LOGO VNBET
dặm, mà đem cho nước khác; cho biết cái thức ấm lại cũng như vậy.
Này A-nan, cái hư không đó, chẳng phải từ phương kia mà đến, chẳng phải đến phương này mà vào. Thật vậy A-nan, nếu từ phương kia mà lại thì trong bình đó đã đựng hư không mà đi, ở chỗ cũ của bình đó, lẽ phải thiếu một phần hư không; nếu đến phương này mà vào, thì khi mở miệng trút bình, lẽ phải lấy hư không ra. Vậy Ông nên biết cái thức ấm là luống dối, vốn chẳng phải là tánh nhơn duyên sanh, cũng chẳng phải là tánh tự nhiên.
*
Phật tóm chỉ các pháp tướng đều là giả dối, thật ra chỉ là Như Lai tạng tánh.
1. Phật chỉ bản tánh của ngũ ấm là Như Lai tạng tánh.
Trong mục trước, Phật nương theo kiến tinh chỉ rõ Như Lai tạng, đến khi Phật chỉ cái nghĩa vô phi bất phi, vô thị phi thị, ly nhất thế tướng, tức nhất thế pháp, thì hiển nhiên Phật đã chỉ đích Như Lai tạng tánh rồi; ngặt vì A-nan chưa thoát được những danh tướng hý luận của thế gian, nào nhơn duyên, nào tự nhiên, nào hòa hợp v.v… nên không thể thiết thật thừa nhận Như Lai tạng tánh; Phật thấy A-nan còn chấp trước các danh tướng nên luôn tiện Phật khai thị cho biết rằng các danh tướng đều giả dối không thật, giả dối nên không phải là nhơn duyên sanh, không thật nên không phải là tự nhiên, thật ra đều như huyễn, như hóa, không có tự tánh : các pháp đều không có tự tánh,

* Trang 292 *
device

nên duy có một tánh, tức là tánh diệu chơn như của Như Lai tạng.
Về đoạn này, Phật riêng chỉ bản tánh của ngũ ấm là Như Lai tạng tánh. Ngũ ấm là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Sắc ấm gồm cả ngũ căn, ngũ trần, tức là gồm có các sự vật có hình, có tướng. Chúng ta hằng ngày đối với những cái mắt thấy, tai nghe, nào tiếng to, tiếng nhỏ, nào hình tròn, hình vuông, chúng ta đều nhận là thật có, không chịu tìm xét các cái ấy, thiết thật là thế nào, làm cho tâm trí chúng ta bị nhốt trong phạm vi hình tướng; vì vậy nên gọi là sắc ấm.
Chúng ta nên xét, vì thấy được mà chúng ta cho là thật có, thì những bóng trong gương, chúng ta vẫn thấy được, mà bóng ấy đâu phải là thật có; lại như khi chúng ta lòa mắt thấy các hoa đốm giữa hư không, nhưng hoa đốm kia đâu phải là thật có.
Ví như khi chúng ta ngó giữa hư không chăm chăm không nháy mắt, thì đến khi mỏi mắt, chúng ta ngó giữa hư không có các hoa đốm. Sắc tướng cũng vậy, do tâm chúng ta phân biệt chia rẽ, so đo cái này với cái khác, và quyết chấp những tướng phân biệt là sắc tướng, nên mới thành ra có sắc ấm. Xét ra cho kỹ, thì các sắc tướng chỉ là cái hư vọng chấp trước, chớ chẳng phải do cái cảnh sở tri sanh ra, mà cũng chẳng phải do cái tâm năng tri sanh ra. Vì nếu do cái cảnh sở tri sanh ra thì sao ngoài cái hay biết phân biệt, lại không thể chỉ cái gì là sắc tướng; còn như nói do tâm năng tri sanh ra, thì tâm năng tri ấy, có sắc tướng hay không sắc tướng. Nếu tâm năng tri có sắc tướng, thì lẽ

* Trang 293 *
device

đáng tâm năng tri là một vật có thể chỉ ra được như các vật khác; còn nếu tâm năng tri không có sắc tướng, thì làm sao lại sinh ra được những vật có sắc tướng. Suy xét như vậy thì biết rằng, tât cả cái có hình, có tướng tất có sắc ấm, thật đều không có chỗ sở nhơn, thật đều là giả dối không có tự tánh.
Thọ ấm gồm tất cả các cảm xúc dẫn đầu về lạc thọ, khổ thọ hay xả thọ. Chúng ta hiện đem cái năng tri duyên với sở tri mà sanh ra có các món cảm xúc, ví như một người lấy hai tay xoa nhau, sanh ra các cảm xúc nóng lạnh, trơn, rít nơi hai bàn tay; nhưng xét ra cho kỹ thì tay mặt cũng là người ấy, tay trái cũng là người ấy, không có cái gì đáng gọi là năng, không có cái gì đáng gọi là sở, cũng không có cái gì đáng gọi là cảm xúc. Thọ ấm cũng vậy, Năng tri là Như Lai tạng, sở tri là Như Lai tạng, trong năng có sở, trong sở có năng, ngoài năng không sở, ngoài sở không năng, năng tức là sở, sở tức là năng, thật không có cái gì đáng gọi là thọ; chỉ vì chúng ta vọng động phân biệt, in tuồng có cái năng tri duyên với sở tri, nên giả dối sanh ra có cảm xúc mà thôi. Xét như vậy thì biết rằng thọ ấm là giả dối không thật, bản tánh chỉ là diệu chơn như tánh.
Tưởng ấm là các món tưởng tượng. Chúng ta không rõ các món sắc tướng, các món cảm xúc, đều là giả dối không thật, do tâm chúng ta vọng động, nên in tuồng là có; chúng ta lại nương theo các món sắc tướng, các món cảm xúc, mà đặt các tên, gọi các danh từ, rồi đem các danh từ ấy đặt trên các món sắc tướng, các món cảm xúc, và nhận

 

* Trang 294 *
device

lầm các danh từ ấy là sự sự vật vật; đến nỗi theo danh từ mà tham, theo danh từ mà sân, gây ra các trần lao phiền não. Ví như có người nghe nói trái mơ chua, thì trong miệng đã chảy nước miếng. Tiếng nói là tiếng nói của người khác, tiếng nói không phải là trái mơ, tiếng nói không thể ăn được, tiếng nói không có vị chua; lại nghe tiếng ấy về phần lỗ tai, thế mà vì sao trong miệng cũng chảy nước miếng. Xét ra cho kỹ, chỉ vì chúng ta nhận biết tiếng nói trái mơ đều là tên của một trái chua, nhận biết hễ ăn đồ chua thì chảy nhiều nước miếng, nên khi nghe tiếng nói mơ chua, đã tưởng tượng sự ăn mơ chua, mà chảy nước miếng. Cái tưởng tượng rõ ràng là một cái giả dối không thật, thế mà nó cũng đủ năng lực làm cho phải thèm, phải chảy nước miếng. Vậy mới biết người đời còn bị các danh từ ràng buộc nhiều lắm.
Người đời bị danh từ ràng buộc, là vì họ thường nhận các danh từ là cái hiện cảnh. Như nghe nói danh lợi có thể tạo thành hạnh phúc, thì đã đua nhau tham cầu, mà không biết xét cho rõ danh lợi là tưởng tượng hay là hiện cảnh, lại cũng không rãnh rỗi mà xét danh lợi có thể thiết thật đào tạo hạnh phúc không ? Vì cái thói quen mê chấp phân biệt, chúng ta hằng ngày đem các giả danh đặt trên các sự vật, thật không khác chi một người nghe nói mơ chua, mà đã thèm chảy nước miếng. Vậy chúng ta cần phải thoát ly ngoài các món tưởng tượng, thoát ly ngoài các cái giả danh; thì chúng ta mới có tên nhận rõ sự sự vật vật thiết thật là thế nào, tức là nhận rõ cái tánh diệu chơn như của Như Lai tạng.

 

* Trang 295 *
device

Hành ấm là có thay đổi, sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, nối luôn không dứt. Chúng ta hiện thấy tự tâm chúng ta nghĩ cái này đến nghĩ cái khác, niệm trước kéo niệm sau, sanh diệt mãi mãi, song vì tâm niệm nối luôn không dứt, nên in tuồng là thường, nhưng thật ra thì không khác gì một dòng nước dốc, trong ấy nước vẫn chảy luôn, chỉ vì thay đổi mau quá, nên dòng nước in tuồng còn mãi. Vậy thì biết cái tâm là vô thường, không tự tánh, vậy thì biết cái bản tánh của cái tâm là diệu chơn như tánh.
Song ngoài tâm không có niệm, ngoài niệm không có tâm, niệm diệt tâm cũng không bớt, niệm sanh tâm cũng không thêm; dù tâm niệm sanh, thật không có gì đáng gọi là sanh, dù tâm niệm diệt thật không có gì đáng gọi là diệt. Sanh đã không phải sanh, diệt đã không phải diệt, thì có gì đáng gọi là hành ấm; vậy mới biết hành ấm là giả dối, bản tánh chỉ là Như Lai tạng tánh.
Thức ấm tức là chỉ rõ biết, tức là nghiệp thức của chúng sinh vậy. Chúng sinh luân hồi trong lục đạo, nghiệp thức bỏ thân này nhận thân khác, theo nhân mà
chịu quả, in tuồng có một pháp từ chỗ này đi đến chỗ khác. Nhưng xét ra cho kỹ, vạn pháp đều duy thức, chỉ vì mê lầm phân biệt, nên nhận có thân riêng, nhận có cảnh riêng mà thôi.
Vạn pháp đã là duy thức, toàn thể pháp giới là đã duy thức, thì tuy in tuồng có thân này, thân khác, in tuồng có luân hồi cõi này, cõi khác, mà bất cứ thân nào
cũng là duy thức, cõi nào cõi nào cũng là duy thức; thật ra chơn tâm mầu nhiệm thanh tịnh tròn sáng chưa hề có gì được

* Trang 296 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm