LOGO VNBET
tánh Tỳ-kheo-ni với mẹ La-hầu-la là Da-du-đà-la, đồng ngộ biết do cái nhơn thương yêu gây ra khổ não nhiều đời, nên nhất niệm huân tu các pháp vô lậu thiện, đến nay kẻ được xuất triền (khỏi sự ràng buộc) người được thọ ký (thọ ký về sau thành Phật) rồi; mà sao ông lại mình tự dối mình, còn mắc trong vòng nghe thấy !
*
Phật lại phá cái nghĩa nhơn duyên tự nhiên và trách ông A-nan chỉ học văn tự không biết thực hành.

 
Ông A-nan nghe Phật phá nghĩa nhơn duyên, lại nghe Phật dạy hễ đoạn trừ được ba duyên thì ba cái nhơn không sanh và mê lầm tự hết, nên nghi có điều mâu thuẫn. Ông lại xét chẳng những hạng trẻ tuổi như Ông nhờ nhơn duyên khai thị của Phật mà đặng khai ngộ, cho đến các vị đại đức trong chúng cũng đều vì rõ lý nhơn duyên mà đặng khai ngộ cả; vậy lý nhơn duyên rất có ích cho người tu hành. Huống chi không nhơn duyên tức là tự nhiên; nếu Phật bác nhơn duyên thì những thuyết tự nhiên của các ngoại đạo trở thành chánh pháp; điều đó rất khó nhận nên ông A-nan xin Phật giải quyết chỉ dạy lại cho rõ.
Phật đáp : A-nan, như Diễn-nhã-đạt-đa trong thành, nếu diệt trừ đặng nhơn duyên tánh điên, thì tánh không điên tự nhiên hiện ra; lý nhơn duyên, tự nhiên chỉ như vậy thôi. Lời tuy vắn tắt nhưng ý nghĩa rất sâu xa, toàn thể những thuyết nhơn duyên, tự nhiên thế gian cũng chỉ như vậy thôi. Nhơn duyên và tự nhiên đối đãi với nhau mà thành, có nhơn duyên thì không tự nhiên, có tự nhiên thì không nhơn duyên,

* Trang 380 *
device

nên nhơn duyên tánh điên diệt trừ thì tánh không điên tự nhiên hiện ra; nhơn duyên tánh không điên diệt trừ, tánh điên tự nhiên hiện ra, chẳng có gì là thật thể.
Về sau, Phật lấy cái đầu của Diễn-nhã-đạt-đa làm ví dụ mà chỉ cho biết rằng, nhơn duyên, tự nhiên đều là những danh tướng giả dối do vọng tưởng phát ra. Đối với thể tánh bất sanh bất diệt, vọng tưởng nhận có sanh diệt; nhơn nhận có sanh nên nhận có nhơn duyên hòa hiệp mà sanh, nhơn nhận ra có diệt nên nhận có nhơn duyên chia rẽ mà diệt. Đã nhận các cái sanh diệt làm nhơn duyên, thì lại nhận cái không sanh diệt là tự nhiên. Vì chúng sinh nhận lầm cái không sanh diệt đối đãi là chơn thật nên lẩn quẩn loanh quanh trong vòng sanh diệt không thể ra khỏi. Nếu thật nhận biết bản thể bất sanh bất diệt, bản lai như vậy, không hề thêm bớt, thì chính nơi nhơn duyên hòa hiệp tức là bất sanh, chính chỗ nhơn duyên chia rẽ tức là bất diệt; thế mới ra ngoài được các danh tướng đối đãi và nhận biết nhơn duyên tự nhiên chỉ là giả danh mà thôi. song nói như vậy còn là phương tiện, thật ra thì cái bất sanh diệt ra ngoài danh tướng, ra ngoài ngôn thuyết, không phải lấy lời nói mà nói được, không phải lấy trí nghĩ mà nghĩ được. Vậy nên cần phải y như chánh pháp siêng năng tu hành nhiều kiếp, mới có thể chứng nhận, chớ dù học cho mấy mà không hành thì cũng chỉ ở trong vòng danh tướng mà thôi.
Bước tu hành đầu tiên cốt phải cách xa các sự ưa ghét; tâm đối với sự sự vật vật không sanh lòng ưa, không sanh

 

* Trang 381 *
device

lòng ghét, tức là tâm được thanh tịnh; tâm được chánh định, tức là Tam-ma-đề. Chớ nếu không quán sát tu tập đoạn trừ các sự mê lầm thì dù học nhiều biết rộng cũng như người nói ăn mà không ăn, không thể nào no bụng.
Nhưng chúng ta lại cũng nên biết đoạn này là Phật dạy cho ông A-nan, một bậc hiểu rõ Phật pháp. Đến như những người chưa biết Phật pháp là gì, nếu cứ tu mà không học thì lại không khác gì người không biết đường mà cứ đi càn, tránh sao cho khỏi lầm lạc. Vậy chúng ta cần phải học cho rõ chánh pháp, rõ rồi thì phải gắng công tu tập theo chánh pháp, chớ không nên lấy cái học làm đủ, thì mới khỏi phụ công đức chỉ dạy của Phật.
*
Ông A-nan cùng với Đại chúng nghe Phật chỉ dạy, tiêu hết nghi lầm, ngộ được thực tướng (tướng chơn thật), thân và ý đều nhẹ nhàng an lành, đặng cái pháp chưa từng có; rồi lại thương khóc đảnh lễ sát chân, quỳ dài chấp tay mà bạch Phật rằng : “Đức Thanh Tịnh Bảo vương (Phật) có lòng đại bi vô thượng, đã khéo khai ngộ cho tâm con và khéo dùng các nhơn duyên như trên, phương tiện dắt dìu các kẻ mờ tối chìm đắm lần khỏi biển khổ. Bạch Thế Tôn, tuy nay con vâng nghe pháp âm như vậy, và biết cái Như Lai tạng diệu giác minh tâm (chơn tâm) khắp cả thế giới mười phương, trùm chứa các thanh tịnh bảo nghiêm diệu giác vương sát của Như Lai (Phật sát) trong quốc độ mười phương; Như Lai lại trách con đa văn vô dụng và không quyết tu tập; con nay in như người đương trôi nổi, thoạt
 

* Trang 382 *
device

nhờ Thiên vương cho cái nhà tốt, tuy đặng nhà lớn, nhưng cốt yếu phải do cửa mà vào; xin nguyện đức Như Lai đại bi bất xả (không rời không ngớt) chỉ bày cho kẻ mờ tối trong chúng hội này, biết rời bỏ Tiểu thừa và rốt ráo nhận đặng sơ phát tâm, về Vô dư Niết-bàn của Như Lai, để cho những kẻ hữu học biết cách thâu dẹp lòng phan duyên lâu đời, đặng phép Tổng trì và chứng nhận tri kiến của Phật.” Nói lời ấy rồi năm vóc gieo xuống đất, cùng cả chúng hội đều một lòng trông đợi từ sự chỉ dạy của Phật.
Khi ấy, đức Thế Tôn thương xót những hàng Thanh văn Duyên giác chưa được tự tại đối với tâm Bồ-đề và hiện ở trong hội, lại vì những chúng sinh phát tâm Bồ-đề trong đời mạt pháp, sau khi Phật diệt độ, chỉ bày đường tu hành nhiệm mầu của Vô thượng thừa, chỉ dạy cho A-nan và Đại chúng rằng : “Các Ông quyết định phát tâm Bồ-đề, đối với phép Tam-ma-đề (Chánh định đẳng trì) nhiệm mầu của Phật Như Lai, không hề sanh lòng mỏi mệt, thì trước hết nên rõ hai nghĩa quyết định trong lúc mới phát tâm.
Thế nào là hai nghĩa quyết định trong khi sơ phát tâm ? Này A-nan, nghĩa thứ nhất là nếu các ông muốn rời bỏ phép Thanh văn, tu Bồ-tát thừa, để được tri kiến của Phật, thì cần phải xét kỹ chỗ phát tâm nơi nhơn địa và chỗ giác ngộ nơi quả địa là đồng hay là khác ?
Này A-an, nếu trong nhơn địa lấy tâm sanh diệt làm cái bản nhơn tu hành để cầu cái quả bất sanh bất diệt của Phật thừa thì không lẽ nào được. Do cái nghĩa ấy, Ông nên xét rõ cái pháp có thể làm ra trong khi thế gian đều lần phải thay đổi diệt mất. Này A-nan, Ông xét các pháp có thể làm ra

* Trang 383 *
device

ra trong thế gian, có cái gì là không tan nát, mà không bao giờ nghe hư không tan nát. Vì sao ? Hư không không phải cái bị làm ra, nên thủy chung không hề tan mất vậy.
Vậy trong thân Ông, tướng cứng là địa đại, thấm ướt là thủy đại, chạm nóng là hỏa đại, lay động là phong đại; do bốn cái ấy ràng buộc nên chia cái trạm viên diệu giác minh tâm (chơn tâm) của Ông làm thấy, làm nghe, làm biết, làm xét, từ đầu đến cuối tạo thành năm lớp hổn trược (đục vẩn).
Thế nào là trược ? Này A-nan, ví như nước trong, bản nhiên trong sạch; lại như những bụi, đất, tro, cát kia, bản chất ngăn ngại; hai thứ ấy, bản lai không thể hiệp nhau; có người thế gian lấy đất bụi kia quăng trong nước sạch, thì đất mất tánh ngăn ngại, nước mất trong sạch, tướng trạng đục vẩn nên gọi là trược. Năm lớp trược của Ông cũng giống như vậy.
Này A-nan, Ông thấy hư không khắp thế giới mười phương, cái không và cái thấy không thể rời nhau; nhưng tuy có không mà không thật thể, tuy có thấy mà không thật biết, hai cái ấy xen lộn giả dối thành lập cái lớp thứ nhất gọi là kiếp trược.
Thân ông hiện ôm tứ đại lầm là tự thể, thấy nghe hay biết bị ũng trệ (hạn chế) thành có ngăn ngại; địa thủy hỏa phong thì xoay lại thành có hay biết; hai bên xen lộn giả dối thành lập cái lớp thứ hai gọi là kiến trược.
Lại trong tâm Ông, nhớ biết học tập phát ra cái tri kiến dung nạp phát hiện sáu trần; sự ấy rời trần ra thì

 

* Trang 384 *
device

không tướng, rời giác ra thì không tánh, giao xen giả dối thành lập cái lớp thứ ba gọi là phiền não trược.
Lại như trong tâm Ông, cả ngày sanh diệt không thôi, tri kiến thường muốn lưu mãi nơi thế gian, nghiệp báo xoay vần lại thường đổi dời trong các cõi; hai cái giao xen giả dối thành cái lớp thứ tư gọi là chúng sinh trược.
Lại cái thấy, cái nghe của Ông vốn không tánh riêng khác, vì các trần chia cách nên không có chi mà sanh rakhác nhau. Trong tánh vẫn biết nhau, trong dụng thì trái nhau, cái dị toàn không chuẩn đích, giao xen lẫn nhau, giả dối thành lập cái thứ năm gọi là mạn trược.
Này A-nan, Ông muốn khiến cái thấy nghe hay biết kia hiệp với đức thường, đức lạc, đức ngã, đức tịnh của Như Lai, thì trước hết phải lựa bỏ cái cội gốc sống chết, nương theo cái bất sanh diệt mà thành lập tánh viên trạm. Ông lấy cái viên trạm xoay các sanh diệt hư vọng trở về trong tánh nguyên gốc, cho đặng tánh bất sanh diệt của nguyên giác, để làm cái tâm nơi nhơn địa, thì về sau mới viên thành được chỗ tu chứng nơi quả địa.
Cũng như lóng nước đục, đựng nơi một đồ yên lặng, lặng mãi không lay động, đất cát tự chìm xuống, nước trong tự hiện ra, thì gọi là bắt đầu đoạn trừ được khách trần phiền não; gạn bùn cho hết, còn thuần nước trong, thì gọi là đoạn hẳn cội gốc vô minh. Cái minh đã tinh thuần thì hết thảy các vật đều biến hiện không sanh phiền não và đều hiệp với diệu đức thanh tịnh của Niết-bàn.

 
*

* Trang 385 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm