LOGO VNBET
gọi là đến hay đi. Chúng ta bị thức ấm che lấp tâm tánh, nhận thân này thân khác, mà in tuồng có luôn hồi, thì cũng không khác gì một người không biết hư
không cùng khắp, lại đem một bình hư không xứ này, qua cho xứ khác. Vậy mới biết cái bản tánh của thức ấm là Như Lai tạng tánh.
*
 
(Quyển III)
Phật nương nơi kiến tính chỉ rõ Như Lai tạng tánh
“Lại nữa A-nan, làm sao bản tánh của lục nhập (1) là tánh chơn như nhiệm mầu của Như Lai tạng.
Này A-nan, tức như con mắt lòa kia mà trên đã nói, tròng con mắt ngó chăm hóa ra mỏi mệt (2), cả con mắt và cái nhọc mệt ấy đồng là các tướng nhọc mệt do thể tánh Bồ-đề phát ra.
Nhơn nơi hai cái vọng trần sáng và tối, phát ra cái thấy bên trong, để thâu nạp các trần tượng, ấy gọi là cái tánh thấy. Rời hai cái trần sáng và tối kia, thì cái tánh thấy ấy, hẳn không có tự thể. Thật vậy A-nan, Ông nên biết cái tánh thấy ấy, chẳng phải từ nơi cái sáng cái tối mà đến, chẳng phải ở nơi con mắt mà ra, chẳng phải do nơi hư không mà sanh. Vì cớ gì ? Nếu từ cái sáng mà đến, thì khi
________________________

1 Lục nhập : Nhập nghĩa là thâu nạp, lãnh nạp, do sáu căn thâu góp trần cảnh, nên gọi sự lãnh nạp nơi sáu căn là lục nhập. Lục nhập là nhãn nhập, nhĩ nhập, thiệt nhập, thân nhập và ý nhập.
2 Mệt mỏi : Theo đoạn này, tức là hóa ra lòa con mắt, thấy hoa đốm.

 

* Trang 297 *
device

tối xuất hiện liền theo cái sáng mà diệt, lẽ ra không thể thấy tối; nếu từ cái tối mà đến, thì khi ánh sáng xuất hiện liền theo cái tối mà diệt, lẽ ra không thể thấy sáng; nếu từ nơi con mắt mà sanh, thời không có cái sáng hay cái tối; như vậy cái thấy, vốn không có tự tánh; nếu do hư không mà ra, thì xem phía trước thấy trần tướng, quay trở về, lẽ phải thấy con mắt; lại cái hư không tự thấy, nào dính gì với cái nhập 1 của Ông. Vậy Ông nên biết rằng cái nhãn nhập là luống dối, vốn chẳng phải tánh nhơn duyên sanh, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Này A-nan, ví như có người lấy hai ngón tay bịt chặt lỗ tai, do lỗ tai bị mỏi mệt, mà trong đầu hóa ra có tiếng ? Cả cái nghe và cái mỏi mệt ấy, đồng là các tướng mỏi mệt do tánh Bồ-đề phát ra. Nhơn hai vọng trần động và tịnh 2 phát cái nghe ở trong, để thâu nạp trần tướng ấy, gọi là tánh nghe; nếu lìa hai cái trần động tịnh kia, thì tánh nghe rốt ráo, không có tự thể. Thật vậy A-nan, Ông nên biết cái nghe ấy, chẳng phải từ nơi động hay nơi tịnh mà đến, chẳng phải từ nơi lỗ tai mà ra, chẳng phải do nơi hư không mà sanh. Vì cớ sao ? Nếu cái nghe từ nơi cái tịnh mà đến, thì khi động phải theo cái tịnh mà diệt, lẽ không nghe được động; nếu từ
_______________________
1 Dính gì đến cái nhập của ông : Do 6 căn ông A-nan, thâu nạp trần cảnh thì mới gọi là lục nhập của ông A-nan, chớ nếu hư không tự thâu nạp trần cảnh, thì có dính dáng gì đến ông A-nan mà gọi là lục nhập của ông A-nan.
2 Hai cái vọng trần động và tịnh : Trần là các tướng thay đổi sanh, diệt; sắc, thanh, hương, vị, xúc, thì gọi là ngoại trần, pháp thì gọi là nội trần. Vọng trần là cái trần tượng giả dối. Đối với nhĩ căn, vọng trần là thanh trần, gồm có hai phần :
a. Có tiếng tăm thì gọi là động.
b. Không tiếng tăm thì gọi là tịnh.

 

* Trang 298 *
device

nơi cái động mà đến, thì khi tịnh liền theo cái động mà diệt, lẽ ra không thể biết là tịnh; nếu từ lỗ tai mà sanh, thời không có động hay tịnh; như vậy cái nghe vốn không tự tánh; nếu do hư không mà ra, thì đã thành cái tánh biết nghe, chứ không phải hư không; lại nữa, nếu hư không tự nghe lấy, nào có dính gì đến cái nhập của Ông. Vậy Ông nên biết rằng, cái nhĩ nhập là luống dối, vốn chẳng phải tánh nhơn duyên sanh, chẳng phải tánh tự nhiên.
Này A-nan, ví như có người nhét chặt lỗ mũi, nhét lâu thành ra mỏi mệt, thì ở trong lỗ mũi nghe có cảm xúc lành lạnh, nhơn cảm xúc như vậy mà phân biệt là thông suốt, là ngăn bịt, là rỗng, là đặc cho đến phân biệt các mùi thơm, mùi thối; cả cái ngửi cùng cái mệt mỏi ấy, đồng là các tướng mệt mỏi do tánh Bồ-đề phát ra. Nhơn hai thứ vọng trần thông và bịt (1) phát cái ngửi bên trong, để thâu nạp trần tướng ấy, gọi là cái tính biết ngửi; rời hai trần thông và bịt, cái tánh ngửi như vậy, chẳng phải từ cái thông hay cái bịt mà đến, chẳng phải từ nơi lỗ mũi mà ra, cũng không phải do hư không mà sanh. Vì cớ sao ? Nếu từ cái thông mà đến, thì khi bịt cái tánh ngửi phải diệt mất, làm sao còn biết là bịt; nếu nhơn cái bịt mà có, thì khi thông, không thể ngửi được nữa làm sao lại phát minh ra các mùi thơm, thối; nếu từ nơi lỗ mũi mà sanh, hẳn không có cái thông và cái bịt, thì cái ngửi như vậy vốn không tự tánh; nếu xoay lại ngửi cái mũi Ông, và cái hư không tự có tánh ngửi, nào có dính gì với cái nhập của Ông. Vậy Ông nên biết rằng cái tỷ
______________________
1 Thông và tắc : Thông là thông thường, tắc là ngăn bịt. Khi lỗ mũi bị ngăn bịt, thì không biết mùi gì cả, đến khi thông thương, thì mới biết mùi thơm, mùi thối.

 

* Trang 299 *
device

nhập là luống dối, vốn chẳng phải tánh nhơn duyên sanh, chẳng phải tánh tự nhiên.
Này A-nan, ví như có người lấy cái lưỡi liếm mép, liếm mãi phát ra mỏi mệt; như người ấy có bệnh, thì hóa có vị đắng; còn người không bệnh, thì hóa có chút vị ngọt; do cái ngọt và cái đắng, mà có cái tính nếm; còn trong khi yên lặng, thì thường chỉ một vị lạt; cả cái nếm và cái mệt mỏi ấy, đồng là các tướng mệt mỏi, do tánh Bồ-đề phát ra.
Nhân hai vọng trần ngọt hoặc đắng và lạt (1), sinh cái vị nếm ở trong, để thâu nạp các trần tướng ấy gọi là tánh biết nếm.
Lìa hai cái trần ngọt, đắng và lạt kia, thì cái tánh biết vị ấy rốt ráo không có tự thể. Thật vậy A-nan, Ông nên biết rằng cái tánh biết đắng biết lạt ấy, chẳng phải từ nơi ngọt, đắng mà đến, chẳng phải nhơn nơi cái lạt mà có, cũng chẳng từ nơi cái lưỡi mà ra, cũng chẳng phải do nơi hư không mà sanh. Vì cớ sao ? Nếu từ cái ngọt đắng mà đến, thì khi lạt, cái biết nếm ấy đã diệt rồi, làm sao còn biết là lạt, nếu từ cái lạt mà ra, thì khi ngọt, cái nếm ấy đã mất rồi, làm sao lại biết được các tướng ngọt và đắng. Nếu do cái lưỡi mà sanh, hẳn không có vị ngọt, lạt và đắng, thì cái tánh biết nếm như vậy vốn không tự tánh. Nếu do hư không mà ra, thì hư không tự nếm, chớ chẳng phải là lưỡi của Ông nếm; lại nữa, nếu hư không tự biết, nào có dính gì đến
_________________________
1 Nhơn hai vọng trần, ngọt hoặc đắng và lạt : Ngọt, đắng và lạt là ba vị, sao lại chỉ nói hai cái vọng trần ? Vì ngọt, đắng, về phần có vị, lạt thì về phần không có vị, nên chi tóm lại làm hai món vọng trần là có vị (ngọt, đắng), và không có vị (lạt) mà thôi.

 

* Trang 300 *
device

cái nhập của Ông. Vậy Ông nên biết rằng cái thiệt nhập là luống dối, vốn chẳng phải tánh nhơn duyên sanh, chẳng phải tánh tự nhiên.
Này A-nan, ví như có người lấy một bàn tay lạnh chạm nơi bàn tay nóng, nếu thế lực bên lạnh nhiều, thì bên nóng trở thành lạnh theo, như cái nhiệt lực bên nóng nhiều hơn, thì cái tay lạnh trở thành ra nóng. Lấy cái chỗ cảm xúc nhận biết trong khi hiệp lại, mà bày rõ có cái biết trong khi lìa ra 1; sự can thiệp với nhau thành tựu, là nhơn nơi các tướng mệt mỏi mà có cảm xúc; có cái thân thể và cái mệt mỏi ấy, đồng là các tướng mệt mỏi do thể tánh Bồ-đề phát ra. Nhơn nơi hai cái vọng trần ly và hiệp, sinh ra cái hay biết bên trong, để thâu nạp các trần tượng ấy, gọi là biết bên trong; ly hai cái trần ly và hiệp, trái và thuận 2, thì cái tánh biết cảm xúc ấy rốt ráo không có tự thể. Thật vậy, này A-nan, Ông nên biết rằng cái cảm xúc ấy chẳng phải tự nơi ly hiệp mà đến, chẳng phải nhơn nơi trái thuận mà có, chẳng phải từ nơi thân thể mà ra, cũng chẳng phải do nơi hư không mà sanh. Vì cớ sao ? Nếu từ cái hiệp mà đến, khi ly lẽ ra phải diệt mất, làm sao còn biết là ly ? Đối với hai tướng trái, thuận, nghĩa lý cũng như vậy; nếu từ thân thể mà ra, hẳn không có 4 tướng ly, hiệp, trái, thuận, thời cái
____________________
1 Lấy cái chỗ giác xúc trong khi hiệp như vậy mà bày rõ có cái biết trong khi ly. Hiệp nghĩa là thân thể chạm với cái gì mà biết, do biết có đụng chạm, nên đến khi ly, nghĩa là khi hết đụng chạm, cũng biết là hết đụng chạm.
2 Vi và thuận : Cái gì trái với thân thể, sanh ra khổ thọ gọi là vi, cái gì thích với thân thẻ, sanh ra lạc thọ, thì gọi là thuận. Hễ khi hiệp mà vi, thì khi ly lại thuận, như tay rờ nước đá, nghe lạnh khó chịu, thì đến khi không rờ nước đá nữa, thì lấy làm thích. Trái lại, nếu khi hiệp mà thuận, thì khi ly lại vi, như mùa lạnh đắp mền ấm áp thì thích, đến khi không đắp nữa, thì nghe khó chịu.

 

* Trang 301 *
device

biết cảm xúc nơi thân thể, vốn không tự tánh; nếu do hư không mà ra, thì hư không tự không hay biết, nào có dính gì đến cái nhập của Ông ? vậy Ông nên biết rằng cái thân nhập là luống dối, vốn chẳng phải tánh nhơn duyên sanh, chẳng phải tánh tự nhiên.
Này A-nan, ví như có người mệt mỏi thì thiếp ngủ, ngủ no rồi thì tỉnh dậy, thấy trần cảnh thì nhớ, không nhớ thì gọi rằng quên; các thứ sanh, trú, dị, diệt 1 điên đảo kia, thói quen thâu nạp vào bề trong, không lẫn lộn nhau, gọi là ý căn; cả ý căn và cái mỏi mệt ấy, đồng là cái tưởng mỏi mệt do tánh Bồ-đề chuyên chú phát ra tưởng mỏi mệt. Nhơn nơi hai thứ vọng trần sanh và diệt, nhơn cái biết ở trong, để thâu nạp pháp trần ấy, các cái thấy, nghe đi ngược vào trong mà không đến nơi gọi là tánh hay biết. Tánh hay biết ấy rời hai cái trần thức và ngủ, sanh và diệt 2 , rốt ráo không có tự thể. Thật vậy A-nan, Ông nên biết cái ý hay biết như vậy, chẳng phải tự nơi thức, nơi ngủ mà đến, chẳng phải nhơn nơi sanh diệt mà có, chẳng phải từ nơi ý căn mà ra, cũng chẳng phải do hư
không mà sanh. Vì cớ sao ? Nếu từ nơi thức mà đến, thì khi ngủ liền diệt theo thì lấy gì mà gọi là ngủ; nếu chắc khi sanh là có, thì khi diệt phải hóa ra không, còn chi mà biết là diệt; nếu
___________________________

1 Sanh trú dị diệt : Khi mới sanh ra, thì gọi rằng sanh; sanh rồi đứng yên chưa thay đổi, thì goi là trụ; khi thay đổi suy kém, thì gọi là dị; đến khi dứt mất, thì gọi là diệt. Tâm niệm hết nghĩ cái này lại nghĩ cái khác, cho đến hết thức thì ngủ, hết ngủ thì thức, hết quên thì nhớ, hết nhớ thì quên, nên thường có sanh trú dị diệt. Thật ra thì sự sanh diệt của tâm niệm rất mau chóng, khó bề nhận được lắm.
2 Ngộ, mị, sanh, diệt : Ngộ là thức, mỵ là khi ngủ, sanh là khi phát sanh, diệt là khi diệt mất.

 

* Trang 302 *
device

nhơn cái dit mà có thì đến khi sanh  không có diệt nữa, lấy gì mà biết là sanh; nếu từ cái ý căn mà ra, thì hai tướng thức và ngủ, theo nhau mà thay đổi
lên nhau nơi thân; nếu rời hai cái tướng ấy, thì cái tánh hay biết kia, cũng như hoa đốm giữa hư không, rốt ráo không có tự tánh; nếu do hư không mà sanh, thì hư không tự biết, nào dính gì đến cái nhập của Ông ? Vậy Ông nên biết rằng ý nhập là luống dối, vốn chẳng phải tánh nhơn duyên sanh, chẳng phải tánh tự nhiên.”
*
2. Phật chỉ bản tánh của Lục nhập là Như Lai tạng tánh.
Về đoạn này, Phật riêng chỉ bản tánh của lục nhập tức là của 6 căn thâu gặp trần cảnh, nào nhãn căn nhĩ căn, tỉ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn là giả dối, chẳng phải nhơn duyên sanh, chẳng phải tự nhiên; thật ra chỉ là Như Lai tạng tánh.
Như nhơn nhập vẫn in tuồng có lãnh nạp các sắc tướng nhưng thật chỉ vì thức tâm cố chấp nên biến ra cả năng kiến hay sở kiến mà thôi. Năng kiến và sở kiến
không ngoài thức tâm nên không thể rời nhau; vì vậy ngoài hai cái vọng trần sáng và tối, thì cái năng kiến không còn biết lấy gì làm tự thể. Vả chăng, sáng và tối
không thể đồng có một lần, khi sáng thì không tối, khi tối thì không sáng ? Vậy nếu cái năng kiến, do cái sáng mà có, thì đến khi tối không có sáng nữa, lẽ ra cũng không có cái gì năng kiến, làm sao lại còn thấy được cái tối ? Như nói cái năng kiến

* Trang 303 *
device

tự mình sanh ra, không cần đến cái sáng cái tối thử hỏi ngoài cái sáng cái tối ra, lấy cái gì mà làm cái năng kiến, không lẽ lại có cái năng kiến đã không thấy
sáng cũng không thấy tối ? Còn nếu như từ nơi không mà sanh ra thì cái không kia tự thấy, nào có dính gì đến mình mà gọi là căn, là nhập ?
Vậy thì biết cái nhân nhập là hư vọng, vốn không thật có và bản tánh của nó chỉ là Như Lai tạng tánh.
Lại chúng ta thường nói : Lỗ tai nghe tiếng, và chúng ta vọng chấp có cái tánh nghe lãnh nạp các món động tịnh, nhưng xét ra cho kỹ, động tịnh trái hẳn với nhau, không thể nói động sanh ra tánh nghe hay tịnh sanh ra tánh nghe được. Tánh nghe lại không thể tự mình sanh ra mình, lại không thể tự nhiên mà sanh ra, vậy thì biết năng văn và sở văn đều là những tướng hư vọng do thức tâm biến hiện, chưa hề sanh, chừa hề thật có; cũng như khi chúng ta bịt chặt lỗ tai hơi lâu một chút, thì nghe tiếng vù vù trong tai, những tiếng đó nơi ngoại cảnh rõ ràng là không có, mà chúng ta vẫn có nghe. Năng văn và sở văn đã do cái vọng chấp của thức tâm mà biến hiện thì thật ra chưa hề có gì đáng gọi là căn, là nhập, và bản tánh của nhị nhập là tánh diệu chơn như của Như Lai tạng.
Lại như khi nhét chặt lỗ mũi, nhét lâu thời nghe trong mũi hơi lạnh, nhờ những cái cảm xúc như cái biết lạnh đó mà tỉ căn khi ngặt khi thông, và khi thông lại biết các mùi thơm thúi. Nhưng xét cho kỹ, thì cái tỉ nhập như vậy không thể do ngoại trần sanh ra, không thể do tự mình sanh ra, cũng không thể tự nhiên giữa hư không sanh ra, đã không

* Trang 304 *
device

có cái gì có thể sanh ra, thì tỉ nhập là vô sanh; đã là vô sanh thì bản tánh của tỉ nhập thật ra chỉ là tánh diệu Chơn như của Như Lai tạng.
Lại như chúng ta liếm mãi môi mép của mình, môi vẫn không có vị, nhưng nếu liếm lâu, thiệt căn đã mỏi thì lại hóa sanh ra chút vị ngọt; các người có bịnh sau khi liếm mép lâu rồi, lại nghe có chút vị đắng. Thế thì biết cái thiệt nhập, tuy in tuồng lãnh nạp được các vị, nhưng thật ra thì cái tánh năng tri vị và các vị sở tri đều do thức tâm biến hiện và bản tánh của cái thiệt nhập vốn là Như Lai tạng tánh.
Lại như đồng một cái bàn, tay lạnh rờ vào thì nghe nóng, tay nóng rờ vào thì nghe lạnh, cảm xúc vẫn không nhất định. Hoặc lấy một tay lạnh chạm vào tay nóng, thì hễ bên lạnh nhiều, tay nóng cũng hóa ra lạnh, bên nóng nhiều, tay lạnh cũng hóa ra nóng, đến khi hai bên cân nhau, thì không còn gì là lạnh nóng nữa. Nhân có những vọng trần như vậy nên gọi cái tánh lãnh nạp các trần tượng đó, là thân nhập, ngoài các vọng trần ly và hiệp, ly và thuận thân nhập không lấy gì làm tự tánh. Thân nhập lại không thể do các xúc trần sai khác sanh ra, không thể tự sanh, không thể tự nhiên sanh, nên bản tánh của thân nhập là vô sanh; cái tánh vô sanh đó là tánh diệu chơn như của Như Lai tạng.
Lại như đối với những sự đã học tập, đã hay biết, khi muốn nhớ lại, ý căn đem ra được thì gọi là nhớ; không đem ra được thì gọi là quên; do sự lãnh nạp được các nội trần như vậy nên gọi nhập. Xét ra cho kỹ thì ý căn không

 

* Trang 305 *
device

thể vì nhớ mà sanh, không thể vì quên mà sanh, không thể vì thức, ngủ, vì sanh diệt mà sanh; lại không thể tự sanh, không thể tự nhiên sanh. Thế thì biết ý căn thật là vô sanh và bản tánh của ý nhập vốn là tánh diệu chơn như của Như Lai tạng.
 *
“Lại nữa, này A-nan, vì sao bản tánh của 12 xứ vốn là tánh chơn như nhiệm mầu của Như Lai tạng.
Này A-nan, Ông hãy xem rừng Kỳ-đà và các suối ao đó, ý Ông nghĩ sao ? Như vậy là sắc trần sanh ra cái thấy nơi con mắt, hay là cái thấy sanh ra các sắc tướng ?
Này A-nan, nếu như nhãn căn sanh các sắc tướng, thời khi thấy hư không, không có sắc tướng, lẽ ra tính thấy sanh ra sắc tướng phải tiêu diệt rồi. Mà đã tiêu diệt thời rõ ràng hết thảy các sắc tướng đều không; sắc tướng đã không thì lấy gì đối đãi mà biết là hư không được nữa. Đối với hư không thì cũng như vậy. Lại nếu sắc trần sanh ra cái thấy thì khi thấy hư không, không phải là sắc, cái thấy phải tiêu mất; cái thấy tiêu mất thời thảy thảy đều không, lấy chi mà biết được là không hay là sắc ? Vậy Ông nên biết hai cái thấy với sắc không, đều không có chỗ ở, tức nơi sắc trần và cái thấy, hai cái sanh xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhơn duyên sanh, chẳng phải tánh tự nhiên.
Này A-nan, Ông lại nghe trong vườn Kỳ Đà này, khi đồ ăn dọn rồi thời đánh trống, khi nhóm rồi thời đánh chuông, tiếng chuông tiếng trống trước sau nối nhau, ý Ông nghĩ

 

* Trang 306 *
device

sao ? Như vậy lại là cái tiếng đi đến bên cái nghe hay là cái nghe đi đến chỗ cái tiếng.
Này A-nan, như nói cái tiếng ấy đi đến bên cái nghe thì cũng như Ta đi khất thực trong thành Thất-la-phiệt, ở trong rừng Kỳ-đà chắc không có Ta nữa, cái tiếng ấy đã đến bên chỗ tai của A-nan thì lẽ ra ông Mục-kiền-liên, ông Ca-diếp không thể đồng nghe một lần, huống chi trong này đến 1250 vị Sa môn, mà một khi nghe tiếng chuông cũng đồng đến chỗ ăn cơm được cả.
Lại như cái nghe của ông đi đến bên cái tiếng thì cũng như Ta đã trở về trong rừng Kỳ-đà rồi, ở nơi thành Thất-laphiệt, không có Ta nữa; Ông nghe tiếng trống, cái nghe của Ông đã đi đến chỗ đánh trống thì khi tiếng chuông phát ra, lẽ ra Ông không thể đồng nghe cả hai bên; huống chi ngàn tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng trâu, tiếng dê các thứ tiếng trong rừng này ông cũng đều nghe được cả. Còn như không đi qua đi lại, thì lại không thể nghe. Vậy Ông nên biết rằng, cái nghe và cái tiếng đều không có chỗ ở, tức nơi cái nghe cùng cái tiếng, hai cái sanh xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhơn duyên sanh, chẳng phải tánh tự nhiên.
Này A-nan, Ông lại ngửi hương Chiên đàn (1) trong lư này; cái hương ấy nếu đốt đều một thứ gần nửa đồng cân, thì cả thành Thất-la-phiệt trong vùng 40 dặm, đồng thời nghe mùi thơm cả. Ý Ông nghĩ sao ? Cái mùi ấy lại do nơi cây Chiên đàn, do nơi lỗ mũi của Ông, hay do nơi hư không ?
________________________
1 Chiên đàn : Là một thứ cây rất thơm, bên Ấn Độ dùng để làm các thứ hương đốt như trầm xứ ta.

 

* Trang 307 *
device

Này A-nan, nếu như cái mùi thơm ấy sanh ra từ nơi lỗ mũi của Ông, đã gọi rằng lỗ mũi sanh ra mùi thì mùi phải từ lỗ mũi phát ra, song lỗ mũi chẳng phải là Chiên đàn, vì sao trong lỗ mũi lại có mùi Chiên đàn ? Vả chăng đã gọi rằng Ông nghe mùi thơm, thì mùi thơm phải từ ở ngoài lỗ mũi của Ông; chớ trong lỗ mũi của Ông bay ra mùi thơm mà nói rằng nghe mùi thơm, thì không đúng nghĩa lý.
Nếu mùi thơm sanh nơi hư không, tánh hư không thường còn thì mùi thơm ấy cũng phải thường có, vì sao phải đốt cây Chiên đàn khô trong lư mới có. Nếu mùi ấy sanh ra từ nơi cây Chiên đàn, cái chất cây thơm kia nhơn đốt thành ra khói thì lỗ mũi chắc phải khói xông tới nơi mới nghe mùi được, sao cái khói kia bay lên hư không chưa đặng bao xa mà trong bốn mươi dặm đã nghe mùi thơm cả. Vậy Ông nên biết rằng mùi và lỗ mũi đều không có chỗ ở, tức cái tánh ngửi và các mùi, hai cái sanh xứ đều hư vọng vốn chẳng phải tánh nhơn duyên sanh, chẳng phải tánh tự nhiên.”
*
3. Phật chỉ bản tánh của Thập nhị xứ là Như Lai tạng tánh.
Về đoạn trước, Phật đã chỉ bản tánh của lục nhập là Như Lai tạng tánh. Lục nhập là sự thâu nạp của trần cảnh nơi sáu căn, chúng sinh bề trong chấp có căn thân bề ngoài chấp có khí giới nên in tuồng cái căn thân có lãnh nạp các trần tượng giữa khí giớ; thật ra thì căn không thể rời trần, trần không thể rời căn, chưa hề có cái gì đáng gọi là sự

 

* Trang 308 *
device

lãnh nạp. Về đoạn này, Phật lại chỉ bản tánh của Thập nhị xứ là diệu chơn như tánh của Như Lai tạng tánh. Xứ đây là xứ sở, là chỗ phát sanh của các căn trần. Trong đoạn này Phật chỉ biết rằng sanh xứ của lục căn, lục trần vốn không thật có, bản tánh của 12 cái sanh xứ đó chỉ là Như Lai tạng tánh.
Như hiện tiền đây, chúng ta đem cái thấy mà thấy các món sắc không, ngoài các món sắc không, không có cái thấy, ngoài cái thấy không có các món sắc không; vậy cái thấy là sanh xứ của sắc không, hay sắc không là sanh xứ của cái thấy.
Nếu như nói cái thấy sanh ra sắc, sanh ra không, thì sắc với không hữu hình vô hình khác nhau; khi sanh ra sắc không thể sanh ra không, khi sanh ra không thì không thể sanh ra sắc; vậy khi cái thấy đương sanh ra không, thì sắc phải tiêu diệt; sắc đã tiêu diệt thì thảy thảy đều không, còn đối với cái gì biết là không nữa ! Lại như cái thấy đương sanh ra sắc, thì không sanh ra hư không, không sanh ra hư không thì toàn thể đều là sắc, còn đối với cái gì mà gọi là sắc nữa ! Còn như nói cái sắc sanh ra cái thấy thì khi thấy cái không (là cái không có sắc), cái thấy đã không được, cái sắc đã sanh ra phải tiêu diệt, mà cái thấy đã tiêu diệt thời lấy gì mà biết là không hay là sắc.
Xét như vậy thời biết năng kiến (thấy) và sở kiến (sắc không) đều không có sanh xứ; hai cái sanh xứ đó đều hư vọng không thật, bản tánh chỉ là Như Lai tạng tánh.
Lại như khi nghe các tiếng; cái nghe và các tiếng tất phải gặp nhau mới có thể nghe được. Vậy chúng ta thử xét

 

* Trang 309 *
device

nghe như vậy là cái nghe đi đến nơi các tiếng hay là các tiếng đi đến nơi cái nghe. Nếu cái tiếng đi đến nơi cái nghe thì một tiếng đã đến chỗ này tất nhiên không thể đồng thời đến chỗ khác, vì sao đồng một lúc mà nhiều người lại có thể đồng nghe một tiếng ? Còn như nói cái nghe đi đến nơi cái tiếng thì, chỗ này không thể đến chỗ khác, làm sao trong một thời lại nghe được nhiều tiếng ? Xét như vậy thì biết cái sanh xứ của cái năng văn sở văn đều là hư vọng, thật ra chỉ là Như Lai tạng tánh.
Lại như chúng ta ngửi các mùi thơm thúi, các mùi ấy do nơi cái ngửi sanh ra hay do nơi các vật sanh ra. Nếu nói rằng : các mùi do nơi cái ngửi sanh ra thì cái ngửi vốn không có mùi, làm sao phát sanh ra được mùi thơm mùi thối. Còn như nói các mùi do vật sanh ra thì khi đốt hương Chiên đàn, khói vừa mới lên, mà vì sao trong bốn mươi dặm đã nghe thơm cả. Như nói có những chất rất nhỏ nhiệm bay vào trong lỗ mũi nên nghe được mùi Chiên đàn thì các chất đó đã không thể thấy được, đã không phải gỗ Chiên đàn, đã không phải khói Chiên đàn làm sao lại có mùi Chiên đàn ? Nếu cái không thấy được mà lại có mùi Chiên đàn thì làm sao hư không thường ngày lại không có mùi Chiên đàn ? Xét như vậy, thì biết rằng cái tánh ngửi các mùi vốn không có sanh xứ, thật ra chỉ là Như Lai tạng tánh.
*
“Này A-nan, Ông thường hai thời ở trong chúng cầm bình bát khất thực, trong đó hoặc gặp những món tô, lạc,
 

* Trang 310 *
device

đề hồ (1) gọi là vị quí. Ý ông nghĩ sao ? Vị đó lại sanh nơi hư không, sanh nơi cái lưỡi hay sanh nơi đồ ăn ?
Này A-nan, nếu như các vị ấy sanh nơi cái lưỡi của Ông, thì ở trong miệng ông chỉ có một cái lưỡi, cái lưỡi ấy lúc bấy giờ đã thành vị tô rồi, gặp món đường phèn, lẽ không dời đổi đặng. Nếu không dời đổi thì không gọi là biết vị; còn dời đổi thì cái lưỡi chẳng phải có nhiều tự thể, làm sao một cái lưỡi lại biết được nhiều vị.
Nếu sanh ra do đồ ăn, không có tri giác, làm sao tự biết được vị; lại nếu đồ ăn tự biết thì cũng như miệng người khác ăn, nào dính gì đến Ông mà gọi rằng ông biết vị ?
Nếu sanh nơi hư không, thì Ông hãy nếm hư không thử là vị gì. Nếu chắc hư không là vị mặn thì hư không đã làm mặn cái lưỡi của Ông, cũng phải làm mặn cái mặt của Ông. Vậy mọi người trong thế giới này đồng như cá biển, đã thường lãnh thọ cái mặn thì rốt ráo không biết thế nào là lạt. Nếu không biết lạt, thì lại cũng không biết mặn; mà đã không biết gì thì làm sao còn gọi là vị ?
Vậy Ông nên biết cái vị và tánh biết nếm vị nơi thiệt căn đều không chỗ ở, tức cái biết nếm vị và các vị, hai cái sanh xứ 2 ấy đều luống dối vốn chẳng phải nhơn duyên, vốn chẳng phải tánh tự nhiên.
Này A-nan, Ông thường buổi mai lấy tay xoa đầu, ý Ông nghĩ sao ? Cái biết có xoa như vậy, lấy cái gì để biết
___________________
1 Tô-lạc đề hồ : là những vị do sữa làm ra như : beurre, fromage v.v…
2 Sanh xứ : là chỗ phát sinh ra.



 

* Trang 311 *
device

cảm xúc ? Cái biết ở nơi tay hay là ở nơi đầu ? Nếu nó ở nơi tay, thì cái đầu không biết, vậy làm sao thành ra các cảm xúc ấy ? Nếu ở nơi đầu thì cái tay không biết, làm sao gọi rằng cảm xúc được. Còn nếu mỗi cái đều có cái biết thì kể cả chính Ông lẽ phải có hai cái biết cảm xúc.
Nếu cả nơi đầu và nơi bàn tay đều do một cái cảm xúc sanh ra thì cái tay và cái đầu lẽ phải là một thể; mà nếu đồng một thể thì không có cái biết, thì cái nghĩa cảm xúc lại không thể thành tựu; còn nếu như hai cái thể thì cái cảm xúc hiện ở bên nào, ở bên năng thì không phải sở, ở bên sở thì không phải năng, không lẽ cái hư không đến làm cái cảm xúc cho Ông ? Vậy Ông nên biết rằng cái cảm xúc cùng cái thân biết về cảm xúc đều không xứ sở, tức hai cái sanh xứ về thân biết cảm xúc cùng cái cảm xúc đều là luống dối, vốn chẳng phải nhơn duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
Này A-nan, Ông thường trong ý duyên với ba tánh : thiện, ác và vô ký, sanh ra có các pháp trần (pháp tắc 1); cái pháp ấy lại chính nơi tâm sanh ra hay là rời cái tâm mà riêng ở chỗ khác (có phương sở 2).
Này A-nan, nếu tức nơi tâm thì các pháp không phải là trần, đã không phải trần thì không phải là cái sở duyên của tự tâm, làm sao lại thành ra có pháp xứ 3 ?
Nếu rời cái tâm riêng có chỗ khác, thì cái tự tánh của các pháp là
__________________________
1 Pháp tắc : Nghĩa đen là những khuôn phép, những tánh cách của các sự vật, lại cũng có nghĩa là sự sự vật vật.
2 Phương sở : Là chỗ ở.
3 Pháp xứ : Là cái sanh xứ của pháp tắc.




 

* Trang 312 *
device

là có biết, hay là không phải có biết ? Nếu có biết thì phải gọi là tâm; vậy như cái pháp có biết ấy khác với Ông và không phải là trần thì nó đồng với tâm lượng 1 của người khác; còn như cái pháp có biết ấy tức là Ông và cũng tức là tâm Ông thì cái tâm Ông lại thành hai nơi ông. Còn nếu như không phải có biết thì cái pháp trần ấy đã chẳng phải là sắc, thanh, hương, vị, ly, hiệp, lãnh, noãn 2 và tướng hư không, vậy nó ở chỗ nào ? Hiện nay nơi sắc không kia đều không có thể chỉ bày cái gì là pháp trần, không lẽ ở dân gian lại có những cái ngoài vòng hư không ? Không có cảnh sở duyên thì ý căn do đâu mà lập thành một xứ được ?
Vậy Ông nên biết rằng, pháp trần cùng ý căn đều không có chỗ ở, tức ý căn (nơi ý xứ 3) và pháp trần, hai cái sanh xứ ấy đều luống dối, vốn chẳng phải nhơn duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.”
*
Lại như khi chúng ta ăn uống, lãnh nạp các vị, vị ngọt, vị chua, vị cay, vị đắng v.v… thì các vị đó thiệt căn sanh ra hay do nơi hư không mà sanh ra. Nếu do thiệt căn đã sanh ra thời thiệt căn chỉ có một, không thể sanh đặng  nhiều vị. Vậy nếu khi ăn đường, thì thiệt căn đã hóa ra cái vị ngọt, đến khi ăn gặp hột muối lẽ ra thiệt căn không thể đổi ra vị mặn. Song nếu chỉ một vị không thay đổi thì
_____________________
1 Tâm lượng : Là sự so đo, sự tác dụng của cái tâm.
2 Lãnh,noãn : lạnh và nóng.
3 Ý xứ : Là chỗ sanh xứ của ý căn.

 

* Trang 313 *
device

không phải thiệt căn, vì không đủ các vị; còn nếu như mặn cũng biết, ngọt cũng biết thì thiệt căn là một, làm sao sanh ra nhiều vị cho đặng.
Nếu các vị do đồ ăn sanh ra, thì đồ ăn không có tánh biết, làm sao tự biết được mình có vị này vị khác; lại nữa, nếu cho tự biết đi nữa cũng chỉ như thiệt căn của kẻ khác, nào dính gì đến sự biết vị của mình ?
Còn như nói do hư không sanh ra, thì hư không không phải nhiều thể, làm sao sanh ra được nhiều vị. Lại chúng ta ở trong nước biển, thường thường tiếp xúc với hư không mãi, thì dù hư không có cái vị gì đi nữa, chúng ta cũng không thể biết đặng. Vậy thì biết cái thiệt căn và cái vị đều không có sanh xứ, đều là giả dối, không phải nhơn duyên sanh, không phải tánh tự nhiên; thiệt ra là tánh diệu chơn như của Như Lai tạng.
Lại như chúng ta lấy tay rờ đầu; trong cái biết rờ như vậy lấy chi làm năng, lấy cái chi làm sở ? Nếu lấy cái tay làm năng thì cái đầu hóa ra không biết, nếu lấy cái đầu làm năng, thì cái tay hóa ra không biết; mà nếu như hai cái đều biết cả thì nơi thân chúng ta, lại hóa ra hai tánh biết, vậy cái tánh biết nào mới là tánh biết của ta ?
Lại như đầu với tay đồng một thể thì không có năng, không có sở, đã không năng không sở thì cái gì đáng gọi là xúc. Còn như không phải đồng một thể thì cái gì không gọi là năng, cái gì gọi là sở; nếu hai chỗ đều là năng thì lấy gì làm sở, hai chỗ đều là sở thì lấy gì làm năng, không lẽ tự nhiên mà hóa ra xúc.

 

* Trang 314 *
device

Xét như vậy thì biết năng xúc và sở xúc đều là luống dối, vốn không có sanh xứ, thật ra đều là diệu chơn như tánh. Lại như trong ý chúng ta biết điều thiện điều ác, chỗ chánh chỗ tà, vật này vật khác, cái có cái không; những pháp lành dữ, thiện ác chánh tà kia nơi tâm chúng ta sanh ra hay là riêng có phương sở ngoài tâm chúng ta. Nếu như từ nơi tâm chúng ta sanh ra, thì các pháp kia thuộc về phần tâm, nghĩa là về phần năng tri chớ chẳng phải về phần sở tri; nếu đã không phải thuộc về phần sở tri, thì còn biết nương vào đâu mà lập thành xứ sở.
Còn như các pháp riêng có phương sở ngoài tâm chúng ta, thì các pháp ấy có tánh biết hay không có tánh biết. Nếu có tánh biết và không phải tâm chúng ta, thì các pháp trên ấy cũng y như tâm của người khác, chớ đâu phải trần cảnh của chúng ta ! Còn như các pháp trần có tánh biết và cũng tức là tâm của chúng ta thì làm sao tâm của chúng ta lại hóa ra nhiều thể.
Còn như các pháp trần kia không có tánh biết thì trong các cảnh vật hiện tại này có cái gì là pháp trần đâu. Nơi hiện cảnh đã không pháp trần, thì pháp trần không phải món sở duyên của tâm; đã không phải là món sở duyên của tâm thời nương vào đâu mà lập ra xứ sở.
Xét như vậy thì biết ý căn và pháp trần đều là giả dối, không phải nhơn duyên sanh, không phải tánh tự nhiên, thật ra chỉ là tánh diệu chơn của Như Lai tạng.

 
*

* Trang 315 *
device

“Lại nữa này A-nan, vì sao bản tánh của 18 giới vốn là tánh chơn như nhiệm mầu của Như Lai tạng ?
Này A-nan, như Ông bày tỏ : nhãn căn và sắc trần làm duyên sanh ra nhãn thức; cái thức ấy lại là nhơn nơi nhãn căn sanh ra thì lấy nhãn căn làm giới hạn, hay là nhơn nơi sắc trần sanh ra thì lấy sắc trần làm giới hạn ?
Này A-nan, nếu chỉ nhơn nhãn căn sanh ra, thì đã không có sắc không, không thể có sự phân biệt; nếu có cái thức của Ông, thì đem ra dùng về việc gì ? Lại cái nhãn căn (cái thấy) của Ông, nếu không có tất cả các món xanh, vàng, đỏ, trắng thì không thể biểu hiện được, vậy từ đâu mà lập được giới hạn ?
Nếu nhơn cái sắc trần sanh ra thì khi chỉ có hư không, không có sắc, lẽ ra cái thức Ông phải tiêu diệt, làm sao còn biết được là hư không ? Nếu khi sắc tướng thay đổi, Ông cũng biết sắc tướng thay đổi mà cái thức của Ông không thay đổi, thì từ đâu lập sắc trần làm giới hạn ? Nếu theo sắc trần mà thay đổi thì cái thức là một cái thay đổi, tự nhiên sắc trần không thành giới được. Còn nếu không thay đổi thì nhãn thức là một cái thường hằng, vậy nhãn thức đã từ sắc tướng sanh ra, lẽ không biết được hư không là gì. Nếu như gồm cả hai thứ nhãn căn, sắc trần chung lại sanh ra nhãn thức thì nói rằng hiệp, chặng giữa lại phải rời, nói rằng rời thời hai bên lại phải hiệp, tánh lẫn lộn, làm sao thành giới hạn được ?
Vậy Ông nên biết rằng : nói nhãn căn, sắc trần làm duyên, sanh ra nhãn thức giới, cả ba chỗ không thật có, và

 

* Trang 316 *
device

ba cái giới nhãn căn, sắc trần và nhãn thức vốn chẳng phải tánh nhân duyên cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Này A-nan, lại như chỗ Ông bày tỏ, nhĩ căn và thanh trần làm duyên sanh ra nhĩ thức; thức ấy lại nhơn nhĩ căn sanh ra thì lấy nhĩ căn làm giới hạn, hay là nhơn thanh trần sanh ra, lấy thanh trần làm giới hạn ?
Này A-nan, nếu nhơn nhĩ căn sanh ra, thì hai tướng động và tịnh đã không hiện tiền, cái căn không có khả năng biết và không được biết, cái biết đã không thành lập, vậy cái thức đã hóa ra hình tượng gì ? Nếu lấy chỗ cái lỗ tai nghe làm giới hạn thì đã không có động tịnh, chính cái nghe không thể thành lập được. Làm sao hình lỗ tai xen lẫn với sắc pháp xúc chạm với trần cảnh mà được gọi là thức giới, và cái nhĩ thức giới lại từ đâu mà lập ra đặng ?
Nếu nhĩ thức do thanh trần sanh ra thì cái thức nhơn thanh trần mà có; tức đã không dính líu gì đến cái nghe; nếu không nghe, thì chính cái tướng của thanh trần cũng không thể tồn tại được. Lại như cái thức do thanh trần sanh ra, dù cho thanh trần nhơn cái nghe mà có cái thanh tướng đi nữa, thì cái nghe phải nghe được cái thức; nếu không nghe được thì nhĩ thức đồng như thanh trần; nhĩ thức là cái được nghe, thì cái gì có thể nghe được cái thức? Còn nếu không biết thì hóa ra như cỏ cây.
Lại không lẽ thanh trần và cái nghe lẫn lộn thành ra trung giới ?
Giới ở giữa đã không có, thì cái tướng nội căn, ngoại trần lại từ đâu mà thành lập cho đặng.

 

* Trang 317 *
device

Vậy Ông nên biết rằng : nói nhĩ căn và thanh trần làm cái duyên sanh ra những thức giới, cả ba chỗ ấy đều không thật có và cả ba cái giới nhĩ căn, thanh trần và nhĩ thức vốn chẳng phải tánh nhơn duyên sanh, chẳng phải tánh tự nhiên.
Này A-nan, lại như chỗ Ông bày tỏ, tỉ căn và hương trần làm duyên sanh ra tỉ thức, cái thức ấy lại là nhơn tỉ căn sanh ra, lấy tỉ căn làm giới hay là nhơn hương trần sanh ra, thì lấy hương trần làm giới ?
Này A-nan, vậy nếu nhơn tỉ căn sanh ra, thì trong ý ông lấy cái gì làm tỉ căn ? Ông lấy cái tướng nhục hình như hai móng tay làm tỉ căn, hay là lấy cái tánh lay động ngửi biết làm tỉ căn ? Nếu lấy cái nhục hình làm tỉ căn, thì cái chất nhục hình làm thân căn, chỗ biết của thân căn là cảm xúc. Đã gọi là thân căn thì không phải tỉ căn, nếu vậy thì còn không có gì đáng gọi là tỉ căn, làm sao lập được giới ?
Nếu lấy cái tánh biết ngửi làm tỉ căn, thì trong tâm Ông lấy gì làm cái biết ngửi ? Nếu lấy cái nhục chất làm cái biết ngửi thì cái mà nhục chất biết được là xúc trần, chớ không phải như tỉ căn. Nếu lấy cái hư không làm cái biết ngửi thì cái hư không tự có biết, còn cái nhục chất lẽ ra không phải có biết; như vậy, thì lẽ đáng cái hư không mới thật là Ông. Lại nếu cái thân Ông không phải có biết thì hiện nay Ông A-nan biết ở chỗ nào.
Nếu cho cái hương trần là cái biết ngửi, thì cái biết ngửi thuộc về hương trần nào dính gì nơi Ông ? Lại nếu các mùi thơm thúi do tỉ căn Ông sanh ra thì hai cái mùi bay

* Trang 318 *
device

thơm hay thúi kia không phải sanh nơi cây Y lan và cây Chiên đàn; vậy khi không có hai vật ấy, Ông tự ngửi cái tỉ căn của Ông là thơm hay thối; nếu như thối thì không phải thơm, nếu như thơm thì không phải thối; còn như nghe được cả mùi thơm thối thì một mình Ông lẽ phải có hai tỉ căn và đứng trước Ta hỏi đạo đây phải có hai A-nan, vậy bên nào mới thật là cái thể của Ông ?
Còn nếu như tỉ căn là một, thì cái thơm và cái thối không thể thành hai; mùi thối đó hóa ra thơm, mùi thơm đã hóa thành thối, hai tánh đó đều không có; vậy từ đâu lập được giới của tỉ thức ?
Nếu nhơn nơi hương trần sanh ra thì tỉ thức đã nhơn nơi hương trần mà có, cũng như nhơn con mắt có thấy, không thể thấy được con mắt; vậy tỉ thức đã nhơn hương trần mà có, lẽ ra không biết được hương trần. Nếu biết được hương trần thì không do hương trần sanh ra; nếu không biết thì không phải là tỉ thức. Lại hương trần nếu mà không ngửi biết thì không thành được giới. Nếu không biết hương trần thì không phải do hương trần mà lập ra nhơn giới. Đã không có cái thức là chặng giữa thì nội căn ngoại trần không thể thành lập các tánh ngửi biết kia rốt ráo chỉ là luống dối.
Vậy Ông nên biết rằng : tỉ căn và hương trần là cái duyên sanh ra tỉ thức, cả ba chỗ ấy đều không thật có, và ba cái giới tỉ căn, hương trần và tỉ thức, vốn chẳng phải tánh nhơn duyên sanh, chẳng phải tánh tự nhiên.

 
*

* Trang 319 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm