Có đức Phật ra đời hiệu là Không vương. Ngài dạy : Người nhiều dâm tánh, là thành đống lửa hẩy hừng; lại dạy con quán khắp 100 hài 4 vóc, các khí lạnh, nóng mà tinh thần bề trong được ngưng tịnh, hóa tâm đa dâm thành ra lửa trí tuệ. Từ đó chư Phật đều gọi con là Hỏa Đầu. Con do sức hào quang tam muội mà thành A-la-hán, tâm phát nguyện lớn; hễ chư Phật thành Đạo thì con làm người Lực sĩ hầu cận, uốn dẹp lũ ma oán. Nay Phật hỏi về viên thông, con do quán sát cái xúc nóng nơi thân tâm, rỗng suốt không ngại, các lậu tiêu trừ, phát sanh lửa Trí huệ lớn báu, lên bậc Vô thượng giác, ấy là thứ nhất.
*
Tỉ thức viên thông
Ngài Tôn-đà-la-nan-đà nhân tu về tỉ thức mà ngộ nhập viên thông trên đường tu hành chơn chánh đến kết quả Vô thượng Bồ-đề là phải đủ ba điều kiện cần yếu :
Giới luật, Thiền định và Trí huệ. Giới để ngăn ngừa tội lỗi ; Định để đón dẹp vọng tưởng tán loạn; Huệ để phá vô minh thấu rõ thật lý. Bởi vậy, mặc dù giữ gìn giới luật

 

* Trang 448 *
device

hoàn toàn mà tâm thiếu thiền quán, bị tán loạn, thì bao nhiêu lậu hoặc vô minh vẫn còn tương tục ngăn che Thánh quả vô lậu. Thiền quán thì cốt tại buộc tâm vào một chỗ hay một pháp môn để quán sát. Như Phật dạy  ông Tôn-đà-la-na-đà và Câu-thi-la chuyên tâm quán tướng trắng đầu chót sống mũi, hễ quán tâm lần sâu xa, thì cảnh sở quán lần thanh tịnh, đến khi hóa ra ánh sáng là đều do quán tâm sâu cạn cũng viên minh, thì thân tâm sáng suốt, tâm năng quán cũng viên minh, thì thân tâm thế giới khắp 10 phương thảy đều trong suốt như chất lưu ly, không nhơ bợn, không ngăn cách, ấy là dứt nhân sanh tử, được Phật thọ ký chứng Bồ-đề quả.
Thiệt thức viên thông
Ngài Phú-lâu-na-di-đa-la-ni-tử, nhân tu thiệt thức mà ngộ nhập viên thông. Thiệt thức có công năng biết vị và thuyết pháp. Phật vì chúng sinh khỏi vòng điên đảo, chấp mọi sự mọi vật là thường, lạc, ngã, tịnh, nên truyền dạy pháp Vô thường, Khổ, Vô ngã, Bất tịnh. Nhân đó mà hàng Nhị thừa giải thoát phân đoạn sanh tử chứng Vô dư y Niếtbàn và đem giáo hóa dẫn đạo chúng sinh. Thật ra, trong khi Phật dạy lý vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, mà mật ý cốt chỉ cho chúng sinh đương nơi bốn điều ấy nhận thấu thật tướng bình đẳng Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của tất cả các pháp. Vì thật tướng ấy mới là pháp môn bí mật của hằng sa đức Như Lai, là chỗ muốn chỉ của âm thanh chuyển luân của Phật tuyên nói. Nếu ngộ đặng pháp môn ấy như ông Phú-lâu-na thì biện luận thuyết pháp không ai sánh bằng, mặc dù nói pháp khổ, không mà không ly thật
 

* Trang 449 *
device

tướng; tuy không ly thật tướng mà tự tại tuyên nói khổ không, để điều nhiếp chúng sinh, hàng phục ma ngoại.
Thân thức viên thông
Ngài Ưu-ba-ly nhân tu thân thức mà ngộ nhập viên thông. Ông là một người hầu cận của Phật trong khi Ngài còn làm Thái tử, nên thấy rõ hành động của Phật khi xuất gia, khi tu khổ hạnh cho đến khi hàng tà ma thành đạo quả và thiết chế giới luật; lại là vị đệ tử trì luật thứ nhất, lãnh thọ giới luật, thanh tịnh tu trì. Nào những điều thể tánh vốn ác như sát, đạo, dâm, vọng gọi là tánh nghiệp những điều thể tánh không phải ác nhưng vì hay mở đường tội lỗi như rượu v.v… mà Phật chế ngăn gọi là giá nghiệp; cho đến 3000 oai nghi (250 giới đều có 4 cử động là đi, đứng, ngồi, nằm 250 x 4 = 1.000 : 1.000 đối với 3 tụ giới thành ra 3.000). 84.000 tế hạnh (3.000 oai nghi đem phối với bảy chi : sát, đạo, dâm, lưỡng thiệt vọng ngôn, ác khẩu, ỷ ngữ thành 21.000; lại phối với 4 phần phiền não là đa tham, đa sân, đa si, tham si đẳng phần, thành ra 84.000) thảy đều giữ gìn không giới nào khuyết phạm, thân thường ở trong giới, toàn thân tức là giới, khi giới đã đặng thanh tịnh thì thân ấy là thân tịch diệt mà tâm ấy là tâm chơn thường diệu giác, mặc dù ở trong thế gian uế ác mà không bao giờ ô nhiễm như diệu liên hoa vậy.
Ý thức viên thông
Ngài Đại Mục-kiền-liên nhân tu ý thức mà ngộ nhập viên thông. Sau khi nghe ba anh em ngài Ca-diếp-ba nói lý nhân duyên của Phật, liền ngộ đặng nhân duyên thâm
 

* Trang 450 *
device

nghĩa, không phải như nghĩa thông thường, nói các pháp có ra là do nhiều duyên họp lại; hơn nữa các pháp do nhân duyên sanh tức là không thật có, tức là như huyễn, tức là Trung đạo thật tướng; chính nơi các pháp đối đãi sanh diệt mà nhận ra thật tướng tuyệt đối không sanh diệt. Vậy nên dù gần hay xa, dù lớn hay nhỏ cũng không còn chút gì ngăn ngại, xứng ý thật tướng, phát hiện thần thông để độ chúng sinh và phụng thờ chư Phật. Vì được như vậy, nên Ngài Mục-kiền-liên mới gọi là bậc thần thông bậc nhất.
Hỏa đại viên thông
Ngài Ô-sô-sắc-ma nhân tu Hỏa đại mà ngộ nhập viên thông. Chỉ vì còn vọng tưởng nên còn tánh tham đắm; do tánh tham dâm mới kiết thành lửa nghiệp hẩy hừng đốt cháy thân tâm, lu mờ ánh sáng trí huệ. Nhưng vọng tưởng chỉ là tâm, tham dâm chỉ là tâm, mà trí huệ cũng chỉ là tâm; nếu tâm vọng tưởng tham dâm ngừng tiêu, thì lửa trí huệ phát hiện. Ông Ô-sô-sắc-ma vốn người nhiều dâm dục; sau khi nghe đức Phật Không Vương dạy cho biết người đa dâm biến thành đống lửa dữ, mới chuyên tâm quán sát toàn thân tứ đại vốn không chủ tể; 100 hài 4 vóc, khi lạnh, khi nóng v.v… đều thuộc về tứ đại; tâm đa dâm vốn không tự tánh, tất cả đều do vọng tưởng mà ra; bởi tạng tâm tùy duyên biến hiện ngộ được tất cả vô tánh tức thành định lực hỏa quang tam muội; đốt cháy hết thảy thế gian, và oán ma sanh tử .
 
*

* Trang 451 *
device

Bấy giờ ngài Trì Địa Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Phật rồi bạch rằng : “Con nhớ kiếp xưa đời đức Phổ Quang Như Lai xuất hiện giữa đời. Con làm thầy Tỳ-kheo thường đi đến các nẻo đường, bến đò, ruộng đất hiểm trở, hoặc không được bằng phẳng, phòng hại xe ngựa; thì con đắp ngay ngắn, hoặc làm cầu cống, hoặc gánh cát đất, siêng năng khó nhọc như vậy, trải qua vô lượng vị Phật ra đời. Hoặc có chúng sinh ở chỗ chợ búa, cần người chuyển vật, con trước hơn ai cả, vì họ, chuyền đi đến nơi tận chỗ, để đồ vật xuống liền đi ngay, chứ không nhận lấy tiền thuê. Trong khoảng đức Phật Tỳ-xá- phù ra đời, ở thế gian, phần nhiều bị đói thiếu, con làm người chuyên chở không kể gần xa, chỉ lấy thuê một tiền; nếu có trâu mắc phải bùn lầy thì con đem sức lực vì chúng đẩy xe, cứu vớt sự khổ não. Vị quốc vương thuở ấy, mời Phật thiết trai cúng dường; bấy giờ con sửa sang đất đai bằng phẳng, chờ Phật đi qua. Đức Tỳ-xa Như Lai khi đi ngang qua, xoa đầu con và bảo : “Hãy bình tâm địa thì thế giới đại địa tất cả đều bình.” Tâm con liền đặng mở mang, thấy rõ vi trần tạo thành ra thế giới bình đẳng không khác; tự tánh của vi trần không chạm lẫn nhau cho đến đao binh cũng chẳng hề đụng chạm; trong các pháp tự tánh, ngộ được vô sanh nhẫn, thành bậc A-la-hán. Xoay tâm Tiểu thừa này vào trong vị Bồ-tát, nghe các Như Lai nói chỗ tri kiến Phật như diệu liên hoa; con đặng chứng tỏ đầu tiên mà làm vị thượng thủ. Nay Phật hỏi viên thông, con do chỗ đế quán hai thứ vi trần của căn thân và thế giới bình đẳng như nhau, vốn từ Như Lai tạng hư vọng phát sanh trần cấu, trần tiêu rồi, trí viên mãn, thành Bồ-đề, ấy là thứ nhất.”
 

* Trang 452 *
device

Bấy giờ ngài Nguyệt Quang đồng tử liền từ chỗ đứng dậy, đảnh lễ Phật rồi bạch rằng : “Con nhớ hằng hà sa số về trước, có đức Phật ra đời hiệu là Thủy Thiên, dạy các vị Bồ-tát tu phép quán nước, chứng nhập chánh định. Quán nước ở trong thân, tánh nó không cướp đoạt nhau. Đầu tiên quán từ nước miếng cuối cùng đến mồ hôi, tinh huyết, đại tiện, tiểu tiện, xoay vần trong thân mà vẫn đồng một tánh nước. Quán thấy nước ở trong thân cùng nước biển hương thủy nơi cõi Phù Tràng vương ngoài thế giới, bình đẳng không sai khác. Lúc ấy con mới thành phép quán nước thì chỉ trông thấy nước mà chưa được không thân (nghĩa còn chấp có thân này). Đang lúc làm Tỳ-kheo yên lặng tu thiền ở trong nhà, thì có người đệ tử từ nơi cửa sổ ngó vào nhà, chỉ thấy nước trong đầy khắp cả nhà, không thấy gì khác nữa, nó trẻ dại không biết liền lấy một viên ngói quăng vào trong nước, quấy nước lên tiếng, ngó quanh quẩn rồi bỏ đi; sau khi con xuất định, liền cảm nghe đau bụng, dường như Ngài Xá-lợi-phất gặp phải nạn quỉ vi hại. Con tự suy nghĩ : Nay con đã được quả A-lahán, khỏi bịnh duyên lâu ngày, vì sao nay bổng phát sanh đau bụng, chừng bị thối thất chăng ! Bấy giờ đứa nhỏ thẳng đến trước con, nói lại việc như trên; con liền bảo : “Hễ ngươi trông thấy nước lại, thì nên liền mở cửa vào trong nước, lượm quăng viên ngói đi”. Đứa nhỏ vâng lời, lúc sau con nhập định, nó trở lại thấy nước và viên ngói rõ ràng, liền mở cửa lượm ra, đến khi con xuất định, thân thể lại y như cũ. Gặp vô lượng Phật, như vậy đến đời đức Sơn hải Tự Tại Thông Vương Như Lai được vong thân, thân cùng nước biển hương thủy khắp mười phương hợp một tánh chơn không, không hai không

* Trang 453 *
device

khác. Ngày nay đối trước Như Lai được danh hiệu đồng chơn, dự hội Bồ-tát. Nay Phật hỏi viên thông con do thủy tánh, một vị lưu thông, chứng được phép vô sanh nhẫn, viên mãn đạo Bồ-đề, ấy là thứ nhất.”
Ngài Lưu-ly-quang Pháp-vương-tử, liền từ chỗ ngồi dứng dậy, đảnh lễ Phật rồi bạch rằng : “Con còn nhớ trải qua hằng sa số kiếp trước, có đức Phật ra đời hiệu Vô-lượng-thanh, khai thị tánh Bổn giác diệu minh cho các hàng Bồ-tát, quán thế giới này và các thân chúng sinh, đều bởi sức gió nhân duyên hư vọng chuyển biến ra. Con lúc bấy giờ quán cõi nước đứng yên, quán thời gian qua lại, quán thân phần đi đứng, quán tâm niệm động lay, tất cả các thứ động không hai, như nhau không sai khác.
Con hiểu biết rằng tánh của các món động ấy, đến thì không có chỗ ban đầu, đi không nơi cùng tột; chúng sinh điên đảo số như vi trần trong mười phương đều đồng một tánh hư vọng cả. Như vậy cho đến những loại chúng sinh ở trong một tam thiên đại thiên thế giới chẳng khác nào trong một cái đồ chứa hàng trăm mòng muỗi vo ve loạn lạc, ở trong phân tấc nổi sanh cuồng náo, gặp Phật chưa mấy mà chứng được phép vô sanh nhẫn; bấy giờ tâm địa mở mang, trông thấy phương Đông cõi Phật bất động, làm con đấng Pháp vương (Phật) kính thờ mười phương Phật, thân tâm phát sáng, rỗng suốt không ngăn ngại. Nay Phật hỏi viên thông, con do quán sát phong lực giả dối không chỗ nương, ngộ tâm Bồ-đề chứng nhập tam-ma-địa, hiệp với mười phương Phật truyền một diệu giác tâm ấy là thứ nhất.”

 

* Trang 454 *
device

Địa đại viên thông
Ngài Trì Địa Bồ-tát nhân nơi địa đại mà chứng ngộ viên thông. Phàm những vị phát tâm hướng cầu Bồ-đề mà tu Bồ-tát hạnh, thường xem việc lợi tha làm trọng, lợi kỷ làm khinh; lắm khi vì xả kỷ để mà lợi nhân cũng không tiếc. Nhưng phương tiện thực hành Bồ-tát hạnh sai khác nhau, có vị dùng lời nói dịu dàng thuyết pháp để lợi ích chúng sinh, có vị đem tiền tài của cải bố thí để lợi ích chúng sinh, v.v… còn như ngài Trì Địa thì thường đem thân lực mạnh mẽ mà giúp ích nhiếp hóa chúng sinh; từ kiếp đức Phật Phổ Quang xuất thế, mãi về sau vô lượng kiếp thường đi qua các nẻo đường, bến đò, và bất cứ nơi nào hiểm trở lầy lội chướng ngại người đi đều ra công tự gánh đất cát sửa sang bằng phẳng xây dựng cầu cống, hoặc gánh gồng mang chở vật hạng giúp người về tận nơi chỗ mà không lấy tiền thuê, cho đến đẩy dùm xe trâu bùn lầy tự đi không nổi v.v… Sau nhân gặp đức Tì-xa Như Lai dạy một câu rằng : “Nên bình tâm địa thì đại địa thế giới tất cả đều bình” mà tâm liền khai ngộ, chứng quả vô sanh. Câu ấy nghĩa là tất cả đại địa vi trần từ trong thân đến ngoài thế giới đều là giả dối, không có tự tánh, chỉ do nhất tâm biến hiện. Chúng sinh vì mê không ngộ cảnh sở hiện ấy toàn là duy tâm vốn không trong ngoài, không năng sở, không cao thấp, mà lại phân chia có trong ngoài, năng sở, cao thấp nên mới thấy tướng bất bình; nếu gạt bỏ hết các vọng tưởng đảo điên, mà bình được tâm địa nơi mình, thì đại địa ở giữa thế giới tự nhiên bằng phẳng; xem thấy các vi trần họp thành nơi thân, vi trần hợp thành ngoại giới vốn

* Trang 455 *
device

đồng một tâm, tâm đồng một tánh, bình đẳng như như, không ngăn ngại nhau; thì dù dao cắt vào thân thể như rạch giữa hư không; vi trần không diệt cũng như băng tiêu tức thành nước, chỉ bằng diệt chứ nước không bị mất. Pháp tánh vốn tự viên dung, chẳng có gì thêm bớt, sanh, diệt. Nếu ngộ pháp tánh ấy tức là nhập chỗ tri kiến của Phật.
Thủy đại viên thông
Ngài Nguyệt-quang đồng-tử nhân quán thủy đại mà ngộ nhập viên thông. Thủy đại là chỉ tất cả nước trong biển cả, nước lưu hành trong thân v.v… tuy thấy in tuồng có trong có ngoài mà vốn dung thông. Quán thủy đại dung thông cùng khắp cả thế giới không chỗ nào không phải nước, toàn một tướng nước mà thôi thì tâm phân biệt tiêu diệt, chân trí vô phân biệt hiện ra. Nhưng đây ngài Nguyệt Quang lúc đầu vì chưa chứng được chơn tự tánh; tánh thủy tức là chơn không, tánh thân tức là chơn không, tất cả đều chơn, tất cả đều không; nên ông thấy còn có thân, còn đem tâm nhập định, dụng tâm quán nước, chứ chưa phải tâm tức là định, định tức là tâm, tâm tức là nước, nước tức là tâm. Vậy nên khi nhập định quán nước, có tướng nước hiện tiền, đứa đồng tử thấy nước quăng ngói vào trong, đến khi xuất định tướng nước không còn, lại nghe bụng đau; về sau gặp đời Đại đức Sơn-hải Tự Tại Thông Vương xuất hiện được vong thân; thân đã vong, pháp cũng diệt, thì cùng với mười phương đồng một tánh thủy chơn không, không hai không khác, chẳng nhập định xuất định mà tự nhiên chứng được vô sanh pháp nhẫn.
 

* Trang 456 *
device

Phong đại viên thông
Ngài Lưu-ly-quang Pháp vương do phong đại mà ngộ nhập viên thông. Tánh bổn giác diệu minh thường không diêu động, nhân nơi nhân duyên mà có sự chuyển lay gọi là đại phong hay phong lực. Ngài Lưu-ly-quang thường quán tất cả thân tâm thế giới đều nhơn phong lực chuyển biến, nào sự thành lập phương cõi sự qua lại của thời gian; sự động chỉ nơi thân, sự động niệm nơi tâm, thảy đều không tự tánh, đều do sức gió hư vọng phát sanh, không thật có đến đi, hay có sanh diệt. Chúng sinh không nhận biết chỉ do một tánh hư vọng như thế nên cuộc chấp nơi thân phần bé nhỏ, thân lại ràng buộc vào thế giới; rồi tự chịu lấy sự sanh tử luân hồi rất là đảo điên oan uổng; không khác nào trăm ngàn con muổi mòng vo ve ở trong đồ hẹp bé gang tấc, tự kêu la inh ỏi diêu động lăng xăng; mà thật ra gió hư vọng không chỗ nương, chỉ nương Bồ-đề bổn giác. Như sóng nổi từ nước, hễ gió hư vọng tiêu, tức Bồ-đề hiển lộ, thông suốt không ngại. Mười phương chư Phật đều lấy đó làm tâm; hết thảy chúng sinh cũng lấy đó làm tâm, chỉ một diệu tâm vô nhị ấy; nhưng mà chứng nhập được thì phải diệt hết mê lầm.
*
Bấy giờ ngài Hư-không Tạng Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật rồi bạch rằng : “Con với đức Như Lai cùng ở thời đức Phật Định Quang (Nhiên Đăng Phật) chứng được vô biên thân. Lúc ấy tay cầm 4 viên bảo châu lớn, chiếu sáng mười phương cõi Phật, số như vi trần,

* Trang 457 *
device

đều hóa thành hư không. Lại nơi tự tâm hiện ra cái gương tròn lớn, từ gương phóng ra 10 thứ ánh sáng vi diệu quí báu; trong ánh sáng lưu xuất 10 phương các cõi nước khắp hư không, rồi trở lại vào trong gương và lần vào thân con. Thân đồng như hư không, chẳng còn sợ ngăn ngại, nên có thể khéo léo hiện thân vào các quốc độ số như vi trần, rộng làm Phật sự, được công đức tùy thuận rộng lớn.
Đạt được thần lực như thế ấy là con chín chắn quán sát tứ đại không chỗ nương, sanh diệt theo vọng tưởng; hư không không hai và cõi Phật vốn đồng, phát minh tới chỗ đồng, chứng đặng phép vô sanh nhẫn. Nay Phật hỏi viên thông, con do quán sát hư không không ngằn, ngộ nhập Tam-ma-địa, diệu lực viên mãn sáng suốt, ấy là thứ nhất.”
Bấy giờ ngài Di-lặc Bồ-tát, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật rồi bạch rằng : “Con nhớ trải qua vi trần số kiếp về trước, có đức Phật ra đời hiệu là Nhậtnguyệt-đăng-minh. Từ đức Phật ấy, con được xuất gia nhưng tâm còn nặng về thế danh, ưa giao du các giòng quyền quí. Lúc ấy đức Thế Tôn dạy con tu tập phép định duy tâm thức mà ngộ nhập Tam-ma-địa. Nhiều kiếp lại đây, do sức tam muội ấy, con kính thờ hằng sa số Phật và tâm ham chuộng thế gian kia nay đã hết không còn. Đến kiếp đức Phật Nhiên Đăng ra đời, con mới được chứng phép vô thượng diệu viên thức tâm tam muội, thấy khắp hư không, các cõi nước dù uế, tịnh, có, không, thảy đều do tâm thức con biến hóa hiện ra. Bạch Thế Tôn ! Bởi con liễu chứng duy tâm thức tánh như vậy; từ thức tánh xuất hiện vô lượng Như Lai, nên nay đặng Phật thọ ký sẽ bổ xứ làm Phật. Nay

* Trang 458 *
device

Phật hỏi viên thông, con do chín chắn quán sát 10 phương đều là duy thức, thức tâm viên mãn sáng suốt, chứng nhập tánh viên thành thật, xa lìa tánh y tha và
biến kế chấp, ngộ vô sanh nhẫn, ấy là thứ nhất.”
Đại Thế Chi pháp vương tử cùng các Bồ-tát đồng hàng năm mươi hai vị, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng : “Con nhớ hằng sa số kiếp về trước, có đức Phật ra đời hiệu Vô Lượng Quang. Nội trong một kiếp ấy, mười hai đấng Như Lai kế nhau ra đời. Vị Phật sau hết hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Ngài dạy con tu phép Niệm Phật Tam-muội. Ví như có người, nếu một đàng chuyên nhớ, một đàng chuyên quên, thì hai người ấy hoặc gặp nhau cũng như chẳng gặp, dù thấy nhau cũng như không thấy; nếu cả hai người đều nhớ nhau, hai mối nhớ càng ăn sâu thì dù từ đời này cho đến trải qua đời khác, cũng luôn luôn như bóng theo hình, không bao giờ trái xa.
Mười phương các đức Như Lai thương nhớ chúng sinh như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh, tuy mẹ nhớ cũng chẳng ích gì; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thời mẹ con đời đời không xa tránh nhau. Nếu chúng sinh đem tâm nhớ Phật, niệm Phật thì hiện tại hay tương lai chắc chắn thấy Phật, cách Phật không xa; chẳng cần tu hành phương tiện nào khác mà tự nhiên tâm được khai ngộ. Cũng như người ướp hương mà thân có hơi hương; như thế gọi là dùng hương quang để trang nghiêm vậy. Chỗ bổn nhơn tu hành của con là do tâm niệm Phật mà ngộ nhập vô sanh nhẫn; nay ở cõi này, để nhiếp hóa mọi người niệm Phật vãng sanh Tịnh độ. Nay Phật hỏi viên thông, con vốn không lựa chọn, chuyên

* Trang 459 *
device

thân nhiếp cả sáu căn, khiến cho Tịnh niệm nối luôn, được vào Tam-ma-địa, ấy là thứ nhất.”
*
Không đại viên thông
Ngài Hư Không Tạng Bồ-tát nhân tu không đại mà chứng nhập viên thông.
Đế quán 4 món đại là giả dối, như huyễn, đều do vọng tưởng của chúng sinh phát hiện; mà vọng tưởng không có thật tánh, y nơi nhất tâm; khi đã ngộ lý duy tâm triệt để thì cả 4 đại sắc không bổn lai bình đẳng như hư không. Như bài kệ nói : “Hư không chẳng phải cao thấp cũng không thể có; các pháp cũng như vậy, tánh vốn không cao thấp. Bồ-tát Hư Không Tạng, đặng kho tàng hư không đầy đủ cho hữu tình, thức ấy không cùng tận”. Đem thức tâm hư không vô tận ấy mà ấn nhập tất cả pháp thì pháp nào cũng vô tận; toàn tâm là sắc, vậy nên tất cả pháp đều duy tâm sở hiện, không có thân sơ; toàn sắc là tâm, vậy nên tất cả pháp là sở hiện duy tâm không có trong ngoài.
Trong bài này, ngọc châu là tiêu biểu sắc pháp, gương sáng là tiêu biểu tâm pháp. Toàn sắc là tâm, không phân chia chủ bạn, nên có thể soi chiếu mười phương vi trần Phật sát hóa thành hư không. Toàn tâm là sắc, không phải xa rời nơi bổn tế, nên có thể phóng quang hiện mười phương cõi đều vào trong gương, trong thân không chút chi ngăn ngại; chính nơi thân mà hiện độ, nơi độ mà hiện thân, để hoằng pháp độ sanh, tiếp nối Phật chủng mà không bao

* Trang 460 *
device

giờ trái với tánh bình đẳng thanh tịnh của pháp thân, nên gọi là đức tùy rộng lớn.
Thức đại viên thông
Ngài Di-lặc Bồ-tát nhân tu duy thức mà ngộ nhập viên thông. Ngộ tất cả vạn pháp đều do nơi thức biến hiện thì cảnh nào cũng là tánh cảnh, cũng là Tánh viên
thành thật. Không ngộ tất cả vạn pháp do nơi thức biến hiện thì thấy như in tuồng sanh ra mà không thật sanh, in tuồng diệt mà không thật diệt; nếu chấp thật có sanh diệt, thì thành pháp y tha. Các pháp do y tha (nhân duyên) sanh khởi mà không nhận là y tha, lại so đo sai lầm, chấp có ngã, ngã sở, cho nên thường bị danh tướng thế gian ràng buộc. Tâm còn ham chuộng thế danh; vì còn cho thế gian là thật. Trái lại, sau khi ngài Di-lặc tu tập phép duy tâm, duy thức, quán sát tất cả danh là giả, tất cả tưởng là giả, không vì duyên gì còn làm sanh trưởng tâm ham mê danh vị được nữa. Lần lần chứng được vô thượng diệu viên thức tâm tam muội (chơn duy thức tánh); chẳng những không thấy thật có tướng vạn pháp, mà cũng không còn thấy thật có tướng duy thức; vì mười phương Như Lai quốc độ, sắc, không v.v… đều không món nào ra ngoài thức tánh ấy mà tự có. Các pháp đã là thực tánh, thì pháp pháp đều là tự tánh viên mãn, thành tựu chơn thật, nơi tánh viên thành, sinh vốn vô sinh. Cho nên xa lìa y tha như huyễn; nơi tánh viên thành không thật có ngã và ngã sở, cho nên xa lìa biến kế sai lầm, chứng pháp vô sanh nhẫn.

 

* Trang 461 *
device

Kiến đại viên thông
Kiến đại cũng tức là căn đại; trước thức đại thuộc về thức, ở đây kiến đại thuộc về căn. Ngài Đại Thế chí Pháp vương tử nhân tu kiến đại mà ngộ nhập viên thông.
Không như các viên thông trước chỉ lựa chọn từng căn để hạ thủ công phu, mà trái lại ở đây, Ngài Đại Thế Chí nhân phép niệm Phật Tam-muội, nhiếp phục cả sáu căn, qui cả sáu căn đều thâu về nơi nhất niệm niệm Phật, không để tán loạn dong ruỗi theo ngoại duyên. Tịnh niệm thường nối luôn, không xen một niệm gì khác, thì quyết nhiên chứng đặng Niệm Phật tam muội, thường thương xót niệm tưởng chúng sinh, như nhớ con dại; nếu chúng sinh chuyên tâm nhớ Phật, niệm Phật như con biết nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì hiện tiền hoặc tương lai, quyết định gặp Phật, thấy Phật; vì nhân nào quả nấy, mảy mún không sai. Trái lại, Phật tuy nhớ chúng sinh, mà chúng sinh cứ trốn tránh không biết nhớ biết; cũng như hai người : một bên chuyên nhơ, còn một bên chuyên quên, thì gặp cũng như không gặp, thấy cũng như không thấy, chẳng ích gì.
Vả chăng, tâm mê ngộ của chúng sinh cũng như mẹ và con vậy. Tâm ngộ như mẹ, tâm mê như con. Ngộ luôn luôn có trong mê, ví như mẹ thường nhớ con; mê thì không biết tự nhận, niệm niệm chuyển dời, trái tánh giác, hợp trần lai, ví như con trốn tránh không nhớ nghĩ đến mẹ, bởi vậy mà uổng chịu luân hồi sanh tử ! Nếu biết phản quang mà đem tâm niệm Phật giác ngộ nơi tự tâm, thì mỗi phút mỗi phút, mê hóa thành giác, năng sở đều chứng nhập tánh pháp giới

 

* Trang 462 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm